Với mong muốn tìm hiểu, đánh giá thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao tính hữu hiệu và hi
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA KẾ TOÁN
NGUYỄN THỊ HOÀI THƯƠNG
HOÀN THIỆN
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Kế toán
Mã ngành: 60 34 03 01
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 05/2015
Trang 2Em xin cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Kế toán và Phòng đào tạo Sau đại học Trường Đại học Tôn Đức Thắng đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho
Xin chân thành cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 02 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Hoài Thương
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Tăng Trí Hùng Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Trường đại học Tôn Đức Thắng không liên quan đến
những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 02 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Hoài Thương
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Tăng Trí Hùng
Trường Đại học Tôn Đức Thắng
Trang 4TÓM TẮT
1 Đặt vấn đề
Trong mọi hoạt động của tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, chức năng kiểm tra, kiểm soát luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình quản lý Để các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển, các hoạt động kiểm tra, kiểm soát ngày càng hoàn thiện theo thời gian Và từ những hoạt động kiểm tra, kiểm soát riêng lẻ, nhiều
tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp đã xây dựng hệ thống kiểm soát toàn bộ hoạt động của tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp
Đặc biệt, trong các cơ quan thuộc khu vực công, việc kiểm soát các hoạt động trong cơ quan là một trong những mối quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Hệ thống kiểm soát nội bộ trong các cơ quan thuộc khu vực công hoạt động hiệu quả thì tổn thất ngân sách Nhà nước ít, việc này ảnh hưởng trực tiếp đến nhân dân và quốc gia Chính điều này, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong cơ quan thuộc khu vực công cần được nhà quản lý quan tâm một cách sâu sắc
Với mong muốn tìm hiểu, đánh giá thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ góp phần giúp Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đạt được những mục tiêu đề ra, tác giả chọn đề
tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí
Minh” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa vấn đề lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ
Vận dụng lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ để tìm hiểu, đánh giá, phân tích những ưu điểm và tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Bảo hiểm
xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh nên việc khảo sát được thực hiện tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Bảng khảo sát được thiết kế và gửi cho 100 cán bộ, viên chức Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh để thu thập ý kiến nhận xét của cán bộ, viên chức về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu: Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ
2012 đến năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Cuộc khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi đánh giá trên các bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ Bảng câu hỏi được gửi cho 100 cán bộ, viên chức Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, tác giả còn kết hợp quan sát hoạt động thực tế tại đơn vị để đưa ra những nhận xét khách quan Bảng câu hỏi được thiết kế theo dạng hình thức đóng với các câu trả lời có, không có và không biết, trong đó nếu trả lời có thì đánh giá năm mức độ rất tốt, tốt, bình thường, kém và rất kém
Tổng số bảng khảo sát gửi đi là 100 bảng, tổng số bảng khảo sát nhận về là 100 bảng, đạt tỷ lệ trả lời 100%
Trong đó, số lượng câu trả lời rất tốt, tốt là 5.915 câu (trên tổng số 8.000 câu trả lời), chiếm tỷ lệ 74%; số lượng câu trả lời bình thường là 1.317 câu, chiếm tỷ lệ 16%;
số lượng câu trả lời kém, rất kém, không có và không biết là 768 câu, chiếm tỷ lệ 10%
Từ kết quả khảo sát cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã hiện hữu và đang thực hiện vai trò kiểm soát Tuy nhiên, hệ thống kiểm soát nội bộ hiện tại của đơn vị cũng còn tồn tại một số mặt yếu kém cần khắc phục
Trang 65 Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu và thực tế công tác, áp dụng lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ của INTOSAI, tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2014 – 2020 dựa trên các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ và những tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7MỤC LỤC
Trang bìa phụ ……… ………
Lời cảm ơn ……….……… …………
Lời cam đoan ……….………
Tóm tắt ……….………
Mục lục ………
Danh mục chữ viết tắt ……….………
Danh mục bảng biểu ………
Danh mục hình vẽ ……… ………
LỜI MỞ ĐẦU ……….…………
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ Ở ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP CÓ THU ………
1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ ……….………
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ …… …… ……
1.1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ … … ……
1.1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ ở khu vực công 1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của kiểm soát nội bộ theo INTOSAI …
1.1.2.1 Khái niệm ……… ……… ………
1.1.2.2 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ ………… ……….………
1.1.3 Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ ……… …
1.1.3.1 Môi trường kiểm soát ……… ………
1.1.3.2 Đánh giá rủi ro ………….……… …………
1.1.3.3 Hoạt động kiểm soát ……… … ………
1.1.3.4 Thông tin và truyền thông ……… ………
1.1.3.5 Giám sát ……….…… …… ………
1.1.4 Những hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ … … …
1.2 Đặc điểm hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ ở cơ quan Bảo hiểm xã hội …… ……… … ……… ………
1.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế …… ………
i
ii iii
iv vii xii xiii xiv
1
6
6
6
6
8
9
9
11
13
14
16
18
20
20
20
21
21
Trang 81.2.2 Sơ lược hình thành và phát triển bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tại
Việt Nam ………… ……… ……… ……
1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam 1.2.4 Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ ở cơ quan Bảo hiểm xã hội ………
1.2.4.1 Môi trường kiểm soát ……… ………
1.2.4.2 Đánh giá rủi ro ……… ………
1.2.4.3 Hoạt động kiểm soát …… ………
1.2.4.4 Thông tin và truyền thông ………
1.2.4.5 Giám sát ……….………
Kết luận chương 1 ……… ….……….…………
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ……… …
2.1 Tổng quan về Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ……… ……
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ……….……….………
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh 2.1.3 Bộ máy tổ chức ……….………….………
2.1.4 Chức năng, nhiệm vụ các phòng chức năng, các Bảo hiểm xã hội quận huyện trực thuộc ……….……….…………
2.1.4.1 Phòng Thu …… ………….………
2.1.4.2 Phòng Chế độ bảo hiểm xã hội …… ……….………
2.1.4.3 Phòng Cấp sổ, thẻ ………… …… ………… ………
2.1.4.4 Phòng Nghiệp vụ giám định 1, phòng Nghiệp vụ giám định 2
2.1.4.5 Phòng Kiểm tra ……….……… …
2.1.4.6 Phòng Tiếp nhận – Quản lý hồ sơ ……….…
2.1.4.7 Phòng Công nghệ thông tin ……… …
2.1.4.8 Phòng Kế hoạch tài chính ……… ………
2.1.4.9 Phòng Tổ chức cán bộ ……… ………
