DANH MỤC CÁC BẢNG 2.5 Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng 2.8 Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế, các loại sinh vật
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH: CÔNG NGH Ệ MÔI TRƯỜNG
LU ẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
QU ẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
KH ẢO SÁT TÌNH HÌNH THU GOM VÀ
BÌNH DƯƠNG ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
QU ẢN LÝ THÍCH HỢP
MSSV : 810274B
L ỚP : 08MT1N GVHD : TS TRƯƠNG TỐ OANH
TP H Ồ CHÍ MINH : THÁNG 12/2008
Trang 2QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
KH ẢO SÁT TÌNH HÌNH THU GOM VÀ
BÌNH D ƯƠNG ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP THÍCH HỢP
SVTH : LÊ NGUY ỄN HẠ UYÊN
MSSV : 810274B LỚP : 08MT1N
Ngày giao nhi ệm vụ luận văn: 19/09/2008
Ngày hoàn thành lu ận văn: 12/12/2008
T P HCM , Ngày 15 tháng 12 năm 2008
Gi ảng viên hướng dẫn
TS TRƯƠNG TỐ OANH
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin chân thành cám ơn toàn thể qúy thầy cô giảng viên đã không
ngừng tận tụy dạy dỗ chúng em trong suốt bốn năm học tập tại trường Đại Học Tôn Đức Thắng Được sự giúp đỡ & hướng dẫn tận tình của qúy thấy cô, đặt biệt là các
thầy cô trong Khoa Môi trường & Bảo hộ lao động, em đã nhận được rất nhiều kiến
thức qúy báu, trở thành người có ích cho xã hội
Kế đến, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến TS Trương Tố Oanh, người trực tiếp hướng dẫn em làm luận văn này Cô đã tận tình hướng dẫn, cho
em rất nhiều lời khuyên và góp ý để em hoàn thành luận văn này Cảm ơn cô đã tạo điều kiện cho em tiếp thu kiến thức mới
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú và anh chị của sở Tài Nguyên & Môi Trường tỉnh Bình Dương, sở Y Tế tỉnh Bình Dương, các cô chú trong bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương, bệnh viện Y Học Cổ Truyền, đã tận tình chỉ dẫn, đóng góp ý
kiến, cung cấp tài liệu cho em trong quá trình khảo sát thực tế tại bệnh viện để bổ sung cho phần trình bày luận văn
cả gia đình đã luôn quan tâm đóng góp ý kiến, cho con những lời khuyên và tạo mọi điều kiện để con hoàn thành tốt luận văn của mình
Cuối cùng mình xin cảm ơn các bạn đồng khóa đã giúp đỡ mình rất nhiều trong
học tập cũng như thực hiện luận văn này
Mặc dù được sự giúp đỡ của nhiều người, nhưng với lượng kiến thức còn hạn
chế nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những sai sót Em mong được sự đóng góp
ý kiến chân thành của thầy cô, anh chị và các bạn để em có thể sửa chữa những sai sót
cũng như để nâng cao được kiến thức của mình
Xin chân thành cám ơn!
Sinh viên
Trang 4NH ẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
HƯỚNG DẪN
Tp H ồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm 2008 Gi ảng viên TS Trương Tố Oanh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
2.5 Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng
2.8
Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại
chất thải y tế, các loại sinh vật gây bệnh và phương thức lây
truyền
17
5.1 Yêu cầu màu sắc, đánh dấu nhãn thùng và túi đựng chất thải y tế 51
5.2 Một số dụng cụ thu gom, phân loại CTR y tế nguy hại tại nguồn
Trang 6DANH M ỤC CÁC HÌNH
4.2 Phân loại rác thải để xử lý tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam
4.4 Sơ đồ công nghệ đốt rác y tế hiện đang sử dụng tại bệnh viện đa
5.3 Sơ đồ qui trình thu gom và xử lý chất thải rắn áp dụng từ nay đến
Trang 8M ỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN
DANH M ỤC CÁC BẢNG
DANH M ỤC CÁC HÌNH
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
L ỜI MỞ ĐẦU 4
Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG 5
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 5
1.2 Mục tiêu của đề tài 5
1.3 Nội dung của đề tài 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.5 Ý nghĩa thực tiễn 6
1.6 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 6
Chương 2: TỔNG QUAN VỀ RÁC THẢI Y TẾ 7
2.1 Đặc điểm của chất thải y tế 7
2.1.1 Nguồn chất thải rắn y tế 7
2.1.2 Khuynh hướng phát thải chất thải y tế 11
2.1.3 Nguồn và phân loại chất thải rắn y tế 11
2.1.4 Khối lượng chất thải phát sinh 13
2.1.5 Thành phần chất thải rắn bệnh viện 14
2.2.Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khoẻ 15
2.2.1.Tác hại của chất thải y tế lên sức khoẻ 15
2.2.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế lên sức khỏe cộng đồng 21
2.3 Sự tồn lưu tác nhân gây bệnh trong môi trường 23
C hương 3: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI CÁC BỆNH VIỆN Ở VIỆT NAM 25
3.1 Phân loại, thu gom chất thải rắn bệnh viện 25
3.2 Lưu trữ, vận chuyển chất thải y tế tới nơi thiêu huỷ 25
3.3 Các phương pháp xử lý và thiêu hủy chất thải rắn y tế 26
3.3.1 Thiêu đốt chất thải y tế 26
3.3.2 Chôn lấp chất thải y tế 27
Trang 93.4 Những tồn tại, khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn y tế 28
3.5 Giới thiệu một số lò đốt hiện đang sử dung tại Việt Nam 29
Chương 4: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN CỦA MỘT SỐ BỆNH VI ỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG 31
4.1 Sơ lược về tỉnh Bình Dương 31
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 31
4.1.2 Nguồn nước 34
4.1.3 Kinh tế 36
4.1.4 Y tế và môi trường 37
4.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn của tỉnh 37
4.2.1 Vài nét về ngành y tế của tỉnh 38
4.2.2 Khối lượng và thành phấn chất thải trên địa bàn tỉnh Bình Dương 40
4.2.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn của tỉnh Bình Dương 41
4.3 Các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế 45
4.3.1 Chôn lấp 45
4.3.2 Thiêu huỷ 45
4.4 Đánh giá tổng thể công tác quản lý chất thải rắn ở các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Bình Dương 48
Chương 5: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢ I PHÁP TRONG VIỆC THU GOM, VẬN CHUY ỂN, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CHO CÁC BỆNH VIỆN TRÊN ĐỊA BÀN T ỈNH BÌNH DƯƠNG 50
5.1 Phân loại, thu gom và vận chuyển 50
5.1.1 Tách – phân loại 50
5.1.2 Thu gom tại khoa phòng 52
5.1.3 Lưu chứa 53
5.2 Các biện pháp về quản lý môi trường 55
5.2.1 Các biện pháp về cơ chế, tổ chức quản lý môi trường bệnh viện 56
5.2.2 Các biện pháp về áp dụng hệ thống bảo vệ môi trường bệnh viện 56
5.3 Các giải pháp công nghệ xử lý ô nhiễm 57
5.3.1 Xử lý ô nhiễm không khí và mùi hôi 57
5.3.2 Xử lý chất thải y tế 58
5.4 Các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm 59
Trang 105.4.1 Quản lý nội vi 60
5.4.2 Khảo sát quá trình hoạt động và làm việc tốt hơn 60
5.4.3 Một số biện pháp khả thi khác 60
5.5 Đề xuất các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức môi trường cho công tác xử lý ô nhiễm môi trường 61
5.5.1 Tổ chức các chương trình tuyên truyền nội bộ và đối dân cư khu vực xung quanh cho công tác xử lý ô nhiễm môi trường 61
5.5.2 Tổ chức các chương trình giáo dục và đào tạo về chương trình xử lý ô nhiễm và công tác bảo vệ môi trường bệnh viện 62
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
6.1 Kết luận 63
6.2 Kiến nghị 63
TÀI LI ỆU THAM KHẢO
PH Ụ LỤC
Trang 11L ỜI MỞ ĐẦU
Bình Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong
những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm thuộc loại cao nhất cả nước Trong
năm 2006, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bình Dương là 15% (Nguồn: trang Web tỉnh
Bình D ương) Theo định hướng của tỉnh, GDP năm 2010 sẽ dạt 16.603 tỷ đồng cao
gấp 2,1 lần so với năm 2005 Với những thế mạnh về kinh tế, xã hội đạt được, chất lượng cuộc sống của người dân đô thị Bình Dương ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên, bên cạnh các lợi ích do kinh tế đem lại, tình hai mặt của sự phát triển nhanh
về kinh tế cũng xuất hiện Đó chính là các vấn đề về quản lý đô thị, trong đó vấn dể
kết hợp một cách hợp lý giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường nói chung và đặt
biệt là quản lý chất thải rắn nói riêng đang là một trong những vấn đề đáng được quan tâm
