Chương 4: HI ỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN CỦA MỘT SỐ BỆNH
4.4. Đánh giá tổng thể công tác quản lý chất thải rắn ở các bệnh viện trên địa bàn
Nhìn chung hiện nay công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều yếu kém. Nguyên nhân chủ yếu là hầu hết các bệnh viện chưa có công trình xử lý chất thải hoặc là đã có nhưng chưa đạt yêu cầu về xử lý các chất thải bệnh viện theo đúng các qui định hiện hành và hệ thống tiêu chuẩn liên quan của nhà nước.
Nguyên nhân của tình trạng yếu kém trong công tác vệ sinh môi trường bệnh viện có liên quan tới các khía cạnh sau:
Cơ sở các bệnh viện hầu hết đều là cơ sở cũ được sử dụng lại, mà đầu tư nhà nước có hạn, chỉ có thể nâng cấp từng phần một nên không có sự có sự liên hệ giữa các khoa phòng. Hạ tầng kỹ thuật còn kém, không gian kiến trúc còn nhiều hạn chế. Chỉ có một số huyện mới thành lập (huyện Dĩ An, huyện Bến Cát, huyện Phú Giáo), bệnh viện vừa được xây dựng là có đầu tư hệ thống xử lý chất thải cho bệnh viện (lò đốt rác thủ công công suất nhỏ). Thêm nữa, do các cơ sở hành nghề y tế tư nhân thành lập ngày càng nhiều, lượng rác y tế thải ra gia tăng theo thời gian, mà hầu hết các cơ sở này đều đóng gói nhờ bệnh viện đốt giùm nên các lò đốt rác luôn trong tình trạng quá tải dẫn đến hư hỏng (BVĐK tỉnh, BV huyện Thuận An, BV cao su Dầu Tiếng))
Công tác vệ sinh môi trường bệnh viện chưa được quan tâm và đánh giá đúng mức. Ở nhiều nơi, ngay cả ban giám đốc bệnh viện còn xem nhẹ và buông lỏng, thiếu giám sát, đôn đốc chặt chẽ.
Nguồn kinh phí hằng năm của bệnh viện quá eo hẹp, nên chủ yếu chỉ đủ để tập trung vào việc khám bệnh, chữa bệnh và duy trì hoạt động trung tâm của
bệnh viện. Chính vì thế mà không có đủ và rất khó bố trí nguồn kinh phí cho công tác vệ sinh môi trường cho bệnh viện như duy trì các hoạt động vệ sinh bệnh phòng, vệ sinh khuôn viên bệnh viện, chi trả cho các dịch vụ quản lý chất thải, thường xuyên bão dưỡng và duy tu các công trình vệ sinh để tránh xuống cấp v.v. Thậm chí ở một vài bệnh viện đã được đầu tư lò đốt chất thải rắn y tế nhưng do thiếu kinh phí chi thường xuyên cho việc vận hành và bào dưỡng các hệ thống xử lý chất thải này (mua nhiên liệu, nguyên liệu hoá chất khử trùng tẩy uế như hệ thống lò đốt rác của bệnh viện đa khoa tỉnh bị hỏng từ tháng 2006đến nay nhưng vẫn chưa được sửa chữa nên phải đốt rác thải y tế ngoài trời phía sau khuôn viên bệnh viện).
Sự hiểu biết, thái độ và hành vi thực hành vệ sinh của nhân viên y tế, bệnh nhân còn chưa bắt kịp nếp sống văn minh. Tình trạng 1 người nằm viện nhưng lượng người chăm sóc gấp 2, 3 lần chưa kể lượng người đến thăm bệnh cũng là một trong những nguyên nhân làm cho chất thải bệnh viện tăng lên. Một số bộ phận cán bộ nhân viên y tế bệnh viện, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân vẫn còn chưa có ý thức cao trong việc giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường trong bệnh viện. Rác thải vẫn còn bị vứt lung tung trong khuôn viên bệnh viện mặc dù bệnh viện đã trang bị thùng rác công cộng. Họ vừa là nạn nhân của sự ô nhiễm và tình trạng yếu kém vệ sinh ở bệnh viện lại cũng chính là thủ phạm liên quan đến tình trạng này.
Hoạt động giám sát của các cơ quan chức năng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cấp địa phương còn lỏng lẽo, còn thiếu biện pháp giáo dục nâng cao nhận thức và hệ thống chế tài hiệu quả để có thể khuyến khích các bệnh viện chủ động thực hiện và cải thiện công tác quản lý môi trường bệnh viện. Sở Y Tế cũng như Sở Tài Nguyên & Môi Trường cùng lãnh đạo các cấp ban ngành có liên quan vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức đến tình hình môi trường của bệnh viện. Khâu quản lý giám sát còn quá lỏng lẻo.
