Ở đây các vấn đề môi trường rất ít được quan tâm, trong cộng đồng dân cư vẫn còn tồn tại các thói quen lạc hậu như vứt rác bừa bãi, vệ sinh không đúng nơi quy định…, ý thức của cộng đồng
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
Điều kiện tự nhiên
Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Bian, phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, về phía
Bắc Đà Lạt có vị trí địa lý tiếp giáp với các khu vực lân cận như sau: phía Bắc giáp huyện Lạc Dương, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Đơn Dương, phía Tây và Tây Nam giáp hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng thuộc tỉnh Lâm Đồng.
Hàng trăm năm trước đây Đà Lạt là địa bàn cư trú của người Lạch, hay toàn bộ cao nguyên Lang Bian diện tích h ơn 400 km 2
Phía Bắc và Tây Bắc được giới hạn bởi dãy Chorơmui và Yộ Đa Myut (1.816 m) Phía Tây Bắc dựa vào chân dãy núi Chưyangkae (1.921 m) thuộc quần sơn Lang Biang, với đỉnh cao nhất là Chưyansinh (1.408 m) Khu vực này được bao bọc bởi các đỉnh núi cao và các dãy núi liên tiếp.
- Phía Đông là chân dãy núi Bi doup (2.278m) dốc xuống cao nguyên Dran
- Phía Đông Nam chắn bởi dãy Cho Proline (1.629m)
- Phía Nam và Tây Nam có dãy núi Voi (1.754m) và Ỳang S ơreng bao bọc.
Thành phố Đà Lạt có diện tích 39.106 km 2 , dân số n ăm 2006 là 194.920 người, mật độ dân số 495 người/km 2
Đà Lạt là trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, đào tạo đa ngành và nghiên cứu khoa học của cả nước, với sự phát triển gắn kết mật thiết với các vùng khác của tỉnh Lâm Đồng Thành phố chiếm 4% diện tích và 16,3% dân số tỉnh Lâm Đồng, cho thấy vai trò nổi bật trong cơ cấu vùng Từ vị trí cách TP Hồ Chí Minh khoảng 300 km về phía Tây Nam và cách Buôn Mê Thuột 190 km về phía Đông Bắc, Đà Lạt có lợi thế mở rộng giao lưu và hợp tác kinh tế – xã hội với các vùng trọng điểm phía Nam, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Độ cao trung bình so với mực nước biển của khu vực là khoảng 1500 m Trong trung tâm thành phố, điểm cao nhất là viện bảo tàng ở 1.532 m, còn điểm thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương ở 1.398,2 m.
• Bên trong cao nguyên, địa hình Đà Lạt phân thành 2 bậc rõ rệt:
Bậc địa hình thấp tại khu vực trung tâm có dạng như một lòng chảo, bao gồm các dãy đồi với đỉnh tròn và dốc thoải, có độ cao tương đối từ 25–100 m Địa hình lượn sóng nhấp nhô, phân bố yếu và có độ cao trung bình khoảng 1.500 m.
Bao quanh khu vực lòng chảo này là một vành đai núi cao khoảng 1.700 m, tạo thành lớp chắn gió cho vùng trung tâm Phía Đông Bắc có hai núi thấp: hòn Ông (Láp Bê Bắc, 1.738 m) và hòn Bộ (Láp Bê Nam, 1.709 m) Phía Bắc ngự trị cao nguyên Lang Biang và dãy núi Bà (Lang Biang), cao 2.169 m, kéo dài theo trục Đông Bắc–Tây Nam từ suối Đa Sa (đổ vào Đa Nhim) đến Đa Me (đổ vào Đạ Đờng) Phía Đông án ngữ bởi dãy núi Đỉnh Gió Hú (1.644 m) Về phía Tây Nam, các dãy núi hướng về Tà Nung giữa dãy Yàng Sơreng, với đỉnh cao tiêu biểu là Bin Hatt (1.961 m) và You Lou Rouet (1.632 m).
• Bên ngoài cao nguyên là dốc núi từ hơn 1 700 m đột ngột đổ xuống các cao nguyên bên dưới có độ cao từ 700 900 m
Hình 2.1a: Vị trí địa lý của TP.Đà Lạt trên bản đồ
2.1.3 Địa chất Địa chất Thành phốĐà Lạt gồm 3 lớp đá chính:
• Larerit phong hoá ở phía trên
• Podzolic bao phủ các lớp đá gốc
• Lớp đá gốc Đất đá có tính thấm nước yếu và có độ chịu lực tương đối tốt, trung bình 1,5 - 4 kg/m 2
, thuận lợi cho công tác nền móng xây dựng.
Nhờ độ cao so với mực nước biển và rừng thông bao bọc, Đà Lạt mang nhiều đặc trưng của miền ôn đới và khí hậu mát mẻ quanh năm Nhiệt độ trung bình tại Đà Lạt khoảng 18–21°C, nhiệt độ cao nhất không vượt quá 30°C và nhiệt độ thấp nhất không dưới 5°C Đà Lạt có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 Mùa hè ở Đà Lạt thường có mưa buổi chiều, đôi khi có mưa đá.
Đà Lạt có lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.634 mm và độ ẩm lên tới 82%, tạo nên khí hậu ẩm ướt đặc trưng Thành phố không bao giờ bị bão, mà thường chịu gió lớn từ ảnh hưởng của bão từ biển thổi vào từ sườn Đông, do khu vực này không có núi chắn.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, với mưa chủ yếu diễn ra vào buổi chiều Lượng mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 1.634 mm, trong đó khoảng 80% lượng mưa rơi vào mùa mưa.
B ảng 2.1a Lượng mưa trung bình hàng tháng
Nguồn : Cục Thống kê Lâm Đồng, tháng 3 năm 2000
Ghi chú : Số liệu được lấy trung bình của các năm 1996-2000
Số liệu quan trắc cho thấy thời kì ẩm trùng với thời kì mưa (từ tháng 5 tới tháng 10) với độ ẩm tương đối đạt tới các tháng đạt trên 85%.
Thời kỳ ẩm nhất trong năm diễn ra vào các tháng 7, 8 và 9, với độ ẩm trung bình ở mức 90–92% Ngược lại, độ ẩm mùa khô thường ở dưới 80%, thấp hơn nhiều so với thời kỳ ẩm nhất Độ ẩm tương đối thấp nhất được ghi nhận vào hai tháng 2 và 3, dao động quanh 75–78% Độ ẩm tuyệt đối thấp nhất thường xảy ra vào lúc 13–14 giờ, có những ngày xuống còn 3–7%.
