HIỆN TRẠNG VỆ SINH MÔI TRƯỜNG DỌC CÁC TUYẾN KÊNH RẠCH CHÍNH TẠI HỆ THỐNG SÔNG/KÊNH RẠCH THAM LƯƠNG – BẾN CÁT – VÀM THUẬT .... Hiện trạng dọc tuyến kênh Tham Lương – Bến Cát – Nước Lên 23
TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Với tổng diện tích lưu vực trải dài hơn 2.900 ha và 05 hệ thống kênh rạch nội thành chính được phân bố ở 16 quận với tổng chiều dài 71,5 km, TP.HCM có một mạng lưới sông/kênh rạch chằng chịt gắn liền với lịch sử và sự phát triển của thành phố Kênh rạch vừa là nguồn nước tưới tiêu cho nông nghiệp và phục vụ sản xuất, sinh hoạt hằng ngày, vừa đóng góp cho giao thông đường thủy và là nguồn sinh kế của người dân sống ven kênh Tuy nhiên, do hoạt động sinh hoạt – sản xuất của con người, các nguồn thải từ khu công nghiệp và rác thải, sự lấn chiếm của các hộ ven kênh và quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã làm các kênh rạch ô nhiễm nghiêm trọng và mất đi các chức năng vốn có như lưu thông thủy, tiêu thoát nước và cấp nước sinh hoạt, dần trở thành những dòng kênh “rác”, kênh nước đen Những dòng kênh ô nhiễm này là mầm bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống người dân thành phố; vào mùa mưa, dòng chảy bị lấp và tắc nghẽn bởi rác thải khiến công tác tiêu thoát nước gặp khó, dẫn đến ngập úng và tắc đường.
Đề tài luận văn "Đánh giá các nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường nước tại hệ thống kênh Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật – rạch Nước Lên và đề xuất biện pháp giảm thiểu" nhằm xác định các nguồn ô nhiễm chủ yếu và đề xuất biện pháp giảm thiểu cho môi trường nước tại hệ thống kênh trên Nghiên cứu sẽ tiến hành điều tra và đánh giá tình hình vệ sinh môi trường của các khu dân cư ven sông; khảo sát và đánh giá hiện trạng xả thải; kiểm tra chất lượng nước mặt và nước thải của hệ thống kênh Vàm Thuật – Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên Từ kết quả này, đề tài sẽ đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và xây dựng dữ liệu làm cơ sở cho các hoạt động nghiên cứu khoa học khác, đồng thời cung cấp căn cứ để đề xuất các biện pháp quản lý môi trường cho thành phố.
MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu là điều tra và đánh giá chất lượng nước mặt, nước thải tại hệ thống sông kênh/rạch Tham Lương – Vàm Thuật – Bến Cát – rạch Nước Lên nhằm xác định nguồn gây ô nhiễm chính ảnh hưởng đến nguồn nước mặt Dựa trên kết quả thu thập tại hiện trường và phân tích mẫu, nghiên cứu đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và quản lý chất lượng nước; các số liệu điều tra sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất kế hoạch quản lý lưu vực sông trong tương lai.
Thu thập dữ liệu chung về tình hình kinh tế - xã hội của người dân khu vực từ nguồn tin đáng tin cậy như website của UBND quận, thành phố; sau đó tiến hành so sánh đối chiếu với tình hình kinh tế - xã hội của lưu vực ven kênh rạch thông qua phỏng vấn ngẫu nhiên cộng đồng địa phương, nhằm làm rõ sự khác biệt, xu hướng và những yếu tố tác động giữa hai khu vực.
Ghi nhận hiện trạng hai bên bờ sông bao gồm nhà ở, công trình tôn giáo, nhà máy, khu công nghiệp và các công trình kiến trúc khác, nhằm xác định sự phân bổ và mức độ phát triển trên khu vực lòng sông Nội dung này cung cấp cái nhìn tổng quan cho công tác quy hoạch đất đai, quản lý ranh giới và bảo tồn di sản, đồng thời làm căn cứ cho các chiến lược phát triển bền vững và đầu tư khu vực.
Đánh giá chất lượng nước và kết luận về các nguồn ô nhiễm chính ảnh hưởng đến các nhánh chính của hệ thống TL – BC – VT – NL được thực hiện qua ba bước: quan sát cảm quan, lấy mẫu nước sông và phân tích tại phòng thí nghiệm Quá trình quan sát cảm quan giúp phát hiện các dấu hiệu ô nhiễm và các hiện tượng bất thường trên nước mặt; việc thu thập mẫu nước sông cung cấp dữ liệu thực tế về chất lượng nước tại nguồn, và phân tích phòng thí nghiệm cho phép xác định các chỉ tiêu chất lượng nước cũng như nguồn gốc ô nhiễm Kết quả tổng hợp từ ba phương pháp này giúp định danh các nguồn gây ô nhiễm chính và đánh giá mức độ tác động lên các nhánh của hệ thống TL – BC – VT – NL, từ đó đề xuất biện pháp quản lý và giảm thiểu rủi ro.
Đánh giá tình hình vệ sinh môi trường bằng cách phân tích hiện trạng rác thải và xác định nguồn nước thải từ hộ dân cũng như từ các nhà máy, nhằm có cái nhìn toàn diện về môi trường sống dọc kênh Kết luận cho thấy ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng còn nhiều hạn chế, đồng thời người dân thể hiện nguyện vọng cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao đời sống ở khu vực ven kênh.