21
23
24
24
25
25
26
26
28
29
29
29
33
34
37
37
37
37
37
38
38
38
38
38
Trang 92.1.4.10 Phòng Hành chính – Tổng hợp ………
2.1.4.11 Bảo hiểm xã hội quận huyện ……… ………
2.1.5 Thành tích của cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh 2.2 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ……… ……….…….……
2.2.1 Khái quát về quá trình khảo sát ……….……… …………
2.2.1.1 Mục đích khảo sát ……… ………… ………
2.2.1.2 Đối tượng khảo sát ……….………
2.2.1.3 Phương pháp khảo sát ……… ……… …………
2.2.1.4 Kết quả khảo sát ……… ………… ………
2.2.2 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ……… ………
2.2.2.1 Môi trường kiểm soát ……… ………
2.2.2.2 Đánh giá rủi ro ……… ……… ………
2.2.2.3 Hoạt động kiểm soát ……… …… ………
2.2.2.4 Thông tin và truyền thông ……… ………
2.2.2.5 Giám sát ……….……… ………
2.3 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ……….………….………… ……… ……
2.3.1 Đánh giá chung ……… … …………
2.3.2 Đánh giá từng bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ ………
2.3.2.1 Môi trường kiểm soát ………… ……… ………
2.3.2.2 Đánh giá rủi ro ………….………
2.3.2.3 Hoạt động kiểm soát ……… … ………
2.3.2.4 Thông tin và truyền thông ……… ………
2.3.2.5 Giám sát ……….………… ………
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế ……… ……….…
Kết luận chương 2 ……… ………… ………
39
39
39
40
40
40
40
40
41
42
42
57
60
62
65
66
66
67
67
67
68
68
69
69
70
Trang 10CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI
BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ………… ………
3.1 Nguyên tắc, quan điểm, căn cứ khi xây dựng giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
3.1.1 Quan điểm……… ……… ……… …….…………
3.1.2 Nguyên tắc……… ……… …….………
3.1.3 Căn cứ hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ……… ……… … ………
3.2 Hệ thống giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ……… …
3.2.1 Các giải pháp liên quan đến các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ ……… ………
3.2.1.1 Nhóm giải pháp về môi trường kiểm soát ……… ……
3.2.1.2 Nhóm giải pháp về đánh giá rủi ro ………
3.2.1.3 Nhóm giải pháp về hoạt động kiểm soát ………
3.2.1.4 Nhóm giải pháp về truyền thông, thông tin ……… …………
3.2.1.5 Nhóm giải pháp về giám sát ……… ……… ……….…
3.2.2 Kiến nghị với Đảng và Nhà nước ………… ……….……
3.2.2.1 Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ………
3.2.2.2 Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế …… ………
3.2.2.3 Phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ………
3.2.2.4 Nâng cao chất lượng dịch vụ và công tác thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ……… ………
3.2.2.5 Tăng cường quả lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Kết luận chương 3 ……….………
71
71
71
73
73
76
76
76
84
87
92
94
96
96
96
97
97
98
99
Trang 11KẾT LUẬN CHUNG ……… ………
T ÀI LIỆU THAM KHẢO ……… … ………
Phụ lục 1 ……… ………
Phụ lục 2 ……… ……… ………
Phụ lục 3 ……… ………
Phụ lục 4 ………
100
xv xvii xxvi xxxiv xxxvii
Trang 12DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AICPA: (American Institute of Certified Public Accountants)
Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ BHXH: Bảo hiểm xã hội
BHYT: Bảo hiểm y tế
CAP: (Committee on Auditing Procedure)
Ủy ban thủ tục kiểm toán COSO:
(Committee of Sponsoring Organizations)
Ủy ban Bảo trợ tổ chức FTP: (File Transfer Protocol)
Giao thức chuyển tập tin GAO: (Government Accountability Office )
Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa Kỳ INTOSAI: (International Organization of Supreme Audit Institutions)
Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao SAI: (Supreme Audit Institutions)
Các cơ quan kiểm toán tối cao SAP: (Statement on Auditing Procedures)
Thủ tục kiểm toán TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 13DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 2.1: Bảng tổng hợp câu trả lời của 100 bảng khảo sát 42 Bảng 2.2: Bảng thể hiện số tiền lạm dụng quỹ hình thức thứ nhất 59 Bảng 2.3: Bảng thể hiện số tiền lạm dụng quỹ hình thức thứ hai 59 Bảng 2.4: Bảng tổng hợp hoạt động kênh thông tin bên ngoài năm 2014
của Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh (tính đến tháng 8/2014) 64 Bảng 3.1: Mẫu bảng mô tả công việc do tác giả đề xuất 81
Trang 14DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang Hình 1.2: Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ 14 Hình 2.1: Đồ thị thể hiện số lao động tham gia và số người hưởng chế độ
bảo hiểm xã hội trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2002 30 Hình 2.2: Đồ thị thể hiện số lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ năm
Hình 2.3: Đồ thị thể hiện số đơn vị sử dụng lao động tham gia bảo hiểm
Hình 2.4: Cơ cấu tổ chức Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh 36 Hình 2.5: Đồ thị thể hiện kết quả đạt được trong năm 2014 của Bảo hiểm
Hình 2.6: Đồ thị thể hiện kết quả trả lời khảo sát 41 Hình 2.7: Sơ đồ cách tính hưởng chế độ thai sản 58 Hình 2.8: Sơ đồ quy trình trợ cấp khu vực 1 lần 60 Hình 3.1: Sơ đồ đánh giá thái độ ứng xử của cán bộ, viên chức 77 Hình 3.2: Quy trình xây dựng hệ thống đánh giá KPI 82 Hình 3.3: Sơ đồ quy trình ban hành cẩm nang nghiệp vụ và các văn bản
Hình 3.4: Sơ đồ quy trình nhận diện, đánh giá và đối phó rủi ro 85
Trang 15Điều này được khẳng định qua chỉ thị số 15-CT/TW ngày 26/5/1997 của Bộ Chính trị: “Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc” Đến nay, sau gần 20 năm thành lập ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cùng các Bộ ban ngành liên quan đang từng bước hoàn chỉnh các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, phục vụ lợi ích thiết thực cho người lao động và nhân dân
Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những cơ quan hành chính sự nghiệp trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, nhằm thực hiện các chính sách
về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động và người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh Vốn là một trong những thành phố lớn của Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh có dân số khoảng 8 triệu trong đó trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 4 triệu người, cộng thêm lực lượng lao động nhập cư khá đông đảo nên việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo vệ các lợi ích chính đáng của người lao động là một thử thách cho Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh trong gần 20 năm nay Điều này thúc đẩy toàn thể cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh luôn nỗ lực trong công tác, nâng cao chất lượng công việc Và một trong những biện pháp nhằm thực hiện tốt
Trang 16nhiệm vụ là duy trì hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ một cách hữu hiệu và hiệu quả
Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý, ban lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ Với mong muốn tìm hiểu, đánh giá thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ góp phần giúp Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí
Minh đạt được những mục tiêu đề ra, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm
soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài cho luận văn
tốt nghiệp của mình
2 Tổng quan
