Vài nét v ề ngành y tế của tỉnh

Một phần của tài liệu kl le nguyen ha uyen 810274b (Trang 45 - 52)

Chương 4: HI ỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN CỦA MỘT SỐ BỆNH

4.2. Hi ện trạng quản lý chất thải rắn của tỉnh

4.2.1. Vài nét v ề ngành y tế của tỉnh

Hiện nay toàn tỉnh Bình Dương có hệ thống y tế rộng khắp từ tỉnh đến huyện . Trong đó có tuyến tỉnh 4 bệnh viện nhà nước (BV đa khoa tỉnh, BV Y học cổ truyền, BV Điều dưỡng & phục hồi chức năng, BV Phụ sản bán công) và 5 đơn vị cấp tỉnh không

thuộc ngành y tế (Quân đoàn 4, Bệnh xá công an, Bệnh xá trường sĩ quan công binh, BV cao su Dầu Tiếng). Tuyến huyện có 6 bệnh viện đa khoa (Dầu Tiếng, Phú Giáo, Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên) và 5 phòng khám đa khoa khoa khu vực nhà nước.

Toàn tỉnh còn có 89 trạm y tế xã, phường thuộc nhà nước và 29 trạm y tế của các cộng ty, xí nghiệp đóng tên địa bàn chủ yếu ở các khu công nghiệp thuộc huyện Dĩ An, Thuận An, Thị xã, Tân Uyên, Bến Cát. Ngoài ra, còn có 1.081 cơ sở hành nghề y tế tư nhân (hành nghề y là 504 cơ sở, dược có 269 cơ sở và y học cổ truyền 139 cơ sở). Như vậy, toàn tỉnh Bình Dương có tổng số giường bệnh lên tới 2.370 giường.

Tỉnh Bình Dương trong thời gian gần đây đã từng bước thể hiện về sự vững vàng y tế cơ sở, y tế kỹ thuật cao, y tế phổ cập và phòng chống dịch. Mạng lưới y tế đặc biệt là y tế cơ sở ngày càng được cũng cố và phát triển. Cơ sở khám chữa bệnh được đầu tư nâng cấp, công tác chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng có nhiều tiến bộ. Trình độ chuyên môn của đội ngũ làm công tác y tế ngày càng nâng lên rõ rệt, toàn ngành có 2746 cán bộ y tế, có 409 bác sĩ (số bác sĩ có trình độ sau đại học là 112). Tỷ lệ giường bệnh là 15,5/1000 dân. Tỷ lệ ký sinh trùng sột rét/lam máu từ 6,9% năm 2000 giảm còn 0,5% năm 2006; tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em từ 43% năm 2000 giảm còn 23%

năm 2006; tỷ suất sinh bình quân hàng năm giảm 0,09 – 1,1%. Bệnh viện đa khoa tỉnh Đa Khoa Tỉnh Bình Dương có hơn 800 giường bệnh, với đội ngũ 707 nhân viên biên chế, trong đó có 183 cán bộ, thầy thuốc có trình độ đại học và trên đại học ở nhiều chuyên khoa khác nhau. Với số giường bệnh hiện có, bệnh viện có thể đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong tỉnh. Bệnh viện đa khoa tỉnh được trang hầu hết các thiết hiện đại (máy CT scanner, máy nội soi, máy thở, máy chạy thận nhân tạo v.v…) góp phần vào việc chuẩn đoán và chữa trị tốt hơn cho bệnh nhân. Công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi dần dần đi vào nề nếp, đủ thuốc để khám chữa bệnh cho người nghèo, số lượt người nghèo được khám chữa bệnh miễn phí tăng gấp 2 lần so với năm 2004. Công tác xã hội hóa y tế đạt được tiến bộ đáng kể, mạng lưới y tế cơ sở dần được cũng cố, 100% số xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi.

Việc xử lý ở các bệnh viện có nhiều tiến bộ.

