TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HỆ THỐNG GIÁM SÁT CHẤT LƯỢN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HỆ THỐNG GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TẠI TỈNH
ĐĂK LĂK
SVTH: HUỲNH TƯỜNG VY MSSV: 610633B
LỚP : 06MT2N GVHD: TSKH BÙI TÁ LONG
TP Hồ Chí Minh, 12/2006
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HỆ THỐNG GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TẠI TỈNH
ĐĂK LĂK
SVTH: HUỲNH TƯỜNG VY
MSSV: 610633B
LỚP : 06MT2N
Ngày giao nhiệm vụ luận văn: 01/10/2006
Ngày hoàn thành luận văn:31/12/2006
TPHCM, ngày 31 tháng 12 năm 2006
Giảng Viên hướng dẫn
TSKH Bùi Tá Long
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em chân thành cảm ơn các thầy cô đã truyền đạt kiến thức cho chúng em trong những năm qua, đặc biệt thầy Bùi Tá Long, người đã tận tình hướng dẫn em trong thời gian làm luận văn Thầy không những truyền đạt kiến thức mà còn ủng
hộ về mặt tinh thần giúp em vượt qua những khó khăn khi thu thập số liệu và hoàn thành luận văn
Con cảm ơn ba má và em đã ủng hộ con trong suốt chặng đường đã qua Cháu cảm ơn các chú tại trạm khí tượng – thủy văn trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk, công ty Môi trường đô thị tỉnh Đăk Lăk, đặc biệt Phòng quan trắc môi trường nước của Viện Kỹ Thuật Nhiệt Đới và Bảo vệ Môi trường TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho cháu hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin cảm ơn anh Cao Duy Trường và các anh chị trong phòng Geoinformatics thuộc Viện Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ bảo trong thời gian thực hiện Luận văn tốt nghiệp
Cảm ơn những người bạn đã luôn ủng hộ tôi
Trang 4TÓM TẮT
Nước là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi quốc gia Nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của nước, bước sang thế kỷ 21, cộng đồng quốc tế đã xem nước là tài nguyên quan trọng thứ 2 sau tài nguyên con người,
mà ở một số nước, một số khu vực, người ta coi nước như “vàng xanh”
Cũng như tại nhiều tỉnh thành trong cả nước đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nguồn nước tại Đăk Lăk luôn biến động dưới tác động của khí
hậu, thủy văn và của con người Bên cạnh đó nhu cầu về nước ngày một tăng do
tăng dân số và phát triển kinh tế-xã hội Đã và đang xảy ra suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ở nơi này, nơi khác tại Đăk Lăk Việc khai thác, sử dụng không hợp lý đồng thời chưa quan tâm đến công tác bảo vệ đã và đang dẫn đến những hậu quả xấu khó lường về môi trường, kém bền vững trong phát triển do nguồn nước
Trong bối cảnh như vậy, nghiên cứu ứng dụng các thành tựu mới của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin là một trong những giải pháp mang tính đột phá, nhất là đối với một tỉnh như Đăk Lăk
Luận văn tốt nghiệp ”Ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống giám sát
chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk” có mục tiêu là tin học hóa quá trình quản lý số
liệu quan trắc chất lượng nước mặt, cũng như đưa ra một số đề xuất xây dựng mạng lưới quan trắc chất lượng nước mặt cho hệ thống sông Srepok, Đăk Lăk
Sản phẩm tin học của Luận văn được đặt tên là ENVIMWQ_DL (viết tắt của cụm từ tiếng Anh là : ENVironmental Information Management and Water Quality simulation for Dak Lak - Phần mềm quản lý thông tin môi trường và mô phỏng chất lượng nước cho Đăk Lăk.) phiên bản 1.0 ENVIMWQ_DL là một phần mềm ứng dụng công nghệ GIS, công nghệ CSDL và mô hình toán với một số tiện ích giúp người sử dụng tra cứu cũng như tính toán theo các kịch bản khác nhau với dữ liệu bản đồ tỉnh ĐăK Lăk
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 6
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN III TÓM TẮT IV NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN V MỤC LỤC VI DANH MỤC CÁC BẢNG VIII DANH MỤC CÁC HÌNH IX DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT XII
MỞ ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 1
Mục tiêu của Luận văn 2
Nội dung công việc cần thực hiện 3
Phạm vi nghiên cứu 3
Phương pháp nghiên cứu 3
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK………… 4
1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Đăk Lăk 4
1.1.1 Vị trí địa lý 4
1.1.2 Địa hình địa mạo 5
1.2 Khái quát điều kiện khí tượng – thủy văn 5
1.2.1 Khí hậu thời tiết 5
1.2.2 Khái quát hệ thống sông ngòi tỉnh Đăk Lăk 8
1.2.3 Mạng lưới đo đạc các thông số khí tượng thủy văn tại Đăk Lăk 11
1.3 Các nguồn tài nguyên 15
1.3.1 Tài nguyên đất 15
1.3.2 Tài nguyên nước 16
1.3.3 Tài nguyên rừng 16
1.3.4 Tài nguyên khoáng sản 17
1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Lăk 17
1.5 Hiện trạng môi trường nước mặt tại Đăk Lăk trong thời gian qua 19
1.6 Đánh giá định lượng hoạt động sản xuất gây ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn Đăk Lăk 24
1.6.1 Ngành chế biến thực phẩm-đồ uống 24
1.6.2 Ngành gỗ và lâm sản 25
1.6.3 Ngành cơ khí-chế tạo 25
1.6.4 Ngành nhựa cao su 26
1.7 Một số kết luận của chương 26
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN 27
2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước và ô nhiễm nước 27
2.2 Phương pháp đo các chỉ tiêu của nước ô nhiễm 31
Trang 72.3 Đặc điểm trạm quan trắc nước ô nhiễm liên tục các nguồn ô nhiễm cố
định 33
2.3.1 Quan trắc nguồn ô nhiễm dựa trên việc đưa ra các điều lệ 33
2.3.2 Quan trắc nguồn ô nhiễm dựa trên việc kiểm soát tổng lượng ô nhiễm 33 2.3.3 Những yếu tố được đo và cần chú ý trong quan trắc 35
2.4 Hiện trạng mạng lưới quan trắc nước mặt tại Đăk Lăk 36
2.4.1 Phương pháp lấy mẫu và đo đạc trong hệ thống quan trắc chất lượng nước tại Đăk Lăk 36
2.4.2 Hiện trạng phương pháp lưu trữ và xử lý số liệu 37
2.5 Mô hình toán được sử dụng trong Luận văn 38
2.6 Kết luận của chương 40
CHƯƠNG 3 QUẢN LÝ VÀ MÔ PHỎNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT ĐĂK LĂK…… 42
3.1 Mục tiêu của phần mềm ENVIMWQ 42
3.2 Sơ đồ cấu trúc và các chức năng chính của phần mềm ENVIMWQ 43
3.3 Mô tả các khối chức năng cho ENVIMWQ_DL 44
3.3.1 Module quản lý bản đồ 44
3.3.2 Module quản lý dữ liệu môi trường 45
3.3.3 Module thống kê, báo cáo 51
3.3.4 Module mô hình 53
3.4 Ứng dụng ENVIMWQ_DL tính toán mô phỏng chất lượng nước sông Srepok 56
3.5 Đề xuất hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt cho hệ thống sông Srepok, Đăk Lăk 59
3.6 Kết luận chương 63
KẾT LUẬN 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC A A PHỤ LỤC B F PHỤ LỤC C K
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Độ ẩm trung bình năm (ĐVT: %) 7
Bảng 1.2 Đặc trưng dòng chảy trung bình nhiều năm 11
Bảng 1.3 Thống kê các nhóm đất 15