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế nhằm giải quyết các rủi ro và đảm bảo hợp lý trong việc theo đuổi sứ mệnh của tổ chức Đối với khu vực công, các hoạt động càng hiệu quả thì tổn thất ngân sách Nhà nước càng ít, đảm bảo phục vụ nhân dân tốt hơn Hiện nay, hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công thường được thực hiện theo Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ do Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ban hành vào năm 1992 và được cập nhật vào năm 2004 Hệ thống kiểm soát nội bộ theo Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ của INTOSAI gồm 5 thành tố chính Đó là: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát
Cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí minh cũng xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ dựa vào 5 thành tố trên và phù hợp với đặc điểm của Ngành Bảo hiểm xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm
xã hội Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh cần khắc phục một số hạn chế như phân tích, đánh giá rủi ro theo cảm tính, ứng dụng công nghệ thông tin chưa hiệu quả
Trang 17Công tác hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh cần được xây dựng đồng bộ, nhất quán và hợp lý Các giải pháp cần xây dựng theo một hệ thống rõ ràng, có định hướng về thời gian và phương thức thực hiện
3 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa vấn đề lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ
Vận dụng lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ để tìm hiểu, đánh giá, phân tích những ưu điểm và tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Bảo hiểm
xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hệ thống kiểm soát nội bộ và các thành tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ của Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu: Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn
từ 2012 đến năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận khoa học để hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ
Sử dụng bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ để khảo sát thực trạng của
hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh Bảng câu hỏi sẽ được gửi cho các phòng ban và Bảo hiểm xã hội quận huyện trực thuộc Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả; phương pháp đối chiếu, so sánh, tổng hợp để tìm hiểu, đánh giá, phân tích những ưu điểm và tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Sử dụng phương pháp quy nạp từ kết quả phỏng vấn để xử lý thông tin thu thập được
Trang 18So sánh giữa lý thuyết và thực tế, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện
hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với yêu cầu thực tế
6 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, nhưng đa phần các tác giả nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu hướng sự quan tâm của mình đến các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, du lịch… Có rất ít các đề tài nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với các khu vực hành chính công như các cơ quan hành chính sự nghiệp
Các đề tài nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại các đơn vị sự nghiệp, trong đó có ngành Bảo hiểm xã hội có thể kể đến như:
- Nguyễn Thị Phượng Liên (2011), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội, Hà Nội Luận văn đã nêu được thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ, đồng thời nêu một số giải pháp hoàn thiện
hệ thống kiểm soát nội bộ tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu ứng dụng của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với các hoạt động thu, chi bảo hiểm xã hội bắt buộc tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ
- Nguyễn Thị Hoàng Oanh (2012), Hoàn thiện kiểm soát chi Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Luận văn
đã đánh giá những hạn chế và đưa ra những đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo công tác quản lý, kiểm soát chi chặt chẽ và hiệu quả hơn tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn phạm vi trong công tác chi tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên
Nhìn chung, các nghiên cứu này tập trung xem xét và giải quyết những vấn đề của hệ thống kiểm soát nội bộ tại một đơn vị cụ thể, chưa có sự mở rộng trong phạm
vi một khu vực Đây cũng là một hạn chế mang tính khách quan khi nghiên cứu về
hệ thống kiểm soát nội bộ, bởi mỗi đơn vị dù có cùng chung một hệ thống hành chính
Trang 19công, hay cùng hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh, cũng đều có những vấn đề riêng, những rủi ro riêng biệt không giống bất kỳ đơn vị nào Do đó, không thể lấy những rủi ro, vấn đề của đơn vị này áp dụng để quản lý rủi ro của đơn vị khác, vì nếu làm như vậy chỉ là quản lý những rủi ro tưởng tượng của người khác mà chưa chắc đơn vị mình sẽ gặp phải những rủi ro đó
Trong ngành Bảo hiểm xã hội, đã có những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng vẫn chưa có một nghiên cứu nào về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2014 – 2020
7 Những đóng góp chủ yếu của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh Đánh giá những thuận lợi, khó khăn đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ phục vụ cho công tác quản lý tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, với nhiệm vụ thực hiện chính sách an sinh xã hội cho nhân dân, thực hiện chính sách lao động cho người lao động
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ ở cơ quan Bảo hiểm xã hội
Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
Ở ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP CÓ THU
1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ
1.1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ
Năm 1929, thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” được đề cập chính thức trong một văn bản của Cục Dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ (FRB - Federal Reserve Bulletin), trong đó kiểm soát nội bộ được định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và tài sản đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động
Năm 1936, Ủy ban AICPA (AICPA – American Institute of Certified Public Accountants) ban hành một bản tin mang tên Kiểm tra báo cáo tài chính của Kế toán khu vực công, trong đó xác định kiểm soát nội bộ là "các biện pháp và phương pháp
áp dụng trong tổ chức để bảo vệ tiền mặt và tài sản khác của công ty cũng như để kiểm tra tính chính xác của các sổ sách kế toán", định nghĩa này phản ánh khái niệm
"kiểm tra nội bộ" đã được phổ biến tại thời điểm đó và đã được sử dụng để mô tả các hoạt động trong chức năng kế toán và tài chính
Năm 1949, Ủy ban AICPA đã đưa ra một báo cáo đặc biệt, mở rộng định nghĩa của kiểm soát nội bộ như: kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương pháp điều phối
và các biện pháp áp dụng trong các doanh nghiệp để bảo vệ tài sản, kiểm tra độ chính xác và độ tin cậy số liệu kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động, và khuyến khích tuân thủ chính sách quản lý theo quy định
Bắt đầu từ khoảng những năm 1950, "hiệu quả hoạt động" và "tuân thủ các chính sách quản lý" nổi lên trong các cuộc thảo luận về kiểm soát nội bộ Kiểm soát được xây dựng dựa trên các thủ tục và quy trình bị lỗi và không tuân thủ chính sách quản
lý thành lập, bao gồm cả những vi phạm, đã được phát hiện và sửa chữa kịp thời Quan trọng đối với kiểm soát nội bộ lúc này là việc thiết kế các thủ tục và quy trình,