Trong những năm qua tỉnh đã tranh thủ nhiều nguồn vốn để tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ sở tuyến tỉnh, huyện và trạm y tế xã. Từng bước chuẩn hoá dần dần và đảm bảo được khả năng thực hiện các dịch vụ phòng bệnh, khám chữa bệnh cho nhân dân toàn tỉnh. Cùng với sự phát triển của mạng lưới y tế hệ, thống y tế dân lập cũng đã hình thành và có vai trò tích cực trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, hướng dẫn nhân dân phòng, chữa bệnh và sử dụng thuốc an toàn hợp lý.

Công tác quân dân y kết hợp trên địa bàn được quan tâm và cũng cố. Các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh đã làm tốt công tác cấp cứu, khám chữa bệnh cho nhân dân trong dịp tết nguyên đán, các dịp lễ trong năm.

Bảng 4.2: Số Lần khám chữa bệnh Trong Năm 2006 STT Nội dung Đơn vị Tổng

số

Tuyến tỉnh

Tuyến huyện

Tuyến 1 Số lần khám bệnh Người 540553 103095 21245 225008 2 Điều trị nội trú Người 49957 22517 25830 1608 3 Điều trị ngoại trú Người 185552 2507 43003 14002

(Nguồn : Sở Y tế tỉnh Bình Dương _ năm 2006) 4.2.2. Khối lượng và thành phần chất thải bệnh viện trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Bên cạnh những thành tựu trong công tác khám chữa bệnh thì vấn đề môi trường trong bệnh viện cũng là một vấn đề cần được quan tâm. Mặc dù, Các cơ sở điều trị đảm bảo duy trì tốt việc cấp cứu khám và điều trị bệnh nhân. Nghiêm túc chấp hành các qui chế chuyên môn, qui trình kiểm tra vệ sinh buồng bệnh, vệ sinh ngoại cảnh, tinh thần thái độ phục vụ bệnh nhân cũng ngày càng tốt hơn, chất lượng dịch vụ y tế được nâng cao.

Sở y tế đã tổ chức điều tra việc thực hiện qui chế chuyên môn, việc thực hiện y đức tại các cơ sở điều trị. Nhưng hiện nay lượng chất thải phát sinh trong bệnh viện ngày một nhiều với thành phần và tính chất nguy hại: kim tiêm, găng tay, cao su, bông, băng thấm dịch hoặc máu, các loại thuốc quá hạn, bệnh phẩm và rác thải phóng xạ. Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp nhưng chất thải rắn y tế và bệnh phẩm lại có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và lây truyển dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân mà việc xử lý chưa được triệt để đang là một trong những vấn đề bức xúc cần phải được quan tâm giải quyết hàng đầu để tránh lây nhiễm cho cộng đồng và ảnh hưởng đến môi trường sống.

Bảng khối lượng chất thải y tế phát thảitheo giường bệnh (Xem phụ lục 4)

Theo bảng ta thấy bệnh viện đa khoa tỉnh là bệnh viện có lượng chất thải rắn phát sinh nhiều nhất. Với 800 giường bệnh lượng chất thải rắn phát sinh là 950 kg/ngày (chiếm tỉ lệ 33,39%), trong đó lượ ng chất thải y tế nguy hại là 150 kg/ngày (chiếm tỉ lệ 22,65%). Kế đến là bệnh viện Phụ sản bán công, do đặc thù là bệnh viện sản khoa nên ngoài người bệnh còn có rất nhiều thân nhân đến thăm nuôi nên có lượng chất thải rắn phát sinh cao (chiếm tỉ lệ 11,95%), trong đó lượ ng chất thải y tế nguy hại là 120 kg/ngày (chiếm tỉ lệ 18,13%). Bệnh viện cao su Dầu Tiếng là bệnh viện lâu năm, có uy tín trên địa bàn tỉnh nên số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh tại đây cũng rất nhiều. Mỗi ngày, chất thải rắn phát sinh là 280 kg/ngày lượng chất thải y tế nguy hại là 65 kg/ngày). Bệnh viện Quân đoàn 4 tuy là bệnh viện quân đội nhưng cũng có khám

chữa bệnh cho dân nên cũng thải ra một lượng chất thải đáng kể (lượng chất thải rắn phát sinh là 250 kg/ngày lượng chất thải y tế nguy hại là 60 kg/ngày).