Ở Đà Lạt, hai hướng gió chủ đạo trong năm là Tây - Tây Nam thổi vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và Đông – Đông Bắc ngoài mùa mưa Tốc độ gió trung bình hàng năm tại Đà Lạt là khoảng 2.1 m/s Thời kỳ gió mạnh tập trung vào các tháng 6, 7, 8 và thường kéo về theo từng đợt, mỗi đợt kéo dài 5–6 ngày; hầu hết các tháng trong năm đều có ngày gió mạnh trên 11 m/s Mùa mưa đi kèm sấm sét và các cơn bão ven biển tạo ra gió mạnh.
2.1.6 Những hiện tượng thời tiết khác.
Đà Lạt nằm trên vùng cao nguyên và nổi bật với các hiện tượng thời tiết đáng chú ý như sương mù, dông, mưa đá và sương muối Dù xảy ra không theo chu kỳ đều đặn, những hiện tượng này vẫn có tác động nhất định đến quá trình chuyển hóa và phát tán các chất ô nhiễm trong khu vực.
Đà Lạt có khoảng 80 ngày sương mù mỗi năm, tập trung nhiều ở các tháng 2–5 với số ngày sương mù trung bình từ 8–16 ngày mỗi tháng; số ngày có dông ở Đà Lạt khoảng 60 ngày trong năm, thời kỳ có dông kéo dài từ tháng 2 đến tháng 7, trong đó 4, 5, 6 là những tháng có nhiều ngày dông nhất; đầu mùa mưa thường có dông kèm mưa rào vào buổi chiều.
Mưa đá thường xảy ra vài ba ngày vào tháng 4 Cường độ mưa không lớn, diện mưa hẹp,đường kính từ 0.5 - 1cm, có khi có hạt lên tới 3-4 cm
Ở Đà Lạt, sương muối xuất hiện nhiều ở các vùng trũng và khuất gió trong thời kỳ lặng gió của mùa khô, tập trung mạnh nhất từ tháng 1 đến tháng 2 Đến đầu tháng 3 và cuối tháng 7, sương muối vẫn có thể xuất hiện nhưng với mức độ nhẹ hơn.
2.1.7.1 Qu ần thể trên cạn
Thảm thực vật Đà Lạt đa dạng với các kiểu rừng như rừng lá kim, rừng thông xanh, rừng hỗn giao và trảng cỏ cây bụi, gồm hơn 3.000 loài thực vật Rừng lá kim chiếm diện tích vượt trội trong tổng số 44.973 ha diện tích rừng tự nhiên tại khu vực này; rừng thông thuần loại chiếm 5.181 ha Đáng chú ý, thông 3 lá - loài cây đặc hữu sinh sống ở Đông Nam Á - phân bố ở độ cao 1.000-2.000 m và chiếm ưu thế ở vùng này, trong khi thông hai lá tồn tại ở các dãy rừng hẹp mang tính chất rừng thưa ở độ cao khoảng 1.400 m.
Điều kiện Kinh tế - Xã hội
Đà Lạt có thế mạnh kinh tế từ du lịch, trồng hoa và trồng rau, trong đó phần lớn diện tích trồng hoa chuyên nghiệp của tỉnh Lâm Đồng tập trung tại thành phố Đà Lạt Tổng diện tích canh tác nông nghiệp của Đà Lạt ước khoảng 9.978 ha Sản lượng rau hàng năm đạt khoảng 170.000 tấn, trong đó 35.000 tấn được xuất khẩu sang các nước Đông Bắc Á và ASEAN Sản lượng hoa Đà Lạt hàng năm khoảng 540 triệu cành, với khoảng 33,3 triệu cành được xuất khẩu.
Nền kinh tế Thành phố Đà Lạt những năm gần đây tăng trưởng bình quân khoảng 11% mỗi năm, cho thấy sự phục hồi và mở rộng mạnh mẽ GDP của thành phố có sự tăng trưởng rõ rệt, bắt đầu từ mức 4,75 triệu đồng ở giai đoạn đầu và tiếp tục duy trì đà tăng, phản ánh tiềm năng phát triển kinh tế bền vững của Đà Lạt trong tương lai.
2000) lên 6,5 triệu đồng (năm 2003) và 8 triệu đồng (2008) Các khu vực kinh tế đều tăng, trong đó:
• Công nghiệp: đã tạo ra hướng sản xuất đa ngành thu hút nhiều thành phần kinh tế với khoảng 780 cơ sở với hơn 8.200 lao động
Hoạt động nông lâm nghiệp Đà Lạt tăng bình quân 2,5-3% mỗi năm Nền sản xuất mang tính hàng hoá với các sản phẩm cao cấp như rau quả chất lượng, hoa đặc chủng và nhiều loại dược liệu Thu nhập từ nông nghiệp đóng góp khoảng 50% tổng thu nhập của thành phố Đà Lạt.
• Thương mại - Dịch vụ du lịch: Du lịch là thế mạnh nổi trội của Thành phố Đà
Lượng khách du lịch tăng nhanh từ 450 nghìn lượt khách năm 2000 lên 690 nghìn lượt khách năm 2002, trong đó khách quốc tế đạt 60.500 lượt người và kéo theo các hoạt động thương mại - du lịch khác Mức tăng của ngành thương mại - dịch vụ - du lịch đạt bình quân khoảng 13,5–15%.
2.2.2.Văn hoá và xã hội
Đà Lạt có quy mô dân số 194.920 người tính đến tháng 12 năm 2006, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số cư dân Mật độ dân số trung bình ở Đà Lạt là 495 người mỗi km².
- Giai đoạn 19801990: dân số thành thị tăng lên 2,1%.
Tỉ lệ gia tăng dân số từ năm 1980 đến năm 2006như sau:
- Giai đoạn 19902000: mức này đạt 3,13%.
- Giai đoạn 20002006: dân số tăng 3,95%
Đà Lạt không chỉ là nơi sinh sống của người dân địa phương mà còn thu hút một lượng lớn khách du lịch mỗi năm Trong mùa cao điểm và các dịp Lễ Tết, lưu lượng du khách đổ về có thể lên tới hơn 200.000 người, tạo nên nhịp sống nhộn nhịp và nhu cầu lưu trú, tham quan tăng mạnh.
Văn hóa Đà Lạt thể hiện sự đa dạng với một thành phố trẻ có nhiều thành phần dân tộc; cư dân bản địa sống chủ yếu bằng nông nghiệp ở vùng núi cao, tạo nền tảng cho đời sống và bản sắc địa phương Đây là nơi hội tụ của cư dân từ nhiều miền quê, nhiều dân tộc khác nhau và là không gian gặp gỡ của nhiều nền văn hóa, nơi mỗi cộng đồng đóng góp nét đặc trưng riêng cho bức tranh văn hóa thành phố Do môi trường sống và tác động xã hội, trình độ sản xuất ở từng nhóm dân tộc thiểu số có những nét đặc thù riêng biệt, làm phong phú sự giao thoa văn hóa và sự đa dạng kinh tế của Đà Lạt.