Trang 21cũng như phân công nhiệm vụ Trong những năm sau đó, trình độ chuyên môn và đào tạo nhân viên đã trở thành một phần quan trọng của kiểm soát nội bộ
Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP – Committee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về Thủ tục kiểm toán 29 (SAP - Statement on Auditing Procedures), nội dung chủ yếu của báo cáo là phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập, trong đó lần đầu tiên phân biệt giữa kiểm soát nội bộ về quản lý và kiểm soát nội bộ về kế toán Trong bài viết "Kiểm toán độc lập và kiểm tra nội bộ" (Tạp chí Kế toán, tháng 1 năm 1957), Gilbert R Byrne cho rằng định nghĩa của kiểm soát nội bộ SAP 29 cho thấy ba loại: kiểm soát nội bộ về quản lý, kiểm soát nội bộ về kế toán và kiểm tra nội bộ Kiểm soát về quản
lý có liên quan với các chính sách và thủ tục quản lý được thiết kế để phát huy tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động Còn kiểm soát nội bộ về kế toán lại đề cập đến kiểm soát tính chính xác và độ tin cậy của các số liệu kế toán Kiểm tra nội bộ là những thủ tục kế toán, thống kê, bảo vệ tài sản khỏi biển thủ công quỹ hoặc vi phạm khác Năm 1972, Ủy ban thủ tục kiểm toán ban hành báo cáo về Thủ tục kiểm toán 54 với nội dụng chủ yếu là tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ Trong báo cáo, bốn thủ tục kiểm soát nội bộ về kế toán được qui định như sau: đảm bảo nghiệp vụ chỉ được thực hiện khi đã được phê chuẩn; ghi nhận đúng về mọi nghiệp vụ để báo cáo; hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê
Các thành phần của kiểm soát nội bộ đã trở thành một điểm tham chiếu cho các cuộc thảo luận về khái niệm, đặc biệt là trong các văn bản kiểm toán tiêu chuẩn, đến việc phát hành báo cáo COSO (Committee of Sponsoring Organizations - Ủy ban Bảo trợ tổ chức) năm 1992
Báo cáo COSO năm 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra Khuôn mẫu lý thuyết về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống COSO đã định nghĩa đầy
đủ về kiểm soát nội bộ và dùng từ “kiểm soát nội bộ” thay vì “kiểm soát nội bộ kế toán” Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó kiểm soát nội bộ không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho tất cả các phương diện hoạt động Báo cáo
Trang 22COSO 1992 tuy chưa thật sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập được cơ sở lý thuyết cơ bản về kiểm soát nội bộ Sau đó, hàng loạt nghiên cứu phát triển về kiểm soát nội bộ trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời COSO phát triển về phía quản trị, phát triển cho doanh nghiệp nhỏ, phát triển theo hướng công nghệ thông tin, phát triển theo hướng kiểm toán độc lập, phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ, phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể và hướng dẫn về giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ ở khu vực công
Vào thế kỷ 17, các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI - Supreme Audit Institutions)
đã được thành lập ở các cường quốc Châu Âu Các SAI thường chịu sự chi phối của người nắm quyền, lúc này thông thường là nhà Vua Tuy nhiên, để tìm ra mô hình hoạt động tốt nhất, các SAI thường có sự trao đổi kinh nghiệm và mô hình thực nghiệm giữa các quốc gia
Năm 1953, đại hội các SAI thành lập Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI – International Organization of Supreme Audit Institutions) tại Havana, Cuba với 29 thành viên Trụ sở chính của tổ chức được đặt tại thành phố Vienna, nước Áo Đây là một tổ chức được thành lập nhằm để trao đổi kinh nghiệm,
ý tưởng giữa các SAI trong việc kiểm toán Chính phủ
Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao đã thành lập những uỷ ban, các nhóm làm việc và các đội thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề về chuyên môn
và từ đó phát triển các kết quả thành những văn bản chuyên nghiệp của nghề nghiệp kiểm toán, cụ thể là các chuẩn mực hoặc các văn bản hướng dẫn
Năm 1992, Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao ban hành bản Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ của INTOSAI (INTOSAI 1992) - một tài liệu đề cập đến việc
nâng cấp các chuẩn mực kiểm soát nội bộ, hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá kiểm soát nội bộ
Năm 1999, cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa Kỳ (GAO – Government
Accountability Office) ban hành Chuẩn mực về Kiểm soát nội bộ trong chính quyền liên bang nhằm đưa ra các quan điểm và hướng dẫn về kiểm soát nội bộ trong các
Trang 23đơn vị thuộc khu vực công Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa Kỳ đã đưa ra năm yếu
tố về kiểm soát nội bộ, bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát
Năm 2001, bản Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ của INTOSAI (INTOSAI 1992)
đã được cập nhật thêm về các chuẩn mực kiểm soát nội bộ để phù hợp với tất cả các đối tượng và phù hợp với sự phát triển của kiểm soát nội bộ và được công bố vào
năm 2004 (INTOSAI 2004) Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ của INTOSAI năm 2004
(INTOSAI 2004) là tài liệu tích hợp các lý luận chung về kiểm soát nội bộ của báo cáo COSO Bên cạnh việc cải thiện định nghĩa kiểm soát nội bộ và xây dựng một sự hiểu biết thông thường về kiểm soát nội bộ, tài liệu của INTOSAI còn trình bày những vấn đề đặc thù về kiểm soát nội bộ trong khu vực công
1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của kiểm soát nội bộ theo INTOSAI
1.1.2.1 Khái niệm
Theo INTOSAI 2004, “Kiểm soát nội bộ là một quá trình được thực hiện bởi các nhà quản lý và các nhân viên của một tổ chức và được thiết kế để giải quyết các rủi ro và đảm bảo hợp lý trong việc theo đuổi sứ mệnh của tổ chức”
Như vậy, kiểm soát nội bộ có các đặc điểm sau:
Kiểm soát nội bộ là một quá trình
Kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay hoạt động mà là hàng loạt các hoạt động hiện diện trong mọi hoạt động của một tổ chức Những hoạt động này xảy
ra trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức
Hệ thống kiểm soát nội bộ được đan xen với các hoạt động của tổ chức và hiệu quả nhất khi nó được xây dựng dựa vào cơ sở hạ tầng của tổ chức
Kiểm soát nội bộ nên được xây dựng từ bên trong hơn là được xây dựng từ bên ngoài Bằng cách xây dựng từ bên trong, kiểm soát nội bộ sẽ trở thành một phần của
tổ chức và tích hợp với các quy trình quản lý cơ bản của lập việc kế hoạch, thực hiện
và giám sát Kiểm soát nội bộ được xây dựng từ bên trong cũng tiết kiệm một phần chi phí vì thêm thủ tục kiểm soát mới, tách biệt với quy trình hiện tại sẽ phát sinh thêm chi phí Bằng cách tập trung vào các hoạt động hiện tại và tích hợp kiểm soát
Trang 24vào hoạt động kinh doanh cơ bản, tổ chức thường có thể tránh được các thủ tục và chi phí không cần thiết
Kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi những con người cụ thể
Kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi con người vì vậy con người phải biết rõ vai trò, trách nhiệm và giới hạn thẩm quyền của mình trong tổ chức Người thực hiện kiểm soát nội bộ bao gồm nhà quản lý và các nhân viên trong tổ chức
Trong đó, nhà quản lý chủ yếu giám sát nhưng nhà quản lý cũng là người đặt ra mục tiêu của tổ chức và chịu trách nhiệm chung đối với hệ thống kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ cung cấp các cơ chế cần thiết để nhà quản lý nhận biết rủi ro Trong bối cảnh của tổ chức, nhà quản lý sẽ đưa hoạt động kiểm soát nội bộ, giám sát và đánh giá chúng Do đó, kiểm soát nội bộ là một công cụ được sử dụng bởi nhà quản