Bảng 1.4 Trữ lượng khai thác tiềm năng nước trong tỉnh Đăk Lăk 16
Bảng 1.5 Trữ lượng gỗ các loại rừng 17
Bảng 1.6 Các loại khoáng sản 17
Bảng 1.7 Tăng trưởng kinh tế theo GDP, giá so sánh 1994 18
Bảng 1.8 Vị trí các điểm quan trắc nước mặt 19
Bảng 1.9 Các chỉ tiêu quan trắc nước sông, suối 21
Bảng 1.10 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 3/2005 21
Bảng 1.11 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 5/2005 22
Bảng 1.12 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 7/2005 22
Bảng 1.13 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 9/2005 23
Bảng 1.14 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 11/2005 23
Bảng 1.15 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 12/2005 24
Bảng 1.16 Thành phần có trong nước thải sinh hoạt, sản xuất của ngành chế biến thực phẩm – đồ uống 24
Bảng 1.17 Thành phần có trong nước thải sinh hoạt, sản xuất của ngành gỗ và lâm sản 25
Bảng 1.18 Thành phần có trong nước thải sinh hoạt, sản xuất của ngành cơ khí – chế tạo 25 Bảng 1.19 Thành phần có trong nước thải sinh hoạt, sản xuất của ngành nhựa cao su 26
Bảng 2.1 Các thông số đánh giá nguồn nước sông ở các trạm cơ bản 27
Bảng 2.2 Các đặc điểm thiết kế trạm quan trắc 29
Bảng 2.3 Phương pháp đo các yếu tố của nước ô nhiễm có liên quan tới tiêu chuẩn chất lượng nước để bảo tồn môi trường sống 31
Bảng 3.1 Cấu trúc dữ liệu điểm lấy mẫu chất lượng nước 47
Bảng 3.2 Cấu trúc dữ liệu của mẫu chất lượng mẫu nước 47
Bảng 3.3 Cấu trúc dữ liệu Trạm thủy văn 49
Bảng 3.4 Mô tả kịch bản được sử dụng trong tính toán mô phỏng trong ENVIMWQ_DL 57
Bảng 3.5 Kết quả chạy mô hình theo các kịch bản 58
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đăk Lăk 4
Hình 1.2 Địa hình địa mạo tỉnh Đăk Lăk 5
Hình 1.3 Nhiệt độ, độ ẩm trung bình năm (ĐVT: oC, %) 6
Hình 1.4 Lượng mưa trung bình năm (ĐVT: mm) 7
Hình 1.5 Số giờ nắng trung bình năm (ĐVT: giờ) 8
Hình 1.6 Hệ thống sông chính trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk 9
Hình 1.7 Hệ thống lưu vực sông Srepok 10
Hình 1.8 Lưu lượng nước mùa lũ trạm Bản đôn 12
Hình 1.9 Lưu lượng nước mùa lũ trạm Giang Sơn 12
Hình 1.10 Lưu lượng nước mùa lũ trạm Đức Xuyên 13
Hình 1.11 Lưu lượng nước mùa lũ trạm cầu 14 13
Hình 1.12 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm cầu 14 14
Hình 1.13 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Đức Xuyên 14
Hình 1.14 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Giang Sơn 14
Hình 1.15 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Bản Đôn 15
Hình 1.16 Các vị trí quan trắc nước mặt tại Đăk Lăk 20
Hình 2.1 Các loại thiết bị phân tích và điều kiện hổ trợ trạm quan trắc 29
Hình 2.2 Ví dụ về điều kiện lấy mẫu ở trạm quan trắc 30
Hình 2.3 Cấu trúc hệ thống quan trắc nguồn ô nhiễm 33
Hình 2.4 Hệ thống quan trắc liên tục ô nhiễm nước nguồn cố định 34
Hình 2.5 Ví dụ của loại máng đo lưu lượng nước qua mương 35
Hình 2.6 Mạng lưới quan trắc cấp quốc gia 36
Hình 2.7 Các chỉ tiêu cần bảo quản và các chỉ tiêu đo tại chỗ 37
Hình 2.8 Hệ thống thông tin quan trắc môi trường nước mặt ở Đăk Lăk 38
Hình 3.1 Sơ đồ cấu trúc của phần mềm ENVIMWQ 43
Hình 3.2 Sơ đố cấu trúc CSDL môi trường trong ENVIMWQ 43
Hình 3.3 Sơ đồ cấu trúc và chức năng của ENVIMWQ phiên bản Đăk Lăk 44
Hình 3.4 Quy trình tạo các đối tượng quản lý trong ENVIMWQ_DL 45
Hình 3.5 Xác định và chấm điểm vị trí các cơ sở sản xuất xả thải 46
Hình 3.6 Các CSSX Đăk Lăk đã được nhập vào phần mềm ENVIMWQ_DL 46
Hình 3.7 Nhập thông tin cho điểm lấy mẫu nước DL1 48
Hình 3.8 Chọn thông số quan trắc chất lượng nước 48
Hình 3.9 So sánh kết quả quan trắc với TCVN 49
Hình 3.10 Vị trí các trạm thủy văn trên sông Srepok, Đăk Lăk 50
Hình 3.11 Chọn trạm thủy văn cần thống kê 50
Hình 3.12 Chọn tiêu chí hiện thị số liệu thủy văn 51
Hình 3.13 Kết quả thống kê độ sâu trung bình 51
Hình 3.14 Vẽ đồ thị lên bản đồ 51
Hình 3.15 Chức năng truy vấn trong ENVIMWQ_DL 52
Hình 3.16 Chọn đối tượng cần thực hiện thống kê 52
Hình 3.17 Chọn thông số cần thống kê 52
Hình 3.18 Chọn tiêu chí cần thống kê 53
Hình 3.19 Kết quả thống kê dạng biểu đồ hay báo cáo 53
Hình 3.20 Xây dựng CSDL về các CSSX có xả thải xuống sông Srepok 54
Hình 3.21 Nhập thông số xả thải cho nguồn thải 54
Hình 3.22 Chạy mô hình Streeter – Phelps 55
Hình 3.23 Kết quả chạy mô hình trong ENVIMWQ_DL 55
Trang 10Hình 3.24 Phân tích kết quả chạy mô hình trong ENVIMWQ_DL 56 Hình 3.25 Quá trình tự động hóa trong công tác thu thập, lưu trữ và phân tích các dữ liệu môi trường trong ENVIMWQ_DL 60 Hình 3.26 Vị trí hợp lưu của 2 nhánh sông Krong Ana và Krong Kno (nhập vào nhánh chính Srepok) 61 Hình 3.27 Mối tương quan giữa các KCN, đô thị, thủy điện, thác trên khúc sông chính của tỉnh Đăk Lăk 62 Hình 3.28 Mạng lưới các điểm quan trắc chất lượng nước và trạm đặt hệ thống thu, truyền thông tin được đề xuất 62 Hình 3.29 Vị trí thu mẫu tại mặt cắt F Hình 3.30 Bình lấy mẫu Van dorn F Hình 3.31 Các thành phần của điện cực thủy tinh G Hình 3.32 Cấu trúc thiết bị đo pH G Hình 3.33 Thiết bị đo quang phổ sự phát huỳnh quang tia X H Hình 3.34 Cấu trúc cơ bản của thiết bị sắc phổ khí H Hình 3.35 Nguyên tắc của sắc phổ khí I Hình 3.36 Cấu trúc của thiết bị phân tích tổng N dựa vào xúc tác nhiệt phân ly phương pháp sự phát quang phản ứng hóa học I Hình 3.37 Cấu trúc thiết bị đo hàm lượng dầu sử dụng phương pháp dung môi hòa tan/ phân tích tia hồng ngoại J Hình 3.38 Thiết bị phân tích COD phương pháp K 2 MnO 4 trong môi trường acid J Hình 3.39 So sánh hàm lượng SS vào các thời điểm quan trắc trong năm 2005 K Hình 3.40 So sánh hàm lượng DO vào các thời điểm quan trắc trong năm 2005 K Hình 3.41 So sánh hàm lượng BOD vào các thời điểm quan trắc trong năm 2005 L Hình 3.42 So sánh hàm lượng Coliform vào các thời điểm quan trắc trong năm 2005 L Hình 3.43 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok M Hình 3.44 Phân bố DO từ nguồn thải M Hình 3.45 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc M Hình 3.46 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok N Hình 3.47 Phân bố DO từ nguồn thải N Hình 3.48 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc N Hình 3.49 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok O Hình 3.50 Phân bố DO từ nguồn thải O Hình 3.51 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc O Hình 3.52 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok P Hình 3.53 Phân bố DO từ nguồn thải P Hình 3.54 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc P Hình 3.55 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok Q Hình 3.56 Phân bố DO từ nguồn thải Q Hình 3.57 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc Q Hình 3.58 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok R Hình 3.59 Phân bố DO từ nguồn thải R Hình 3.60 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc R Hình 3.61 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok S Hình 3.62 Phân bố DO từ nguồn thải S Hình 3.63 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc S Hình 3.64 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok T Hình 3.65 Phân bố DO từ nguồn thải T Hình 3.66 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc T Hình 3.67 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok U