Cộng đồng dân cư Đà Lạt được hội nhập từ các vùng văn hoá tiêu biểu: Bắc, Trung,
Đà Lạt nổi bật với phong cách hiền hòa, lịch sự và mến khách, tạo nên bản sắc riêng cho thành phố ngàn hoa; văn hóa Đà Lạt được thể hiện qua sự hội tụ của nhiều chùa chiền và nhà thờ, tạo nên một không gian tôn giáo đa sắc trong một thành phố nhỏ Bên cạnh đó, các di tích lịch sử như Dinh I và Dinh III từng là nơi sống và làm việc của vị Hoàng đế cuối cùng triều đại phong kiến Việt Nam tại Đà Lạt, làm giàu thêm giá trị lịch sử của vùng đất này Khu mộ cổ của người Mạ và các lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng chiêng là những trải nghiệm văn hóa hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước đến khám phá.
Đà Lạt không chỉ nổi tiếng với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và thể thao mà còn là điểm đến hấp dẫn cho du lịch văn hóa lễ hội và khám phá phong tục, tập quán sinh hoạt của cư dân địa phương Thành phố mang đến trải nghiệm sâu sắc nhờ các lễ hội đặc sắc, ẩm thực địa phương và đời sống sinh hoạt độc đáo, giúp du khách hiểu rõ hơn về bản sắc địa phương Với cảnh sắc thơ mộng và không gian thanh bình, Đà Lạt là điểm đến lý tưởng cho hành trình kết hợp giữa thưởng ngoạn thiên nhiên và tìm hiểu văn hóa cộng đồng.
Hệ thống y tế Đà Lạt đang được củng cố và kiện toàn, với tỉ lệ cán bộ y tế trên 1.000 người dân hiện là 3,2 người Các chương trình y tế được triển khai hiệu quả, khống chế không để dịch bệnh lớn xảy ra; sốt rét được đẩy lùi và kiểm soát, trẻ em được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vaccine, tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em được giảm thiểu Hoạt động truyền thông phòng chống lao và các bệnh xã hội, HIV – AIDS được đẩy mạnh.
Hoạt động xã hội hoá giáo dục và đa dạng hoá trường lớp đang phát triển mạnh, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục tăng cả về số lượng lẫn chất lượng Mạng lưới các cấp học, ngành học được quan tâm đầu tư và bố trí hợp lý theo phân bố dân cư; các chương trình giáo dục được phát triển rộng khắp, đồng bộ và đi vào nề nếp Số lượng học sinh ở các cấp đều tăng, tỉ lệ học sinh bỏ lớp giảm; chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên, tỉ lệ học sinh hết cấp và học sinh khá, giỏi hàng năm đều tăng lên Đến năm 2005 thành phố Đà Lạt đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở đang được triển khai.
Công tác B ảo vệ môi trường tại Thành phố Đà Lạt
2.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn
Chất thải rắn của thành phố hiện được thu gom, vận chuyển và xử lý bởi Công ty Quản lý Công trình đô thị Nguồn chất thải phát sinh từ 44.350 hộ dân ở nội thành và ngoại thành, cùng với rác từ các khu du lịch, bệnh viện, trường học, chợ, trung tâm thương mại và các công trình xây dựng đô thị Các loại chất thải rắn điển hình gồm giấy, túi nylon, thực phẩm thừa, thủy tinh, kim loại, pin, cành cây và xà bần.
2.3.1.1 Lượng chất thải rắn phát sinh
Hiện nay, ước tính lượng chất thải rắn phát sinh từ các nguồn sinh hoạt dựa trên thông tin của Thành phố, bao gồm rác từ chợ, trường học, công viên, bến xe, công sở, công trình công cộng và khu vui chơi giải trí; toàn bộ khối lượng này được Công ty Quản lý công trình đô thị thu gom và ghi nhận Dữ liệu thu thập từ tháng 1/2008 đến tháng 10 được tổng hợp và trình bày trong bảng dưới đây.
Tháng Lượng rác phát sinh
Bảng 2.3 cho thấy lượng phát sinh chất thải rắn ở Thành phố Đà Lạt có sự khác biệt giữa các khu vực; tại khu vực chợ và khu dân cư đông đúc, lượng rác do con người thải ra rất lớn so với các khu vực ít dân, cho thấy mật độ dân cư cao cùng hoạt động thương mại đang làm tăng khối lượng chất thải Vì vậy, tổng lượng rác thải phát sinh ở Đà Lạt theo từng khu vực đang có xu hướng tăng lên.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu chuẩn thành phần chất thải rắn đô thị bao gồm :
- Điều kiện thời tiết khí hậu
- Các yếu tố xã hội, tập quán.
Theo tính toán lượng rác sinh hoạt thu gom được của Thành phố Đà Lạt trung bình khoảng 96,7 – 110 tấn/ngày
Tính theo đầu người khoảng 0,512 – 0,7 kg/ ngày đêm.
Tỉ lệ rác tăng hàng năm là 11 %
2.3.1.2 Các phương thu gom và vận chuyển chất thải rắn a Các phương thức thu gom Ở các khu trung tâm thành phố như phường 1, 2 rác được thu gom 2 lần vào khoảng8h sáng và 5h chiều hàng ngày, các khu vực khác thu gom 1 lần vào 5h chiều mỗi ngày
- Rác từ các hộ dân : Người dân trong khu vực bỏ rác vào xe rác đặt đầu các con hẻm, đến 16h công nhân thu gom sẽ đẩy các xe rác ra đường lớn chờ xe lớn đến thu gom vào 17h hàng ngày
- Rác từ các con đường nhỏ hoặc các hẻm lớn: Khi xe thu gom lớnđi qua những con đường nhỏ thì sẽ phát tín hiệu thu gom để người dân ở khu vựcđó mang rác bỏ lên xe thu gom hoặc bỏ trên lềđường chờ xe thu gom đến lấy
Ở các khu nhà mặt phố, không nằm trong khu trung tâm mua sắm và giải trí, người dân thường bỏ rác vào thùng gần đó hoặc đợi đến giờ xe thu gom rác lớn đi qua Khi xe thu gom phát tín hiệu bằng nhạc, họ sẽ mang rác ra để trên vỉa hè để xe thu gom lớn lấy đi.