Nghiên cứu và đề xuất các biện pháp nhằm cải thiện vệ sinh môi trường lưu vực và đóng góp ý kiến xây dựng để tạo sự thông thoáng cho dòng chảy kênh rạch thông qua các biện pháp như nạo vét kênh, xây dựng bờ kè và thu gom rác trên địa bàn lưu vực hệ thống TL – BC – VT – NL.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp chính được sử dụng trong quá trình triển khai thực hiện đề án gồm có:
Phương pháp tổng quan tài liệu và phương pháp kế thừa:
Khảo sát thu thập thông tin, cơ sở khoa học và thực tiễn từ các nguồn tài liệu khác nhau do các cơ quan liên quan đã thực hiện (Sở Tài nguyên và Môi trường, Viện Môi trường và Tài nguyên, các trường, viện, cơ quan quản lý nhà nước khác…)
Phương pháp khảo sát thực địa:
• Điều tra, phỏng vấn người dân thông qua bảng phỏng vấn (Phụ lục);
• Điều tra khảo sát tại hiện trường, quay phim chụp ảnh ;
Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia:
Trong quá trình thực hiện, cần tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực thủy văn – môi trường nước để đảm bảo tính khoa học và hiệu quả của các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm Sự tham vấn của các chuyên gia giúp xác định nguồn gây ô nhiễm, đánh giá rủi ro, đề xuất các biện pháp kỹ thuật và quản lý phù hợp với điều kiện địa phương, đồng thời đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn và quy định liên quan Việc hợp tác với các chuyên gia sẽ nâng cao độ tin cậy của dự án, tối ưu chi phí và thời gian triển khai, và tăng khả năng đạt được các mục tiêu môi trường bền vững.
4 gia quản lý môi trường địa phương tại các địa bàn, cũng như từ các nhà quản lý tại đơn vị công tác
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, và so sánh: để phân tích và xử lý số liệu trong đánh giá môi trường
Phương pháp xử lý số liệu trong nghiên cứu bao gồm nhập và xử lý số liệu điều tra, sử dụng Excel để thực hiện các phân tích mẫu và tổng hợp kết quả, từ đó rút ra nhận định dựa trên kết quả phân tích Các kết quả thống kê được ghi nhận từ quá trình phân tích mẫu và xử lý dữ liệu nhằm đảm bảo tính khách quan, đồng thời cung cấp cơ sở cho các kết luận nghiên cứu.
• Phương pháp thống kê: Sử dụng trong phân tích, xử lý số liệu, truy vấn dữ liệu trong đánh giá công tác quản lý môi trường
Phương pháp so sánh tập trung vào thu thập đầy đủ các thông tin liên quan và các quy định, tiêu chuẩn hiện hành của Nhà nước về quản lý môi trường, nhằm phục vụ cho quá trình so sánh và đánh giá trên các mẫu đã lấy.
Phương pháp lấy mẫu và dánh giá chất lượng nước:
Việc lấy mẫu, phân tích và đánh giá chất lượng nước được thực hiện đúng theo hướng dẫn và phương pháp phân tích của TCVN ISO/IEC 17025:2005 – Yêu cầu chung về năng lực phòng thí nghiệm và hiệu chuẩn Phần phân tích mẫu nước được thực hiện bởi phòng thí nghiệm của Viện Môi trường và Tài nguyên ĐHQG Tp.HCM.
• Cách thức lấy mẫu và đánh giá chất lượng nước
Mục tiêu của việc lấy mẫu nước là chọn một thể tích mẫu đủ nhỏ để vận chuyển và xử lý trong phòng thí nghiệm mà vẫn đại diện cho thành phần chất tại địa điểm lấy mẫu Phương pháp lấy mẫu có thể thực hiện theo tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), tiêu chuẩn quốc tế (ISO) hoặc theo các tổ chức khác (EPA, APHA) hoặc theo các tài liệu hướng dẫn sử dụng kèm theo thiết bị lấy mẫu Mẫu nước được lấy phải đáp ứng yêu cầu của chương trình lấy mẫu, xử lý và đủ để phân tích Cần lựa chọn vị trí lấy mẫu ở những vùng có tính đồng nhất về thời gian và không gian để tránh sự sai lệch kết quả do biến động thời gian hoặc không gian Ngoài ra, khi lấy mẫu để xác định nền chất lượng nước của sông/kênh/rạch, điểm lấy mẫu có thể là một cây cầu thông thường.
Để đảm bảo mẫu nước đại diện cho khu vực nghiên cứu, vị trí lấy mẫu nên ở dưới nguồn xả hoặc dưới nhánh sông/kênh/rạch để nước được trộn đều trước khi đến điểm lấy mẫu; đối với các con sông/kênh rạch chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mỗi nhóm hiện trường cần tiến hành lấy mẫu vào lúc triều kiệt.
• Các thông số phân tích chất lượng nước o Thông số phân tích chất lượng nước mặt kênh rạch (24 thông số): pH,
DO, COD, BOD 5 , TSS, N-NH 4+ , N-NO 2- , P-PO 4 3- , F - , Cl - , CN - , As,
Phân tích chất lượng nước từ nguồn xả thải là quy trình đánh giá các yếu tố ô nhiễm nhằm đảm bảo xử lý và kiểm soát môi trường 17 thông số phân tích nước thải được xác định gồm pH, COD, BOD5, TSS, tổng N, tổng P, Cr3+, Cr6+, Zn, Pb, Cd, Fe, Ni, Hg, Chất hoạt động bề mặt, Tổng dầu mỡ và Coliforms; các tham số này cho thấy mức độ ô nhiễm kim loại nặng, chất hữu cơ, chất hoạt động bề mặt và sự hiện diện của vi sinh vật gây ô nhiễm, từ đó hỗ trợ đánh giá tiêu chuẩn xả thải và điều chỉnh công nghệ xử lý nước thải.
Cl 2 dư, CN _ , S 2- , N-NH 4 + , màu, dầu mỡ khoáng, Coliforms o Phương pháp phân tích mẫu
Dự án áp dụng các phương pháp phân tích mẫu để đánh giá 24 thông số chất lượng nước trên các kênh rạch tại TP.HCM Đồng thời, dự án phân tích 17 thông số chất lượng nguồn xả thải vào lưu vực và tiểu lưu vực Các kết quả và chi tiết phương pháp được trình bày cụ thể tại Phụ Lục.