Trang 11Hình 3.68 Phân bố DO từ nguồn thải U Hình 3.69 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc U Hình 3.70 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok V Hình 3.71 Phân bố DO từ nguồn thải V Hình 3.72 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc V Hình 3.73 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok W Hình 3.74 Phân bố DO từ nguồn thải W Hình 3.75 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc W Hình 3.76 Lựa chọn thông số nguồn thải khi thải ra sông Srepok X Hình 3.77 Phân bố DO từ nguồn thải X Hình 3.78 Kết quả chạy mô hình và đồ thị theo mặt cắt dọc X Hình 3.79 Đập dâng thủy điện Buôn Kuôp Y Hình 3.80 Tháp điều áp khu vực thủy điện Buôn Kuôp Y Hình 3.81 Lấy mẫu xác định định tính và định lượng động vật Z Hình 3.82 Lấy mẫu xác định định tính, định lượng thực vật Z Hình 3.83 Lấy mẫu bùn đáy AA Hình 3.84 Trạm quan trắc AA Hình 3.85 Thiết bị tính toán lưu lượng AA Hình 3.86 Thiết bị phân tích tia UV BB Hình 3.87 Thiết bị đo từ xa của trạm quan trắc BB Hình 3.88 Lắp đặt vòng khóa vào đường cống ngầm CC Hình 3.89 Vòng khóa, vòng đệm và dụng cụ lắp đặt các đầu đo vào cống thải CC Hình 3.90 Đi quan trắc trên sông Srepok, Đăk Lăk với các chú Vittep DD Hình 3.91 Một trong số vị trí được quan trắc tại Đăk Lăk DD
Trang 12DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT
Bảo vệ môi trường
CMM Completed Mixed Model – mô hình phân đoạn pha trộn
tốt CSSX Cơ sở sản xuất
ENVIM ENVironmental Information Management software –
phần mềm quản lý môi trường ENVIMWQ ENVironmental Information Management and Water
Quality simulation - Phần mềm quản lý thông tin môi trường
và mô phỏng chất lượng nước
ENVIMWQ_DL ENVironmental Information Management and Water
Quality simulation for Dak Lak - Phần mềm quản lý thông tin môi trường và mô phỏng chất lượng nước cho Đăk Lăk GEC
Công nghệ thông tin GIS Geographic Information System – Hệ thống thông tin địa
lý HTTTMT Hệ thống thông tin môi trường
KCN Khu công nghiệp
RAM Risk Analysis Model - mô hình đánh giá rủi ro
VITTEP Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường
(Việt Nam Institute For Tropical Technology and Environmental Protection)
Trang 13MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Khoảng hai thập kỷ gần đây, phát triển bền vững được đặt ra như là một yêu cầu không thể thiếu của quá trình phát triển trên toàn thế giới cũng như ở mỗi quốc gia Tiếp sau hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc tại Rio De Janeiro (Braxin) năm
1992, Hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 2002 tại Johannesburg (Nam Phi) đã nhất trí thông qua Kế hoạch thực hiện phát triển bền vững, xác nhận xu thế tất yếu mà cộng đồng quốc tế cần hướng tới
Thế giới ngày nay tiềm ẩn nhiều nguy cơ không bền vững Sự phát triển bằng bất cứ giá nào, bất công xã hội tràn lan, tình trạng nghèo khó ngày càng trầm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, môi trường bị hủy hoại, đang là những vấn
đề bức xúc có tính toàn cầu Khoảng cách giữa các nước phát triển và kém phát triển ngày càng rộng Nhiều nước phát triển đang khai thác nhân công và tài nguyên của các nước kém phát triển với giá rẻ mạt đồng thời gây ra ô nhiễm môi trường tại các nước kém phát triển dưới nhiều hình thức, trong đó có việc bỏ qua hoặc xem nhẹ đầu tư cho môi trường để ăn lãi về môi trường thông qua các dự án đầu tư Nhiều nước phát triển
"nóng" đang phải trả giá đắt về môi trường
Bằng việc thông qua Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991- 2000, nước ta đã sớm hội nhập vào con đường phát triển bền vững của thế giới
Quan điểm chủ đạo của chiến lược phát triển của đất nước là "Phát triển nhanh, hiệu
quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" (BVMT) Phát triển bền vững chính là sự phát triển dựa trên sự kết hợp
hài hòa ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Nhờ sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân, công tác BVMT ở nước ta trong những năm gần đây đã có chuyển biến tích cực, thể hiện trên các mặt xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật; thay đổi nhận thức và hành vi về BVMT; hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường; bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, chất lượng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tuy nhiên, nhìn chung công tác BVMT chưa tương xứng với mức độ gia tăng ô nhiễm và sự tác động xấu đối với môi trường của quá trình phát triển Những thành tựu đạt được qua 20 năm đổi mới một phần quan trọng được dựa vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị tàn phá nghiêm trọng,
ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động Có thể nói cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, đất nước ta thực sự đang đứng trước nhiều thách thức về sự phát triển bền vững, trong đó, thách thức lớn nhất, cơ bản nhất là làm thế nào để hài hòa giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa phát triển kinh tế - xã hội với BVMT, giữa lợi ích thế hệ hiện tại và lợi ích thế hệ tương lai
Nước là nguồn tài nguyên không thể thay thế đang đứng trước nguy cơ suy thoái mạnh, chủ yếu do ô nhiễm từ nước thải gây ra Hàng năm trên đất nước chúng ta
có hơn một tỷ m3 nước thải hầu hết chưa được xử lý thải ra môi trường Dự báo nước thải sẽ tăng hàng chục lần trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Khối lượng lớn nước thải này đang và sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng nhiều nguồn
Trang 14nước trên phạm vi cả nước, đặc biệt là các lưu vực sông, các hồ trong các đô thị lớn
mà Đăk Lăk sẽ không phải là ngoại lệ
Để giải quyết một cách triệt để bài toán phát triển bền vững cần phải ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại, trong đó có công nghệ thông tin Tại nhiều nước trên thế giới, công nghệ thông tin được sử dụng để xây dựng các hệ thống tích hợp thông tin môi trường, tri thức các chuyên gia cũng như các mô hình mô phỏng nhằm giúp cho người làm công tác quản lý đánh giá được các tiêu chí khác nhau trong một môi trường tích hợp các CSDL (có bản chất khác nhau) Bài toán quan trọng ở đây là phải thiết kế CSDL, thu thập và xử lý số liệu, phát triển và tổ chức tri thức, mô phỏng quá trình lan truyền chất, biểu diễn kết quả tính toán dưới dạng thuận lợi cho người sử dụng