Ở các bệnh viện tuyến huyện lượng chất thải rắn y tế phát sinh mỗi ngày cũng rất đáng kể. Dĩ An (chất thải rắn y tế nguy hại là 32 kg/ngày chiếm 5,06%), Bến Cát (chất thải y tế nguy hại là 30 kg/ngày chiếm 4,74%), Phú Giáo (chất thải rắn y tế nguy hại là 22 kg/ngày chiếm 3,48%). Thuận An (chất thải rắn y tế nguy hại là 30 kg/ngày chiếm 4,74%), Tân Uyên (chất thải y tế nguy hại là 25 kg/ngày chiếm 3,95%).

Lượng chất thải nguy hại tại các bệnh viện Y Học Cổ Truyền (25 kg/ngày chiếm tỉ lệ 3,95%), bệnh viện Điều Dưỡng & Phục Hồi Chức Năng (5 kg/ngày chiếm tỉ lệ 0,79%) phát thải ít nhất vì tại các bệnh viện này lượng chất thải chủ yếu là chất thải phát sinh trong quá trình sinh hoạt, nằm điều trị tại bệnh viện của bệnh nhân và cán bộ nhân viên trong bệnh viện. Ở đây các bệnh nhân chủ yếu nằm điều dưỡng, lượng chất thải y tế chủ yếu là bông băng của quá trình tiêm thuốc, chai truyền dịch nên không cao.

4.2.3. Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế của tỉnh Bình Dương 4.2.3.1. Các nguồn phát sinh chất thải

Chất thải bệnh viện phân ra làm 2 loại

 Chất thải sinh hoạt: là các loại chất thải như rau cỏ, vỏ trái cây, thức ăn dư thừa, túi nilon, giấy vụn và các loại rác tương tự.

 Chất thải y tế: gồm các loại như bông băng phẫu thuật, kim tiêm, ống nhựa, chai lọ, que, cây gỗ, .v.v. các loại chất thải nguy hại như các tế bào mô phẫu thuật, thai nhi, sừng, xương động vật, v.v.

4.2.3.2. Phân loại và thu gom chất thải Theo qui định của Sở Y Tế tỉnh Bình Dương

 Phải phân loại rõ ràng các loại chất thải y tế và chất thải sinh hoạt.

 Rác thải sinh hoạt: phải được thu gom vào thùng màu xanh tập trung nơi qui đinh và chuyển ra bãi rác của trung tâm.

 Rác thải y tế: qui định thu gom vào thùng màu đỏ, vàng vận chuyển bằng xe chuyên dụng đi vào lối hành lang qui định và tập trung tại nơi xử lý (lò đốt chất thải y tế).

 Chất thải sau khi phân loại, thu gom sẽ được vận chuyển bằng xe chuyên dùng về khu trung chuyển của bệnh viện theo đường vận chuyển riêng và phải theo giờ giấc qui định.

 Phân loại và thu gom chất thải

Nhìn chung các bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn (chiếm 100%) nhưng việc phân loại vẫn còn rất sơ sài, nhiều khi còn lẫn lộn giữa chất thải sinh hoạt với chất thải y tế, bông băng và kim tiêm khi đã sử dụng.