Với dân số 1.030.722 người (Niêm giám thống kê năm 2006), gần 20 bệnh viện của Nhà nước và tư nhân, khoảng 90 trung tâm y tế cấp thị xã, thị trấn, phường/xã, hàng tháng tỉnh Bình Dương đổ ra khoảng 60 tấn chất thải y tế (nguy hại), chưa kể các loại không nguy hại
Hiện nay, cũng giống như các tỉnh, thành phố trong cả nước, việc quản lý chất thải y tế
tại Bình Dương còn gặp nhiều khó khăn như: hầu hết các bệnh viện đều chưa có lò đốt
chất thải y tế, các phòng, trung tâm y tế tuyến phường/xã nhiều nơi còn xử lý chung
với rác sinh hoạt Hơn nữa ngành y tế vẫn chưa có phương án thu gom, vận chuyển, xử
lý rác thải y tế cho toàn ngành, đặt biệt là chất thải y tế cấp xã và y tế hoạt động tư nhân Khu xử lý tập trung của tỉnh là khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Bình Dương chưa hoàn thiện lò đốt chất thải y tế Chính vì vậy hiện nay, một lượng không
nhỏ chất thải y tế (mang tính nguy hại) đã và đang được xử lý chung với rác thải sinh
hoạt hoặc không được xử lý triệt để Nếu còn kéo dài, đây sẽ là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh
Với những phân tích như trên cho thấy, hệ thống quản lý chất thải y tế tại tỉnh Bình Dương còn nhiều khiếm khuyết cần được hoàn thiện, đặt biệt là công tác thu gom, vận chuyển và xử lý triệt để, đảm bảo không để chất thải y tế thải ra ngoài không đúng cách, gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, luận văn này được thực hiện nhằm khảo sát, đánh giá tình hình quản lý chất thải rắn tại 16 bệnh viện điển hình và 1 số phòng khám
đa khoa, trạm xá trên địa bàn tỉnh từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện của tỉnh trong giai đoạn hiện nay góp phần làm cho môi trường
bệnh viện ngày càng tốt hơn
Trang 12Chương 1:
GI ỚI THIỆU CHUNG
1.1 Tính c ần thiết của đề tài
Tại Bình Dương hiện nay ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực với mức
độ khác nhau trong đó có y tế Có thể nói ô nhiễm trong ngành Y Tế đang diễn ra khá
trầm trọng mà nổi bật là ở các bệnh viện
Rác thải y tế bao gồm chất thải nguy hại như: kim tiêm, găng tay, cao su, bông, băng
thấm dịch hoặc máu, các loại thuốc quá hạn, bệnh phẩm và rác thải phóng xạ Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp nhưng chất thải rắn
y tế và bệnh phẩm lại có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và lây truyền dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân nếu không được xử lý đúng mức
Do chất thải bệnh viện ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ cộng đồng nên công tác thu gom
và xử lý phải triệt để
1.2 M ục tiêu của đề tài
Đề tài tập trung vào 2 vấn đề chính:
Đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Đề xuất các biện pháp để thu gom và xử lý chất thải rắn bệnh viện phù hợp với điều kiện tỉnh
1.3 N ội dung đề tài
Để đạt được những mục tiêu trên, nội dung đề tài bao gồm:
Tìm hiểu điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của tỉnh
Khảo sát thực tế tình hình phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh
Tìm hiểu về hệ thống quản lý chất thải y tế của tỉnh
Đánh giá các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống quản lý chất thải bệnh viện của
tỉnh
Đề xuất một số biện pháp quản lý chất thải rắn bệnh viện phù hợp với địa bàn
tỉnh
Trang 131.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, kế thừa và tổng hợp các tài liệu liên quan đến bệnh viện trên địa bàn tỉnh (thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến nội dung đề tài từ các bệnh viện, Sở Y Tế, Sở Tài Nguyên và Môi Trường, từ thầy cô, từ sách báo, thông tin trên mạng v.v Sau đó sẽ lựa chọn những thông tin cần thiết nhất)
Phương pháp điều tra, khảo sát (khảo sát tình hình thực tế tại các bệnh viện trên
địa bàn tỉnh) bằng phiếu điều tra
Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý các số liệu (từ các số liệu thu thập được, tổng hợp lại và đưa ra 1 số liệu thống nhất, chính xác nhất làm cơ sở đánh giá và giải quyết các vấn đề cần quan tâm)
Phương pháp so sánh
1.5 Ý ngh ĩa thực tiễn
Đánh giá được tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn bệnh viện trên địa bàn tỉnh
các bệnh viện trong tỉnh, một trong những vấn đề cấp bách hiện nay
1.6 Gi ới hạn nghiên cứu của đề tài
Khảo sát tại 16 bệnh viện điển hình trên địa bàn tỉnh Bình Dương và các phòng khám
đa khoa, trạm xá trong khu vực
Trang 14Chương 2:
T ỔNG QUAN VỀ RÁC THẢI Y TẾ
2.1 Đặc điểm của chất thải y tế
2.1.1 Ngu ồn phát sinh chất thải rắn y tế
2.1.1.1 Các định nghĩa
Ch ất thải nguy hại
Là chất thải có chứa các chất hoặc hoá chất có một trong các đặc tính gây nguy hại
trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, gây ăn mòn, dễ lây nhiễm với các đặc tính nguy
hại), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người
Do có các đặc tính và tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khoẻ mà các loại chất
thải y tế nguy hại đòi hỏi phải được thu gom, phân lập và tiêu huỷ theo những qui trình đặc biệt và đảm bảo an toàn có áp dụng các công nghệ phức tạp và thường là tốn kém
để tránh thoát thải ra môi trường bên ngoài
Ch ất thải y tế
Là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng
bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học
Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí:
• Chất thải rắn y tế phát sinh từ các lĩnh vực chăm sóc bệnh nhân, giải phẫu, nghiên cứu, các phương tiện chuyên ch ở hoặc y tế hoặc từ các công việc khám nghiệm, xử lý tử thi, giải phẫu học, bệnh lý học cũng như khám chữa
bệnh thú y
• Chất thải lỏng chính là nước thải bệnh viện bao gồm nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên làm việc trong bệnh viện, bệnh nhân và thân nhân
bệnh nhân
• Nói đến chất thải dạng khí chính là nói đến môi trường không khí tại các
môi trường tại các lò đốt chất thải rắn y tế
Chất thải y tế thường bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động đối với môi trường sức khoẻ giống như các chất thải thông thường khác
Ch ất thải y tế nguy hại: là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ
thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan con người, động vật, bơm, kim tiêm và các
Trang 15vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế Nếu những
chất này không được huỷ sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khoẻ con người
Qu ản lý chất thải y tế nguy hại
Là các hoạt động kiểm soát chất thải trong suốt quá trình từ khi chất thải phát sinh đến
xử lý bắt đầu từ khâu thu gom, vận chuyển, lưu trữ và tiêu huỷ chất thải y tế nguy hại
Thu gom
Là việc hoạt động tập hợp, tách, phân loại, đóng gói và lưu trữ tạm thời tại điểm tập trung của cơ sở y tế
V ận chuyển
Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến
nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng
X ử lý ban đầu
Là quá trình khử khuẩn hoặc tiết khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao ngay
gần nơi phát sinh khi vận chuyển tới nơi lưu trữ hoặc tiêu huỷ
Tiêu hu ỷ
Là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập (bao gồm cả chôn lấp) chất thải nguy hại làm mất khả năng nguy hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
2.1.1 2 Cách xác định chất thải y tế
Để xác định nguồn phát thải, tải lượng của chất thải y tế nói chung và tỷ lệ chất thải
rắn nguy hại nói riêng có rất nhiều cách đánh giá khác nhau và chưa thực sự thống
nhất
Một cách tiếp cận thuyết phục để có thể dự báo, ước lượng chất thải y tế nói chung và
số lượng hay tỷ lệ chất thải y tế nguy hại nói riêng phải dựa vào các yếu tố sau:
• Số lượng, đặc điểm, phạm vi cứu chữa, qui mô khám bệnh, điều trị của tất cả các cơ sở y tế
• Số lượng giường bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế có giường bệnh từ tuyến huyện và tương đương trở lên bao gồm cả các bệnh viện do ngành y tế quản lý
và do các ngành khác quản lý
• Lượng chất thải y tế phát thải mỗi ngày xác định theo giường bệnh (giường
bệnh của cấp bệnh viện) mỗi ngày