Trong thời gian qua, nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý môi trường đã được triển khai tại một số Viện, Trung tâm nghiên cứu và Trường Đại học lớn của đất nước Dù mới chỉ là bước đầu nhưng nhiều kết quả nghiên cứu đã được đưa vào ứng dụng trong công tác quản lý môi trường góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lí nhà nước về môi trường Trong số này có các sản phẩm tin học CAP, ENVIM /nguồn www.envim.com.vn / Công nghệ thực hiện các phần mềm này có thể tóm tắt như là một sự tích hợp Hệ thống thông tin địa lý (GIS), cơ sở dữ liệu môi trường và các mô hình toán xử lý dữ liệu môi trường thành một công cụ duy nhất cho nguời sử dụng
Là một tỉnh thuộc Tây Nguyên còn nhiều khó khăn, việc tiếp cận với công nghệ thông tin tại Đăk Lăk còn chậm hơn so với ở các thành phố lớn, thêm vào đó công nghệ sản xuất tại Đăk Lăk còn lạc hậu, ý thức của người dân về môi trường còn chưa cao nên áp lực lên môi trường nói chung và lên môi trường nước nói riêng đang là mối quan tâm của các ban ngành chức năng và nhân dân, là nỗi trăn trở của các nhà chuyên môn Bên cạnh đó, tại tỉnh Đăk Lăk các ngành công nghiệp: chế biến thực phẩm - đồ uống, gỗ và lâm sản, cơ khí - chế tạo, nhựa cao su…phát triển Nước thải của việc phát triển công nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng nước nói chung và nước mặt nói riêng
Từ đó tính cấp thiết của Luận văn là :
Hiện nay công tác quản lý nhà nước về môi trường đang đứng trước nhiều thách thức và nếu không ứng dụng công nghệ thông tin triệt để thì không thể đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn
Việc ứng dụng công nghệ Hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong công tác quản lý môi trường tại Đăk Lăk cần được chú trọng trong bối cảnh công nghệ này đã và đang được ứng dụng có hiệu quả trong nhiều lĩnh vực khác
Để từng bước hội nhập với khu vực và quốc tế, Đăk Lăk cần phải xây dựng cơ sở
hạ tầng về thông tin đáp ứng được các chuẩn quốc tế và khu vực Các hệ thống thông tin môi trường ở đây đóng vai trò hạt nhân
Do vậy cần thiết phải xây dựng hệ thống thông tin để giám sát chất lượng nước cho hệ thống sông, suối trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk và đây cũng là mục tiêu của Luận văn này
Mục tiêu của Luận văn
Mục tiêu lâu dài: Xây dựng hệ thống thông tin môi trường tích hợp trợ giúp
quản lý tổng hợp và thống nhất môi trường cho tỉnh Đăk Lăk
Mục tiêu trước mắt:
Trang 15 Tin học hóa quá trình nhập, xuất dữ liệu quan trắc chất lượng nước mặt tại tỉnh Đăk Lăk
Tự động hóa công tác báo cáo, thống kê liên quan tới chất lượng nước mặt tại tỉnh Đăk Lăk
Nội dung công việc cần thực hiện
Để thực hiện mục tiêu của đề tài tác giả cần thực hiện một số nội dung sau đây:
Thu thập dữ liệu bản đồ số tỉnh Đăk Lăk Thực hiện số hóa một số vị trí quan trắc môi trường (liên quan tới sông suối) trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk
Thu thập các số liệu quan trắc chất lượng nước sông suối tại Đăk Lăk Thu thập, đánh giá, phân tích dữ liệu về các cơ sở sản xuất có xả thải ra hệ thống sông suối tại Đăk Lăk (có thể là các CSSX lớn)
Xây dựng CSDL về các CSSX có xả thải chất ô nhiễm xuống hệ thống kênh sông của Đăk Lăk
Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng hệ thống quan trắc liên tục ô nhiễm nước mặt được áp dụng tại một số nước tiên tiến
Ứng dụng phần mềm ENVIMWQ cho tỉnh Đăk Lăk Bước đầu hình thành công cụ trợ giúp quản lý giám sát chất lượng nước sông, suối tại Đăk Lăk Áp dụng ENVIMWQ để tính toán cho một số kịch bản
Phạm vi nghiên cứu
- Về địa lý: Đề tài giới hạn phạm vi xem xét tại hệ thống sông, suối tỉnh Đăk Lăk
- Về môi trường: số liệu chất lượng nước sông, suối trong các năm 2003 – 2005
- Về công nghệ: Ứng dụng công nghệ GIS và CSDL, ứng dụng phần mềm ENVIM
Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tài liệu trong và ngoài nước liên quan tới đề tài
- Phương pháp thống kê trong nghiên cứu môi trường
- Công nghệ thông tin
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trong Luận văn này sẽ làm rõ một số điểm sau đây:
Xác định hiện trạng chất lượng nước trên các dòng sông, suối trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk trong 3 năm qua
Đề xuất giải pháp quản lý chất lượng nước sông, suối bằng công cụ tin học
Ứng dụng tin học trong công tác quản lý cơ sở dữ liệu về quan trắc chất lượng nước sông, suối Khi các số liệu được tin học hóa thì việc truy vấn dữ liệu cần thiết trong thời gian xác định sẽ nhanh hơn, giúp quy hoạch sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước sông, suối Từ những số liệu đã cập nhật sẽ xây dựng mô hình ô nhiễm tích hợp và dự báo vùng ô nhiễm, mức độ ô nhiễm
Đưa ra đề xuất xây dựng mạng lưới quan trắc liên tục trên sông Srepok, Đăk Lăk
Trang 16Chương 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ
NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK
1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Đăk Lăk
1.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Đắk Lắk nằm trên địa bàn Tây Nguyên, tọa độ địa lý từ 107o28’57” –
108o59’37” kinh Đông và từ 12o9’45” – 13o25’06” vĩ Bắc Hình 1.1
- Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai
- Phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng
- Phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hoà
- Phía Tây giáp Vương quốc Cam Pu Chia và tỉnh Đăk Nông
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đăk Lăk
Trang 17Là tỉnh có đường biên giới dài 70 km chung với nước Cam Pu Chia, trên đó có quốc lộ 14C chạy dọc theo biên giới hai nước rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế vùng biên kết hợp với bảo vệ an ninh quốc phòng
Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá xã hội của tỉnh và cả vùng Tây Nguyên Trung tâm thành phố là điểm giao cắt giữa quốc lộ 14 (chạy xuyên suốt tỉnh theo chiều từ Bắc xuống Nam) với quốc lộ 26 và quốc lộ 27 nối Buôn Ma Thuột với các thành phố Nha Trang (Khánh Hoà), Đà Lạt (Lâm Đồng) và Pleiku (Gia Lai) Trong tương lai khi đường Hồ Chí Minh được xây dựng cùng với đường hàng không được nâng cấp thì Đăk Lăk sẽ là đầu mối giao lưu rất quan trọng nối liền các trung tâm kinh tế của cả nước như Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh Đây