lý và trực tiếp liên quan đến các mục tiêu của tổ chức Như vậy, nhà quản lý là một yếu tố quan trọng của kiểm soát nội bộ Tuy nhiên, tất cả các nhân viên trong tổ chức đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi con người vì vậy kiểm soát nội bộ cũng chịu ảnh hưởng bởi bản chất con người Mọi người không nhận thức, giao tiếp hoặc thực hiện một cách nhất quán; mỗi cá nhân đều có kỹ năng, kỹ thuật và kinh nghiệm riêng, họ cũng có những như cầu và mục tiêu khác nhau Vì vậy, họ sẽ hiểu và thực hiện các hoạt động kiểm soát nội bộ không nhất quán, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kiểm soát nội bộ của tổ chức
Kiểm soát nội bộ dùng để theo đuổi sứ mệnh của tổ chức
Bất kỳ tổ chức nào đều quan tâm đến việc đạt được sứ mệnh của mình Kiểm soát nội bộ là một quá trình cung cấp sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu
và sứ mệnh của tổ chức
Đối với các tổ chức trong khu vực công, việc cung cấp dịch vụ công đến nhân dân một cách tốt nhất là mục tiêu hàng đầu Đây là nhiệm vụ của Nhà nước, Chính phủ giao phó, vì vậy, các tổ chức trong khu vực công đặt lợi ích của nhân dân là mục tiêu, sứ mệnh của tổ chức trong lĩnh vực phụ trách
Trang 25 Kiểm soát nội bộ được thiết lập để giải quyết rủi ro
Bất kỳ nhiệm vụ nào cũng sẽ có rủi ro Nhiệm vụ nhà quản lý là xác định và đáp ứng với những rủi ro để tối đa hóa khả năng hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức Kiểm soát nội bộ có thể giúp giải quyết những rủi ro, tuy nhiên nó chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu chung
Kiểm soát nội bộ cung cấp đảm bảo hợp lý
Không phải kiểm soát nội bộ nào cũng được thiết kế và vận hành tốt, kiểm soát nội bộ không thể đảm bảo tuyệt đối việc đạt được các mục tiêu chung Vì vậy, hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có thể đảm bảo mức độ hợp lý có thể chấp nhận
Đảm bảo sự hợp lý có nghĩa là đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ đáng tin cậy sau khi cân nhắc về chi phí, lợi ích và rủi ro Các nhà quản lý cần xác định những rủi
ro vốn có trong hoạt động của mình và mức độ chấp nhận rủi ro trong những hoàn cảnh khác nhau, và đánh giá rủi ro cả về số lượng và chất lượng để đưa ra mức độ hợp lý có thể chấp nhận
Ngoài ra, đảm bảo hợp lý phản ánh những rủi ro liên quan đến tương lai, mà không ai có thể dự đoán chắc chắn, những hạn chế của những quyết định sai lầm, sự thông đồng của hai hoặc nhiều người gây hại đến tổ chức…
INTOSAI 2004 được phát triển từ INTOSAI 1992 và có đề cập thêm về nhận diện, phòng ngừa và ứng phó rủi ro, phù hợp với các đơn vị hành chính sự nghiệp, có khoản thu, khoản chi lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro và cần trình độ quản trị cao Trong luận văn, tác giả nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh có mức thu, mức chi lớn vì vậy tác giả chọn lý thuyết INTOSAI 2004 làm cơ sở lý luận nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
1.1.2.2 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ trong khu vực công
Kiểm soát nội bộ là hướng tới việc đạt được một loạt mục tiêu riêng biệt nhưng
có mối quan hệ với nhau, cùng hướng về mục tiêu chung Những mục tiêu chung được thực hiện thông qua nhiều mục tiêu cụ thể, chức năng, quy trình và các hoạt động
Trang 26Những mục tiêu chung của kiểm soát nội bộ là:
Thực hiện các hoạt động theo quy trình, có đạo đức, có tính kinh tế, hữu
hiệu và hiệu quả
Hoạt động theo quy trình có nghĩa là các hoạt động được thực hiện theo một cách thức được quy định cụ thể về trình tự, thủ tục và phương pháp Như vậy, việc thực hiện theo quy trình làm giảm tính cá nhân hóa trong các việc thực hiện các hoạt động của tổ chức
Hoạt động có đạo đức là những hoạt động được thực hiện theo chuẩn mực đạo đức được quy định cụ thể và rõ ràng Trong các tổ chức ở khu vực công, giá trị đạo đức là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện sứ mệnh của tổ chức và là nền tảng trong việc thực hiện kiểm soát nội bộ tốt Trong đó, giá trị đạo đức trong các
tổ chức ở khu vực công được nhấn mạnh ở công tác phòng, chống và phát hiện các gian lận, tham nhũng, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức, viên chức
Các hoạt động có tính kinh tế có nghĩa là thực hiện các hoạt động không được lãng phí, xa hoa, đúng nguồn lực, đúng chất lượng với chi phí thấp nhất
Hoạt động hữu hiệu là việc sử dụng kết hợp các nguồn lực tối thiểu nhằm đạt được các mục tiêu cao nhất, cả về số lượng và chất lượng
Hoạt động hiệu quả là mức độ hoàn thành các mục tiêu hoặc những tác động dự kiến của hoạt động
Thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức
Đối với các tổ chức trong khu vực công, nghĩa vụ và trách nhiệm gắn liền đến các quyết định và hoạt động khi thực hiện sứ mệnh của tổ chức Trách nhiệm giải trình trước Chính phủ, nhân dân về quản lý công quỹ hay tất cả các khía cạnh của hoạt động trong tổ chức
Điều này thể hiện qua việc duy trì hệ thống thông tin nhằm báo cáo kịp thời cho Chính phủ, các cơ quan Nhà nước có liên quan cũng như công bố rộng rãi với nhân dân về những thông tin tài chính và phi tài chính
Trang 27 Tuân thủ các luật và quy định
Tất cả hoạt động của tổ chức khu vực công phải tuân thủ các luật và quy định liên quan đến tổ chức Các luật và quy định hướng dẫn các tổ chức trong việc thu, chi công quỹ, cách thức hoạt động cũng như những khía cạnh khác trong quá trình tổ chức và hoạt động của tổ chức
Việc tuân thủ các Luật và quy định được các cơ quan Nhà nước có chức năng kiểm tra, giám sát chặt chẽ nhằm tránh những sai lầm trong hoạt động có thể ảnh hưởng đến nhân dân
Quản lý và sử dụng nguồn lực tránh sự mất mát, sử dụng sai và thiệt hại
do lạm dụng, quản lý yếu kém, sai sót, gian lận và những vi phạm
Trong thực tế, các nguồn lực trong khu vực như công quỹ hay các dịch vụ công thường được quan tâm đặc biệt Đặc biệt, khi các tổ chức trong khu vực công còn sử dụng tiền mặt khá phổ biến cũng như những quy định cụ thể về việc mua sắm, quản
lý, sử dụng và bố trí các nguồn lực chưa rõ ràng và minh bạch
Các nguồn lực khác như thông tin, chứng từ và sổ sách kế toán thể hiện tính minh bạch cũng cần được bảo vệ vì các nguồn lực này cũng có nguy cơ bị đánh cắp, lạm dụng hoặc bị phá hủy
Bảo vệ nguồn lực ngày càng trở nên quan trọng vì sự xuất hiện của hệ thống máy tính Thông tin nhạy cảm được lưu trữ trên máy tính có thể bị phá hủy hoặc sao chép, phân phối và bị lạm dụng, nếu không lưu ý để bảo vệ nó
1.1.3 Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ được mô tả trong hình 1.2, bằng một ma trận ba chiều, trong hình dạng của một khối lập phương
Năm thành phần được đại diện bởi các hàng ngang, đơn vị và các phòng ban được mô tả bởi chiều thẳng đứng, bốn mục tiêu chung - trách nhiệm (và báo cáo), tuân thủ (pháp luật và các quy định), các hoạt động (có trật tự, đạo đức, kinh tế, hữu hiệu và hiệu quả) và bảo vệ nguồn lực - được đại diện bởi chiều thứ ba của ma trận Khuôn mẫu hệ thống kiểm soát nội bộ có thể được áp dụng với mọi tổ chức nhưng cách thức áp dụng sẽ khác nhau do tính chất của tổ chức và các yếu tố đặc thù