• Tỷ lệ chất thải y tế nguy hại trên tổng chất thải y tế chung của giường bệnh (giường bệnh cấp bệnh viện) mỗi ngày
Trên cơ sở này, có thể áp dụng ước lượng khối lượng chất thải của bệnh viện cụ thể
của khu vực, thậm chí có thể ước lượng khối lượng chất thải rắn cho phạm vi toàn
Trang 16quốc Các cơ sở y tế ở Việt Nam chủ yếu thuộc ngành y tế được tổ chức phân bố theo
4 cấp:
• Các cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y Tế
• Các cơ sở y tế trực thuộc tỉnh
• Các cơ sở y tế tuyến huyện
• Các cơ sở y tế tuyến xã và tương đương
Trong đó, qui mô bệnh viện có từ tuyến huyện gọi là bệnh viện huyện, tuyến tỉnh gọi
là bệnh viện tỉnh và tuyến sau cùng là các bệnh viện tuyến Trung Ương Đa số các
bệnh viện của các tuyến là qui mô bệnh viện đa khoa, một số bệnh viện chuyên khoa Các bệnh viện nêu trên là các cơ sở y tế có giường bệnh, thường xuyên hoạt động khám chữa bệnh và cũng thường xuyên phát thải chất thải rắn y tế
Một số ngành khác cũng có cơ sở y tế từ tuyến cơ sở cho tới tuyến chuyên khoa như
Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An có hẳn một hệ thống y tế từ tuyến Trung Ương tới cơ sở
Tải, Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Trong cách xác định trên đây còn chưa đánh giá được nguồn và số lượng thải tại các
trạm y tế xã, phòng mạch tư nhân và các hoạt động từ các cơ sở đào tạo, nghiên cứu sinh học
Dưới đây là một số tài liệu đã công bố số lượng phát thải chất thải rắn y tế mỗi giường
bệnh/ngày, tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại, tải lượng chung toàn quốc
B ảng 2.1: Lượng chất thải rắn y tế trung bình trên giường bệnh/ngày
Phạm Thị Ngọc Bích, Phạm Ngọc Châu Kinh nghiệm bước đầu xử lý chất thải tại một
số bệnh viện cấp tỉnh ở Việt Nam, hội thảo
Việt Nam – Thuỵ Điển
thi xây dựng xưởng đốt CTYT Hà Nội
viện
bệnh viện
Trang 175 1998 2,27 Nguyễn Xuân Nguyễn Hội thảo quản lý chất
(Ngu ồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý chất thải - 2004)
Như vậy lượng chất thải rắn y tế trung bình phát thải theo mỗi giường bệnh tại tuyến
bệnh viện mỗi ngày là 2,21 kg/GB/ngày Tuy nhiên hệ số phát thải này chỉ nên áp
dụng cho tuyến tỉnh và tương đương Các bệnh viện tuyến huyện sẽ có hệ số phát thải
thấp hơn do phạm vi cứu chữa, khả năng áp dụng các kỹ thuật ở mức thấp hơn
Về đặc điểm chất thải và tỷ lệ chất thải y tế nguy hại cũng có khá nhiều nghiên cứu công bố các số liệu khá tương đồng với nhau.(Xem phụ lục 1)
Hầu hết các tác giả đều đưa ra các số liệu tương đối gần nhau thống nhất tỷ lệ chất thải
y tế ngu y hại trong tổng chất thải y tế nói chung là 20% với đặc điểm tỷ trọng 130 kg/m3
K ết luận chung:
, hàm lượng tro còn lại sau khi đốt là 9,76% và nhiệt trị trung bình l2537 Kcal/kg
• Hệ số phát thải chất thải rắn y tế: 2,21 kg/GB/ngày
• Tỷ lệ chất thải rắn nguy hại: 20% (tương đương)
Từ cơ sở dữ liệu lượng chất thải y tế trung bình giường bệnh ngày, tỷ lệ chất thải y tế nguy hại trong tổng số chung và số lượng giường bệnh tại các cơ sở y tế từ tuyến huyện trở lên và tương đương có thể xác định được tổng lượng chất thải y tế nguy hại
phải xử lý theo địa bàn và theo khu vực cho mỗi bệnh viện (Xem phụ lục 2)
Tính chung cho toàn quốc, lượng chất thải từ các hoạt động dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ y tế là:
• Chất thải rắn y tế chung: 252 tấn/ngày
• Chất thải rắn y tế nguy hại: 50 tấn/ngày
Trong đó 2 thành phố có tải lượng lớn nhất là:
• Tp Hồ Chí Minh: 31,3 tấn chất thải rắn y tế chung, trong đó có 6,2 tấn chất thải
rắn y tế nguy hại
Trang 18• Tp Hà Nội: 26,5 tấn chất thải rắn y tế chung, trong đó có 5,3 tấn chất thải rắn y
tế nguy hại
2.1.2 Khuynh hướng phát thải chất thải y tế
2.1.2.1 Đối với chất thải y tế chung
Tổng lượng chất thải y tế chung ít biến đổi do tổng số giường bệnh tương đối ổn định
Mặc dù có sự gia tăng số giường bệnh của các bệnh viện tuyến huyện trở lên trong các giai đoạn từ 2000 tới nay nhưng số giường bệnh tại các cơ sở y tế khác như trạm y tế
cơ quan, điều dưỡng lại giảm
2.1.2.2 Ch ất thải y tế nguy hại
Tuy tổng thải chung chất thải y tế tăng ít hoặc chỉ tăng nhẹ, nhưng lượng chất thải y tế nguy hại phải xử lý đặc biệt lại gia tăng lên theo thời gian do các xu thế sau:
• Tăng tỷ lệ sử dụng các dụng cụ dùng một lần như kim bơm tiêm, đè lưỡi, găng tay phẫu thuật, ống thông, túi thu dịch dẫn lưu, bông băng, vải trải phẫu thuật,
quần áo phẫu thuật v.v…
• Tăng số lượng các giường bệnh ở cơ sở điều trị từ tuyến huyện và tương đương
trở lên
• Ngày càng ứng dụng nhiều hơn các kỹ thuật cao trong tất cả các khâu từ khám
bệnh, xét nghiệm, chuẩn đoán và điều trị
B ảng 2.2: S ự gia tăng chất thải y tế theo thời gian ở Việt Nam
Ch ỉ số 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Giường bệnh (1000 giường) 120,3 120,1 121,9 122,5 123,4 123,6 124,1
(Ngu ồn: theo công văn của Sở y tế tỉnh Bình Dương_2006)
2.1.3 Ngu ồn và phân loại chất thải rắn y tế
Theo định nghĩa, chất thải rắn y tế nguy hại là chất thải dạng rắn phát sinh trong các cơ
sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên
cứu, đào tạo
Việc phân loại và xác định chất thải y tế của đa số các nước trên thế giới, kể cả các nước trong khu vực cũng như hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO) khá nhất quán và nhìn chung đều bao gồm các loại chính như sau:
Trang 19 Nhóm ch ất thải lâm sàng (clinical waste): bao gồm 5 phân nhóm khác nhau là:
• Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn (infectious waste): vật liệu thấm máu, dịch, băng gạc, bông băng, túi đựng dịch, dẫn lưu v.v…
• Nhóm B: các vật sắc nhọn (sharps): như các loại kim tiêm, lưỡi dao mổ, dao lam dùng trong y tế, ống thuốc tiêm vỡ v.v…
• Nhóm C: chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm như găng tay, lam kính, bệnh phẩm v.v…
thuốc gây độc tế bào kể cảc các lọ thuốc đã được sử dụng nhưng còn tồn lưu dư lượng, và hoá chất có tính gây độc đối với tế bào
• Nhóm E: bệnh phẩm (pathological waste): nhóm này bao gồm các mô v à cơ quan người, động vật, một phần chi thể bị cắt bỏ do các can thiệp phẫu thuật (cần lưu ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi chúng không chứa nguồn lây nhiễm nhưng cũng vẫn có khả năng gây ra tác động tâm lý rất mạnh)
Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hoá trị liệu và nghiên
cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ
Nhóm ch ất thải hoá học
Chất thải hoá học bao gồm các hoá chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axít amin, một số loại muối v.v và hoá chất nguy hại như phóc -man-đê-hít, hoá
chất quang học, các dung môi, hoá chất dùng để diệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch,
khử khuẩn, các hóa chất dùng trong khử trùng, tẩy uế, thanh trùng v.v
Nhóm ch ất thải sinh hoạt
bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần, v.v đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu huỷ đúng qui cách
Nhóm chất thải này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường từ các hộ gia đình gồm giấy loại, vải loại, vật liệu đóng gói bao gói, thức ăn còn thừa, thực phẩm
thải bỏ và chất thải ngoại cảnh như các loại lá cây, hoa quả rụng v.v
Trang 202.1.4 Kh ối lượng chất thải phát sinh
Khối lượng chất thải y tế không chỉ thay đổi theo từng khu vực địa lý, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như:
• Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm hoạ đột xuất
• Loại và qui mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa
• Số lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú
• Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực
• Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và chăm sóc
• Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân
Tham khảo tài liệu nước ngoài cho thấy khối lượng chất thải rắn y tế cũng được ước lượng trên cơ sở số giường bệnh và hệ số phát thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thay đổi theo mức thu nhập, thay đổi theo loại bệnh viện mức phát thải khác nhau theo các khoa phòng chuyên môn cụ thể như sau:
B ảng 2.3: Lượng chất thải thay đổi theo từng nước
Ch ất thải bệnh viện nói chung (kg/GB/ngày)
Ch ất thải y tế nguy hại (kg/GB/ngày)
Nước thu nhập trung
(Ngu ồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - 2004)
B ảng 2.4: Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện
Ngu ồn phát sinh Lượng chất thải theo từng bệnh viện
(kg/GB/ngày)
(Ngu ồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - 2004)
Trang 21B ảng 2.5: Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau
trong cùng b ệnh viện Các b ộ phận khác trong
b ệnh viện
Lượng chất thải (kg/GB/ngày)
(Ngu ồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - 2004)
Ở một số nước trên thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam là có bệnh viện tuyến Trung Ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải chất thải rắn y tế cũng dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ chất thải nguy hại
B ảng 2.6: Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện
Tuy ến bệnh viện T ổng lượng chất thải y tế
Chất thải rắn y tế phát sinh trong bệnh viện chủ yếu là do các hoạt động chuyên môn
và phụ thuộc vào số giường bệnh, số bệnh nhân nằm điều trị (tỷ lệ sử dụng giường
bệnh) và còn một lượng chất thải sinh hoạt từ nhân viên y tế trong bệnh viện Đối với các bệnh viện ở Việt Nam, do đặc điểm có mặt một số lượng đáng kể người nhà bệnh nhân, người thăm nuôi, một vài dịch vụ khác như nhà hàng ăn uống, sách báo v.v mà
viện Chính hiện trạng này làm cho khối lượng phát sinh chất thải rắn trong bệnh viện tăng lên, đặc điểm thành phần chất thải bệnh viện cũng thay đổi theo (có thể tăng tỉ lệ
khối lượng chất thải rắn sinh hoạt) Kết quả này dẫn tới sự quá tải của hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn được thiết kế theo số giường bệnh Sự quá tải này cũng là nguyên nhân dẫn đến việc quản lý, thu gom và phân loại và xử lý thiếu nghiêm ngặt và
Trang 22không tuân thủ các qui định bắt buộc, do đó dẫn đến tình trạng là một tỷ lệ chất thải
rắn y tế nguy hại có thể bị lẫn vô chất thải rắn chung và phát tán ra môi trường bên ngoài, trở thành nguồn gây ô nhiễm và có khả năng gây ra các rủi ro về môi trường và
sức khoẻ
Chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm các thành phần chất thải trong các mục phân loại C,D,E,F
B ảng 2.7: Đặc điểm, thành phần chất thải rắn y tế bệnh viện
(%)
E Chai thuốc, túi thuốc, chai dịch, túi dịch, túi máu, thành phần chất dẻo 10,1
(Ngu ồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý chất thải - 2004)
2.2 Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khoẻ
2.2.1 Tác h ại của chất thải y tế lên sức khoẻ
Chất thải y tế bao gồm một lượng lớn chất thải có đặc điểm như chất thải sinh
hoạt chung và một tỷ lệ nhỏ hơn (khoả ng 20%) các chất thải có khả năng gây rủi ro cao (chất thải nguy hại) Chất thải rắn y tế có thể tạo nên những mối nguy cơ tiềm tàng cho sức khoẻ con người
Các lo ại hình rủi ro
Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương Khả năng gây
rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hay nhiều đặc trưng cơ bản sau đây:
• Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là tác nhân nguy hại trong rác
thải y tế
• Các hoá chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm
Trang 23• Các chất chứa đồng vị phóng xạ
• Các vật sắc nhọn có thể gây tổn thương
• Chất thải có yếu tổ ảnh hưởng tâm lý xã hội
Nh ững đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ nhiễm bệnh từ chất thải y tế
Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những ngưới có nguy cơ cao,
dễ bị nhiễm bệnh từ chất thải y tế, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế,
những người làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong các khu quản
lý và kiểm soát chất thải
Dưới đây là những nhóm đối tượng chính có nguy cơ cao đối với tác hại của chất thải
y tế:
• Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện, những người thực
hiện các thủ thuật xâm lấn, tiêm, thay băng, v.v…
• Những người thực hiện nhiệm vụ phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải y
tế từ ngay tại nguồn về nơi tập kết của bệnh viện
• Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc bệnh nhân ngoại trú
• Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân, người thăm nuôi, nhất là trẻ em
• Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện phục vụ cho các
cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển
bệnh nhân, vệ sinh tẩy uế
• Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại bãi đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu rác
Chất thải y tế nguy hại phát sinh từ dịch vụ cơ sở y tế tư nhân, qui mô lẻ, nằm rải rác
cũng là nguồn thải có tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khoẻ do nguồn chất
thải này thường khó kiểm soát và ít khi được chú ý tới Đôi khi, ngay cả những tủ thuốc gia đình hoặc một số tế nạn xã hội như tiêm chích ma tuý cũng là nguồn phát sinh chất thải y tế nguy hại có tiềm năng gây rủi ro cao về môi trường và sức khoẻ
Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Các vật thể trong thành phần chất thải y tế nguy hại có thể chứa đựng một lượng rất
lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào như tụ cầu, HIV, viêm gan
B Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua các hình thức sau:
• Qua da, qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da do vật sắc nhọn gây
tổn thương
• Qua các niêm mạc, màng nhầy
Trang 24• Qua đường hô hấp (do xông, hít thở phải)
• Qua đường tiêu hoá
Các ví dụ về sự nhiễm khuẩn do tiếp xúc với chất thải y tế được liệt kê trong bảng dưới đây qua đường truyền là các dịch thể như máu, dịch não tuỳ, chất nhờ n, nước
mắt, tuyến nhờn
Có một mối liên hệ đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do virus gây ra hội chứng suy giảm
miễn dịch người (HIV) và virus viêm gan B, C đó là những bằng chứng của việc lan truyền các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường phát thải chất thải rắn y tế
Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh
Trong các cơ sở y tế, tính kháng đa thuốc kháng sinh của các vi khuẩn đối với hàng
loạt họ kháng sinh và các hoá chất sát khuẩn cũng có thể tạo ra những mối nguy cơ do
sự quản lý yếu kém chất thải y tế Điều này đã được chứng minh, chẳng hạn các plasmid từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải y tế được truyến cho vi khuẩn
gốc qua hệ thống xử lý chất thải Hơn nữa, vi khuẩn E.coli kháng thuốc đã cho thấy nó
vẫn còn sống trong môi trường bùn hoạt tính mặc dù ở đó có vẻ như không phải là môi trường thuận lợi cho loài sinh vật này trong điều kiện thông thường của hệ thống xử lý
và tiêu huỷ chất thải y tế
Độ tập trung các các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim đã qua sử dụng) hầu như là những mối nguy cơ
tiềm ẩn sâu sắc đối với sức khoẻ trong các loại chất thải bệnh viện Các vật sắc nhọn
có thể không c hỉ là nguyên nhân gây ra những vết cắt, vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh Như vậy, những
vật sắc nhọn được coi là một loại chất thải y tế rất nguy hiểm bởi nó gây những tổn thương kép: vừa gây tổn thương lại vừa lây truyền các bệnh truyền nhiễm Những vấn
đề đáng lưu tâm là sự nhiễm trùng có thể được lây truyền bởi sự xâm nhập qua da do các tác nhân gây bệnh, ví dụ như nhiễm khuẩn huyết do virus Các loại kim tiêm đã tiêm qua da là một thành phần quan trọng nhất của loại chất thải sắc nhọn và là mối nguy hiểm đặc biệt bởi chúng thường bị dính máu bệnh nhân
B ảng 2.8: Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại
ch ất thải y tế, các loại sinh vật gây bệnh và phương thức lây truyền
Lo ại nhiễm khuẩn Vi sinh v ật gây bệnh D ạng chất
Trang 25sinh dục
Neiserreria gonorrhoeac, virus herpes
Dịch tiết sinh
dục
Chất tiết của
da (mồ hôi,
chất nhờn)
tiết sinh dục
Tất cả các
sản phẩm máu và dịch
tiết Nhiễm khuẩn huyết
Nhiễm khuẩn huyết do
các loại vi khuẩn
khác nhau
Nhóm tụ cầu khuẩn (Staphylococcus spp,
chống đông: Staphylococcus arueus);