là động lực lớn, thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh cũng như toàn vùng Tây Nguyên phát triển.[3]
1.1.2 Địa hình địa mạo
Đại bộ phận diện tích của tỉnh nằm ở phía Tây Trường Sơn, có hướng thấp dần
từ Đông Nam sang Tây Bắc Địa hình đa dạng đồi núi xen kẽ bình nguyên và thung lũng, khái quát có thể chia thành các dạng địa hình chính như được chỉ ra trên Hình 1.2
Hình 1.2 Địa hình địa mạo tỉnh Đăk Lăk
1.2 Khái quát điều kiện khí tượng – thủy văn
1.2.1 Khí hậu thời tiết
Do đặc điểm vị trí địa lý, địa hình nên khí hậu ở Đăk Lăk vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên mát dịu Song chịu ảnh hưởng mạnh nhất chủ yếu vẫn là khí hậu Tây Trường sơn, nhiệt độ trung bình không cao, mùa hè mưa nhiều ít nắng bức do chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây nam, mùa đông mưa ít Vùng phía Đông và Đông Bắc thuộc các huyện M’Drăk,
Ea Kar, Krông Năng là vùng khí hậu trung gian, chịu ảnh hưởng khí hậu Tây và Đông Trường Sơn
Nhìn chung thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10 kèm theo gió Tây Nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7, 8,
9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa năm Riêng vùng phía Đông do chịu ảnh hưởng của Đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng Dưới đây trình bày một số đặc trưng khí hậu của tỉnh Đăk Lăk
Trang 181.2.1.1 Nhiệt độ:
Nhiệt độ trung bình ở độ cao 500 - 800m dao động từ 22 -23oC, những vùng có
độ cao thấp như Buôn Ma Thuột nhiệt độ trung bình 23.7oC, M’Drăk nhiệt độ 24oC Tổng nhiệt độ năm cũng giảm dần theo độ cao, ở độ cao < 800m tổng nhiệt độ năm đạt 8000-9500oC, độ cao > 800m có tổng nhiệt độ giảm xuống chỉ còn 7500-8000oC Biên
độ nhiệt trong ngày lớn, có ngày biên độ đạt 20oC, biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm không lớn, tháng giêng có nhiệt độ trung bình thấp nhất ở Buôn Ma Thuột 18.4oC, ở M’Drăk 20oC, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4 ở Buôn Ma Thuột 26.2oC, ở Buôn Hồ 27.2oC
Nhiệt độ, độ ẩm trung bình năm tại Đăk Lăk
24 23.6
23.9 24.1
23.8
81 80
81 81
Hình 1.3 Nhiệt độ, độ ẩm trung bình năm (ĐVT: oC, %)
Nguồn: Niên giám thống kê 2005
Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất: tháng 4, tháng 5 hằng năm nhiệt độ cao 26oC-
27oC Hình 1.3Error! Reference source not found Năm 2003 nhiệt độ trung bình
của tháng 4 cao nhất 27oC
1.2.1.2 Chế độ mưa:
Lượng mưa trung bình nhiều năm toàn tỉnh đạt từ 1600-1800mm, trong đó vùng
có lượng mưa lớn nhất là vùng phía nam (1950-2000mm); vùng có lượng mưa thấp nhất là vùng phía Tây Bắc (1500-1550mm) Lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa chiếm 84% lượng mưa năm, mùa khô lượng mưa chiếm 16%, vùng Ea Sup lượng mưa mùa khô chiếm 10% có năm không có mưa Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 8, 9 Mùa mưa Tây nguyên còn chịu ảnh hưởng bởi số lượng cơn bão ở duyên hải Trung bộ Lượng mưa năm biến động lớn (lượng mưa năm lớn nhất gấp 2.5 -3 lần lượng mưa năm nhỏ nhất) Các tháng mưa tập trung thường gây lũ lụt vùng Lăk- Krông Ana Trong các tháng mùa mưa đôi khi xảy ra tiểu hạn từ 15-20 ngày gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp
Trang 192001 2002 2003 2004 2005
Lượng mưa trung bình năm, mm
Lượng mưa trung bình năm, mm Hình 1.4 Lượng mưa trung bình năm (ĐVT: mm)
Nguồn: Niên giám thống kê 2005
Lượng mưa nhiều nhất vào tháng 8 năm 2001: 786.1mm và giảm dần đến năm
Nguồn: Niên giám thống kê 2005
Độ ẩm cao khoảng tháng 512 hằng năm: 7889 %
+ Lượng bốc hơi: lượng bốc hơi các tháng 2, 3, 4 đạt từ 150 -200 mm Tổng lượng bốc hơi trung bình năm 1300-1500mm bằng 70% lượng mưa năm chủ yếu vào mùa khô
+ Chế độ nắng: tổng số giờ nắng bình quân hàng năm khá cao khoảng 2139 giờ, năm cao nhất 2323 giờ, năm thấp nhất khoảng 1991 giờ Trong đó mùa khô số giờ nắng trung bình cao hơn (1167 giờ) so với mùa mưa (972 giờ)
Trang 20Số giờ nắng trung bình năm tại tỉnh Đăk Lăk, giờ
Hình 1.5 Số giờ nắng trung bình năm (ĐVT: giờ)
Nguồn: Niên giám thống kê 2005
Số giờ nắng nhiều nhất vào tháng 1 năm 2005: 297.8giờ
Số giờ nắng ít nhất vào tháng 12 năm 2005: 63.4 giờ
+ Chế độ gió: có 2 hướng gió chính theo 2 mùa, mùa mưa gió Tây Nam thịnh hành thường thổi nhẹ khoảng cấp 2, cấp 3 Mùa khô gió Đông Bắc thịnh hành thường thổi mạnh cấp 3, cấp 4 có lúc gió mạnh lên cấp 6, cấp 7 Mùa khô gió tốc độ lớn thường gây khô hạn
Tóm lại khí hậu Đăk Lăk vừa mang nét chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng cao nguyên nên phù hợp với nhiều loại cây trồng Tuy nhiên do chế độ thời tiết có 2 mùa rõ rệt, mùa khô thiếu nước cho sản xuất
và sinh hoạt, mùa mưa lượng mưa lớn tập trung gây lũ lụt một số vùng Lượng mưa lớn cũng gây xói mòn và rửa trôi đất đai
1.2.2 Khái quát hệ thống sông ngòi tỉnh Đăk Lăk
Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều, nhưng do địa hình dốc nên khả năng giữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô nên mực nước các sông suối lớn thường xuống rất thấp Trên địa bàn có hai hệ thống sông chính chảy qua là hệ thống sông Srêpok và sông Ba
Hệ thống sông Srêpok có diện tích lưu vực chiếm tới 2/3 diện tích lãnh thổ bao gồm lưu vực dòng chính Srêpok và tiểu lưu vực Ea H’Leo; hệ thống sông Ba không chảy qua Đăk Lăk nhưng ở phía Đông và Đông Bắc của tỉnh có 2 nhánh thuộc thượng nguồn sông Ba là sông Krông H’Năng và sông Hinh
Trang 22K h
h h o
Trang 231.2.3 Mạng lưới đo đạc các thông số khí tượng thủy văn tại Đăk Lăk
Năm 1997 Tổng cục khí tượng thủy văn quản lý 5 trạm thủy văn cấp I, đó là các trạm: Cầu 42 và Giang Sơn trên sông Krông Ana, Đức Xuyên trên sông Krông Knô, Cầu 14, Bản Đôn trên sông Srepok
Hệ thống cao độ mực nước ở các trạm Giang Sơn và Bản Đôn đã được đưa vào
hệ thống cao độ quốc gia
Khi đánh giá chất lượng tài liệu ở các trạm thủy văn trong vùng, nhất là tài liệu
ở các trạm thủy văn cấp I do Tổng Cục quản lý, đã xem xét thấy đường quan hệ H-Q hàng năm của trạm rất ít biến đổi, ổn định Riêng trạm Giang Sơn đường quan hệ Q=f(H) biến đổi phức tạp hơn, nguyên nhân có thể do mặt cắt biến đổi nhiều do bồi xói hoặc ảnh hưởng bởi lượng nước trữ vùng hạ lưu vào các tháng mùa lũ
1.2.3.1 Dòng chảy năm
Dòng chảy năm phụ thuộc vào chế độ mưa và thay đổi theo vùng Trong lưu vực sông Srepok với diện tích 12300km2 dòng chảy năm đạt 286 m3/s với tổng lượng dòng chảy năm đạt 9 tỷ m3 nước Lưu lượng trung bình tại Bản Đôn thời kỳ 1977-1998
là 254.8m3/s tương ứng với modul dòng chảy 23.8 l/s-km2 (trạm Bản Đôn có
Flv=10.700 km2) Phía Bắc tỉnh là lưu vực Ea Hleo với diện tích lưu vực 3080 km2tổng lượng dòng chảy năm đạt 1.98 tỷ m3 nước Phía Đông tỉnh là lưu vực sông Ba có lượng dòng chảy năm đạt 3.25 tỷ với diện tích lưu vực là 13900 km2