Trang 28của tổ chức Những yếu tố này bao gồm cơ cấu tổ chức, hồ sơ rủi ro, môi trường hoạt động, độ phức tạp trong hoạt động…
Hình 1.2: Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.3.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát phản ánh toàn bộ đặc điểm của tổ chức Đây chính là nền tảng cho các thành phần khác của kiểm soát nội bộ, tạo lập cơ cấu và kỷ cương trong toàn bộ hoạt động của tổ chức
Các yếu tố của môi trường kiểm soát là:
(1) Tính liêm chính, chuyên nghiệp và giá trị đạo đức của nhà quản lý và nhân viên;
(2) Năng lực nhân viên;
(3) Triết lý quản lý và phong cách điều hành;
(4) Cơ cấu tổ chức;
(5) Chính sách và nguồn lực thực tế
Trang 29 Tính liêm chính, chuyên nghiệp và giá trị đạo đức của nhà quản lý và
nhân viên
Tất cả mọi người trong tổ chức đều phải thể hiện sự liêm chính, chuyên nghiệp
và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức Điều này giúp nhân dân tin tưởng vào tổ chức và nhận ra nhiệm vụ, sứ mệnh của tổ chức
Năng lực nhân viên
Năng lực nhân viên là những kiến thức và kỹ năng cần thiết để giúp đảm bảo hoạt động đạt hiệu quả, cũng như hiểu biết về trách nhiệm của mỗi cá nhân liên quan đến kiểm soát nội bộ
Triết lý quản lý và phong cách điều hành
Triết lý quản lý và phong cách điều hành phản ánh thái độ hỗ trợ của nhà quản
lý trong việc thiết lập, duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ, thực hiện đúng những quy định, chuẩn mực đạo đức đã đề ra
Ngoài ra, các cam kết và hỗ trợ của Chính phủ, các cơ quan Nhà nước rất quan trọng để duy trì một thái độ tích cực và hỗ trợ hệ thống kiểm soát nội bộ trong tổ chức
Nếu nhà quản lý hàng đầu tin rằng kiểm soát nội bộ là rất quan trọng thì những người khác trong tổ chức sẽ cảm nhận được điều đó và sẽ quan tâm đến hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 30Mặt khác, các đơn vị, cá nhân trong tổ chức thường được giao nhiệm vụ trong một hoặc một số lĩnh vực và chịu trách nhiệm giải trình khi Chính phủ, cơ quan Nhà nước và người lãnh đạo của tổ chức yêu cầu
Vì vậy, hệ thống báo cáo cần được xây dựng phù hợp cho tổ chức Trong một
số lĩnh vực đặc thù, ngoài những báo cáo bắt buộc do Nhà nước ban hành, một số báo cáo cần thêm vào trong trường hợp quản lý có liên quan đến những vi phạm
Trong cơ cấu tổ chức có thể bao gồm một đơn vị kiểm toán nội bộ độc lập với nhà quản lý và báo cáo trực tiếp đến lãnh đạo cao nhất trong tổ chức
Chính sách nguồn nhân lực
Chính sách nguồn nhân lực bao gồm tuyển dụng nhân sự, định hướng, đào tạo (chính thức và dự án) và giáo dục, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, và các hành động khắc phục hậu quả
Quản lý nguồn nhân lực cũng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường đạo đức bằng cách phát huy tính chuyên nghiệp và thực thi minh bạch trong hoạt động thực tế hàng ngày Điều này sẽ được nhìn thấy trong quá trình tuyển dụng, đánh giá hiệu quả và khen thưởng Công khai quy trình tuyển dụng và bổ nhiệm cũng giúp thực hiện quản lý nguồn nhân lực tốt hơn
1.1.3.2 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là một phần của kiểm soát nội bộ, đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn các hoạt động kiểm soát thích hợp để thực hiện Đánh giá rủi ro
là quá trình xác định và phân tích rủi ro liên quan đến việc đạt được các mục tiêu của
tổ chức và các phương pháp ứng phó rủi ro
Nhận diện rủi ro
Nhận diện rủi ro phụ thuộc vào việc xác định rủi ro so với mục tiêu tổ chức Nhận diện rủi ro không chỉ quan trọng trong việc xác định lĩnh vực quan trọng mà còn phân bổ nguồn lực để giao trách nhiệm quản lý những rủi ro này
Có hai cách nhận diện rủi ro thường dùng, đó là vận hành đánh giá rủi ro và tự đánh giá rủi ro
Trang 31Vận hành đánh giá rủi ro là cách nhận diện rủi ro từ trên xuống Một nhóm được thành lập để xem xét tất cả các hoạt động của tổ chức có liên quan đến mục tiêu và xác định các rủi ro liên quan Nhóm nghiên cứu tiến hành một loạt các cuộc phỏng vấn với các thành viên chủ chốt của đội ngũ nhân viên ở tất cả các cấp của tổ chức để xây dựng một hồ sơ rủi ro cho toàn bộ phạm vi của các hoạt động, từ đó xác định các lĩnh vực chính sách, hoạt động và chức năng dễ bị rủi ro (bao gồm rủi ro gian lận và tham nhũng)
Tự đánh giá rủi ro là phương pháp tiếp cận từ dưới lên Mỗi cấp độ và một phần của tổ chức được mời đến xem xét hoạt động của mình và phỏng đoán những rủi ro
có thể gặp Điều này có thể được thực hiện thông qua bảng câu hỏi hoặc hội thảo Hai cách tiếp cận này không loại trừ lẫn nhau Sự kết hợp hai phương pháp tạo thuận lợi cho việc xác định phạm vi và mức độ hoạt động của rủi ro
Đánh giá việc mong muốn rủi ro của tổ chức
Một vấn đề quan trọng trong việc xem xét để ứng phó rủi ro là việc xác định các rủi ro mong muốn của tổ chức Rủi ro mong muốn là rủi ro mà các tổ chức sẵn sàng tiếp nhận Quyết định ứng phó với rủi ro phải được kết hợp với việc xác định mức độ rủi ro có thể bỏ qua
Xây dựng các phương pháp ứng phó rủi ro
Kết quả của các hành động nêu trên tạo nên hồ sơ rủi ro cho tổ chức Khi đã xây dựng hồ sơ rủi ro, tổ chức có thể xây dựng phương án ứng phó thích hợp
Trang 32Ứng phó rủi ro có thể được chia thành bốn loại Trong một số trường hợp, rủi
ro có thể được chuyển giao, dung nạp hoặc chấm dứt Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, rủi ro sẽ được xử lý và tổ chức sẽ thực hiện và duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả để giữ rủi ro ở mức chấp nhận được
Kiểm soát nội bộ không thể loại bỏ tất cả các rủi ro mà chỉ có thể đảm bảo hợp
lý rằng các mục tiêu của tổ chức đều đạt được Tuy nhiên, các tổ chức cần chủ động xác định và quản lý rủi ro để có thể ứng phó kịp thời khi có rủi ro
Trong việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ, điều quan trọng là các hoạt động kiểm soát được thiết lập tương xứng với rủi ro Ngoài các kết quả không mong muốn nhất, kiểm soát nội bộ được thiết kế nhằm đảm bảo hợp lý nhất cho tổ chức Mỗi kiểm soát phải có chi phí phù hợp với rủi ro mà nó được giải quyết
1.1.3.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là các chính sách và thủ tục để ứng phó các rủi ro và bảo đảm đạt được mục tiêu của tổ chức Để có hiệu quả, hoạt động kiểm soát phải phù hợp, toàn diện, hợp lý và trực tiếp liên quan đến các mục tiêu kiểm soát
Để hoạt động kiểm soát có hiệu quả, hoạt động kiểm soát phải phù hợp, trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát và phải bảo đảm tính liên tục, hợp lý và tiết kiệm
Hoạt động kiểm soát bao gồm một loạt các chính sách và thủ tục khác nhau như:
Phân quyền và phê duyệt
Phân quyền và phê duyệt là cách thức đảm bảo các giao dịch, nghiệp vụ phát sinh phải được phê duyệt trước khi được thực hiện và do các cá nhân có trách nhiệm
và quyền hạn phê duyệt
Phân chia nhiệm vụ
Phân chia nhiệm vụ là không cho phép một cá nhân nào trong tổ chức có thể giải quyết mọi mặt của một nghiệp vụ từ khi bắt đầu đến khi kết thúc Mỗi cá nhân thực hiện nhiệm vụ của mình và kiểm soát lẫn nhau
Tuy nhiên, sự thông đồng có thể làm giảm hoặc làm mất hiệu quả của việc phân chia nhiệm vụ Nếu một tổ chức nhỏ có quá ít nhân viên, không thể thực hiện đầy đủ kiểm soát này thì nhà quản lý phải nhận thức được những rủi ro này