enterobacter; enterococus; klebssiella;
Streptococcus spp
Máu
thể
(Ngu ồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý chất thải - 2004)
Nh ững mối nguy cơ từ loại chất thải hoá chất và dược phẩm
Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là mối nguy cơ
đe doạ sức khoẻ con người như các độc dược, các chất gây độc gen, chất độc tế bào,
Trang 26chất ăn mòn, các chất gây phản ứng, gây nổ, gây shock phản vệ, v.v các chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế hoặc đôi khi với tỷ lệ khá lớn nhưng trong các dạng thuốc, sinh phẩm bị quá hạn, thuốc thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Chúng có thể gây nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và gây nhiễm độc mãn tính, gây ra các tổn thương như bỏng Sự nhiễm độc này có thể là do kết quả của sự hấp thụ hóa
chất, hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá
Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất ăn mịn, các hố chất gây phản ứng (phóc đê-hít và các chất dễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt, hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương phổ biến hay gặp nhất là dạng các vết bỏng Các hoá chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm chất thải y
-man-tế dạng hoá chất Chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những
chất ăn mòn Cũng cần phải lưu ý rằng đây cũng là loại hóa chất gây phản ứng và cũng
có thể tạo nên các dạng hỗn hợp thứ cấp có tính độc cao
Các loại hoá chất diệt côn trùng quá hạn lưu trữ trong các thùng bị rò rỉ hoặc túi rách
thủng có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ của bất cứ ai tới gần và
tiếp xúc chúng Trong những trận mưa lớn, các hoá chất diệt côn trùng bị rò rỉ có thể
thấm sâu vô đất và tiếp theo gây ô nhiễm nước ngầm Sự nhiễm độc có thể xảy ra do
tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm hoá chất, do hít phải hơi độc hoặc do uống phải nước
hoặc thức ăn đã bị nhiễm độc Các mối nguy cơ khác có thể là khả năng dẫn đến các
vụ hoả hoạn hoặc gây ô nhiễm do việc xử lý chất thải không đúng cách chẳng hạn như thiêu huỷ hoặc chôn lấp
Các sản phẩm hoá chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây nên bất lợi
tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải (nhất là hệ thống xử lý công nghệ phân huỷ sinh học) hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên tiếp nhận nguồn nước này Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể xảy ra do sản phẩm của quá trình bào
chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và các loại thuốc khác, do các kim loại nặng như thuỷ ngân, phenol và các dẫn xuất, các hoá chất khử trùng và tẩy uế
Nh ững nguy cơ từ chất thải gây độc gen tế bào
Đối với các nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý loại chất thải gây độc gen tế bào mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ các rủi ro tiềm tàng sẽ
phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất, liều lượng gây độc của chất độc và khoảng
thời gian tiếp xúc với chất độc đó Quá trình tiếp xúc với các chất độc trong công tác y
tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt
hoặc bằng phương pháp hoá trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải hoá
chất có tính nhiễm độc ở dạng bụi hoặc hơi mùi qua đường hô hấp, bị hấp thụ qua da
do tiếp xúc trực tiếp, qua đường tiêu hoá do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc Việc
Trang 27nhiễm độc qua đường tiêu hoá thường là do ảnh hưởng của những thói quen xấu,
chẳng hạn như dùng miệng để hút ống pipet trong các công việc như khi định lượng dung dịch, xét nghiệm sinh hoá Mối nguy hiểm cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và chất tiết nhất là các bệnh phẩm cần xét nghiệm của những bệnh nhân đang trong giai đoạn điều trị bằng phương pháp hoá trị liệu
Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình tổng hợp hoặc quá trình phân bào nguyên phân Các thuốc chống ung thư khác, chẳng hạn như nhóm ankyl hoá, không phải là pha đặc hiệu, chỉ biểu hiệu độc tính tại một vài điểm trong chu kỳ tế bào Các nghiên
cứu thực nghiệm cho thấy nhiều loại thuốc chống ung thư lại nên ung thư và gây đột
biến
Nhiều loại thuốc có tính độc gây kích thích cao độ và gây nên những hậu quả huỷ hoại
cục bộ sau khi tiếp xúc trực ti ếp với da hoặc mắt, chúng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da
Cần phải đặc biệt cẩn thận trong việc sử dụng, vận chuyển chất thải gây độc gen tế bào Việc làm thoát thải những chất thải như vậy vào môi trường có thể gây nên những
hậu quả sinh thái không thể lường trước được, nhiều khi tác hại tới môi trường và sinh thái rất nghiêm trọng
Nh ững nguy cơ từ các loại chất thải phóng xạ
Loại bệnh và hội chứng gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi các chất thải, đối tượng và phạm vi tiếp xúc Chất thải phóng xạ cũng như chất thải dược phẩm là
một loại độc hại tới tế bào, gen, và cũng có thể ảnh hưởng tới các yếu tố di truyền
Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như: các nguồn phóng xạ của các phương tiện chuẩn đoán như máy Xqu ang, máy chụp cắt lớp, v.v có thể gây ra
một loạt các tổn thương chẳng hạn như phá huỷ các mô, nhiều khi gây bỏng cấp tính (với một số trường hợp mức độ bị ảnh hưởng trầm trọng tới mức phải dẫn tới việc xử
lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể bị ảnh hưởng.)
Các nguy cơ từ các loại chất thải có chứa các đồng vị hoạt tính thấp có thể phát sinh do
việc nhiễm xạ trên bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời gian lưu
giữ loại chất thải này Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ thu gom và
vận chuyển rác khi phải tiếp xúc với chất thải có chứa các loại đồng vị phóng xạ này là
những người thuộc nhóm nguy cơ cao
Tính nh ạy cảm xã hội
Bên cạnh việc lo ngại đối với những nguy cơ lây bệnh của chất thải rắn y tế tác động lên sức khoẻ, cộng đồng thường cũng rất nhạy cảm với những ấn tượng tâm lý, ghê sợ đặc biệt là khi nhìn thấy loại chất thải thuộc về giải phẫu, các bộ phận cơ thể bị cắt bỏ
Trang 28trong phẫu thuật (các chi, dạ dày, các khối u, rau thai, bào thai nhi, máu, tổ chức hoại
tử, dập nát)
2.2.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khoẻ cộng đồng
2.2.2.1 Ảnh hưởng của các loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Đối với những bệnh có khả năng truyền nhiễm, nguy hiểm do virus gây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc C, những nhân viên y tế, đặc biệt các y tá, hộ lý là những người có nguy cơ nhiễm cao nhất qua những vết thương do các vật sắc nhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gây nên Các nhân viên hành chính của bệnh viện là những người vận hành hệ thống quản lý chất thải trong phạm vi bệnh viện cũng như ngoài bệnh viện ở các trạm xử lý chất thải của địa phương, khu vực cũng có nguy cơ đáng kể, chẳng hạn như những nhân viên quét dọn vệ sinh, những người bới rác tại các bãi đổ rác mặc dù chưa có nhiều bằng chứng ghi nhận những nguy cơ này Nguy cơ của loại bệnh truyền nhiễm này trong số các bệnh nhân và cộng đồng không phải tiếp xúc với chất thải y tế
thấp hơn nhiều Trong một số trường hợp, một vài bệnh truyền nhiễm lây truyền và lan
rộng ra cộng đồng xung quanh nhiều khi trở thành dịch, một bằng chứng được ghi
nhận là vụ dịch tả hoành hành ở Trung Mỹ năm 1996-1997 mà nghi can chính là nước
thải từ một bệnh viện truyền nhiễm ở Peru không được xử lý và thải ra lưu vực, kết
quả là gây nhiễm bệnh và gây bùng phát thành dịch bệnh
Tỷ lệ tổn thương hàng năm do các vật sắc nhọn trong chất thải y tế và dịch vụ vệ sinh môi trường cả trong và ngoài các bệnh viện gây ra đã được các cơ quan đăng ký độc
trước khi vức bỏ vào các thùng chứa, do những thùng chứa nhốt kim không kín hoặc được làm bằng những loại vật liệu dễ bị rách, bị xuyên thủng
Một báo cáo của cơ quan bảo vệ Hoa Kỳ (EPA) tại hội nghị chất thải y tế đã đánh giá
số trường hợp nhiễm virus viêm gan B và C hàng năm do tổn thương gây ra bởi các