Phương pháp phỏng vấn ngẫu nhiên được áp dụng cho hệ thống kênh TL – BC – VT – NL: mỗi kênh rạch trong hệ thống khảo sát được chọn 03 đối tượng để phỏng vấn; tổng số kênh rạch chính là 08 và tổng số phiếu phỏng vấn thu được là 24 Các đối tượng phỏng vấn được lựa chọn theo phương pháp mẫu ngẫu nhiên, tức là từ toàn bộ dân cư của một khu vực và tiến hành phỏng vấn nhóm đối tượng sao cho xác suất xuất hiện của các cá thể bằng nhau, ví dụ giữa người giàu và người nghèo, nam và nữ, già và trẻ.
Trong quá trình phỏng vấn, nhóm nghiên cứu kết hợp các mục tiêu đánh giá với bộ câu hỏi phỏng vấn đã soạn sẵn và lựa chọn đối tượng phỏng vấn đa dạng để thu được câu trả lời phong phú, đầy đủ và phản ánh mọi quan điểm về các vấn đề được nêu trong bảng hỏi.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn được dùng làm tiền đề và cung cấp dữ liệu nền cho các nghiên cứu, khảo sát sâu hơn về tình hình kinh tế - xã hội, đồng thời đánh giá chất lượng nước và các nguồn thải chính trong hệ thống TL – BC – VT – NL.
Đề tài luận văn đóng vai trò làm cơ sở khoa học cho nghiên cứu tổng thể các yếu tố liên quan trong một lưu vực sông, kể cả các khía cạnh xã hội và tự nhiên Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là cung cấp dữ liệu và chỉ số ô nhiễm nguồn nước sông cùng điều kiện vệ sinh môi trường khu vực ven sông cho các nhà khoa học và quản lý Từ các số liệu này, đề tài đề xuất các giải pháp nhằm giảm ô nhiễm kênh rạch, nâng cao chất lượng môi trường và quản lý khu vực ven sông một cách bền vững, từ đó hướng tới quản lý lưu vực sông cho toàn thành phố.
Dự án làm tiền đề để đề xuất các tiểu dự án ưu tiên thực hiện trong giai đoạn từ nay đến năm 2015 nhằm đáp ứng nhu cầu của Dự án bảo vệ môi trường lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai Đồng thời, các kiến nghị và giải pháp trong đề tài luận văn có thể được áp dụng trong phạm vi các quy hoạch/kế hoạch của các địa phương liên quan đến giữ gìn vệ sinh môi trường và bảo vệ chất lượng nguồn nước trên các tiểu lưu vực đã được khảo sát.
TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC, QUẢN LÝ THOÁT NƯỚC VÀ CÁC VẤN ĐỀ
TỔNG QUAN CÁC DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG/NÂNG CẤP ĐÔ THỊ TẠI CÁC HỆ THỐNG SÔNG/KÊNH RẠCH TP.HCM
Căn cứ quyết định số 752/QĐ-TTg và 1547/QĐ-TTg về quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước thải và quy hoạch thủy lợi chống ngập úng trên địa bàn thành phố đến năm 2020, thành phố đã triển khai 05 dự án lớn và các tiểu dự án thành phần về vệ sinh môi trường và nâng cấp đô thị tại các hệ thống sông, kênh, rạch nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng thoát nước và chất lượng môi trường trên địa bàn.
1) Dự án vệ sinh môi trường Nhiêu Lộc – Thị Nghè
Dự án vệ sinh môi trường Nhiêu Lộc – Thị Nghè (NL – TN) được tài trợ bởi Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) thuộc Quỹ trợ cấp Nhật Bản nhằm đầu tư cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước lưu vực NL – TN (diện tích 3.053 ha), bao gồm một phần diện tích của các Quận 1, Quận 3, Quận Bình Thạnh, Quận Phú Nhuận và Quận Tân Bình Dự án do Sở Giao thông công chánh Thành phố (nay là Sở Giao Thông Vận Tải Tp.HCM) làm chủ đầu tư, và được chia làm 02 giai đoạn thực hiện.
Tháng 8 năm 2012, giai đoạn 1 của dự án đã được hoàn tất, góp phần cải thiện tình trạng ngập úng và ô nhiễm môi trường tại khu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè Thành quả này từng bước nâng cao điều kiện môi trường sống cho hơn 1,2 triệu dân sống dọc tuyến kênh.
2) Dự án cải thiện môi trường nước Tp.HCM lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé - Kênh Đôi – Kênh Tẻ
Dự án cải thiện môi trường nước Tp.HCM lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé - Kênh Đôi – Kênh Tẻ nhằm cải thiện điều kiện môi trường nước trên lưu vực rộng 3.300 ha, nằm trên địa bàn các quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Tân Bình, Bình Thạnh và huyện Bình Chánh, thông qua cải tạo kênh và nâng cấp hệ thống thoát nước mưa và nước thải để góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân Dự án được tổ chức thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2001-2006) với tổng vốn đầu tư 263 triệu USD từ nguồn vốn vay JIBIC; Giai đoạn 2 dự kiến sẽ bắt đầu từ năm chưa được công bố. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Khám phá [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để tối ưu hóa nội dung SEO cho các dự án môi trường tại TP.HCM!
Dự án cải thiện môi trường nước Tp.HCM lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé - Kênh Đôi – Kênh Tẻ đã hoàn thành, góp phần thay đổi bộ mặt thành phố và cải thiện tình trạng ngập úng trên địa bàn các quận huyện Dự án nâng cao chất lượng nước, cải thiện dòng chảy và cảnh quan đô thị, tăng cường khả năng thoát nước, mang lại môi trường sống tốt hơn cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Tp.HCM.
3) Dự án nâng cấp đô thị Tp.HCM lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm
Dự án Cải thiện vệ sinh và nâng cấp đô thị lưu vực kênh Tân Hóa - Lò Gốm do Sở Xây Dựng làm chủ đầu tư nhằm cải thiện vệ sinh và nâng cấp hạ tầng đô thị cho khu vực lưu vực kênh Tân Hóa - Lò Gốm Tổng vốn đầu tư của dự án lên tới 298 triệu USD, được cấp từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) Thời gian thực hiện dự án là 10 năm, từ năm 2004 đến năm 2014, và được chia thành hai giai đoạn.