Ở khu vực trung tâm thành phố, mật độ dân cư và hoạt động thương mại cao khi tập trung nhiều nhà hàng, khách sạn và khu buôn bán Các con đường lớn gần chợ và các trục đường chính là nơi diễn ra nhộn nhịp kinh doanh và buôn bán sầm uất Những tuyến phố như Phan Đình Phùng, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Cừ và Bùi Thị Xuân là trục giao thương, thu hút người dân sinh sống và du khách tới tham quan, mua sắm và thưởng thức ẩm thực Khu vực này mang nhịp sống đô thị năng động với tiềm năng phát triển cho các hoạt động kinh doanh và dịch vụ.
Ở tuyến phố Bà Trưng và Nguyễn Thị Minh Khai, công nhân vệ sinh luôn túc trực để nhận rác và xếp vào xe đẩy, chờ đầy thùng trước khi xe thu gom lớn đi qua Đội phụ trách tuyến này bắt đầu ca làm từ 5h sáng để kịp xe thu gom lớn đến lúc 7h, và buổi chiều bắt đầu từ 16h để quét dọn, thu gom rác, chờ 17h xe thu gom lớn đi qua lấy rác.
Khu chợ Đà Lạt là nơi tập trung lượng rác lớn nhất, nên xe thu gom rác chuyên dụng ở chợ này sẽ đến lấy rác 3 lần mỗi ngày Các công nhân phụ trách thu gom rác tại chợ Đà Lạt sẽ nhặt rác từ trong các sạp hàng, bỏ vào xe đẩy rác và đẩy ra điểm tập kết chờ xe thu gom lớn đến để tiếp tục việc thu gom Ở khu vực này, các công nhân thay phiên nhau làm việc suốt cả ngày, từ 5h sáng đến 21h tối.
Ở các nhà hàng, khách sạn trên các tuyến đường lớn như Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Nguyễn Chí Thanh, Bùi Thị Xuân, Phan Đình Phùng và Hai Bà Trưng, nhân viên đặt rác vào các thùng dọc theo tuyến đường để chờ xe thu gom rác lớn đến thu gom hai lần mỗi ngày.
Do lượng rác sinh hoạt phát sinh hàng ngày tương đối lớn, công ty bố trí đội xe thu gom theo tuyến đường và từng phường xã Tuỳ thuộc đặc điểm tuyến đường, các xe thu gom được bố trí phù hợp để đảm bảo công tác thu gom diễn ra triệt để, không để lượng rác dư thừa sang ngày hôm sau.
Trong các chung cư cao tầng, mỗi căn hộ có người thu dọn và gom rác để đưa xuống tầng hầm và đổ vào bể chứa Tiến bộ công nghệ đã áp dụng hệ thống gom rác bằng ống đứng, giúp thu gom rác hiệu quả và tiết kiệm thời gian Tuy vậy, ở Đà Lạt hiện nay chỉ có một chung cư áp dụng hệ thống này.
Địa chỉ 69 Hùng Vương, Phường 9, Đà Lạt có hệ thống ống tự chảy và khu vực đặt xe có bánh lăn; rác ở đây được xe chuyên dụng của Công ty Quản lý công trình đô thị đến thu gom mỗi ngày.
Ở các hộ gia đình, rác sinh hoạt thường được đựng trong thùng rác mini có dung tích từ 5–10 lít hoặc đóng vào túi đựng rác dùng một lần rồi thải bỏ Do túi rác dùng một lần có giá thành thấp nên được người dân ưa chuộng và sử dụng phổ biến.
Rác từ các hộ dân được đưa đến các xe đẩy tay đặt dọc theo tuyến đường, đến 5h chiều hàng ngày sẽđược các xe thu gom lớnđến thu gom
Hình 2.3a : Các xe đẩy tay đã chứa đầy rác đợi xe ép rác đến thu gom
Hình 2.3b: Rác trên lề đường chờ xe ép rác đến thu gom b Các phương thức vận chuyển chất thải rắn
Hi ện trạng môi trường tại Thành phố Đà Lạt
2.4.1 Hiện trạng môi trường nước
2.4.1.1 Ch ất lượng nước mặt Để đánh giá chất lượng nước của hồ chứa và sông suối tại Đà Lạt, trạm Quan trắc và Giám sát môi trường Lâm Đồng đã tiến hành thu mẫu ở 5 địa điểm trên địa bàn Thành phố, kết quả phân tích được trình bày trong bảng phụ lục (phụ lục 1 và 2):
Tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng nước mặt hiện hành là TCVN 5942 – 2005
Trong năm 2006, trên địa bàn Thành phố Đà Lạt có 14 vị trí tiến hành quan trắc, với tổng số 28 mẫu được thu thập qua hai đợt, các mẫu chủ yếu lấy từ nguồn nước tại hồ Xuân Hương, hồ Đa Thiện, hồ Chiến Thắng, hồ Than Thở và suối Cam Ly.
Trong 28 mẫu nước quan trắc tại các hồ tại Đà Lạt, chỉ có hồ Chiến Thắng là hồ cung cấp nước cho sinh hoạt nên kết quả phân tích sẽ được so sánh với TCVN 5942 – 2005 (loại A), còn các hồ khác do nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nên so sánh với tiêu chuẩn TCVN 5942 – 2005 (loại B).
Kết quả quan trắc năm 2006 do Trạm Quan trắc và Giám sát môi trường Lâm Đồng thực hiện cho thấy tần suất quan trắc 2 lần mỗi năm, với các đợt quan trắc được tổ chức vào giữa mùa khô (tháng 3, 4) và giữa mùa mưa (tháng 8, 9).
Các thông số lý – hóa nước mặt ở các hồ thuộc Thành phố Đà Lạt cho thấy các hồ này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm nước rửa nông phẩm sau thu hoạch, phân bón và thuốc trừ sâu Bên cạnh đó, một số hồ còn chịu tác động từ nguồn nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý được xả trực tiếp vào nguồn nước mặt Điển hình là Hồ Xuân Hương và Thác Cam Ly.
Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại Thành phố Đà Lạt cho thấy biến động lớn theo từng mùa Điều này bắt nguồn từ địa hình đồi núi và lượng mưa lớn quanh năm, khiến các hồ ở Đà Lạt thay đổi lượng nước liên tục theo mùa.
Ở Đà Lạt, kết quả quan trắc chất lượng nước tại các hồ và sông suối cho thấy hầu hết các thông số đều đạt tiêu chuẩn Việt Nam về nước mặt theo TCVN 5945-1995, đối với nguồn nước mặt loại B Điều này cho thấy chất lượng nước mặt ở khu vực này đang ở mức chuẩn và có thể đáp ứng các mục đích sử dụng nước mặt loại B theo quy định Việc tiếp tục theo dõi và duy trì các thông số quan trắc là yếu tố quan trọng để bảo vệ chất lượng nước và môi trường quanh Đà Lạt.