chất thải sắt nhọn có trong số các nạn nhân có nhiều nhân viên y tế và các nhân viên trong hệ thống quản lý xử lý chất thải Số người bị nhiễm virus viêm gan B hàng năm
ở Hoa Kỳ mà nguyên nhân do tiếp xúc với chất thải y tế vào khoảng từ 162 đến 321 ca
so với tổng số 300.000 trường hợp bị nhiễm mới hằng năm
Nếu những thực tế ảnh hưởng của chất thải rắn y tế nguy hại được ngoại suy áp dụng cho các nước đang phát triển, thì tác hại tới sức khoẻ cộng đồng còn có khuynh hướng cao hơn Lý do là việc tư vấn và huấn luyện cho những nhân viên do nhu cầu công
việc phải tiếp xúc với chất thải rắn y tế nguy hại ở những quốc gia nghèo hay những
quốc gia đang phát triển có thể không chặt chẽ cho lắm do vậy ngày càng có nhiều người tiếp xúc với chất thải bệnh viện cả bên trong lẫn bên ngoài các cơ sở y tế
Trang 29Trong bất kỳ một cơ sở y tế nào, y tá và những nhân viên quản lý bệnh viện là những nhóm nguy cơ chính bị tổn thương, tỷ lệ tổn thương hàng năm của những đối tượng này vào khoảng 10-20 phần nghìn Tỷ lệ tổn thương cao nhất trong số tất cả các nhân viên có thể đã tiếp xúc với chất thải đã được báo cáo với các nhân viên lao công và nhân viên xử lý chất thải, tỷ lệ hàng năm ở Mỹ là 180 phần nghìn Mặc dù các tổn thương có liên quan đến công việc tron g số các nhân viên y tế và những ngườ i thu gom rác hầu hết là các tổn thương cơ lý như sang chấn, bong gân, va đập và căng
thẳng mệt mỏi do làm việc quá sức Tuy vậy vẫn có một tỷ lệ đáng kể các tổn thương
là do các vết cắt, đâm thủng do các vật sắc nhọn có lẫn trong chất thải rắn gây ra
2.2.2.2 Ảnh hưởng của các chất thải hoá chất và dược phẩm
Trong khi không có tài liệu khoa học nào cho thấy mức độ phổ biến của bệnh tật gây
ra do chất thải hoá chất hoặc dược phẩm từ các bệnh viện đối với cộng đồng, thì nhiều trường hợp nhiễm độc qui mô lớn do chất thải hoá chất công nghiệp đã xảy ra Cũng
có một số thông báo về nhiều vụ tổn thương hoặc nhiễm độc do việc vận chuyển hoá
chất và việc vận chuyển dược phẩm trong bệnh viện không đúng quy cách Các dược
sĩ, bác sĩ gây mê, y tá, kỹ thuật viên, cán bộ hành chính có thể có nguy cơ mắc các
bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da do tiếp xúc với các loại hoá chất dạng chất lỏng dễ bay hơi, dạng phun sương và các dung dịch khác Để hạn chế tới mức thấp nhất loại nguy cơ nghề nghiệp này nên thay thế hoặc giảm lượng hoá chất độc hại xuống bất cứ lúc nào có thể và cung cấp các phương tiện bảo hộ cho tất cả những người tiếp xúc
trực tiếp với hoá chất Những khoa phòng nơi sử dụng và bảo quản loại hoá chất nguy
hiểm cũng nên được thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện các biện pháp phòng hộ cá nhân, tập thể và các kỹ năng xử lý, cấp cứu ban đầu cho những người có liên quan
2.2.2.3 Nh ững ảnh hưởng của các chất thải gây độc gen
Thực chất cần phải có đủ thời gian để thu thập những bằng chứng về ảnh hưởng lâu dài đối với sức khoẻ của các chất thải gây độc gen từ các cơ sở y tế, bởi vì rất khó đánh giá ảnh hưởng lâu dài đối với sức khoẻ của các chất thải gây độc gen trong y tế lên mối nguy cơ đối với con người Một nghiên cứu được tiến hành ở Phần Lan đã tìm
ra một vài dấu hiệu liên quan giữa tỷ lệ sẩy thai trong ba tháng đầu của thai kỳ liên quan tới việc tiếp xúc nghề nghiệp với các thuốc chống ung thư, nhưng các nghiên cứu tương tự được tiến hành tại Pháp và Mỹ lại không xác nhận kết quả này
Có rất nhiều nghiên cứu được xuất bản và điều tra khả năng kết hợp giữa nguy cơ đối
với sức khoẻ và việc tiếp xúc với thuốc chống ung thư, biểu hiện bằng sự tăng đột biến các thành phần trong nước tiểu ở những người đã tiếp xúc và tăng n guy cơ sẩy thai
Trang 30viên phải tiếp xúc với nguy cơ hoá chất độc tế bào có hàm lượng chất này trong nước
tiểu tăng vượt trội so với những y tá và dược sĩ không phải chịu phơi nhiễm trong bệnh
viện đó Phần lớn những đối tượng này thường ít ý thức được mối nguy hiểm và do
vậy ít áp dụng các biện pháp phòng hộ hơn Mức độ tập trung của các thuốc gây độc gen trong bầu không khí bên trong bệnh viện cũng đã được xem xét trong m ột số nghiên cứu thiết kế để đánh giá các ảnh hưởng về sức khoẻ liên quan tới việc tiếp xúc các yếu tố có nguy cơ Hiện vẫn chưa có những công bố khoa học nào ghi nhận những
hậu quả bất lợi đối với sức khoẻ do công tác quản lý yếu kém đối với các chất thải gây độc gen từ trong các cơ sở y tế như bệnh viện
2.2.2.4 Nh ững ảnh hưởng của chất thải phóng xạ
Nhiều tai nạn đã được ghi nhận do việc thanh lý, xử lý các nguyên liệu trong trị liệu
hạt nhân cùng với số lượng lớn những người bị tổn thương do vô tình hay hoàn cảnh
phải tiếp xúc với nguy cơ chất thải phóng xạ trong y tế Một thông báo ở Brazil, đã phân tích và có đầy đủ các tài liệu để chứng minh trường hợp ảnh hưởng của chất thải phóng xạ trong y tế tới ung thư cộng đồng Sự cố này có liên quan tới việc bỏ sót chất
thải phóng xạ của một bệnh viện trong khi chuyển tới một địa điểm mới, do đó làm
thất thoát tại địa điểm cũ một nguồn xạ trị đã được niêm phong Sau đó một người dân
đã chuyển tới địa điểm nơi bệnh viện đã được di dời và vô tình nhặt được nguồn xạ và mang về nhà Hậu quả là có 249 người tiếp xúc chịu phơi nhiễm với nguồn phóng xạ này, nhiều người trong số đó hoặc chết hoặc gặp phải hàng loạt các vấn đề về sức khoẻ Đa số các tác hại của chất thải phóng xạ trong cơ sở y tế được báo cáo qua các
vụ tai nạn có liên quan đến việc tiếp xúc với các nguồn phóng xạ ion hoá trong các cơ
sở điều trị, như hậu quả từ các thiết bị phát tia X quang hoạt động không an toàn, do
việc chuyên chở, vận chuyển các dung dịch xạ trị không đảm bảo hoặc thiếu các biện pháp giám sát trong xạ trị liệu
2.2.3 S ự tồn lưu tác nhân gây bệnh trong môi trường
Các vi khuẩn có trong chất thải y tế, được phát thải ra trong môi trường, có thời gian
tồn lưu ngoài môi trường trong điều kiện tự nhiên Thời gian tồn lưu tác nhân gây bệnh ngoài môi trường có giới hạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là yếu tố lý học, hoá học môi trường như nhiệt độ môi trường, hoạt độ nước, tia cực tím, pH của môi trường, oxi tự do v.v
Virus viêm gan B khá bền vững trong điều kiện không khí khô và có thể tồn lưu trong nhiều tuần lễ trên một số các bề mặt vật ô nhiễm Loại tác nhân này có thể vẫn tồn lưu trong dung dịch sát khuẩn 70% cồn ethanol hay tồn tại tới 10 giờ trong nhiệt độ 600
C
Trang 31Hiệp hội Nhật Bản nghiên cứu về chất thải cho biết, tác nhân virus viêm gan B và C có
thể tồn tại cả tuần lễ trong các giọt máu còn lưu lại trong kim tiêm
Virus HIV có thời gian tồn lưu ngắn hơn, chúng có thể tồn tại không quá 15 phút khi
bị tác động của cồn ethanol 70% hoặc là chỉ có thể tồn lưu từ 3-7 ngày trong điều kiện nhiệt độ ngoại cảnh và chúng bị bất hoạt nhanh chóng tại nhiệt độ 560
Trên thực tế các tác nhân gây bệnh có trong bệnh phẩm, trong chất bài tiết của bệnh nhân không phải lúc nào cũng quá nhiều do tác dụng của điều trị của các loại thuốc, tác dụng của các hoá chất khử trùng, tẩy uế Kết quả một số phân tích vi khuẩn cho
thấy nồng độ vi khuẩn trong một số bệnh phẩm không nhiều hơn so với chất thải sinh
hoạt từ hộ gia đình, có thể do tác động của kháng sinh, do tác dụng của hoá chất khử trùng v.v Tuy nhiên trong khía cạnh này, nên quan tâm cao tới sự lan truyền tác nhân gây bệnh như loài gián, loài ăn chất thối rữa, chuột, các loại côn trùng như ruồi, nhất là
ở những nơi việc cô lập chất thải chưa được thực hiện đúng qui cách
C
Trang 32Chương 3:
HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI CÁC
B ỆNH VIỆN Ở VIỆT NAM
3.1 Phân lo ại, thu gom chất thải y tế
Theo báo cáo của trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, đa số các bệnh viện (81,25%) đã
thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên tham gia công tác này chưa được đào tạo đủ tới mức trở thành kỹ năng Việc phân loại còn chưa theo đúng quy cách như tách các vật sắc nhọn
ra khỏi chất thải rắn y tế, còn lẫn nhiều chất thải sinh hoạt vào chất thải y tế và ngược
lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đúng qui chế quản
lý chất thải bệnh viện, còn tuỳ tiện, có gì sử dụng nấy
Còn nhiều bệnh viện (45%) chưa tách riêng các vật sắc nhọn (kim tiêm) ra khỏi chất
thải rắn y tế làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu huỷ
chất thải Trong số các bệnh viện đã thực hành tách riêng vật sắc nhọn, có tới 11,4%
bệnh viện tuy có tách vật sắc nhọn nhưng chưa thu gom vào các hộp đựng vật sắt nhọn theo đúng tiêu chuẩn quy định, đa số các bệnh viện (88,6%) thường đựng các vật sắc
nhọn vào chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước hay vật dụng tự tạo
Theo qui định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được hộ lý và y công thu gom
hằng ngày tại khoa phòng Các đối tượng khác như bác sĩ, y tá còn chưa được giáo
dục, huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào phân loại thu gom, vận chuyển và tiêu huỷ chất thải
3.2 Lưu trữ, vận chuyển chất thải y tế tới nơi tiêu huỷ
Chất thải rắn y tế được thu gom phân loại và vận chuyển về khu trung chuyển tại bệnh
viện Thực tế trong quy hoạch xây dựng cũng chưa có những hướng dẫn cho việc xây
dựng, các khu vực trung chuyển chất thải rắn bện viện Hầu hết các điểm tập trung
chất thải rắn y tế được bố trí trên một khu đất bên trong khuôn viên bệnh viện thành
một khu trung chuyển Các khu trung chuyển có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ dàng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung rác không có mái che, không
có rào bảo vệ, vị trí lại gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập
Chỉ có một số ít bệnh viện có nơi lưu trữ chất thải đạt tiêu chuẩn qui định
Trang 33Chất thải rắn y tế được nhân viên của Công Ty Môi Trường Đô Thị đến thu gom các túi chất thải tại khu vực trung chuyển của bệnh viện, các nhân viên bệnh viện lẫn nhân
nguy cơ có liên quan đến việc thu gom, vận chuyển và tiêu huỷ chất thải rắn y tế nguy
hại Qua điều tra cho thấy đa số các nhân viên bệnh viện không biết nơi thiêu huỷ cuối cùng của bệnh viện ở đâu
Việc phối hợp liên ngành kém hiệu quả trong mọi công đoạn của quy trình quản lý
chất thải bệnh viện Mới có vài công ty bước đầu nghiên cứu sản xuất được phương
tiện để thu gom, vận chuyển chất thải, tuy nhiên còn đang ở giai đoạn thí điểm chưa
sản xuất đại trà Đối với các bệnh viện đã phân loại, tách chất thải y tế và chất thải sinh
hoạt để xử lý riêng, nhưng ngay ở một số địa phương Công Ty Môi Trường Đô Thị do chưa có hệ thống thiết bị đốt, thiêu huỷ chất thải rắn y tế nguy hại nên đã từ chối vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế Chỉ có 18,75% trong tổng số các bệnh viện có chất
thải được vận chuyển ra khỏi bệnh viện bằng xe chuyên dụng của Công Ty Môi Trường Đô Thị
3.3 Các phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn y tế
3.3.1 Thiêu đốt chất thải rắn y tế
Một thực tế là trong nhiều năm trước đây khi đầu tư xây dựng bệnh viện chúng ta hoàn toàn chưa hoạch toán đến khoản chi phí cho xử lý chất thải Phần lớn các bệnh viện tự xây dựng lấy lò đốt của mình và cũng không theo một thiết kế mẫu nào Tình trạng chung của phần lớn các bệnh viện trong cả nước hiện nay là thiêu đốt chất thải y tế tại các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải kể cả những bệnh viện có khối lượng chất thải y tế cần thiêu đốt rất đáng kể ở Hà Nội Trong các lò đốt thủ công xây
bằng gạch chất thải được đốt bằng củi hoặc dầu, theo cách thủ công nên khi vận hành khói bụi mù mịt, mùi khí cháy khó chịu bay ra khu dân cư
tư hệ thống xử lý chất thải rắn y tế bao gồm cả khâu thu gom, vận chuyển chất thải rắn
y tế từ bệnh viện và vận chuyển tới xí nghiệp đốt rác để tiêu huỷ Hiện tại chúng ta đã
có 2 lò đốt chất thải rắn y tế theo mô hình tập trung lò đốt DEL MONEGO 200 tại xí nghiệp đốt rác Tây Mỗ – Hà Nội và lò đốt HOVAL GG-24 tại xí nghiệp đốt rác Bình Hưng Hoà - Thành Phố Hồ Chí Minh với công nghệ nhập của nước ngoài (Xem phụ
lục 4) Thành Phố Hồ Chí Minh cơ bản đã ổn định được công tác xử lý chất thải bệnh
viện nhờ có hệ thống quản lý, thu gom năng động Còn tại Hà Nội, sau 8 tháng thử nghiệm lò đốt hoạt động tốt, tuy vậy công suất của lò đốt này cũng chỉ giải quyết được
4 tấn/ngày so với nhu cầu của các bệnh viện tại thành phố là trên 12 tấn/ngày
Trang 34Một số bệnh viện như Viện Lao và Bệnh Phổi, bệnh viện Đà Nẵng, bệnh viện Vũng Tàu với sự giúp đỡ của công ty Wamwe Engineering đã lắp đặt lò đốt chất thải y tế HOVAL MZ2 của Thuỵ Sĩ có công nghệ hiện đại với nhiệt độ thiêu đốt có hiệu quả Qua thời gian theo dõi trên 15 tháng của sở Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường Hà
Nội lò đốt của Viện Lao và Bệnh Phổi đã thiêu đốt trên 10 tấn rác y tế nguy hại với kết
quả tốt, đảm bảo an toàn về môi trường
Một số bệnh viện tuy đã lắp đặt lò đốt hiện đại nhưng lại không hoạt động được vì vị trí đặt lò đốt gần nhà dân và khi vận hành không đúng kỹ thuật có khói đen và mùi khí
thải bốc lên gây cảm giác khó chịu nên bị nhân dân phản đối do vậy không vận hành được (Bệnh viện Bạch Mai) Một vài thiết bị tạm dừng khai thác do bị hỏng chưa có
phụ tùng thay thế (Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An)
Đã có một vài bệnh vi ện lắp đặt và vận hành lò đốt do Việt Nam sản xuất như bệnh
viện đa khoa Tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng lò đốt do trường đại học bách khoa Thành
Hoá Gia Đình Tỉnh Nghệ An (lò đốt Viện Khoa Học Vật Liệu)
Còn lại đa số các bệnh viện tiêu huỷ chất thải rắn y tế bằng lò đốt thủ công không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường Trong các năm 1999-2000, tổ chức y tế thế giới đã viện
trợ cho Bộ Y Tế 2 lò đốt chất thải chế tạo tại nước ngoài để trang bị cho 2 bệnh viện tuyến tỉnh trong đó có lò INCINCO lắp đặt và đưa vào vận hành tại bệnh viện đa khoa
Bắc Ninh Cũng trong thời gian nêu trên, chính phủ đã phê duyệt dự án của bộ y tế trang bị 25 lò đốt chất thải bệnh viện kiểu Hoval bằng nguồn vốn vay của chính phủ
cộng hoà Áo, hiện tại 25 lò đốt rác y tế này đã đi vào hoạt động và cải thiện đáng kể năng lực tiêu huỷ chất thải rắn y tế nguy hại của nhiều địa phương
Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các lò đốt hiện đang
hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các lò thiết kế và chế tạo trong nước Một vấn đề mà các nhà môi trường quan tâm là ô nhiễm thứ cấp tạo ra trong quá trình đốt chất thải rắn y tế nguy hại cần được quan tâm nghiên cứu
Trang 35bằng của bệnh viện bị hạn chế nên nhiều bệnh viện hiện nay gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn lấp chất thải nguy hại
Một thực trạng là vật sắc nhọn được chôn lấp cùng với chất thải y tế khác tại khu đất
bệnh viện hay tại bãi rác cộng đồng Hiện nay, ở một số bệnh viện vẫn còn hiện tượng
chất thải nhiễm khuẩn nhóm A được thải lẫn với chất thải sinh hoạt và được vận chuyển ra bãi rác của thành phố, do vậy chất thải nhiễm khuẩn không có xử lý đặc biệt
gì trước khi tiêu huỷ chung
3.4 Nh ững tồn tại, khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn y tế
Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách của nước ta Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn bệnh viện kém hiệu quả đang gây dư
luận trong cộng đồng và đặt ra nhiều thách thức đối với nhiều cấp, ngành, đặt biệt là ngành y tế Tuy nhiên giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều, vì chúng
ta đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, bất cập và nhất là thiếu đồng bộ
tổ chức quốc tế, nguồn giúp đỡ của các chính phủ và tổ chức phi chính phủ
Hiện nay các bệnh viện có lò đốt nhưng kinh phí để chi trả cho năng lượng
để vận hành, xử lý tro, để trả lương cho nhân công còn chưa được quy định
sẽ lấy từ đâu Các bệnh viện không thể tự tiện nâng giá khám bệnh để bù vào chi phí xử lý chất thải của mình Vì vậ y có bệnh viện tuy đã trang bị lò đốt rác y tế nhưng vẫn không vận hành vì không có đủ kinh phí
