NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK
1.2 Khái quát điều kiện khí tượng – thủy văn
1.2.3 Mạng lưới đo đạc các thông số khí tượng thủy văn tại Đăk Lăk
Năm 1997 Tổng cục khí tượng thủy văn quản lý 5 trạm thủy văn cấp I, đó là các trạm: Cầu 42 và Giang Sơn trên sông Krông Ana, Đức Xuyên trên sông Krông Knô, Cầu 14, Bản Đôn trên sông Srepok
Hệ thống cao độ mực nước ở các trạm Giang Sơn và Bản Đôn đã được đưa vào hệ thống cao độ quốc gia.
Khi đánh giá chất lượng tài liệu ở các trạm thủy văn trong vùng, nhất là tài liệu ở các trạm thủy văn cấp I do Tổng Cục quản lý, đã xem xét thấy đường quan hệ H-Q hàng năm của trạm rất ít biến đổi, ổn định. Riêng trạm Giang Sơn đường quan hệ Q=f(H) biến đổi phức tạp hơn, nguyên nhân có thể do mặt cắt biến đổi nhiều do bồi xói hoặc ảnh hưởng bởi lượng nước trữ vùng hạ lưu vào các tháng mùa lũ.
1.2.3.1 Dòng chảy năm.
Dòng chảy năm phụ thuộc vào chế độ mưa và thay đổi theo vùng. Trong lưu vực sông Srepok với diện tích 12300km2 dòng chảy năm đạt 286 m3/s với tổng lượng dòng chảy năm đạt 9 tỷ m3 nước. Lưu lượng trung bình tại Bản Đôn thời kỳ 1977-1998 là 254.8m3/s tương ứng với modul dòng chảy 23.8 l/s-km2 (trạm Bản Đôn có Flv=10.700 km2). Phía Bắc tỉnh là lưu vực Ea Hleo với diện tích lưu vực 3080 km2 tổng lượng dòng chảy năm đạt 1.98 tỷ m3 nước. Phía Đông tỉnh là lưu vực sông Ba có lượng dòng chảy năm đạt 3.25 tỷ với diện tích lưu vực là 13900 km2.
Biến động dòng chảy năm ở các vùng trong tỉnh khá phức tạp. Năm nước lớn có lượng dòng chảy gấp 1.5 - 2 lần trị số bình quân nhiều năm. Năm nhiều nước gấp 1.5 - 5 lần năm ít nước.
Sự biến động dòng chảy qua các tháng trong năm thay đổi khá lớn. Sự biến động này khiến việc sử dụng, khai thác nguồn nước khó khăn. Sự phân phối dòng chảy trong năm mang tính chất mùa. Mùa dòng chảy trong năm thường chậm hơn mùa mưa từ 1 đến 2 tháng.
Bảng 1.2 Đặc trưng dòng chảy trung bình nhiều năm
Tên sông Thời gian Tổng lượng dòng chảy mùa lũ tháng
lớn nhất
Tổng lượng dòng chảy mùa kiệt lũ tháng lớn nhất Mùa
lũ
Mùa kiệt
Thời gian
Trị số
%
Thời gian
Trị số % Sông Krông Knô (Đức
Xuyên) 8-11 12-7 10 18.5 2, 3, 4 2.1
Sông Krông Ana (Giang Sơn)
9-12 1-8 11 23 4 1.7
Dòng chính Srepok
(Bản Đôn) 8-11 12-7 8-11 70 2, 3, 4 6.6
Sông Ea Hleo (phía Bắc tỉnh)
7-11 12-6 7-11 72% 12-6 28
Sông Krông Hnăng và
sông Hinh 10-12 1-9 11 32-36 4, 8 2%
1.2.3.2 Chế độ lũ.
Chế độ lũ trong tỉnh chịu sự chi phối mạnh mẽ của hai sông Krông Knô và Krông Ana.
Trên sông Krông Ana lũ lớn thường xảy ra vào các tháng 9 và 11, chiếm tỷ lệ 75% so với lượng lũ xảy ra trong toàn năm. Tháng 6, 7, 8 không có lũ lớn xảy ra.
Trên lưu vực sông Krông Knô tại trạm thủy văn Đức Xuyên đã thống kê được lũ lớn đến hàng năm vào tháng 9, 10 chiếm tỷ lệ 67%, trong đó lớn nhất là tháng 9 chiếm 40% số lượng lũ trong năm.
Những trận lũ giữa hai nhánh sông chính nêu trên đã gây tình trạng ngập lụt lâu ngày cho các vùng Lăk - Buôn Trấp thuộc hạ du 2 nhánh sông trên.