Phân tích chỉ tiêu tổng coliform cho các mẫu nước từ hồ chứa và sông suối cho thấy mức vi sinh vượt chuẩn Việt Nam được quy định Cụ thể, tại hồ Xuân Hương và suối Cam Ly, chỉ số tổng coliform vượt ngưỡng cho phép từ 1,3 đến 1,5 lần, cho thấy ô nhiễm nguồn nước ở hai khu vực này nghiêm trọng và cần có biện pháp quản lý chất lượng nước.
2.4.1.2 Ch ất lượng nước ngầm Để đánh giá chất lượng nước ngầm tại Thành phố Đà Lạt, Trạm Quan trắc và Giám sát Môi trường thành phố Đà Lạt đã tiến hành thu mẫu tại 2 vị trí trên địa bàn thành phố Đà Lạt, với tổng số mẫu quan trắc là 4 mẫu trên hai đợt.
Tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá chất lượng nước ngầm là TCVN 5944 – 2005
Để phân tích và đánh giá chất lượng nước ngầm, các thông số chỉ thị ô nhiễm được lựa chọn làm cơ sở, gồm nhiệt độ, pH, độ dẫn điện (EC), độ đục, tổng chất rắn hòa tan (TDS), sắt tổng, SO4, N – NO 2 và N – NO 3, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về mức độ ô nhiễm và hỗ trợ các quyết định quản lý nước.
Kết quả quan trắc năm 2006 do trạm Quan Trắc và Giám sát môi trường Lâm Đồng thực hiện với tần suất 2 lần/năm (mùa khô: tháng 3–4 và mùa mưa: tháng 8–9) cho thấy chất lượng nước ngầm tại giếng quan trắc còn tốt Hầu hết các chỉ tiêu quan trắc chưa vượt ngưỡng cho phép theo TCVN Tuy nhiên, chỉ tiêu vi sinh qua tổng coliforms có 2/2 mẫu vượt khoảng 2–3 lần so với TCVN.
5944 – 2005 tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm.
Do đặc điểm cấu tạo địa chất, Đà Lạt không phải là nơi có trữ lượng nước ngầm lớn; theo đánh giá chung, nguồn nước ngầm ở khu vực này thường cần qua xử lý trước khi được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt để đảm bảo chất lượng và an toàn cho người dùng.
2.4.2 Hiện trạng môi trường đất
Đánh giá từ các đề tài nghiên cứu cho thấy hiện trạng ô nhiễm đất ở các vùng sản xuất rau Đà Lạt ở mức không đáng kể về môi trường đất và hàm lượng kim loại nặng chưa ở ngưỡng báo động, nhưng diện tích đất canh tác sử dụng thuốc BVTV đang tăng lên khoảng 80–90%; trong tổng số thuốc BVTV được dùng, thuốc trừ sâu chiếm 68–82%, thuốc trừ bệnh 13–16% và thuốc diệt cỏ 3–12%, cả hai nhóm thuốc trừ bệnh và diệt cỏ đều có xu hướng tăng về số lượng và chủng loại; thống kê cho thấy trước đây tổng lượng thuốc BVTV sử dụng khoảng 200 tấn/năm, đến năm 2003 tăng lên 600 tấn/năm (tăng gấp 3 lần); sau khi sử dụng, thuốc BVTV có thể di chuyển đến nơi khác bằng nhiều con đường và khả năng lan truyền rất xa, nên dư lượng các chất như nitrat, thuốc trừ sâu, trừ bệnh, kim loại nặng và các VSV gây bệnh tồn dư trong đất và nông sản là khó tránh khỏi.
Phân hóa học đặc biệt, điển hình là phân đạm, được nông dân sử dụng với liều lượng cao để bón cho cây trồng Tuy nhiên, về mặt hiệu quả kinh tế, bón phân đạm ở mức cao không làm tăng năng suất một cách bền vững và có thể làm tăng chi phí sản xuất mà không đi kèm lợi ích tương ứng Bên cạnh đó, việc lạm dụng phân bón gây ra tác động xấu đến môi trường, đặc biệt là sự tích luỹ NO3- trong đất và nước, dẫn đến ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm Vì vậy cần xem xét điều tiết liều lượng và áp dụng các biện pháp quản lý dinh dưỡng cây trồng nhằm tối ưu năng suất và giảm thiểu tác động môi trường.
2.4.3 Hiện trạng môi trường không khí trong sản phẩm Trong khi đó, dư lượng nitrat trong rau là chỉ tiêu quan trọng để phân biệt rau sạch và rau không sạch Dư lượng nitrat trong đất do bón phân đạm với liều lượng cao được vi khuẩn khử thành nitrit sau đó nitrit hoá hợp với amin thứ cấp tạo thành nitrozoamin là một hoá chất gây đột biến tồn dư trong đất.
TỔNG QUAN VÀ ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT CÁC MÔ HÌNH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘ NG ĐỒNG Ở KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Các khái ni ệm cơ bản
Trong bối cảnh Tây Nguyên đang từng bước phát triển với nhiều mục tiêu kinh tế, khu vực này đối mặt với các mâu thuẫn và thách thức môi trường phát sinh khi các chỉ số tăng trưởng vượt trội Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa hợp lý khiến ô nhiễm môi trường lan rộng, đặc biệt khi các thành phố và nông thôn có hoạt động công nghiệp và nông nghiệp phát triển Trước thực trạng này, việc tìm kiếm giải pháp và định hướng phù hợp để bảo vệ môi trường một cách hiệu quả là rất cần thiết cho sự phát triển bền vững của Tây Nguyên.
Bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng (CBEP) là hình thức bảo vệ môi trường mang lại hiệu quả cao, đã và đang được áp dụng ở nhiều vùng miền trong nước và trên thế giới, đặc biệt tại các quốc gia phát triển Phương pháp này lấy cộng đồng làm trọng tâm trong quản lý môi trường và khuyến khích sự tham gia trực tiếp của người dân vào các hoạt động bảo vệ môi trường CBEP thực hiện quản lý từ dưới lên, dựa trên nguyện vọng, nhu cầu thực tế và ý tưởng của chính cộng đồng, trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò như công cụ hỗ trợ thúc đẩy cho các hoạt động cộng đồng Việc tham gia của cộng đồng giúp quản lý môi trường phù hợp với bối cảnh địa phương và tăng cường sự phối hợp giữa người dân, chính quyền và các tổ chức xã hội.