Kết quả thực hiện dự án ở giai đoạn một đã hoàn thành tại quận 6, Tân Bình, Tân Phú và Bình Tân, chỉnh trang nhiều hẻm nhỏ lầy lội và có 22.802 hộ dân được hưởng lợi từ dự án Trong giai đoạn hai, tiến độ đạt 75% khối lượng và dự kiến hoàn tất vào năm 2014; khi vận hành sẽ giảm ngập cho một phần diện tích lưu vực rộng 1.480 ha tại quận 6, quận 11, quận Tân Bình và quận Tân Phú, đồng thời cải thiện vệ sinh môi trường cho khoảng 1 triệu hộ dân sống trong phạm vi lưu vực.
Trong giai đoạn tiếp theo, thành phố dự kiến đầu tư thêm một nhà máy xử lý nước thải tại Huyện Bình Chánh với kinh phí dự kiến 300 triệu USD, nhằm xử lý nước thải cho lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm Dự án này sẽ nâng cao công suất xử lý nước thải, cải thiện chất lượng nước và vệ sinh môi trường cho khu vực, đồng thời đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển bền vững của lưu vực.
4) Dự án tiêu thoát nước và giải quyết ô nhiễm kênh TL – BC – NL
Dự án tiêu thoát nước và giải quyết ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên (TL-BC-RNL) do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố làm chủ đầu tư gồm 11 gói thầu, đi qua 08 địa bàn quận/huyện gồm Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Bình Tân, Tân Phú, Quận 12, Quận 8 và huyện Bình Chánh, và được chia thành 02 giai đoạn.
Giai đoạn 1 (từ năm 2002 – 2012): Tổng vốn đầu tư 158 tỉ đồng bao gồm các hạng mục
• Nạo vét, mở rộng đủ mặt cắt thiết kế toàn tuyến kênh chính (cấp I) TL- BC- NL dài 32.195 m
Dự án gồm xây dựng và sửa chữa 148 cống ngăn triều, nhằm cải thiện hệ thống thoát nước Trong khuôn khổ tiểu dự án, xây dựng cống Vàm Thuật nhằm kiểm soát triều vào cống Vàm Thuật và nạo vét kênh Vàm Thuật để tăng khả năng thoát nước của kênh, thuộc địa bàn các quận Bình Thạnh, Gò Vấp và Quận 12.
Bảng 1.1: Thông số kỹ thuật kênh Vàm Thuật
Cầu Trường Đai cầu Bến Phân 2.012 60 70 -1,7, -2,0
Cầu Bến Phân cầu An Lộc 1.588 70 80 -2,0 -3,0
Cầu An Lộc Vàm Thuật 5.220 80 -3,0 -7,0
(Nguồn: Công ty Xây dựng & Tư vấn đầu tư – Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn)
Giai đoạn 2 (2012-2015) của dự án tiếp tục triển khai hai tiểu dự án thành phần 6A và 6B: 6A xây dựng hệ thống cống bao lưu vực Tham Lương - Bến Cát, 6B xây dựng hệ thống thu gom nước mưa, nước thải và trạm bơm lưu vực; với tổng mức đầu tư gần 5.000 tỷ đồng, giai đoạn này nhằm phát huy hiệu quả chống ngập úng, tiêu thoát nước, cải thiện môi trường và tạo cảnh quan mới cho vùng đất rộng hơn 14.000 ha ở ngoại ô thành phố, nằm dọc theo kênh Tham Lương, Bến Cát và Rạch Nước Lên.
Hiệu quả dự án hiện tại chưa đạt kỳ vọng do tiến độ thi công giai đoạn 1 còn rất chậm Dự án mới chỉ hoàn thành hơn 70% khối lượng công việc, cho thấy cần đẩy nhanh tiến độ và tối ưu quản lý dự án để đảm bảo tiến độ và kết quả mong đợi.
Trong quá trình giải phóng mặt bằng, 80% số hộ cần di dời là 2.083 hộ trên tổng 32.000 hộ Nguyên nhân chính là vướng mắc trong công tác đền bù và tái định cư đối với các hộ dân bị mất trắng.
• Công tác nạo vét 19.653/32.725 mét kênh rạch;
• Xây xong 77/138 cống điều tiết nước
5) Dự án công trình thủy lợi bờ hữu ven sông Sài Gòn
Dự án công trình thủy lợi bờ hữu ven sông Sài Gòn do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư có tổng chi phí dự án ban đầu 389 tỉ đồng, được thực hiện tại địa bàn quận 12 và huyện Củ Chi Dự án nhằm ngăn lũ và đỉnh triều cường gây úng ngập khu vực, chủ động tưới tiêu, xổ phèn để cải tạo đất nông nghiệp, ngăn nước ô nhiễm và ngăn mặn, cải thiện môi trường sinh thái khu vực; đồng thời kết hợp xây dựng các tuyến giao thông nhằm phát triển khu kinh tế vườn và khu du lịch sinh thái.
TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC KÊNH RẠCH TRÊN ĐỊA BÀN TpHCM
1.2.1 Cơ cấu quản lý các trạm quan trắc môi trường nước tại Tp.HCM
So với cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương sớm xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường từ năm 1993, với quy mô vượt trội về số lượng Việc triển khai mạng lưới này cho thấy sự chủ động và đi đầu của thành phố trong công tác theo dõi chất lượng không khí, nước và đất đai Quy mô quan trắc lớn của TP.HCM đã hình thành cơ sở dữ liệu môi trường đáng tin cậy, phục vụ cho nghiên cứu khoa học, quản lý nhà nước và các hoạt động bảo vệ môi trường Đây được xem là điểm nhấn quan trọng, đóng góp vào hệ thống quan trắc môi trường của cả nước và nâng cao nhận thức về an toàn môi trường ở khu vực dân cư và doanh nghiệp.
Có 10 trạm quan trắc và các thành phần môi trường được quan trắc, gồm quan trắc không khí, nước sông, nước kênh rạch và nước ngầm Công tác quan trắc môi trường tại các trạm địa phương và một số chương trình quan trắc khác ở khu vực Tp.HCM được quản lý bởi Chi cục Bảo vệ môi trường và thực hiện bởi Trung tâm Quan trắc và Phân tích chất lượng môi trường.