Đối với các bệnh viện tuyến tỉnh do khối lượng bệnh nhân đông, lượng chất thải phát sinh mỗi ngày nhiều. Rác thải sinh họat do bệnh nhân và người nhà bệnh nhân thải ra thì bỏ vào các thùng rác đặt cố định ở trước các phòng bệnh, các khoa. Còn các loại rác thải y tế (như : kim tiêm, bông băng…) thì được các y tá thu gom ngay tại giường bệnh, ngay sau khi vừa sử dụng. Các y tá, hộ lý sẽ tiến hành việc thu gom chất thả i hằng ngày ở các khoa, phòng vào những giờ nhất định. Tuy nhiên, hiện tượng bệnh nhân và thân nhân người bệnh bỏ lẫn các loại rác y tế chung với rác sinh hoạt vẫn còn nhiều, mà các y tá, hộ lý vẫn không nhắc nhở mọi người và vẫn còn tình trạng thu gom rác thải y tế chung với rác thải sinh hoạt.

Hầu hết các bệnh viện tuyến huyệnđều mới được xây dựng lại trong thời gian gần đây (bệnh viện đa khoa huyện Thuận An năm 2006, bệnh viện huyện Dĩ An năm 2004, bệnh viện huyện Bến Cát năm 2006) cơ sở vật chất đã đ ược đầu tư mới nhưng vẫn chưa chú trọng nhiều đến việc đầu tư cho công tác thu gom chất thải rắn. Màu sắc của các túi và thùng đựng chất thải chưa đúng theo qui chế quản lý chất thải bệnh viện, còn tùy tiện, có gì sử dụng nấy, chủ yếu chỉ có 2 loại thùng rác:

 Thùng màu xanh đựng chất thải sinh hoạt

 Thùng màu đỏ có nắp đậy đựng các vật sắc nhọn và có dòng chữ không đựng quá vạch này

Các bệnh viện không có đủ các phương tiện bảo hộ lao động cho nhân viên trực tiếp tham gia vào việc phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải.

Không chỉ có các đối tượng như bác sĩ, y tá mà cả những người trực tiếp thực hiện việc phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải cũng chưa được giáo dục, huấn luyện để tham gia vào các hoạt động quản lý chất thải y tế.

Đối với các bệnh viện tuyến huyện thường trong quá trình làm việc đã thực hiện việc phân loại chất thải y tế nhưng khi vận chuyển đến nơi xử lý lại được nhập chung lại giữa chất thải sinh hoạt và chất thải y tế và đem xử lý như nhau.

Hình 4.2 : Phân loại rác thải để xử lý tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Bình Dương

4.2.3.3. Lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất thải y tế

Thực tế tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh (khoảng 20%) mặc dù có khu lưu chứa chất thải nhưng không theo đúng qui định. Chất thải sinh hoạt sau mỗi lần thu gom (vào lúc 6h và 17h mỗi ngày) sẽ được tập trung vào một dãy hành lang dọc lối đi lại của bệnh viện sau đó mới vận chuyển về nhà lưu chứa để công ty Công Trình Đô Thị vận chuyển đến nơi tiêu hủy cuối cùng (BV Điều Dưỡng và Phục Hồi Chức Năng, BV Y Học Cổ Truyền, BV phụ sản bán công.v.v.). Ở những bệnh viện khác (25%) các điểm lưu chứa chất thải được bố trí tại một khu đất trống bên trong khuôn viên bệnh viện (BV huyện Thuận An, BV huyện Dĩ An, BV Bến Cát, BV Phú Giáo). Một số bệnh viện do qui mô nhỏ, đất rộng nên thường đào hố sau bệnh viện và vận chuyển chất thải đổ vào hố chứ không có khu lưu chứa riệng biệt (BV cao su Dầu Tiếng, BV huyện Tân Uyên v.v…). Nhiều bệnh viện huyện bãi chứa chất thải lại rất gần với phòng bệnh nhân.

Vì không có khu lưu chứa riêng biệt (chỉ có BV đa khoa tỉnh có khu chứa riêng nhưng diện tích rất nhỏ - 12 m2) hoặc có nhưng chưa đúng tiêu chuẩn, điều kiện vệ sinh không đảm bảo, nhiều khi chất thải được vận chuyển ra khu tập kết rác nhưng công ty Công Trình Đô Thị chưa đến thu gom kịp sẽ có những nguy cơ rủi ro như: côn trùng xâm nhập, mùi, ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện, ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân và người thân cũng như cán bộ công nhân viên bệnh viện khi qua lại khu vực này.