Mô hình tham gia của cộng đồng là phương tiện để người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định, thiết lập giới hạn rõ ràng cho các bên liên quan và phá vỡ rào cản giữa các nhóm liên quan, từ đó xác định mục tiêu chung và mở ra cơ hội cho cộng đồng tham gia quản lý và tự chủ khu vực Đây là một cơ chế quan trọng cho sự tham gia thực chất của cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề của địa phương, duy trì tính công khai và minh bạch, đồng thời nâng cao hiệu quả xây dựng năng lực quản lý của chính quyền địa phương Với những lý do này, tiếp cận, áp dụng và nhân rộng mô hình này được xem là một bước tiến quan trọng hướng tới xã hội phát triển bền vững.
Cách ti ếp cận BVMT có sự tham gia của cộng đồng
3.2.1 Khái niệm về cộng đồng và BVMT dựa vào cộng đồng
3.2.1.1 Khái ni ệm về cộng đồng
• Khái niệm về cộng đồng.
Cộng đồng là tập hợp các công dân cư trú trong một khu vực địa lý nhất định, gắn kết và hợp tác để theo đuổi lợi ích chung, chia sẻ những khó khăn và gìn giữ những giá trị văn hóa chung của khu vực.
Việc xác định đúng đắn một cộng đồng sẽ tạo ra sức mạnh của sự tham gia, củng cố tính đồng nhất và tăng khả năng duy trì lâu dài cho bất kỳ hoạt động hay phong trào nào.
Quá trình kết hợp nỗ lực của người dân và nỗ lực của chính quyền nhằm cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường ở địa phương đóng vai trò then chốt trong quá trình hội nhập cộng đồng và đồng thời đóng góp vào các mục tiêu phát triển của quốc gia Những tiến trình này tập trung vào tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao phúc lợi xã hội, gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và tăng cường sức mạnh cạnh tranh của địa phương trong bối cảnh khu vực và toàn cầu Qua đó, cộng đồng địa phương được trao quyền tham gia quyết định và hợp tác hiệu quả với nhà nước, tạo nền tảng cho sự phát triển đồng đều, bền vững và đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển quốc gia.
- Sự tham gia của dân chúng với sự tự lực tối đa;
Việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và các dịch vụ liên quan nhằm khuyến khích sáng kiến của người dân, thúc đẩy tinh thần tự giúp đỡ và sự tương thân tương trợ, từ đó giúp các nỗ lực của dân chúng đạt hiệu quả cao hơn và phát huy sức mạnh cộng đồng.
Mục tiêu cuối cùng của Chương trình Phát triển cộng đồng là nâng cao năng lực và sự chủ động của cộng đồng, giúp họ chuyển từ tình trạng yếu kém, thiếu hành động sang trạng thái tự lực và tự chủ Chương trình tập trung tăng cường kỹ năng, nguồn lực và sự tham gia của người dân để cộng đồng có thể tự đứng vững, tổ chức hoạt động và thích nghi với các thách thức địa phương Kết quả mong đợi là một cộng đồng tự lực, có khả năng tự giải quyết vấn đề, duy trì các hoạt động phát triển bền vững và nâng cao chất lượng sống cho người dân.
3.2.1.2 Khái ni ệm BVMT dựa vào cộng đồng
BVMT dựa vào cộng đồng là phương thức quản lý môi trường ở địa phương, tập hợp các cá nhân và tổ chức cần thiết để giải quyết một vấn đề môi trường cụ thể Phương pháp này tận dụng các công cụ sẵn có nhằm bảo vệ hoặc cải tạo tài nguyên và đồng thời tạo ra lợi ích cho môi trường thông qua các dự án như tái tạo nguồn năng lượng, phục hồi lưu vực hoặc các sáng kiến bảo vệ môi trường khác Quá trình thực hiện dựa trên sự hợp tác giữa chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư để quản lý và sử dụng tài nguyên một cách bền vững.
3.2.2 Vai trò và trách nhiệm của cộng đồng trong việc BVMT
3.2.2.1 Vai trò c ủa cộng đồng trong việc BVMT
- Phát hiện các vấnđề về môi trường tại địa phương và tố giác các hành các hành vi gây ô nhiễm, phá hoại môi trường
- Đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường
- Tham vấn các quá trình ra quyết định liên quan đến công tác quy hoạch, thẩm định ĐTM
- Tổ chức tự quản về BVMT.
- Tham gia lập kế hoạch và hành động BVMT.
- Giám sát việc thực hiện các chủ trương , chính sách và pháp luật của nhà nước về bảo vệ môi trường ở địa phương, cơ sở
3.2.2.2 Trách nhi ệm của cộng đồng trong việc BVMT
- Tuân thủđúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;
- Tham gia các hoạt động phong trào nhằm cải thiện, làm sạch môi trường
3.2.3 Các tiến trình BVMT có sự tham gia của cộng đồng
3.2.3 1 Xác định các thách thức của cộng đồng
Quá trình xác định thách thức của cộng đồng là sự tham gia của nhiều bên liên quan, nơi các bên cùng thảo luận để làm rõ các vấn đề môi trường cụ thể của khu vực, như ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí và cải tạo cơ sở hạ tầng; từ đó xác định các vấn đề ưu tiên và tìm kiếm các giải pháp bền vững nhằm xây dựng sự đồng thuận rộng rãi trong cộng đồng Trong suốt quá trình ra quyết định, các cuộc thảo luận được tiến hành ở nhiều mức độ, hình thức và tỷ lệ khác nhau, có thể nảy sinh nhiều vấn đề, nhưng cuối cùng tập trung vào ý kiến tổng hợp của một tỷ lệ dân cư rộng lớn.
3.2.3.2 Xây d ựng nhóm cộng đồng
Nhóm cộng đồng bao gồm các thành phần sau:
Nhà tài trợ là một nhà lãnh đạo hoặc cơ quan, đại diện cho cộng đồng, nhóm dân cư hoặc doanh nghiệp Trách nhiệm của họ là nhận diện các vấn đề nổi bật và đưa ra đánh giá có căn cứ về ưu tiên, tác động và nhu cầu can thiệp Vai trò của nhà tài trợ là định hướng nguồn lực, điều phối hoạt động và đề xuất giải pháp phù hợp với bối cảnh của cộng đồng hoặc tổ chức liên quan, từ đó thúc đẩy quá trình cải thiện và phát triển bền vững.
Người triệu tập hay nhà lãnh đạo có thể là nhà lập pháp, Chủ tịch UBND, đại biểu hội đồng nhân dân hoặc người đứng đầu cộng đồng được kính trọng Nhiệm vụ của họ là tập hợp mọi người bàn bạc và đạt được sự đồng thuận của tất cả các đối tác tham gia, đồng thời viết văn bản thỏa thuận của tất cả các bên Công việc này nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, hiệu quả và quá trình tiến hành lâu dài của dự án.