1.2.2 Mật độ phân bố các trạm quan trắc chất lượng nước kênh rạch trên địa bàn Tp.HCM
Hệ thống quan trắc chất lượng nước tại TP.HCM hiện nay gồm 20 trạm quan trắc nước mặt, 11 trạm quan trắc nước ngầm và 03 trạm quan trắc nước biển ven bờ Đối với các kênh rạch chính trong nội thành, hệ thống này có 10 trạm quan trắc ở cấp địa phương và 02 trạm quan trắc ở cấp quốc gia.
• Tại cầu Tham Lương, cầu An Lộc (Tham Lương - Bến Cát – Vàm Thuật);
• Tại cầu Lê Văn Sỹ, cầu Điện Biên Phủ (Nhiêu Lộc - Thị Nghè);
• Tại cầu Chà Và, Rạch Ruột Ngựa (Tàu Hủ - Bến nghé);
• Tại cầu Nhị Thiên Đường, Bến Phú Định, (Kênh Đôi - Tẻ);
• Tại cầu Ông Buông, cầu Hoà Bình (Tân Hoá - Lò Gốm)
Hình 1.1: Sơ đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng nước kênh rạch nội thành
Tần suất quan trắc chất lượng nước tại các kênh rạch chính nội thành
Các trạm quan trắc địa phương tiến hành lấy mẫu định kỳ 4 lần/năm, vào các tháng 2, 4, 9 và 11 hàng năm, và thực hiện tại thời điểm nước lên cao nhất và nước ròng nhất trong ngày để đảm bảo mẫu đại diện cho điều kiện thủy văn và chất lượng nước tại khu vực quan trắc.
• Các trạm quan trắc quốc gia: thực hiện quan trắc 4 lần/năm Từ năm
2003, tần suất lấy mẫu tăng lên 6 lần/năm.
TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ THOÁT NƯỚC TẠI CÁC HỆ THỐNG KÊNH RẠCH TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM
HỆ THỐNG KÊNH RẠCH TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM
Mạng lưới sông kênh rạch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có tổng chiều dài khoảng 1.200 km và diện tích lưu vực khoảng 650 km² Trong đó nội thành chiếm khoảng 150 km² và phần còn lại nằm ở khu vực quanh nội thành.
Với quy mô khoảng 500 km², trục thoát nước chính của thành phố là trục Bắc – Nam Mạng lưới thoát nước kênh rạch nội thành (cấp 1) dài 71 km và được phân bổ thành 05 hệ thống sông, nhằm thu gom nước và giảm ngập cho khu vực đô thị.
12 kênh rạch chính đóng vai trò chủ chốt trong hệ thống thoát nước của khu vực nội thành, với các tuyến nổi bật gồm Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Tân Hóa – Lò Gốm, Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật, và Tàu Hủ - Bến Nghé – Kênh Đôi – Kênh Tẻ; đây là những kênh quan trọng nhất giúp tiêu thoát nước, điều tiết dòng chảy và giảm ngập cho khu vực nội thành.
Thành phố Hồ Chí Minh có một mạng lưới sông rạch tự nhiên và nhân tạo kết hợp với hệ thống cống thoát nước chung rất phức tạp, được tổ chức thành các khu vực quản lý nước khác nhau Mạng lưới này bao gồm các tuyến thoát nước chính, cống ngầm và các công trình xử lý nước thải nhằm mục tiêu tối ưu hóa thoát nước đô thị và giảm thiểu ngập úng Việc phân chia và vận hành đồng bộ giữa các thành phần như vậy giúp bảo vệ khu vực dân cư, các tuyến đường giao thông và khu vực công nghiệp, đồng thời nâng cao khả năng chịu ứng phó với biến đổi khí hậu của thành phố.
04 cấp (thành phố quản lý các hệ thống từ cấp 3 ÷ cấp 1, riêng các quận huyện quản lý hệ thống cấp 4):
Cấp 1 (Sông/kênh rạch) bao gồm các kênh rạch lộ thiên ở khu vực nội thành và ven đô, có chức năng tiếp nhận nước thải từ các cửa xả và nước mưa trên lưu vực thoát nước và chuyển tải chúng ra sông Sài Gòn, Chợ Đệm Kênh cấp 1 được chia thành hai loại: cấp 1A và cấp 1B Cấp 1A là các kênh rạch hở thoát nước tự nhiên, chỉ cần cải tạo ở mức nhỏ; cấp 1B đòi hỏi cải tạo nhiều hơn hoặc có thể được cải tạo thành cống cấp 2.
Cấp 2 bao gồm các tuyến cống ngầm và kênh rạch nhỏ có chức năng thu nước từ các tuyến cấp 3 và chuyển tải nước vào hệ thống kênh cấp 1 Cấp 2 gồm 3 loại cống: cống vòm, cống bê tông cốt thép và cống hộp Các cống vòm đã quá cũ và bị hư hỏng, sụp nhiều, hiện đang được cải tạo thành cống hộp Cấp 2 tương đối lớn, đường kính hoặc bề rộng cống khoảng 1 m và được chôn sâu từ 2 đến 5 m.
Cấp 3 là hệ thống cống ngầm đặt trên các trục đường phố, có chức năng thu nước từ các tuyến cấp 4 và đổ vào tuyến cấp 2 Các cống cấp 3 thường có đường kính từ 600–800 mm hoặc cống vòm 400–800 mm, với độ sâu chôn cống từ 2–3 m.