Năng lực cung cấp các dịch vụ quản lý và kiểm soát chất thải y tế nói chung và đặt biệt là các chất thải y tế nguy hại ở các địa phương không chỉ thiếu về số lượng mà chất lượng dịch vụ cũng còn chưa cao. Bên cạnh đó, bệnh viện còn khó tiếp cận với các cơ sở cung cấp dịch vụ tiêu huỷ chất thải y tế nguy hại.
Các Công Ty Công Trình Đô Thị huyện đã từ chối ký hợp đồng với bệnh viện trong việc vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại do chưa đầu tư được hệ thống xử lý chất thải.
Chương 5:
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP TRONG VIỆC THU GOM,
VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CHO CÁC BỆNH VIỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG
5.1. Phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế 5.1.1. Tách - phân loại
Điểm mấu chốt của biện pháp giảm thiểu chất thải y tế đó là tách ngay từ đầu là cách chính xác chất thải rắn y tế nguy hại và chất thải rắn thông thường, mặc dầu chúng đều có trong bệnh viện. Việc tách và phân loại chính xác chất thải rắn y tế tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiếp theo như quá trình vận chuyển và lưu chứa tại trạm hay nơi trung chuyển và quá trình vận chuyển tới nơi tiêu huỷ và quá trình tiêu huỷ.
Việc phân tách chất thải là quá trình thủ công và phụ thuộc vào kỹ năng thực hành của kỹ thuật viên, nhân viên y tế, hộ lý. Do vậy để thực hiện tốt việc tách và phân loại phải tập huấn cho các đối tượng trên.
Việc tách và phân loại chất thải rắn y tế đòi hỏi phải có thùng chứa, túi lót thùng chứa, dây thắt túi, hộp nhốt vật sắc nhọn. Yêu cầu màu sắc phải thống nhất để dễ quản lý chất thải rắn y tế đã được phân loại thu gom trong suốt quá trình lưu thông.
Tổ chức công tác quản lý, thu gom và phân loại rác thải tại nguồn nhằm tái sử dụng chất thải và áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp.
Tổ chức vận chuyển rác thải sinh hoạt và rác thải thông thường theo hệ thống xử lý rác thải đô thị nhằm tiết kiệm chi phí lò đốt rác thải y tế nguy hại, bao gồm việc đầu tư các thùng đựng rác sinh hoạt chuyên dùng và phương tiện vận chuyển rác nội bộ tập kết rác thải tới điểm vận chuyển chung.
Để việc thu gom và xử lý rác thải bệnh viện đạt hiệu quả cao, bệnh viện cần trang bị cho các khoa, buồng khám và chữa bệnh, các khu vực công cộng 4 loại thùng chứa rác hợp vệ sinh có màu sắc qui định, có nhãn khác nhau như:
Khu vực công cộng
Thùng màu xanh: chứa rác thải sinh hoạt như các loại lá, rau, cỏ và quả, thức ăn dư thừa, các vỏ bao bì chứa đồ, v.v. là các loại rác không độc hại để đội vệ sinh công cộng tới thu gom và chôn lấp.
Thùng màu nâu: chứa các loại rác thải trơ không nguy hại như thạch cao, gạch, đá đất, đất cát, v.v. khi quét dọn khuôn viên để vệ sinh công cộng chở đi.
Thùng màu vàng: chứa các loại giấy, cao su, nilon và các loại nhựa, vải mặc, chăn màn, quần áo, lá khô, v.v. đây là những thứ dễ cháy đưa về lò đốt để trợ nhiệt giảm nguyên liệu cần dùng.
Thùng màu đỏ: chứa các loại rác thải y tế có nguy cơ lây nhiễm bệnh cao để thiêu đốt trong lò đốt rác bệnh viện. Thùng này phải có túi nilon đặt sẵn để tiện cho việc vận chuyển và xử lý trong lò đốt.
Một số yêu cầu cần thiết cho thùng, túi đựng chất thải y tế:
Bảng 5.1: Yêu cầu màu sắc, đánh dấu nhãn thùng và túi đựng chất thải y tế Loại chất thải Màu và đánh dấu nhãn Loại thùng, túi Chất thải lây nhiễm cao Vàng, ký hiệu nhiễm
khuẩn cao
Thùng nhựa, túi nhựa bền chắc chắn
Chất thải lây nhiễm, bệnh phẩm, giải phẫu
Vàng, có logo nhiễm
khuẩn Thùng nhựa, túi nhựa bền Vật sắc nhọn Vàng, để chứa vật sắc
nhọn
Túi nhựa bền hoặc hộp giấy, chai nhựa Chất thải y tế có đồng vị
phóng xạ
Vàng nâu, logo có bức xạ theo qui định
Hộp chì, kim loại có dán nhãn bức xạ Chất thải rắn y tế thông
thường
Đen, như túi đựng rác sinh hoạt
Túi nilon, thùng nhựa, kim loại
(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải – 2004)
Các điểm cần chú ý trong quá trình tách và phân loại là:
Phải tách chất thải rắn thông thường ra khỏi chất thải rắn y tế nguy hại.