Nhóm trung lập gồm các trường đại học, trung tâm đồng thuận, các tổ chức dân sự và các chương trình mở rộng Những nhóm này đóng vai trò là nhóm làm việc cộng đồng, và trong quá trình triển khai dự án cần có sự phối hợp đồng bộ cùng với sự phân chia trách nhiệm rõ ràng cho từng nhóm để đảm bảo hiệu quả và tính bền vững của dự án.
3.2.3.3 Xây d ựng sự nhất trí
Sự nhất trí được xây dựng trên nguyên tắc hoạt động công bằng, cởi mở và tin tưởng lẫn nhau, được hình thành qua các cuộc họp, hội thảo nhằm xác định thách thức, mục tiêu và các thông tin cùng yếu tố cần thiết để đề ra hướng giải quyết khả thi Quá trình đạt được sự đồng thuận không diễn ra bằng bỏ phiếu trong các cuộc hội thảo mà dựa trên tìm hiểu, giải thích và bàn bạc để đi đến quyết định cuối cùng.
3.2.3.4 Đề ra các mục tiêu.
Đề ra mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường cho dự án giúp xác định rõ các kết quả mong đợi ở từng lĩnh vực và làm nổi bật tầm quan trọng của dự án cũng như sự tham gia của cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề môi trường Mỗi mục tiêu được xây dựng trên các chỉ tiêu chính, cho phép đo lường hiệu quả và theo dõi tiến độ một cách cụ thể và có thể so sánh theo thời gian Việc thiết lập mục tiêu sẽ thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ giữa dự án và cộng đồng, tập trung nguồn lực và các biện pháp can thiệp phù hợp để giải quyết các vấn đề môi trường một cách bền vững Nhờ đó, kết quả đạt được có thể đánh giá rõ ràng, góp phần nâng cao chất lượng sống, và tăng cường cân bằng giữa phát triển kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
3.2.3.5 Xây dựng các giải pháp tích hợp.
Việc xây dựng các giải pháp tích hợp được thực hiện thông qua việc lập kế hoạch Chúng bao gồm các bước chính sau:
• Xác định các hoạt động của dự án
Trong giai đoạn lên kế hoạch dự án, đây là bước quan trọng nhất và việc dành thời gian cùng đầu tư công sức cho bước này sẽ tăng cơ hội thành công cho dự án Việc xác định các hoạt động cần thiết đòi hỏi sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan và phải dựa trên các mục tiêu dự án, đồng thời nhận diện nguồn lực và rào cản có thể gặp phải Dự án được triển khai một cách có hệ thống khi các hoạt động được lập kế hoạch chi tiết và kỹ lưỡng ở giai đoạn chuẩn bị Khả năng quyết định trình tự các hoạt động và sắp xếp các mục công việc một cách logic là kỹ năng cốt lõi mà nhà lập kế hoạch cần nắm vững để đảm bảo tiến độ và hiệu quả.
• Trình tự các hoạt động
Việc xác định các hoạt động là nền tảng để lập trình tự đúng đắn cho toàn bộ quá trình Trình tự hợp lý giúp tránh lãng phí thời gian và nguồn lực, đồng thời tăng hiệu quả thực hiện dự án Vì dự án thường được triển khai bởi một nhóm cá nhân, sau khi khởi động cần có sự giám sát và phối hợp giữa các hoạt động để đảm bảo tiến trình diễn ra theo đúng trật tự Do đó, việc sắp xếp và tối ưu hóa các hoạt động nên được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng và sử dụng nguồn lực hiệu quả.
Việc lập kế hoạch thời gian cho các hoạt động chính và phụ giúp dự đoán thời điểm bắt đầu và kết thúc của từng công việc trong phạm vi nguồn lực sẵn có Điều này cũng tạo cơ sở cho việc giám sát tiến độ các hoạt động của dự án trong suốt quá trình thực hiện và kiểm tra xem tiến độ có tuân thủ kế hoạch hay không.
M ột số mô hình điển hình tiên tiến đã thực hiện ở Tây Nguyên
3.3.1 Mô hình quản lý và bảo vệ rừng dựa vào người dân
Mục tiêu của mô hình là gắn lợi ích của người dân với rừng, để người dân nuôi dưỡng rừng và từ đó bảo vệ, phát triển vốn rừng ở Tây Nguyên Nghiên cứu cho thấy khi rừng được giao cho cộng đồng và gắn với lợi ích thiết thực của người dân, công tác quản lý và bảo vệ rừng tại địa phương đó được thực hiện hiệu quả hơn Nhiều hộ trang trại đã mạnh dạn đầu tư trồng hàng chục héc-ta rừng, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Hệ thống pháp lý về quản lý, bảo vệ rừng ở nước ta không thiếu, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào cách tổ chức và thực thi ở từng địa phương.
Chính phủ đã ban hành các nghị định, quyết định chỉ đạo khá chặt chẽ công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng, như:
Nghị định số 163 quy định giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để họ sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Nghị định nhằm thiết lập khung pháp lý rõ ràng, bảo đảm quyền sử dụng đất hợp pháp và sự an tâm cho người dân, tổ chức tham gia vào quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
- Quyết định số 178 về quyền lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình và cá nhân được giao đất, được thuê nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Quyết định số 304 thí điểm giao rừng và khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng ở các buôn, làng của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên Mô hình này cho phép người dân nhận quản lý và bảo vệ rừng, tăng cường sự tham gia của cộng đồng buôn làng và đồng bào dân tộc thiểu số vào công tác bảo vệ và sử dụng rừng bền vững, đồng thời kết nối sinh kế với rừng và thúc đẩy phát triển địa phương.
Đắk Lắk là tỉnh tiên phong triển khai mô hình giao khoán rừng tới hộ dân và cộng đồng, thí điểm hiệu quả tại huyện Ea H’leo trong vòng 5 năm qua Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc giao đất giao rừng cho hộ gia đình và cộng đồng là mô hình cần được mở rộng bởi tính hiệu quả cao và rừng có chủ thực sự Tính đến nay, tỉnh đã giao hơn 81.000 ha rừng từ Chương trình 661 cho 3.244 hộ, trong đó có 1.946 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ; và giao hơn 12.000 ha rừng theo Quyết định 178 cho 1.944 hộ, trong đó có 1.054 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ Mới đây, Đắk Lắk khảo sát thực tế ở 5 huyện Krông Bông, Krông Búc, Ea Ka, Ea H’leo và Lắk, cho thấy từ năm 1999 đến nay, 5 huyện này đã giao được 23.160 ha rừng và đất rừng cho cộng đồng và hộ gia đình.