Trang 33Luân chuyển vị trí của nhân viên cũng là một phương pháp của kiểm soát này Việc luân chuyển vị trí giúp các cá nhân kiểm soát công việc và phòng chống sự thông đồng giữa các nhân viên Ngoài ra, việc khuyến khích hoặc yêu cầu nhân viên nghỉ phép hàng năm giúp giảm nguy cơ bằng cách luân chuyển tạm thời các nhiệm vụ
Kiểm soát thông qua tiếp cận nguồn tài liệu và hồ sơ
Truy cập vào các nguồn tài liệu và các hồ sơ được giới hạn cho các cá nhân có thẩm quyền và chịu trách nhiệm lưu ký hoặc sử dụng các nguồn tài liệu Trách nhiệm lưu ký được chứng minh bằng biên lai, hàng tồn kho hoặc các hồ sơ khác giao lưu ký
và ghi nhận lại những luân chuyển
Xác minh và đối chiếu
Các giao dịch hoặc nghiệp vụ quan trọng cần cẩn trọng xác minh từ nhiều nguồn Thường xuyên đối chiếu số liệu sổ sách và số liệu thực tế, số liệu giữa các kỳ trong năm và số liệu từng kỳ của các năm
Việc đối chiếu giúp nhận ra sự bất hợp lý trong hoạt động của tổ chức, từ đó tìm
ra những sai sót đã xảy ra trong quá trình hoạt động
Nhận xét về hiệu suất hoạt động
Thường xuyên đánh giá hiệu suất hoạt động với các mục tiêu, tiêu chuẩn đã đặt
ra Nếu hiệu suất hoạt động không đạt các mục tiêu, tiêu chuẩn thì cần phải xem xét lại các mục tiêu, tiêu chuẩn hoặc quy trình hoạt động của tổ chức
Nhận xét các hoạt động, quy trình
Hoạt động, quy trình cần phải được xem xét định kỳ để đảm bảo các hoạt động, quy trình phù hợp với quy định hiện hành, các chính sách, thủ tục hoặc các yêu cầu khác
Giám sát
Giám sát giúp đảm bảo các mục tiêu kiểm soát nội bộ đạt được Người giám sát cũng có thể hướng dẫn và đào tạo nhân viên để các nhân viên không phạm vào các sai lầm có thể gặp trong hoạt động của tổ chức
Trang 341.1.3.4 Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông là rất cần thiết để thực hiện tất cả các mục tiêu kiểm soát nội bộ Một điều kiện tiên quyết để có thông tin đáng tin cậy và chính xác là ghi chép nhanh chóng và phân loại thích hợp
Thông tin là một cơ sở cho truyền thông, đáp ứng sự mong đợi của các đơn vị
và cá nhân trong tổ chức, cho phép họ thực hiện trách nhiệm của mình một cách hiệu quả
Truyền thông nâng cao nhận thức về kiểm soát nội bộ và làm cho nhân viên nhận thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện các hoạt động kiểm soát nội bộ
1.1.3.5 Giám sát
Hệ thống kiểm soát nội bộ cần được theo dõi để đánh giá chất lượng hệ thống theo thời gian Giám sát được thực hiện thường xuyên hoặc định kỳ hoặc kết hợp cả hai
Giám sát thường xuyên của kiểm soát nội bộ xảy ra trong quá trình bình thường, hoạt động của một tổ chức Nó được thực hiện liên tục và trên cơ sở thời gian thực, ứng phó tự động với điều kiện thay đổi và đã ăn sâu vào hoạt động của tổ chức Giám sát định kỳ của kiểm soát có thể hữu ích bằng cách tập trung trực tiếp kiểm soát tại một thời điểm cụ thể Giám sát định kỳ có thể là tự đánh giá hoặc xem xét lại các thiết kế hệ thống kiểm soát và thử nghiệm trực tiếp của kiểm soát nội bộ Giám sát định kỳ thường được thực hiện bởi các cơ quan kiểm toán Nhà nước, bởi kiểm toán viên bên ngoài hoặc bên trong
Thông thường, một số sự kết hợp của giám sát thường xuyên và giám sát định
kỳ sẽ đảm bảo kiểm soát nội bộ duy trì hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ theo thời gian
1.1.4 Những hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ
Do kiểm soát nội bộ phụ thuộc vào yếu tố con người nên kiểm soát nội bộ vẫn
có những hạn chế nhất định như: sự vô ý, bất cẩn trong ghi chép, nhập liệu, sai sót trên sổ sách, báo cáo tài chính; hiểu không đúng về chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo
Trang 35cáo của cấp dưới gây khó khăn cho việc ra quyết dịnh và quá trình thực hiện dẫn đến các sai sót ngoài ý muốn
Hoặc nhà quản lý thiếu kinh nghiệm, không am hiểu sâu sắc mọi khía cạnh của
tổ chức hoặc có thái độ cư xử không đúng mực với nhân viên thì hệ thống kiểm soát nội bộ có tốt cũng không thể đảm bảo viêc đạt được mục tiêu của đơn vị
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả làm giảm xác suất không hoàn thành các mục tiêu Tuy nhiên, luôn có nguy cơ hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế kém hoặc không hoạt động như dự định
1.2 Đặc điểm hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ ở cơ quan Bảo hiểm xã hội
1.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng
có trách nhiệm tham gia
1.2.2 Sơ lược hình thành và phát triển bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tại Việt Nam
Bảo hiểm xã hội được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1945 và đã trải qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi đặc biệt trong các năm 1961, 1985 và 1995 Trước năm 1995, Bảo hiểm xã hội do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm quản lý thực hiện về các chế độ trợ cấp dài hạn (hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người nghỉ việc), Tổng Liên đoàn Lao động chịu trách nhiệm quản lý thực hiện các khoản chi trả trợ cấp ngắn hạn (trợ cấp đau ốm, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người đang làm việc)
Từ tháng 01/1995, Bộ Luật Lao động có hiệu lực, trong đó có chương XII về Bảo hiểm xã hội Để hướng dẫn thực hiện Bộ Luật Lao động, ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP của Chính phủ thành lập hệ thống Bảo hiểm xã hội
Trang 36Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội Ngày 26/01/1995, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 12/CP về điều lệ bảo hiểm xã hội đối với dân sự gồm 5 chế độ bảo hiểm xã hội: chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ trợ cấp tử tuất Và ngày 15/07/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 45 quy định về bảo hiểm xã hội đối với quân sự (quân đội, công an) Trong 2 nghị định trên, Chính phủ có quy định về hình thành quỹ bảo hiểm xã hội trên cơ sở thu bảo hiểm xã hội bao gồm người sử dụng lao động đóng 15% quỹ tiền lương và người lao động đóng 5% tiền lương hàng tháng Quỹ này được sử dụng để chi cho 5 chế độ trên Quỹ bảo hiểm xã hội được bảo tồn, tăng trưởng và được Nhà nước bảo hộ
Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập theo nghị định 19/CP của Chính phủ vào ngày 16 tháng 02 năm 1995 trên cơ sở thống nhất các tổ chức Bảo hiểm xã hội ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ chính là tổ chức chi bảo hiểm xã hội, thu bảo hiểm xã hội, giải quyết chế độ chính sách, bảo toàn, đầu tư tăng trưởng quỹ
Khi này, pháp luật về bảo hiểm xã hội đã có những thay đổi tích cực trên cả hai mặt chính sách và cơ chế quản lý
(i) Thống nhất về nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội và quyền lợi được hưởng, mở rộng đối tượng tham gia đóng bảo hiểm xã hội và không có sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, đảm bảo sự bình đẳng của người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội
(ii) Thành lập quỹ bảo hiểm xã hội tập trung, hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và một phần hỗ trợ của Nhà nước (iii) Hình thành quỹ bảo hiểm xã hội độc lập dùng để trả lương hưu và các khoản trợ cấp cho người tham gia đóng bảo hiểm xã hội theo đúng quy định Phần quỹ nhàn rỗi được dùng đầu tư tăng trưởng quỹ dưới hình thức cho ngân sách Nhà nước vay để trả lương hưu cho người về hưu trước năm 1995 và cho ngân sách vay theo qui định
Trang 37của Chính phủ
(iv) Thống nhất về mặt tổ chức bộ máy quản lý sự nghiệp bảo hiểm xã hội, khắc phục tình trạng quản lý phân tán của cơ chế cũ