Cấp 4: bao gồm các tuyến cống trong hẻm hay trên các trục đường nội bộ nối vào cống cấp 3, có đường kính thường dưới 600 mm.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TẠI HỆ THỐNG
1.4.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên, thủy văn của hệ thống sông, kênh/rạch VT – TL – BC – NL
Sông Vàm Thuật với tổng chiều dài là 8.820m nối liền với sông Sài Gòn ở phía Đông, điểm cuối là cầu Bến Phân với chiều dài các đoạn:
- Sông Sài Gòn – cầu An Lộc: 5.220m;
- Cầu An Lộc – cầu Bến Phân: 1.588m;
Hình 1.2: Giới hạn sông Vàm Thuật (A) từ ngã cửaVàm Thuật – Sài Gòn đến ngã 3 sông
Vàm Thuật – Bến Cát – kênh Tham Lương (đường Tô Ngọc Vân)
Sông Vàm Thuật là ranh giới tự nhiên phân cách giữa khu vực nội thành gồm Quận Gò Vấp và Quận Bình Thạnh với khu vực ngoại thành Quận 12, dòng chảy qua các phường An Phú Đông, Thạnh Lộc, Thạnh Xuân và Thới An của Quận 12; phường 13 của Quận Bình Thạnh; và phường 5, 6, 12, 13, 14, 15 và 17 của Quận Gò Vấp Nguồn nước từ sông góp phần cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của người dân ven kênh, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các quận ven lưu vực Sông cũng là nơi tiêu thoát nước vào mùa mưa, giúp giảm khô hạn mùa nóng, điều hòa khí hậu và làm giảm ô nhiễm từ các rạch nhánh, tăng cường khả năng tự làm sạch của môi trường tự nhiên.
Hệ thống kênh Tham Lương – Bến Cát bao gồm 3 kênh/rạch chính là kênh Bến
Trong dự án khảo sát dòng chảy tại thành phố, Cát, kênh Tham Lương và rạch Nước Lên được khảo sát đồng thời Kênh Tham Lương được chia thành 3 đoạn và rạch Nước Lên được chia thành 2 đoạn để thuận tiện cho công tác khảo sát và lấy mẫu Đoạn kênh Tham Lương nối từ sông Vàm Thuật đến rạch Nước Lên gồm các kênh nhỏ theo thứ tự từ Bắc xuống Nam: kênh Chợ Mới, kênh Tham Lương, kênh đào 19/05, rạch Cầu Bưng, đi qua các quận nội thành như Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân và hai quận ngoại thành.
14 quận 12 và huyện Bình Chánh Sông Bến Cát thì chảy ngược về hướng Bình Dương
Trong hệ thống kênh/rạch Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên, kênh Tham Lương và sông Bến Cát nhận nước từ sông Vàm Thuật và chảy qua các quận 12, Tân Bình và Gò Vấp Riêng rạch Nước Lên và rạch Bà Hom (một đoạn của Nước Lên nối dài) nhận nước từ sông Cần Giuộc và chảy qua quận Tân Phú, quận 8 và huyện Bình Chánh.
1.4.2 Kết quả đánh giá tình hình kinh tế - xã hội hệ thống TL – BC –
VT – NL bằng phương pháp phỏng vấn
Tổng số phiếu phỏng vấn cho hệ thống Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật – Nước Lên là 24 phiếu, trong đó:
• Giới tính và độ tuổi
Trong 24 người được phỏng vấn thì có 14 người là nam giới, 10 người là nữ giới Tỉ lệ nam/nữ là 1,1 Độ tuổi trải đều trong khoảng từ 20 – 30 (9,5% với 02 phiếu), 30 –
40 (14,3% chiếm 03 phiếu), 40 – 50 (19% chiếm 04 phiếu), 50 – 60 (42,9% chiếm
09 phiếu), 60 – 70 (9,5% chiếm 02 phiếu), và 70 – 80 tuổi (4,8%, chiếm 01 phiếu)
Hình 1.3: Độ tuổi của người được phỏng vấn
• Năm định cư và diện cư trú
Trong 14 nam giới được phỏng vấn có 10 người là chủ gia đình 50% số người phỏng vấn đều sinh sống và định cư tại thành phố hơn 10 năm và đều có hộ khẩu thành phố Trong 50% còn lại có 02 người sống tại khu vực từ 3 – 5 năm trở lại đây,
02 người sống tại khu vực ít hơn 1 năm trở lại đây
• Số nhân khẩu, số lao động
Khảo sát với 24 gia đình cho thấy tổng số nhân khẩu là 89 người, cho thấy quy mô gia đình trung bình lớn Trong đó, số lao động chính là 39 người Tỷ lệ số người lao động trên số người phụ thuộc được ghi nhận ở khoảng 2,2 người Vậy trung bình cứ 1 người lao động chính thì có 02 người phụ thuộc.
• Hiện trạng nhà và tình trạng quy hoạch giải tỏa
Cuộc khảo sát gồm 15 hộ phỏng vấn nằm trong nhóm nhà cấp 4, 7 hộ còn lại là nhà cấp 3 và 2 trường hợp là nhà tạm hoặc nhà trên ghe Trong số đó, 5 hộ thuộc diện đền bù giải tỏa nên chưa thể làm thủ tục xin giấy phép xây dựng, còn 1 trường hợp đang tiến hành quá trình khiếu nại liên quan đến bồi thường đất đai.
• Nghề nghiệp và thu nhập
Nghề nghiệp của người dân khu vực bị ảnh hưởng bởi hình thức kinh tế - xã hội tại quận/huyện đó:
Hai phiếu phỏng vấn được thực hiện tại khu vực rạch Bến Cát (ngoại thành) cho thấy cả hai người được phỏng vấn đều làm công việc liên quan đến chăn nuôi và trồng trọt, điển hình là chăn nuôi bò sữa và chăm sóc vườn lan.
02 trường hợp nằm trong độ tuổi từ 30 – 50 tuổi, thì lao động phổ thông (bảo vệ - chiếm 01 phiếu) hoặc liên quan đến công việc nặng (thầu xây dựng – chiếm
Khảo sát cho thấy một người phỏng vấn ở độ tuổi 50–60 đang xây phòng trọ cho thuê, và tổng thu nhập từ ba trường hợp được đề cập ước đạt khoảng 3.000.000–3.500.000 VND/tháng Trong trường hợp làm thầu xây dựng, thu nhập sẽ tùy thuộc vào dự án.