Thùng, túi chứa chất thải rắn y tế nguy hại phải có nhãn, ký hiệu.
Chất thải y tế có mức lây nhiễm cao như môi trường đã nuôi cấy vi sinh vật phải thu vào túi bền chắc, chịu nhiệt để hấp khử trùng sơ bộ.
Có thể sử dụng một số dụng cụ để phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải theo bảng dưới đây:
Bảng 5.2: Một số dụng cụ thu gom, phân loại CTR y tế nguy hại tại nguồn và nhà cung cấp hiện có trên thị trường Việt Nam
STT Loại dụng cụ Hãng Chức năng
1 Thùng rác C106. M63.5 x 57
(200 lít) PENNEC Lưu, trung chuyển
2 Thùng rác C64.5. M48.5x 63.5
(70 lít) PENNEC Vận chuyển nội bộ
3 Thùng rác C46. M39 x 36 (49 lít) PENNEC Thu gom tại khoa 4 Thùng nhựa 120 CTYT (120 lít) Song Long Lưu, trung chuyển 5 Thùng rác ShungSheng (15 lít) TQ Thu gom tại khoa 6 Xe chở rác (97. 0,75m3 URENCO Hà
Nội
) Thu gom, vận chuyển rác
th ường 7 Túi PVC 700 x 800, (10-15 kg) CT BBXNK
Long Biên
Lót thùng thu gom CTR y tế nguy hại
8 Túi PVC 55 x 60, (5-10 kg) - Lót thùng thu gom CTR y tế nguy hại
9 Găng tay cao su BHLĐ VN Bảo hộ lao động
(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải – 2004) Sau đây là bản hướng dẫn phân loại, thu gom một số loại chất thải y tế điển hình tham khảo từ thực tế của bệnh viện Chợ Rẫy (Xem phụ lục 6). Theo bảng hướng dẫn, chất thải y tế đã được phân loại 1 cách rõ ràng, cụ thể rất thuận lợi cho việc xử lý chất thải.
Sau khi phân loại thì:
Thùng đựng vật sắc nhọn được bỏ vào bao rác vàng.
Những dụng cụ phát sinh thì phòng thí nghiệm vệ sinh hoặc từ phóng xạ được xử lý sơ bộ trước khi bỏ vào túi đựng vật sắc nhọn.
Các chất thải ở mục 21 và 22 phải được xử lý sơ bộ ngay tại nơi phát sinh trước khi chuyển về nơi tập trung chất thải của bệnh viện.
Tất cả các bao rác phải được thắt chặt bằng dây nilon ngang vạch qui định sau đó mới được chuyển về nơi tập trung.
5.1.2. Thu gom tại khoa phòng
Hộ lý và nhân viên y tế phân loại, tách chất thải rắn y tế ngay trong quá trình thực hành nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật như thay băng, thủ thuật xâm lấn, tiêm, truyền.
Hoạt động này phải duy trì thường xuyên, liên tục.
Nhân viên tránh thu gom chất thải rắn y tế về thùng chứa trung chuyển, vận chuyển về khu trung chuyển chất thải rắn y tế nguy hại của bệnh viện. Cần chú ý:
Chất thải phải được thu gom hàng ngày và chuyển về nơi lưu, trung chuyển chất thải của bệnh viện.
Thùng, túi chứa đầy chất thải, khi vận chuyển đi phải có nhãn ghi rõ chất thải từ khoa, bệnh viện, ngày, giờ.
Phải có ngay thùng, túi chứa đặt vào vị trí khi đã chuyển thùng cũ đi.
5.1.3 Lưu chứa
Phải có khu trung chuyển, lưu chứa chất thải rắn có thể xây dựng riêng hoặc có thể kết hợp với nhà xưởng lắp đặt lò đốt nếu được trang bị để tiêu huỷ tại chỗ. Nhà xưởng có lò đốt và lưu chất thải rắn y tế nguy hại, xử lý thùng thu gom, diện tích nhà bao che (đối với bệnh viện tuyến tỉnh) từ 40m2 – 50m2
Nền nhà lưu chứa chất thải cứng, không thấm nước, dễ rửa sạch, và có rãnh tháo nước tốt.