Biến động dòng chảy năm ở các vùng trong tỉnh khá phức tạp Năm nước lớn
có lượng dòng chảy gấp 1.5 - 2 lần trị số bình quân nhiều năm Năm nhiều nước gấp 1.5 - 5 lần năm ít nước
Sự biến động dòng chảy qua các tháng trong năm thay đổi khá lớn Sự biến động này khiến việc sử dụng, khai thác nguồn nước khó khăn Sự phân phối dòng chảy trong năm mang tính chất mùa Mùa dòng chảy trong năm thường chậm hơn mùa mưa
từ 1 đến 2 tháng
Bảng 1.2 Đặc trưng dòng chảy trung bình nhiều năm
Tổng lượng dòng chảy mùa lũ tháng lớn nhất
Tổng lượng dòng chảy mùa kiệt lũ tháng lớn nhất Mùa
lũ
Mùa kiệt
Thời gian
Trị số
%
Thời gian
sông Hinh 10-12 1-9 11 32-36 4, 8
Trang 24Trên lưu vực sông Krông Knô tại trạm thủy văn Đức Xuyên đã thống kê được
lũ lớn đến hàng năm vào tháng 9, 10 chiếm tỷ lệ 67%, trong đó lớn nhất là tháng 9 chiếm 40% số lượng lũ trong năm
Những trận lũ giữa hai nhánh sông chính nêu trên đã gây tình trạng ngập lụt lâu ngày cho các vùng Lăk - Buôn Trấp thuộc hạ du 2 nhánh sông trên
Hàng năm trên sông Krông Ana thường xảy ra 2-3 con lũ lớn Dạng lũ thường nhiều đỉnh do bị ảnh hưởng liên tiếp của mưa bão hoặc áp thấp Thời gian lũ kéo dài, cường suất lũ lên chỉ 3-5 cm/h, cường suất lũ rút 1-2 cm/h
Hình 1.8 Lưu lượng nước mùa lũ trạm Bản đôn
0.0 20.0
Hình 1.9 Lưu lượng nước mùa lũ trạm Giang Sơn
Trang 250.0 50.0 100.0 150.0 200.0 250.0
T háng mùa lũ
Lưu lượng nước mùa lũ trạm Đức Xuyên (sông Krông Nô)
2003 2004 2005
Hình 1.10 Lưu lượng nước mùa lũ trạm Đức Xuyên
Hình 1.11 Lưu lượng nước mùa lũ trạm cầu 14
1.2.3.3 Dòng chảy kiệt
Mùa kiệt ở Đăk Lăk nhìn chung bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Dòng chảy kiệt nhất vào các tháng 3 và 4 Tại Bản Đôn dòng chảy bình quân tháng kiệt vào tháng 4 là 62 m3/s Lưu lượng kiệt tại Giang Sơn là 6.36 m3/s ngày 11/1/1978 Tại Đức Xuyên Qkiệt= 9.34 m3/s ngày 2/5//1986 Tại Bản Đôn Qkiệt=23.3 m3/s ngày 29/4/1983 Trạm Cầu 14 ngày 11/4/1978 đo được Qkiệt=20.4 m3/s, 13.4 m3/s ngày 10/4/1998
Do dòng chảy kiệt khá nhỏ dẫn đến mực nước trong các sông suối hạ thấp đáng
kể, gây hạn hán nghiêm trọng nhất là vụ sản xuất Đông Xuân 1998
Mùa kiệt 1998, do ảnh hưởng của hiện tượng Elnino hầu hết các suối nhỏ trong tỉnh bị cạn kiệt như các suối Krông Buk, Krông Pach, Krông Hnăng, Ea Hleo, Ea Soup
Lưu lượng mùa kiệt ở một số vị trí như sau:
Trang 260.0 20.0 40.0 60.0 80.0 100.0 120.0 140.0 160.0 180.0
T háng mùa kiệt
Lưu lượng nước mùa kiệt trạm cầu 14 (sông Ea Krông)
2003 2004 2005
Hình 1.12 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm cầu 14
0.0 20.0
Hình 1.13 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Đức Xuyên
0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 80.0
Tháng mùa kiệt
Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Giang Sơn (Sông Krông Ana) 2003
2004 2005
Hình 1.14 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Giang Sơn
Trang 270.0 100.0 200.0 300.0 400.0 500.0 600.0 700.0 800.0 900.0 1000.0
XII I II III IV V VI VII
Tháng mùa kiệt
Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Bản Đôn (Sông Srêpok)
2003 2004 2005
Hình 1.15 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Bản Đôn
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Buôn Ma Thuột
1.3 Các nguồn tài nguyên
Trang 281.3.2 Tài nguyên nước
1.3.2.1 Nước mặt:
Hàng năm tổng lượng nước đến toàn lãnh thổ tỉnh Đăk Lăk trên các lưu vực
chính như Srêpok 9 tỷ m3, Ea H’Leo 1.98 tỷ m3, sông Ba ở phía Đông khoảng 3.25 tỷ
m3 Tài nguyên nước mặt lớn, nhưng do phân bố không đều có một mùa mưa kéo dài
dễ gây úng lụt và một mùa khô khắc nghiệt, thiếu nước nghiêm trọng, công tác thuỷ lợi
có ý nghĩa quyết định đối với phát triển kinh tế xã hội như thuỷ điện, sản xuất và đời
sống Hiện nay trên địa bàn có 441 hồ chứa, 63 đập dâng Hình 4.79 phụ lục C
1.3.2.2 Nước ngầm:
Do nguồn nước mưa cung cấp hàng năm tương đối lớn, cùng với khả năng thấm
và giữ nước của một số thành tạo địa chất nên đã làm cho nguồn nước ngầm ở Đăk
Lăk có vị trí quan trọng trong cán cân nước nói chung Tài nguyên nước của vùng Đăk
Lăk mất cân đối nghiêm trọng, về mùa khô các hồ tự nhiên, nhân tạo, các khu chứa
nước rộng lớn tạo ra sự bốc hơi mặt nước Lượng nước sử dụng (chủ yếu cho nông
nghiệp) không được hoàn lại và bị mất một khối lượng lớn ước tính trên 20% lượng
nước dùng trong mùa khô, ở những nơi mất rừng các con suối khô cạn, mức nước
ngầm tụt sâu, các giếng đào, giếng khoan đều phải đào và khoan sâu thêm mới có
nước
Bảng 1.4 Trữ lượng khai thác tiềm năng nước trong tỉnh Đăk Lăk
Trữ lượng tĩnh tự nhiên (triệu m 3 )
Trữ lượng động tự nhiên (nghìn m 3 )
Trữ lượng khai thác tiềm năng (nghìn m 3 )
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Địa chất
Như vậy, nước ngầm trong cấu thành tạo Bazan đóng vai trò chủ yếu nhất, các
đối tượng chứa nước khác không giàu Đây là nguồn tài nguyên có ý nghĩa đối với sản
xuất và đời sống, tuy nhiên do biến động về thời tiết và khai thác các tài nguyên không
hợp lý như diện tích rừng bị suy giảm, tình trạng khoan khai thác không hợp lý đã làm
ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm như bị ô nhiễm, suy giảm về trữ lượng, độ sâu
Trang 29Độ che phủ rừng toàn tỉnh là 46.1% trong đó huyện Buôn Đôn độ che phủ cao nhất 84.8%; Ea Sup 75.7%; Krông Bông 66%; Lăk 60.3%; Ea HLeo 49.5%; các huyện khác từ 1- 26.9%…
Bảng 1.5 Trữ lượng gỗ các loại rừng
Rừng thường xanh Rừng khộp
Rừng hỗn giao Rừng trồng
36.3 21.2
1 0.3 Tổng trữ lượng gỗ 59 - 60 Diện tích rừng tự nhiên giảm từ 686.7 nghìn ha năm 1995 xuống còn 613.2 nghìn ha năm 2003 và 599.5 nghìn ha năm 2004 Trong vòng 9 năm diện tích rừng giảm 87.2 nghìn ha, trung bình mỗi năm giảm 9.7 nghìn ha
Cùng với sự gia tăng dân số tự nhiên, dân di cư tự do vào Đăk Lăk những năm qua khá lớn, dẫn tới nhu cầu đất sản xuất và đất ở tăng cao, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến diện tích rừng giảm Tình trạng khai thác gỗ lậu, lâm sản ngoài
gỗ, săn bắt động vật hoang dã đã làm suy giảm đa dạng sinh học, số lượng và chất lượng rừng
1.3.4 Tài nguyên khoáng sản
Đăk Lăk có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, nhất là khoáng sản vật liệu xây dựng Các khoáng sản chủ yếu là:
Bảng 1.6 Các loại khoáng sản
Khoáng sản Nơi có khoáng sản
Fenspat Xã Ea Sô, huyện Ea Kar
Đá Granit Ea H’Leo, Krông Bông,
Than bùn Mỏ Ea Pốk, Buôn Ja Wâm, Cuôr Đăng (Cư
M’gar), Ea K’Tur (Krông Ana)
Sét gạch ngói Huyện Krông Ana, Krông Pắc, Ea Kar, M’Đrắc,
Ea H’Leo…
- Ngoài ra còn có các loại khoáng sản khác như vàng, chì, kẽm,… Tuy nhiên,
để khai thác nguồn tài nguyên này có hiệu quả cao cần thiết có nghiên cứu thăm dò chi tiết hơn