Ngày 15/8/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định
số 299/HĐBT kèm theo Điều lệ bảo hiểm y tế, khai sinh ra chính sách bảo hiểm y tế
ở Việt Nam sau 2 năm thực hiện thí điểm chính sách bảo hiểm y tế ở một số địa phương Điều lệ bảo hiểm y tế quy định, đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc
là những cán bộ, công nhân viên chức tại chức và hưu trí ở các đơn vị thuộc khu vực hành chính sự nghiệp, người lao động khu vực sản xuất kinh doanh còn các đối tượng khác sẽ tham gia bảo hiểm y tế theo khả năng và nhu cầu
Đến năm 2002, nhằm cải cách bộ máy của Chính phủ, ngày 24/01/2002, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển Bảo hiểm y tế Việt Nam sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Nghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Như vậy, từ năm 2002, ngoài việc đảm bảo thực hiện các chế độ bảo hiểm
xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam còn được giao thêm nhiệm vụ thực hiện chế độ bảo hiểm y tế cho các đối tượng tham gia
Sau gần 20 năm hình thành và phát triển, nhằm đẩy mạnh công tác thực hiện các chính sách an sinh xã hội và thực hiện nhiệm vụ chính trị theo nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XI ngày 22/11/2012, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định 05/2014/NĐ-CP vào ngày 17/01/2014 quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Nghị định này thay thế Nghị định số 94/2008/NĐ-CP và chính thức có hiệu lực từ ngày 05/03/2014
1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp (sau đây gọi chung là bảo hiểm xã hội), bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật
Trang 38Bảo hiểm xã hội Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về bảo hiểm xã hội, của Bộ Y tế về bảo hiểm y tế, của Bộ Tài chính
về chế độ tài chính đối với các quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế
Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gồm có:
1 Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam
2 Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Bảo hiểm xã hội tỉnh) trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam
3 Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Bảo hiểm xã hội huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Bảo hiểm xã hội huyện) trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh
1.2.4 Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ ở cơ quan Bảo hiểm xã hội
1.2.4.1 Môi trường kiểm soát
Hoạt động của ngành Bảo hiểm xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận mà mục tiêu hoạt động của Bảo hiểm xã hội là an sinh xã hội trong cách lĩnh vực y tế, lao động Đối tượng hưởng thụ kết quả của hoạt động Bảo hiểm xã hội là người dân, người lao động, từ trẻ sơ sinh đến các cụ già Vì thế, nhân viên cơ quan Bảo hiểm xã hội thường xuyên được các lãnh đạo cơ quan nhắc nhở về thái độ và tinh thần làm việc, thực hiện chuẩn mực Ngành, đạo đức nghề nghiệp để đảm bảo phục vụ tốt cho người lao động
và nhân dân
Hoạt động Bảo hiểm xã hội thông thường là hoạt động ba bên, trong đó, một bên là cơ quan Bảo hiểm xã hội, một bên là đơn vị quản lý các đối tượng thụ hưởng chính sách (các công ty, Ủy ban nhân dân phường…), một bên là đối tượng thụ hưởng chính sách (người lao động, trẻ em dưới 6 tuổi, người có công với Cách Mạng, hưu trí…) vì thế nhân viên cơ quan Bảo hiểm xã hội thường xuyên trui rèn chuyên môn, đạo đức nhằm có thể cung cấp đúng thông tin, đúng đối tượng, không thông đồng với các bên thực hiện những hành vi trái Pháp luật, trái đạo đức
Trang 39Ngoài ra, các nhà lãnh đạo cơ quan Bảo hiểm xã hội đã xây dựng chính sách khen thưởng, kỷ luật, tiêu chuẩn tuyển dụng nhân viên cũng như thường xuyên đào tạo nghiệp vụ, chuyên môn cho nhân viên và tổ chức giao lưu, hợp tác với các tổ chức
an sinh xã hội nước ngoài
Cơ quan Bảo hiểm xã hội còn duy trì báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất đến các cơ quan quản lý Nhà nước, Chính phủ về tình hình hoạt động nhiệm vụ chính trị
do Đảng, Nhà nước và Chính phủ giao
1.2.4.2 Đánh giá rủi ro
Việc nhận diện, đánh giá rủi ro là một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ Các rủi ro trong hoạt động bảo hiểm xã hội thông thường xuất phát từ hoạt động thu, chi quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
Hoạt động chủ yếu của ngành Bảo hiểm xã hội thường giao dịch bằng tiền và khối lượng giao dịch khá lớn, số lượng nghiệp vụ nhiều, phạm vi đối tượng có liên quan khá rộng vì thế có tiềm ẩn rủi ro cao trong hoạt động
Ngoài ra, hiện nay, việc cân đối các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp đang là vấn đề được nhiều người quan tâm Việc cân đối quỹ ảnh hưởng rất nhiều đến chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp trong tương lai Chính điều này, đặt ra việc đánh giá rủi ro trong hoạt động bảo hiểm xã hội không còn chỉ đơn thuần đánh giá rủi ro trong hoạt động thu, chi các quỹ mà còn đánh giá rủi ro trong việc cân đối quỹ Điều này đặt ra nhu cầu về đội ngũ chuyên nghiệp trong việc quản lý và đầu tư quỹ và đánh giá các rủi ro trong các hoạt động đầu tư quỹ
1.2.4.3 Hoạt động kiểm soát
Cơ quan Bảo hiểm xã hội là cơ quan Nhà nước, trực thuộc Chính phủ nên Chính phủ kiểm soát rất chặt chẽ hoạt động thông qua hệ thống văn bản quy phạm và các văn bản hướng dẫn khác Tuy nhiên, do đặc thù cơ quan Bảo hiểm xã hội chịu sự quản lý của nhiều cơ quan quản lý Nhà nước nên các văn bản quy định đôi khi chồng
Trang 40chéo lẫn nhau hoặc có sự mâu thuẫn giữa các văn bản Chính điều này khiến hoạt động kiểm soát chưa thể thực hiện hiệu quả
Việc cụ thể hóa các văn bản quy phạm và các văn bản hướng dẫn trong từng nghiệp vụ luôn được cân nhắc và triển khai bằng văn bản đến nhân viên, tuy nhiên,
do tính phức tạp của hoạt động bảo hiểm xã hội nên các văn bản hướng dẫn đôi khi chưa đáp ứng được mức độ phức tạp của nghiệp vụ bảo hiểm xã hội Điều này khiến
hệ thống kiểm soát nội bộ chưa hữu hiệu và có thể phát sinh nhiều rủi ro không được nhận diện và đánh giá trước
1.2.4.4 Thông tin và truyền thông
Hệ thống thông tin và truyền thông cần đảm bảo sự truy xuất khi cần thiết và sự bảo mật, an toàn thông tin Chính điều này đặt ra nhiệm vụ rất quan trọng của hệ thống thông tin trong hoạt động bảo hiểm xã hội Hệ thống thông tin và truyền thông cần cung cấp chính xác, kịp thời, đầy đủ đến các nhân viên có thẩm quyền cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước, nhân dân khi có yêu cầu Một mặt, việc công khai hóa thủ tục hành chính, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; một mặt, bảo mật thông tin cá nhân người lao động và nhân dân, tránh việc lợi dụng thông tin cá nhân để trục lợi Đây là một vấn đề khó trong việc kiểm soát nội bộ trong hoạt động bảo hiểm xã hội
1.2.4.5 Giám sát
Mỗi hệ thống kiểm soát nội bộ cần giám sát thường xuyên và định kỳ nhằm có thể điều chỉnh hệ thống kiểm soát nội bộ khi phát sinh những rủi ro mới, chưa được đánh giá hoặc khi hoàn cảnh, môi trường hoạt động có thay đổi hoặc khi các chính sách, thủ tục thay đổi
Hoạt động giám sát được thực hiện từ nhiều phía, từ nội bộ cơ quan như các giám đốc quận, huyện, trưởng, phó phòng, tổ trưởng, nhân viên nghiệp vụ… hay từ bên ngoài như các cơ quan quản lý Nhà nước, từ các đại biểu Quốc hội, các đơn vị
và người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và nhân dân