995 hộ gia đình, 47 nhóm hộ và 16 cộng đồng dân cư đang tham gia quản lý và bảo vệ rừng Tại 5 huyện được giao diện tích rừng, tỷ lệ phá rừng và lấn chiếm đất rừng ở mức rất thấp: 175,6 ha rừng bị phá (0,76%) và 200 ha đất rừng bị lấn chiếm (0,8%), đồng thời không có vụ cháy rừng nào được ghi nhận Trong đó, một số cộng đồng ở huyện Ea H’leo giữ rừng khá tốt, điển hình với mô hình của buôn …
Ta Ly, xã Ea Sol, có 67 hộ được giao quản lý bảo vệ 1.127,5 ha rừng từ năm 2001 đến nay; để bảo vệ diện tích rừng được giao, buôn Ta Ly thành lập Đội bảo vệ rừng với 110 thành viên, chia làm 3 tổ luân phiên tuần tra kết hợp chăm sóc rừng, nên rừng phát triển tốt Tháng 6-2006, buôn Ta Ly tổ chức khai thác thử nghiệm 500 cây gỗ, thu được 616 triệu đồng, sau khi trừ các khoản chi phí, bà con cộng đồng buôn Ta Ly được hưởng lợi 283 triệu đồng Theo nhận xét của anh Rmal Lơ, Đội trưởng đội quản lý rừng buôn Ta Ly, mô hình giao rừng cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý, hưởng lợi đã giúp bà con có thêm việc làm, tăng thu nhập để ổn định đời sống; khi lợi ích bà con gắn với rừng, thì bà con có trách nhiệm hơn Cũng theo Rmal Lơ, nếu bà con sống được bằng công việc quản lý, bảo vệ rừng, thì không có lý do lại đi phá rừng.
Lâm Đồng có tổng diện tích 602 nghìn ha rừng và đất rừng, với độ che phủ rừng 61,5% – cao nhất Tây Nguyên Đến nay, tỉnh đã giao khoán gần 300 nghìn ha cho người dân và cộng đồng quản lý, chăm sóc rừng; trong đó khoảng 200 nghìn ha được giao cho hộ gia đình và cộng đồng tham gia quản lý, chăm sóc, thu hút gần 9 nghìn hộ dân tham gia.
Thực hiện Quyết định 304, tỉnh Đắk Nông đã giao 6.268 ha rừng cho 450 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ để quản lý và bảo vệ Việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng và các hộ dân tộc thiểu số tại địa phương quản lý, bảo vệ tuy mới ở giai đoạn thí điểm, nhưng kết quả cho thấy rừng được bảo vệ khá tốt; quyền lợi và nghĩa vụ của người dân được xác định rõ, giúp họ gắn bó và có trách nhiệm với rừng nhiều hơn.
Quyết định số 304 của Thủ tướng Chính phủ mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế lâm nghiệp ở Tây Nguyên Theo kế hoạch sắp tới, toàn vùng Tây Nguyên sẽ giao khoán 134.467,9 ha rừng cho 5.940 hộ, với tổng kinh phí khoảng 98,14 tỷ đồng Việc giao khoán quản lý, bảo vệ rừng theo Quyết định số 304 được kỳ vọng thúc đẩy khai thác hợp lý nguồn lực rừng, nâng cao hiệu quả quản lý rừng và cải thiện sinh kế cho người dân địa phương.
304 của Thủ tướng Chính phủ dành cho hộ gia đình và cộng đồng buôn làng ở Tây Nguyên không chỉ giữ gìn rừng mà còn đóng góp đáng kể vào việc tạo việc làm và khắc phục tình trạng thiếu đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Thực hiện các chính sách giao đất, giao rừng hợp lý và gắn quyền lợi của người dân với rừng bằng cách cho phép hưởng lợi trực tiếp từ rừng và nâng định mức giao khoán quản lý, bảo vệ rừng để người dân có thể sống bằng nghề rừng; như vậy rừng sẽ được bảo vệ tốt hơn và công tác quản lý, bảo vệ rừng trở nên bền vững Bên cạnh đó, cần cân nhắc đặc thù về văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để các chính sách được thiết kế phù hợp với tập quán sinh sống, bảo tồn bản sắc và đảm bảo phát triển sinh kế gắn với rừng.
Nguyên tắc và mối liên kết giữa con người và rừng đã ăn sâu vào đời sống của các cộng đồng Tây Nguyên từ bao đời Bà con Ê-đê, Gia-rai, Ba-na, M’Nông và K’ho vẫn duy trì các luật tục độc đáo nhằm giáo dục và vận động mọi thành viên trong cộng đồng tham gia giữ rừng Những quy định này chính là điểm mạnh và lợi thế cần được khai thác để tăng cường công tác bảo vệ rừng và phát triển tài nguyên rừng ở Tây Nguyên.
3.3.2 Mô hình lâm trường liên kết với hộ gia đình trồng rừng tại Đắk Lắk
Mục tiêu của chương trình là giải quyết công ăn việc làm thường xuyên cho đồng bào các dân tộc và nâng cao nhận thức về sản xuất lâm nghiệp theo hình thức nông-lâm kết hợp, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho lâm trường và người dân Phương thức nông-lâm kết hợp giúp tạo nguồn thu nhập ổn định, tối ưu hóa nguồn lực rừng và tăng cường kỹ năng quản lý tài nguyên cho cộng đồng địa phương Nhờ đó, lâm trường và cộng đồng được hưởng lợi kinh tế đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững về môi trường và sinh kế lâu dài.
Lâm trường Krông Bông đóng tại huyện Krông Bông đã tổ chức liên kết với đồng bào các xã Hoà Phong, Cư Pui, Cư Trăm và Bang Mao để cải thiện đất nương rẫy bị thoái hóa, bạc màu và đưa về trạng thái rừng Lâm trường đầu tư cho đồng bào bằng các hoạt động: cày xới, san ủi mặt bằng, cung cấp giống cây rừng, phân bón, thuốc trừ sâu, cùng hỗ trợ kỹ thuật trồng, chăm sóc và hướng dẫn quy trình phòng cháy chữa cháy rừng Theo Ban Quản lý Lâm trường, tổng vốn đầu tư cho 3 luân kỳ trong chu trình khai thác được thiết kế để nâng cao hiệu quả và diện tích rừng được phục hồi.
Với mức đầu tư 17 triệu đồng/ha, đồng bào các dân tộc có đất liên kết trồng rừng với lâm trường sẽ có trách nhiệm trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, phòng chống cháy rừng và lâm trường bao tiêu sản phẩm theo thời giá hiện tại Đến thời điểm cây rừng đưa vào khai thác, sau khi lâm trường thu hồi vốn đầu tư ban đầu, sản phẩm còn lại sẽ được chia theo tỷ lệ đã quy định.