1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Lăk
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong 5 năm 2001-2005 đạt 8.05%, tăng 1.47 lần so với năm 2000, tuy chưa đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra (9 –
9.5%), song nền kinh tế vẫn duy trì được mức tăng trưởng khá so với cả nước và trong khu vực Tây Nguyên Trong đó: tăng trưởng của ngành công nghiệp - xây dựng đạt 21.3% (KH 20%), các ngành dịch vụ đạt 17% (KH 12%), nông - lâm - ngư nghiệp đạt 4.1% (KH 8%) Quy mô và chất lượng nền kinh tế tiếp tục được nâng lên, năm 2005
Trang 30GDP đạt hơn 7.800 tỷ đồng, bình quân đầu người đạt 550.6 USD, vượt 10% kế hoạch
đề ra (mức bình quân chung cả nước là 600 USD)
Cơ cấu đầu tư chuyển dần theo hướng chú trọng phát triển các lĩnh vực công
nghiệp - xây dựng và dịch vụ Tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp giảm từ 77.5% năm
2000 còn 64.3% năm 2005; công nghiệp - xây dựng tăng từ 7.2% lên 12.9%; các
GDP theo giá ss’94 4878.9 6047.6 6696 7185 8.24 8.05
Chia theo ngành kinh tế
- Nông, lâm, thuỷ sản 3783.7 4374.7 4691 4626 5.52 4.1
- Công nghiệp, xây dựng 354.5 557.3 699.5 931 18.52 21.30
Sản xuất lâm nghiệp đang từng bước chuyển đổi cơ chế quản lý theo hướng sử
dụng bền vững, chủ yếu làm giàu, tái sinh và trồng rừng, ưu tiên cho khoanh nuôi,
quản lý và bảo vệ rừng Thực hiện xã hội hóa nghề rừng, giao đất khoán rừng, tổ chức
sản xuất nông lâm kết hợp theo mô hình trang trại và tạo môi trường thông thoáng thu
hút vốn liên doanh, liên kết trồng rừng Khai thác gỗ giảm mạnh từ 116894 m3 năm
2000 xuống còn 30000 m3 năm 2005 Chế biến lâm sản theo hướng xuất khẩu và tiêu
thụ nội địa với chất lượng cao
Tỷ trọng GDP ngành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế chung ngày một tăng
(năm 2000 chiếm 5.45% đến năm 2005 chiếm 8.96%), công nghiệp chế biến vẫn
chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu ngành công nghiệp (từ 82 - 84%) cơ bản đáp ứng được
yêu cầu đầu ra của ngành nông nghiệp Quy mô và năng lực sản xuất công nghiệp
đang được nâng lên, chất lượng và chủng loại một số hàng hóa đã thích ứng và tạo ưu
thế cạnh tranh được với thị trường Công nghiệp năng lượng đã được đầu tư với quy
mô lớn và sẽ trở thành sản phẩm chủ lực trong thời gian tới như Thủy điện Buôn
Kuốp, Krông H’năng, Srepok III, Krông Kma… và một số công trình thủy điện nhỏ
đang được khảo sát và đầu tư Lưới điện truyền tải và phân phối phát triển nhanh đáp
ứng nhu cầu điện năng cho sản xuất và tiêu dùng, đến nay đã có 100% phường xã có
điện lưới quốc gia và 82% số hộ được dùng điện
Việc thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp gặp nhiều khó khăn do vốn
đầu tư cho công nghiệp còn thấp, triển khai các dự án còn chậm và xúc tiến đầu tư
công nghiệp còn nhiều hạn chế, đây là một trong những khó khăn lớn đối với phát
Trang 31triển công nghiệp của tỉnh Các khu, cụm công nghiệp đang ở bước triển khai xây dựng như: Khu Công nghiệp Hoà Phú, cụm tiểu thủ công nghiệp Buôn Ma Thuột và hoàn thành quy hoạch các cụm công nghiệp Buôn Hồ, Ea Đar, song còn chậm so với yêu cầu
Đã từng bước khắc phục tình trạng khai thác, sử dụng lãng phí tài nguyên, khoáng sản, nước, tài nguyên rừng Từng bước chú trọng bảo vệ môi trường Áp dụng công nghệ tiên tiến vào quản lý cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường Bộ máy quản
lý nhà nước về tài nguyên môi trường được củng cố, kiện toàn ở các cấp, đã góp phần đưa công tác quản lý tài nguyên, môi trường
1.5 Hiện trạng môi trường nước mặt tại Đăk Lăk trong thời gian qua
Là một tỉnh miền núi cao nguyên, cảnh quan môi trường Đăk Lăk được đánh giá rất phong phú và đa dạng, có nhiều cảnh quan đẹp như các thác nước hùng vĩ, các khu bảo tồn thiên nhiên, các sông, hồ tự nhiên, các khu rừng nguyên sinh, các địa danh gắn liền với truyền thống như Buôn Đôn có nghề săn bắt thuần dưỡng voi rừng Các khu dân cư, đô thị đang được hình thành và phát triển với những công trình kiến trúc đặc trưng là những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch
Tuy nhiên do phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ 1990 - 2005 thiếu cân đối, tình trạng gia tăng dân số cơ học quá nhanh, một số loại cây trồng có giá trị kinh tế cao nhất là cà phê phát triển ồ ạt ở hầu hết các huyện trong tỉnh, diện tích đất nông nghiệp
mở rộng không theo kế hoạch đã làm cho diện tích rừng suy giảm cả về diện tích lẫn chất lượng, đa dạng sinh học cũng bị suy giảm về thành phần và loài, tình trạng đất đai
bị xói mòn rửa trôi, canh tác không hợp lý, sử dụng quá nhiều phân hoá học, thuốc trừ sâu đã làm cho môi trường ngày càng bị ô nhiễm, cảnh quan nhiều nơi bị tàn phá Tình trạng hạn hán và lũ xảy ra thường xuyên, nhiều vùng trong tỉnh thiếu nước sinh hoạt trong mùa khô
Hiện tại Cục môi trường thực hiện kế hoạch quan trắc môi trường nước cho tỉnh Đăk Lăk mạng cấp 1 (quốc gia), mạng địa phương chưa thực hiện Tại địa phương chỉ thực hiện quan trắc hiện trạng môi trường hàng năm trong 5 năm trở lại đây Viện kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường là cơ quan đảm nhiệm thực hiện quan trắc môi trường tỉnh Đăk Lăk cho Cục môi trường và quan trắc hiện trạng môi trường cho tỉnh Đăk Lăk
Đối với sông, suối chảy qua thành phố và khu công nghiệp thì tối thiểu phải quan trắc tại 2 điểm: điểm đầu nguồn nước chảy vào thành phố và điểm cuối nguồn nước chảy ra khỏi thành phố Nhưng hiện tại việc quan trắc môi trường nước mặt của tỉnh Đăk Lăk chỉ thực hiện trên nhánh sông chính tại các vị trí:
Bảng 1.8 Vị trí các điểm quan trắc nước mặt
Đông
Vĩ độ Bắc
Ký hiệu
1 Cầu 14 (sông Srepok, huyện Cư Jut) 107.933 12.6167 DL1
2 Trạm thủy văn Bản Đôn(huyện Buôn
Đôn)
107.783 12.9 DL2
3 Km 4, suối Ea Nao (Buôn Ma thuột) 108.383 12.7667 DL3
6 Cầu Giang Sơn (Buôn Đray,huyện
Krong Ana)
107.967 12.5167 DL6
7 Cầu Krông Knô (Đức Xuyên,huyện Lăk) 107.983 12.3 DL7
Trang 32Tần xuất quan trắc là 06 đợt/năm Cụ thể là:
+ Đợt 1: Tháng 03 hàng năm (mùa kiệt)
+ Đợt 2: Tháng 05 hàng năm (đầu mùa mưa)
+ Đợt 3: Tháng 07 hàng năm (mùa mưa)
+ Đợt 4: Tháng 09 hàng năm (đỉnh lũ)
+ Đợt 5: Tháng 11 hàng năm (đỉnh lũ)
+ Đợt 6: Tháng 12 hàng năm (mùa kiệt)
Thời điểm quan trắc thích hợp trong mỗi đợt được xác định dựa theo chế độ triều thấp nhất trong tháng;
Trong từng đợt quan trắc, mỗi vị trí quan trắc sẽ tiến hành lấy mẫu:
- 01 lần đối với khu vực không bị ảnh hưởng của thủy triều
- 02 lần đối với khu vực bị ảnh hưởng của thủy triều (một lần vào thời điểm triều xuống và một lần vào thời điểm triều lên)
Hình 1.16 Các vị trí quan trắc nước mặt tại Đăk Lăk
Trang 33Bảng 1.9 Các chỉ tiêu quan trắc nước sông, suối