6/9 phiếu phỏng vấn dọc theo hệ thống Tham Lương – kênh Chợ Mới – Cầu Bưng đều làm công việc liên quan đến kinh doanh – dịch vụ như mở quán café
Ở khu vực này có 01 phiếu và 05 phiếu còn lại liên quan đến hoạt động buôn bán hàng quán nhỏ lẻ; thu nhập trung bình hàng tháng của người dân nơi đây dao động từ 5.000.000 đến 30.000.000 VND/tháng, cao hơn nhiều so với mức thu nhập trung bình của người dân thành phố khoảng 4.000.000 VND/người/tháng.
Thu nhập của người dân ở khu vực rạch Bà Hom – Nước Lên thấp hơn khu vực TL-KCM-CB, dao động từ 2.500.000 đến 5.000.000 VND/người/tháng Tuy nhiên, để trang trải các chi phí sinh hoạt, mỗi hộ gia đình cần có tổng thu nhập từ 4.000.000 đến 5.000.000 VND/tháng.
Hình 1.4: Tình hình kinh tế do người được phỏng vấn tự đánh giá
• Tình trạng kinh tế tự đánh giá
Trong 20/21 phiếu trả lời về phần tự đánh giá kinh tế, 2/20 phiếu ở mức “Nghèo”, 5/20 ở mức “Khá”, 13/20 ở mức “Trung bình” (chiếm 65%), và 1 phiếu tự nhận xét là “Ý kiến khác”, ở đây là “Vừa đủ ăn” Hình 1.4 thể hiện số người trả lời và phần trăm tương ứng với từng mức câu trả lời.
Kết luận chung về kết quả phỏng vấn kinh tế - xã hội ven hệ thống kênh/rạch Tham Lương – Bến Cát – Nước Lên
Nhìn chung, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của các quận/huyện ven hệ thống kênh rạch vẫn ở mức trung bình đến khá so với chuẩn nghèo của cả nước (dưới 1.000.000 VND/tháng) Người dân tại khu vực này sống bằng nhiều nghề, chủ yếu phụ thuộc vào diễn biến kinh tế - xã hội chung của vùng; nông nghiệp và chăn nuôi ở ngoại thành, đồng thời buôn bán, kinh doanh tại khu vực nội thành là nguồn thu nhập chính Một số người từ nơi khác đến ở trọ và làm lao động chân tay Mục tiêu ở các khu vực ven hệ thống sông là thúc đẩy tiến độ các dự án hạ tầng cơ sở như bờ kè dọc kênh và đường xá, nhằm cải thiện đời sống người dân và tăng cường liên kết kinh tế khu vực.
HIỆN TRẠNG VỆ SINH MÔI TRƯỜNG DỌC CÁC TUYẾN KÊNH RẠCH CHÍNH TẠI HỆ THỐNG SÔNG/KÊNH RẠCH THAM LƯƠNG – BẾN CÁT – VÀM THUẬT
1.5.1 Hiện trạng dọc tuyến sông Vàm Thuật – Bến Cát
1.5.1.1 Hiện trạng phát triển nhà ở và vệ sinh môi trường dọc tuyến sông Vàm Thuật – Bến Cát a Nhà ở và hoạt động sản xuất
Người tác giả đã tiến hành khảo sát dọc bờ sông, đếm số nhà ven sông và quan sát hiện trạng nhà ở cùng các công trình ven bờ dọc theo sông Vàm Thuật Tổng số nhà ven sông ở khu vực này là 589 căn, với mật độ tập trung nhiều nhất tại khu Bình Lợi, phường 13, quận Bình Thạnh, quanh các rạch Chín Xiểng, rạch Lăng và rạch Ông Cù thuộc khu vực phường 5 và phường 6, quận Gò Vấp Khu dân cư và biệt thự dọc theo chân cầu An Lộc ở phường 15.
Các khu vực dọc theo sông Vàm Thuật ở Gò Vấp hầu hết là khu vực được quy hoạch với các dự án lớn, như dự án xây công viên Gò Vấp tại phường 6, dự án mở đường vành đai ngoài Bình Lợi – Tân Sơn Nhất, và dự án làm bờ kè nhằm cải thiện vệ sinh môi trường cho hệ thống Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật – rạch Nước Lên.
Nhà ở tại khu dân cư khang trang là đặc trưng của khu Bình Lợi và khu dân cư tập trung quanh cầu An Lộc, cùng khu dân cư ven kênh tại phường 6, quận Gò Vấp Xen kẽ là các dãy nhà cấp 4 nằm rải rác ven đường số 7 từ đường 13 đến đường 20, phường 6, quận Gò Vấp Do khu vực vừa được giải tỏa, cảnh quan công trình còn chưa hoàn thiện, nhiều nhà bị dỡ bỏ hoặc dỡ bỏ một phần, phần còn lại chưa xây dựng mới và bị che chắn tạm bợ.
Vẫn còn nhiều nhà ở ghe thuyền sau khi nhận tiền đền bù nhưng không di dời, thay vào đó họ neo đậu dọc theo ven sông và ven bờ kênh Một bộ phận hộ quen với tập quán sống trên ghe và phụ thuộc sinh kế vào kênh rạch nên tiếp tục neo ở ven bờ Trong khảo sát dọc sông Vàm Thuật, tác giả ghi nhận khoảng 9–10 ghe thuyền có người ở, tập kết thành cụm 4–5 ghe tại một điểm, và rác thải cũng như nước thải sinh hoạt của các hộ này đều thải xuống sông.
Hình 1.5: Ghe thuyền neo lại ven bờ sông
• Dịch vụ nhà hàng, quán ăn (đoạn giữa rạch Chín Siểng – Rạch Ông Cù)
Dọc theo bờ sông Vàm Thuật, từ khu vực P.13, Quận Bình Thạnh tới P.5, P.6 Quận
Gò Vấp nổi bật với các hoạt động kinh doanh nhà hàng và quán café, tập trung dọc theo bờ kênh Khu vực từ đường 7 đến đường 20 thuộc phường 5 và phường 6 quận Gò Vấp là nơi tập trung nhiều nhà hàng và quán cafe sân vườn ven sông Các quán này hoạt động sát bờ kênh và mở cửa từ 9h sáng đến 10h tối.