Hàng năm trên sông Krông Ana thường xảy ra 2-3 con lũ lớn. Dạng lũ thường nhiều đỉnh do bị ảnh hưởng liên tiếp của mưa bão hoặc áp thấp. Thời gian lũ kéo dài, cường suất lũ lên chỉ 3-5 cm/h, cường suất lũ rút 1-2 cm/h.
0.0 200.0 400.0 600.0 800.0 1000.0 1200.0
VIII IX X XI
Tháng mùa lũ
Lưu lượng nước mùa lũ trạm Bản Đôn (sông Srêpok)
2003 2004 2005
Hình 1.8 Lưu lượng nước mùa lũ trạm Bản đôn
0.0 20.0 40.0 60.0 80.0 100.0 120.0 140.0 160.0 180.0 200.0
IX X XI XII
Tháng mùa lũ
Lưu lượng nước mùa lũ trạm Giang Sơn (Sông Krông Ana)
2003 2004 2005
Hình 1.9 Lưu lượng nước mùa lũ trạm Giang Sơn
0.0 50.0 100.0 150.0 200.0 250.0
VIII IX X XI
T háng mùa lũ
Lưu lượng nước mùa lũ trạm Đức Xuyên (sông Krông Nô)
2003 2004 2005
Hình 1.10 Lưu lượng nước mùa lũ trạm Đức Xuyên
0.0 100.0 200.0 300.0 400.0 500.0 600.0
VIII IX X XI
Tháng mùa lũ
Lưu lượng nước mùa lũ trạm cầu 14 (sông Ea Krông)
2003 2004 2005
Hình 1.11 Lưu lượng nước mùa lũ trạm cầu 14 1.2.3.3 Dòng chảy kiệt.
Mùa kiệt ở Đăk Lăk nhìn chung bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Dòng chảy kiệt nhất vào các tháng 3 và 4. Tại Bản Đôn dòng chảy bình quân tháng kiệt vào tháng 4 là 62 m3/s. Lưu lượng kiệt tại Giang Sơn là 6.36 m3/s ngày 11/1/1978. Tại Đức Xuyên Qkiệt= 9.34 m3/s ngày 2/5//1986. Tại Bản Đôn Qkiệt=23.3 m3/s ngày 29/4/1983.
Trạm Cầu 14 ngày 11/4/1978 đo được Qkiệt=20.4 m3/s, 13.4 m3/s ngày 10/4/1998.
Do dòng chảy kiệt khá nhỏ dẫn đến mực nước trong các sông suối hạ thấp đáng kể, gây hạn hán nghiêm trọng nhất là vụ sản xuất Đông Xuân 1998.
Mùa kiệt 1998, do ảnh hưởng của hiện tượng Elnino hầu hết các suối nhỏ trong tỉnh bị cạn kiệt như các suối Krông Buk, Krông Pach, Krông Hnăng, Ea Hleo, Ea Soup.
Lưu lượng mùa kiệt ở một số vị trí như sau:
0.0 20.0 40.0 60.0 80.0 100.0 120.0 140.0 160.0 180.0
XII I II III IV V VI VII
T háng mùa kiệt
Lưu lượng nước mùa kiệt trạm cầu 14 (sông Ea Krông)
2003 2004 2005
Hình 1.12 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm cầu 14
0.0 20.0 40.0 60.0 80.0 100.0 120.0 140.0 160.0 180.0
XII I II III IV V VI VII
T háng mùa kiệt
Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Đức Xuyên (sông Krông Nô)
2003 2004 2005
Hình 1.13 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Đức Xuyên
0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 80.0
I II III IV V VI VII VIII
Tháng mùa kiệt
Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Giang Sơn (Sông Krông Ana) 2003 2004 2005
Hình 1.14 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Giang Sơn
0.0 100.0 200.0 300.0 400.0 500.0 600.0 700.0 800.0 900.0 1000.0
XII I II III IV V VI VII
Tháng mùa kiệt
Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Bản Đôn (Sông Srêpok)
2003 2004 2005
Hình 1.15 Lưu lượng nước mùa kiệt trạm Bản Đôn
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Buôn Ma Thuột 1.2.3.4 Chế độ thủy văn
Hệ thống sông suối của Đăk Lăk khá phong phú, mật độ sông suối 0.8 km/km2, các con suối có chiều dài từ 10 km trên lãnh thổ Đăk Lăk có tới 833 suối. Những vùng có lượng mưa lớn mật độ sông suối dày, những vùng có lượng mưa nhỏ mật độ sông suối thưa: Ea Súp, EaHleo: 0,2 km/km2. Đăk Lăk có 2 hệ thống sông chính là Sêrêpok, sông Ba. Xem đặc trưng thủy văn Bảng. 4.1 (phụ lục A)