Xử lý chất thải sinh hoạt :

Đối với chất thải sinh hoạt, hầu hết các bệnh viện tuyến tỉnh đều đã ký hợp đồng với Công Ty Công Trình Đô Thị đến thu gom những túi đựng chất thải sinh hoạt của bệnh viện và vận chuyển đến nơi tiêu hủy là các bãi rác công cộng của tỉnh, của huyện (BV đa khoa tỉnh, BV y học cổ truyền, BV Quân đoàn 4, BV phụ sản bán công .v.v…).

Còn các bệnh viện tuyến huyện, một số bệnh viện có khuôn viên lớn thì đào hố chứa rác thải sinh hoạt, sau một thời gian khi rác thải đầy sẽ tiến hành thiêu đốt ngoài trời hoặc chôn lấp (BV Tân Uyên, BV cao su Dầu Tiếng, bệnh xã K23, bệnh xá trường sĩ quan công binh). Các bệnh viện còn lại do nằm chung với các khu dân cư, thị xã thì hầu hết ký hợp đồng với Công Ty Công Trình Đô Thị hoặc các tổ chức thu gom rác tư nhân để xử lý rác sinh hoạt.

Xử lý chất thải y tế :

Tuyến tỉnh: Trong 4 bệnh viện lớn của nhà nước thì chỉ có BVĐK tỉnh có lò đốt rác 1 buồng. Lò đốt rác của BVĐK tỉnh hợp đồng xử lý thu gom rác các loại cho BV Y học cổ truyền, BV Điều dưỡng phục hồi chức năng, BV Phụ sản bán công, BV đa khoa tư nhân tỉnh. Tuy nhiên, lò đốt rác của BVĐK tỉnh được đầu tư năm 2000 đến năm 2006 đã bị hư hỏng nặng, không thể sử dụng được. Vì vậy, BVĐK tỉnh phải đốt rác thủ công trong các hầm lộ thiên.

Điều đáng nói là, lò đốt rác ở BVĐK tỉnh đã hư, nhưng phải “gồng mình”

gánh thêm rác ở 4 bệnh viện trên vì các bệnh viện này chưa có kế hoạch xây dựng lò đốt rác y tế.

Các bệnh viện tuyến huyện : BV Thuận An, BV cao su Dầu Tiếng và BV Tân Uyên đã có lò đốt rác thủ công nhưng đã bị hư hỏng sau 1 thời gian hoạt động, hiện tại BV Thuận An thu gom chất thải rắn y tế thuê BVĐK tỉnh xử lý còn BV Tân Uyên do có khuôn viên rộng nên đào hố chôn trong khuôn viên đất bệnh viện. BV Dầu Tiếng chưa có lò đốt rác nhưng đã có dự án xây dựng, tuy nhiên hiện tại cũng phải chôn chất thải y tế trong khuôn viên đất của mình. Riêng nhà hộ sinh thị xã Thủ Dầu một và phòng khám đa khoa thị xã gửi rác thải y tế về BVĐK tỉnh xử lý. Các BV Bến Cát, Phú Giáo, Dĩ An đã có lò đốt rác thủ công và đang hoạt động tốt.

 Các bệnh viện Quân đoàn 4, bệnh xã K23, bệnh xá công an, bệnh xá trường sĩ quan công binh, các phòng khám đa khoa khu vực, các trạm y tế xã phường, thị trấn và hành nghề y tế tư nhân đóng gói chuyển rác thải y tế theo hệ thống xử lý rác công cộng hoặc chôn lấp trong đất khu vực.

Cả nhân viên bệnh viện lẫn nhân viên công ty Công Trình Đô Thị đều chưa được đào tạo, hướng dẫn về những nguy cơ có liên quan đến việc thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại.

Một phần của tài liệu kl le nguyen ha uyen 810274b (Trang 45 - 52)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(84 trang)