• Nhận thức về thực hành xử lý chất thải rắn y tế trong cán bộ y tế, nhân viên
trực tiếp làm công tác xử lý chất thải bệnh viện vẫn còn chưa cao, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả phân loại, thu gom và vận chuyển, tiêu huỷ chất thải Một số lãnh đạo bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến việc xử lý chất thải Việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng
vẫn chưa sâu rộng, đôi khi dư luận qua báo chí còn làm dân hoang mang, gây tâm lý quá lo sợ đối với chất thải bệnh viện từ đó gây sức ép không đáng có đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành
• Môi trường thực hiện pháp chế chưa thuận lợi mặc dù đã có luật bảo vệ môi trường, qui chế quản lý chất thải nguy hại do thủ tướng chính phủ ban hành
Trang 36và qui chế quản lý chất thải y tế do bộ trưởng bộ y tế ban hành nhưng các văn bản pháp quy này chưa thực sự thấm sâu vào đới sống Việc thực hiện đúng quy chế quản lý chất thải y tế mới chỉ có ở một số ít bệnh viện Nhiều nơi chính quyền, lãnh đạo chỉ huy bệnh viện vẫn chưa quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện quy chế
• Các giải pháp về xử lý chất thải chưa đồng bộ, sự phối hợp liên ngành còn kém hiệu quả trong mọi công đoạn xử lý chất thải Nhiều nơi bệnh viện đã phân loại chất thải y tế và chất thải sinh hoạt nhưng do Công Ty Công Trình
Đô Thị chưa có lò đốt nên đã từ chối vận chuyển và xử lý chất thải y tế
Hiện nay vẫn chưa có qui định cụ thể trách nhiệm của từng bộ, ngành phối
hợp hoạt động trong từng công đoạn quản lý chất thải y tế
3.5 Gi ới thiệu một số lò đốt hiện đang sử dụng tại Việt Nam
Từ khi Bộ Y Tế ban hành quy chế quản lý chất thải y tế kè m theo quyết định số 2575/1999/QĐ-BYT theo đó các bệnh viện Trung Ương, các bệnh viện tại các thành
phố lớn đã quan tâm đúng mức và có nhiều hoạt động cụ thể, quyết liệt để giải quyết
vấn đề môi trường bệnh viện, quản lý và xử lý chất thải y tế Với sự hỗ trợ của chính
phủ cả về chủ trương cũng như chính sách nên nhiều nguồn vốn được huy động Cho
tới năm 2003, trên phạm vi cả nước đã có 35 tỉnh được đầu tư xây dựng và lắp đặt hệ
thống lò đốt rác y tế, tổng số lò đốt là 43 với tổng công suất được khai thác triệt để có
thể đủ tiêu huỷ Khoảng 50% lượng chất thải rắn nguy hại trong cả nước
Việt Nam đã chọn công nghệ đốt rác để tiêu huỷ chất thải rắn y tế nguy hại, trong đó
rất chú ý tới ô nhiễm thứ cấp do quá trình đốt Do vậy công nghệ đốt đa vùng zone Combustion được ưu tiên lựa chọn Đã ban hành văn bản kỹ thuật đánh giá lò đốt
Multi-và chỉ tiêu giám sát để hỗ trợ cho các cơ sở đầu tư xây dựng, khai thác lò đốt Các văn
bản liên quan trực tiếp tới lò đốt rác y tế là TCVN-7380, TCVN-7381 ban hành 2005 Danh sách tỉnh hiện đã có lò đốt chất thải rắn y tế đã được lắp đặt và đưa vào khai thác
vận hành tại Việt Nam.(Xem phụ lục 3) Trong đó Hà Nội là tỉnh được đầu tư 5 lò đốt
với công suất 450kg/h, nhiều nhất trong tất cả các tỉnh thành Ngoài ra Kiên Giang, Thái Nguyên 2 lò Cũng theo bảng ta thấy hiện nay ở các bệnh viện trong cả nước số lượng và chủng loại lò đốt chất thải y tế được sử dụng khá đa dạng và phong phú Trong đó, lò đốt chất thải hiệu Hoval MZ4 và MZ2 là được sử dụng nhiều nhất
Hiện nay các nhà sản xuất trong nước đã chế tạo được một số lò đốt rác y tế như lò đốt
Công Trình Y Tế , lò này lắp đặt và vận hành tại Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn, hay lò đốt rác y tế LD-YTI30 v.v…
Trang 37Xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp đốt thường có chi phí đầu tư và vận hành cao trong biện pháp xử lý chất thải rắn, nhưng lại có ưu điểm tốt nhất mà các giải pháp khác không có được như: xử lý triết để các nguy cơ lây lan mầm bệnh, thể tích lượng tro xỉ phải chôn lấp ít, có thể tái sử dụng nhiệt v.v nên vẫn được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Đối với nước ta, lò đốt mới chỉ được áp dụng trong phạm vi rất hạn hẹp
để đốt chất thải y tế và đốt thử nghiệm chất thải công nghiệp như chất thải da dày Mặc
dù số lượng lò đốt chất thải chưa nhiều nhưng khá đa dạng về nguồn gốc xuất xứ, công
xuất đốt và khả năng xử lý khói thải của lò đốt
Trang 38Chương 4:
HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI MỘT SỐ
B ỆNH VIỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
4.1 Sơ lược về tỉnh Bình Dương
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên
4.1.1.1 Ph ạm vi lãnh thổ, địa hình, thổ nhưỡng
Bình Dương là một tỉnh nằm trong vùng tứ giác kinh tế trọng điểm phí Nam, thuộc
miền Đông Nam bộ, với tổng diện tích tự nhiên 2.695,54 km2
(chiếm 11% diện tích khu vực và 0,83% diện tích cả nước và xếp thứ 42/61 về diện tích tự nhiên), dân số toàn tỉnh là 1.030.722 người (Niêm giám thống kê năm 2006) Bình Dương nằm cạnh thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế khoa học kỹ thuật lớn, giữ vai trò đi đầu trong vùng và trong cả nước Bên cạnh đó, Bình Dương còn tiếp giáp với Đồng Nai,
một tỉnh phát triển công nghiệp mạnh Chính nhờ vị trí thuận lợi trên mà Bình Dương được thừa hưởng những kinh nghiệm và lợi thế khu vực để phát triển công nghiệp,
cũng như dịch vụ, du lịch và nông nghiệp
B ản đồ: Địa giới hành chính tỉnh Bình Dương Hình 4.1 ; B ản đồ địa giới hành chính tỉnh Bình Dương
Trang 39Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước
Phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh
Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai
Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh
Đơn vị hành chính
Bình Dương có 01 thị xã, 06 huyện với 06 phường, 08 thị trấn và 75 xã Tỉnh lỵ là thị
xã Thủ Dầu Một - trung tâm hành chính - kinh tế - văn hoá của tỉnh Bình Dương
Diện tích phân bổ ở 7 huyện thị sau:
B ảng 4.1: Bảng thống kê diện tích, dân số các huyện thị tỉnh Bình Dương Huy ện thị Di ện tích
bằng sông Cửu Long nên địa hình chủ yếu là những đồi thấp, thế đất bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc, phổ biến là những dãy đồi phù sa cổ nối tiếp nhau với độ cao trung bình 20-25m so với mặt biển, độ dốc 2-5° và độ chịu nén 2kg/cm² Đặc biệt
có một vài đồi núi thấp nhô lên giữa địa hình bằng phẳng như núi Châu Thới (Dĩ An) cao 82m và ba ngọn núi thuộc huyện Dầu Tiếng là núi Ông cao 284,6m, núi La Tha cao 198m, núi Cậu cao 155m
Trang 40Từ phía Nam lên phía Bắc, theo độ cao có các vùng địa hình:
• Vùng thung lũng bãi bồi, phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé Đây là vùng đất thấp, phù sa mới, khá phì nhiêu, bằng phẳng, cao trung bình 6-10m
• Vùng địa hình bằng phẳng, nằm kế tiếp sau các vùng thung lũng bãi bồi, địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc 3-120, cao trung bình từ 10-30m
• Vùng địa hình đồi thấp có lượn sóng yếu, nằm trên các nền phù sa cổ, chủ yếu
là các đồi thấp với đỉnh bằng phẳng, liên tiếp nhau, có độ dốc 5-120, độ cao phổ
biến từ 30-60m
Các nhà thổ nhưỡng đã tìm thấy ở Bình Dương 7 loại đất khác nhau, nhưng chủ yếu là đất xám và đất đỏ vàng Theo kết quả tổng điều tra đất năm 2000 thì hai loại đất này chiếm 76,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó đất xám chiếm 52,5%; đất đỏ vàng chiếm 24,0%
Đây là hai loại đất rất thích hợp với các loại cây công nghiệp lâu n ăm và cây ăn quả Chính nhờ điều kiện thổ nhưỡng này mà Bình Dương từ lâu đã nổi tiếng với vườn cây Lái Thiêu, trải rộng trên diện tích 1.250 ha, thuộc địa bàn bốn xã: An Sơn, An Thạnh,
4.1.1.3 Ch ế độ gió
Bình Dương có chế độ gió tương đối ổn định, tần suất lặng gió là 67,8% , không
chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới Về mùa khô, gió thịnh hành chủ
Tây - Nam Tốc độ gió bình quân khoảng 0.7 m/s, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được
là 12 m/s thường là Tây, Tây - Nam
4.1.1.4 Ch ế độ nhiệt độ
Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm là 26,50C, tương đối điều hòa, dao động
từ 25-280C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 290C (tháng 4), tháng thấp nhất 240C (tháng 1) Quá trình biến đổi nhiệt độ không khí là tương đối đồng nhất không có sự đột biến