.
Phải có đủ nước và thuận tiện để cọ rữa nền, cọ rữa thùng chứa rác.
Thuận lợi cho đi lại, vận chuyển đưa rác vào và lấy các dụng cụ ra.
Thuận lợi cho xe chở rác vào và ra khi đến thu rác.
Phải có mái che tránh mưa, tránh nắng trực tiếp.
Ngăn được động vật, côn trùng, gà, chó, chim xâm nhập.
Chiếu sáng tốt, thông gió tốt, dễ quan sát.
Hình 5.1: Nhà chứa rác của bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP. Hồ Chí Minh Giới hạn thời gian lưu chứa như sau:
Tốt nhất là vận chuyển chất thải rắn y tế nguy hại đi xử lý trong ngày.
Vận chuyển chất thải đi xử lý trong vòng 48 giờ đối với mùa đông.
Vận chuyển chất thải đi xử lý trong vòng 24 giờ đối với mùa hè.
Hình 5.2 : Sơ đồ qui trình thu gom và vận chuyển rác
Việc phân loại, thu gom, lưu trữ và vận chuyển chất thải càng chi tiết, cụ thể thì hiệu quả xử lý càng cao, công tác quản lý sẽ đạt hiệu quả hơn và vấn đề ô nhiễm sẽ được giảm đi rất nhiều. Nhưng bên cạnh đó chi phí đầu tư cho trang thiết bị thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải cũng là một vấn đề đáng quan tâm.
Trong giai đoạn từ nay cho đến 2010, do tình hình kinh tế của tỉnh còn nhiều khó khăn. Việc huy động vốn đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải rắn của các bệnh viện trên địa bàn tỉnh và nâng cao trình độ của nhân viên bệnh viện trong công tác quản lý, kỹ năng trong công tác phân loại, xử lý chất thải bệnh viện cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Vì vậy, trước mắt để cho phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh, các bệnh viện tỉnh có thể áp dụng việc phân loại chất thải ra thành 2 loại: chất thải rắn sinh hoạt đựng trong các thùng màu xanh và chất thải rắn y tế đựng trong các thùng màu vàng.
Chất thải sinh hoạt sẽ được nhân viên của các công ty Công Trình Đô Thị đến thu gom và vận chuyển đến bãi rác công cộng vào những giờ nhất định trong ngày. Chất thải y tế sẽ được nhân viên tổ vệ sinh của bệnh viện thu gom và xử lý bằng cách thiêu đốt trong các lò chuyên dùng.
Lò đốt rác y tế chuyên dùng
Tro trơ
Công ty vệ sinh công cộng thu gom, xử lý tại bãi
Rác thải sinh hoạt trong các khu công
cộng
thùng xanh
Rác thải trong
các khu khám
và chữa bệnh thùng
nâu thùng
vàng thùng
đỏ
thùng xanh thùng
vàng thùng
đỏ hộp vàng hộp đỏ
Hình 5.3 : Sơ đồ qui trình thu gom và xử lý chất thải rắn áp dụng từ nay đến 2010 trên địa bàn tỉnh Bình Dương
5.2. Các biện pháp về quản lý môi trường
Các biện pháp về quản lý môi trường có tác dụng lặp lại, cũng cố, thiết lập và ngày càng hoàn thiện trình tự quản lý môi trường bệnh viện theo đúng trình tự hệ thống quản lý môi trường theo luật định. Trong đó:
• Các bệnh viện phải thực hiện đúng và đầy đủ những qui định của nhà nước đã ban hành trong vấn đề quản lý chất thải rắn. Một khi hệ thống quản lý môi trường được thực hiện tốt sẽ tác động toàn diện tới khả năng cải thiện chất lượng môi trường trong các bệnh viện nhằm thực hiện tốt các yêu cầu bảo vệ môi trường, năng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường một cách tốt nhất.
• Sự nổ lực phấn đấu của bệnh viện trong công tác bảo vệ môi trường nhằm đạt được các chứng chỉ quản lý môi trường nhằm cải thiện hình ảnh của bệnh viện và tạo nên lề lối, nề nếp, sự thay đổi ứng xử môi trường tích cực cần thiết cho cơ sở trong và sau khi hoàn thành nhiệm vụ xử lý ô nhễm môi trường.
• Thực hiện đúng, đầy đủ qui chế quản lý chất thải y tế trong quá trình phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý của Bộ y tế.
Thùng màu xanh Thùng màu vàng
Chất thải y tế Chất thải sinh hoạt
Công ty cộng trình đô thị thu gom, xử lý tại bãi
Tro trơ
Lò đốt rác y tế chuyên dùng