Kết quả quan trắc chất lượng nước sông của 5 vị trí lấy mẫu trên sông Srepok, năm 2005 được thể hiện trong các Bảng 1.10- Bảng 1.15
Bảng 1.10 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 3/2005
Trang 34Bảng 1.11 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 5/2005
Bảng 1.12 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 7/2005
Trang 35Bảng 1.13 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 9/2005
Bảng 1.14 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 11/2005
Trang 36Bảng 1.15 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Đăk Lăk 12/2005
có nhưng chỉ xử lý sơ bộ (Nguồn: Số liệu thống kê của Trung tâm ứng dụng Khoa học
Trang 371.6.2 Ngành gỗ và lâm sản
Có khoảng 138 cơ sở SXKD sản phẩm gỗ-lâm sản Hàng ngày, các cơ sở ngành
gỗ và lâm sản thải ra 55.8m3 nước thải sản xuất và 78m3 nước thải sinh hoạt Hầu hết các cơ sở chưa có hệ thống xử lý nước thải
Nước thải sản suất của các cơ sở SXKD ngành gỗ lâm sản không nhiều, chủ yếu là nước thải sinh hoạt Nước thải sản xuất chủ yếu là nước thải từ hệ thống xử lý bụi sơn và từ quá trình ngâm tẩm
Bảng 1.17 Thành phần có trong nước thải sinh hoạt, sản xuất của ngành gỗ và lâm sản
1.6.3 Ngành cơ khí-chế tạo
Trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk có 269 cơ sở sản xuất kinh doanh (SXKD) ngành cơ khí-chế tạo /nguồn [13], 2002/ Kết quả khảo sát, kiểm tra về mức độ các chất ô nhiễm trong nước thải của các cơ sở SXKD ngành cơ khí-chế tạo trong địa bàn TP Buôn Ma Thuột cho thấy nguồn nước này có thành phần ô nhiễm chủ yếu là dầu mỡ và chất rắn
Trang 38cơ sở ngành cơ khí-chế tạo thải trực tiếp vào hệ thống cống chung hay tự ngấm Do vậy làm ô nhiễm ngay tại khu vực dân cư lân cận cũng như các nguồn tiếp nhận trong địa bàn TP Buôn Ma Thuột
1.6.4 Ngành nhựa cao su
Trên toàn địa bàn Tp Buôn Ma Thuột có 51 cơ sở sản xuất nhựa cao su Nồng
độ các chất ô nhiễm trong nước thải của các cơ sở SXKD ngành nhựa cao su trong địa bàn TP không cao Hầu hết nước thải từ các cơ sở sản xuất ống nhựa sinh ra từ quá trình giải nhiệt nên có nhiệt độ cao và ít gây ô nhiễm; chỉ một vài cơ sở sản xuất bao bạt có chứa nồng độ chất ô nhiễm cao
Bảng 1.19 Thành phần có trong nước thải sinh hoạt, sản xuất của ngành nhựa cao su
Ngoài ra còn có ngành công nghiệp năng lượng Bên cạnh lưới điện quốc gia, tỉnh Đăk Lăk có các nguồn điện độc lập như nhà máy thủy điện Đray Hlinh công suất
12000 KW, trạm điezen công suất 10450 KW và 11 trạm thủy điện nhỏ, 20 trạm điezaen nhỏ nằm trên địa bàn các huyện, các nông lâm trường với tổng công suất 5.000 kw Xem Hình 4.79 - Hình 4.80 phụ lục C
1.7 Một số kết luận của chương
Nội dung của chương:
- Khái quát điều kiện tự nhiên, điều kiện khí tượng-thủy văn, điều kiên kinh tế
xã hội tỉnh Đắk Lắk
- Đặc điểm hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
- Hiện trạng chất lượng nước mặt
- Tình hình xả thải của các cơ sở sản xuất xả thải trong khu đô thị
Trang 39Chương 2
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
CHƯƠNG 3 LUẬN VĂN
Cũng giống như nhiều nước trên thế giới, tại Việt Nam trước khi hình thành các
Cơ quan bảo vệ môi trường các cấp, công tác quan trắc do Tổng cục khí tượng thủy văn thực hiện Trong một thời gian dài hệ thống quan trắc môi trường được đồng nhất với các hệ thống theo dõi thủy văn và khí tượng Trong nhiều năm qua, chúng ta đã thực hiện các quan sát các tham số môi trường tại những trạm cố định và với tần suất như nhau Phương pháp tiếp cận này trong thời điểm hiện nay cần thiết phải xem lại cho phù hợp với thực tiễn, bởi vì trong nhiều trường hợp xuất hiện những tình huống không đủ dữ liệu để giải quyết các bài toán cụ thể Trong chương này trình bày một số
cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng một hệ thống giám sát môi trường nước liên tục Đây là một vấn đề không phải là mới mẻ so với thế giới nhưng với Việt Nam là một vấn đề khá mới mẻ
3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước và
ô nhiễm nước
Quan trắc môi trường là sự đo đạc theo phương pháp tiêu chuẩn, quan sát, đánh giá và báo cáo về chất lượng môi trường theo thời gian, không gian, tần số quy định trong một thời gian dài, nhằm xác định hiện trạng và xu hướng diễn biến chất lượng môi trường Mục tiêu quan trắc:
- Đánh giá chất lượng các thành phần môi trường
- Xem xét mức độ ô nhiễm (nồng độ, hàm lượng, cường độ các chất ô nhiễm)
- Khả năng sử dụng các thành phần môi trường
- Thu thập số liệu phục vụ quản lý môi trường (dự báo xu hướng diễn biến về nồng độ và ảnh hưởng của các tác nhân này)
Theo [9] để lựa chọn các thông số chỉ thị đánh giá ô nhiễm nguồn nước từ các nguồn khác nhau cần căn cứ vào bản chất của nguồn gây ô nhiễm (nguyên liệu, quy trình công nghệ, hoạt động của cơ sở sản xuất hoặc đặc điểm tự nhiên trong vùng) Đối với nguồn nước sông, tại các trạm cơ bản các thông số được lựa chọn được chỉ ra trong Bảng 3.1
Bảng 3.1 Các thông số đánh giá nguồn nước sông ở các trạm cơ bản
Trang 40Các tiêu chí xác định vị trí đặt các trạm quan trắc chất lượng nước gồm /[9]/:
- Điểm lấy mẫu nên phù hợp điểm liên quan đến môi trường, là mẫu đại diện cho vùng nước, hoặc điểm đại diện
- Các điểm lấy mẫu nên được chọn trong vùng nước quan trọng hoặc đặc trưng cho
cả khu vực
- Cần xác định số lượng trạm quan trắc nước ô nhiễm ở địa phương gần kề nhau và
có nguồn ô nhiễm trong tương lai
- Cần định lượng cũng như xác định mức độ ô nhiễm nước trong vùng, và ô nhiễm
từ công nghiệp và sinh hoạt gia đình
- Việc bảo quản mẫu rời rạc và thiết bị phân tích tự động cần giám sát để bảo đảm mẫu được thu thập đáng tin cậy Lựa chọn vị trí sao cho dễ dàng nhận những mẫu rời rạc và duy trì phân tích là một yếu tố quan trọng
Trong /[9]/ trình bày các khuyến cáo chi tiết cho hệ thống quan trắc ô nhiễm nước Ví dụ khi cần xây dựng một trạm quan trắc nước ô nhiễm, việc xây dựng trạm
và những yêu cầu liên quan nên được kiểm tra cẩn thận
(a) Yêu cầu cụ thể
- Tránh các vị trí dao động, như là các cầu, để ngăn chặn tình trạng dụng cụ phân tích bị ảnh hưởng bởi sự dao động
- Tránh các vị trí dễ bị khí ăn mòn và bụi
- Tránh những vị trí có nhiệt độ cao hoặc độ ẩm cao (trạng thái không khí là cần thiết)
- Chọn những vị trí dễ dàng làm phương tiện và duy trì bảo vệ
- Chọn những vị trí gần những điểm lấy mẫu
(b) Xây dựng và tạo điều kiện thuận lợi khi vận hành các thiết bị
Khi xây dựng trạm cần chú ý đến những điều kiện thuận lợi cho việc lấy mẫu
để phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước, và cần duy trì khoảng thời gian dễ dàng và tạo điều kiện để bảo quản và chuẩn bị chất phản ứng Ngăn chặn sự rò rỉ đường ống của các ống lấy mẫu hoặc vòi Hình 3.1