Trong quá trình khảo sát, tác giả đã quan sát được có 04 bãi khai thác dọc sông Vàm Thuật từ cửa sông đến cầu Bến Phân
Hình 1.6: Bãi khai thác cát đang hoạt động tại đường số 14, P.5, Q.Gò Vấp
Xung quanh khu vực khai thác cát sỏi là đất trống, tập trung nhiều ghe thuyền và xe tải chờ vận chuyển đến các nơi khác, thể hiện một hình thức khai thác tài nguyên cần quản lý chặt chẽ Để không làm ảnh hưởng đến dòng chảy sông, gây xói mòn và sạt lở bờ sông, cần áp dụng biện pháp quản lý và kiểm soát thường xuyên, đồng thời giám sát hoạt động khai thác, bố trí bến bãi và phương thức vận chuyển hợp lý Việc thực hiện quản lý hiệu quả giúp bảo vệ môi trường ven sông, giảm thiểu rủi ro đối với hệ sinh thái và nguồn nước, đồng thời đảm bảo an toàn giao thông đường thủy và ổn định nguồn cung cát sỏi.
Hoạt động nông nghiệp ven sông Vàm Thuật chủ yếu là nuôi cá nhỏ lẻ ven sông và chăn thả bò, dê với quy mô nhỏ Theo phỏng vấn, các hộ nuôi cá và chăn nuôi này không nhằm mục đích kinh doanh mà để cải thiện bữa ăn gia đình hoặc dùng trong các ngày lễ, Tết; chỉ có một quán cà phê ven sông (gần trạm điều khiển cống triều tại gần rạch Lăng) có ao cá để phục vụ mục đích kinh doanh Về cấp nước và xử lý nước thải khu vực, hệ thống cấp nước và xử lý nước thải được ghi nhận như một phần của bức tranh hiện trạng môi trường khu vực.
Theo số liệu hiện tại về mạng lưới cấp thoát nước, cư dân ven sông Vàm Thuật được cấp nước đồng thời từ hai nguồn: nước mặt và nước ngầm Việc cấp nước song song từ cả hai nguồn tăng tính ổn định và đáng tin cậy của nguồn nước sinh hoạt, đồng thời giảm rủi ro gián đoạn cung cấp khi một nguồn gặp sự cố Tuy nhiên, quản lý và vận hành hai nguồn cùng lúc đòi hỏi hệ thống xử lý nước và công tác giám sát chất lượng chặt chẽ, cũng như sự đầu tư liên tục vào hạ tầng để đảm bảo nước sạch và an toàn cho người dân Việc tối ưu hóa luồng cấp nước từ hai nguồn sẽ giúp khu vực ven sông Vàm Thuật đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất một cách bền vững hơn.
Nguồn nước mặt được lấy từ sông Sài Gòn và được nhà máy nước Tân Hiệp xử lý trước khi cấp cho các phường Tân Thới Nhất (quận 12), phường 9, 10, 17 và 19 (quận Tân Bình), cùng phường 13 và 14 (quận 6) Nước đã qua xử lý này cũng được bổ sung cho các khu vực liên quan để đảm bảo nguồn cấp nước cho toàn khu vực.
20 quận 11 và Gò Vấp, với tổng chiều dài đường ống truyền tải là 11km, đường kính 1500mm, bằng bê tông
• Nguồn nước ngầm được khai thác từ các trạm khai thác và xử lý nước ngầm tại địa phương như Trạm Gò Vấp (công suất 7.500m 3 /ngày), nhà máy nước Tân Bình (công suất 60.000m 3 /ngày), trạm giếng Bình Trị Đông (công suất 7.500m 3 /ngày), và các nguồn nước ngầm khác (công suất 7.500m 3 /ngày – số liệu tháng 10/2009) cấp cho các quận 12, Gò Vấp, Tân Bình
Theo như kết quả từ phiếu điều tra thì 2 trong 3 trường hợp được phỏng vấn sử dụng kết hợp cả nước giếng khoan và nước máy Đa số hộ ven sông đều sử dụng giếng khoan, giếng đào từ rất lâu, khi có đường ống nước về thì họ sử dụng kết hợp cả 2
Nước thải tại khu vực ven sông Vàm Thuật được xả trực tiếp ra sông hoặc vào các rạch nhánh kế bên Cụ thể, cuối các đường 14, 16, 17 tại khu Trần Bá Giao và giữa rạch Chín Xiểng với Rạch Ông Cù đều có cổng xả nước thải trực tiếp ra sông; cuối đường 20 có cống xả nước thải chung đổ vào rạch Ông Cù Khu vực đường số 7 xả nước thải vào rạch Chín Xiểng Ngoài ra, một số hộ ven các rạch nhánh xả nước thải xuống kênh mà chưa qua xử lý Đặc biệt tại rạch Chín Xiểng, các hộ ven sông lắp ống nhựa xả thẳng nước thải xuống rạch Bên cạnh đó, nước thải khu vực này đổ ra sông một phần là nước từ các ao nuôi cá của các hộ gia đình ven sông.
Hình 1.7: Đường ống xả thải trực tiếp từ hộ gia đình ra rạch Chín Xiểng
21 c Kè, đê bao, cống ngăn triều
Tùy tiến độ thi công dự án mà hiện trạng kè, đê bao ven sông Vàm Thuật khác nhau tại từng đoạn: khu dân cư Bình Lợi hiện chưa có bờ kè, hướng ra sông là bãi đất trống, nhiều cỏ và khó tiếp cận bờ sông do đang chờ quy hoạch dự án; ở các đoạn gần rạch nhánh như rạch Lăng, rạch Chính Xiểng và rạch Cầu Cụt, sông Vàm Thuật đã được nạo vét và di dời dân ven kênh nhưng vẫn chưa được thi công bờ kè nên chỉ có cống ngăn triều tại giao điểm giữa rạch nhánh và sông Vàm Thuật; bờ kè ở khu vực này có dấu hiệu sạt lở nên người dân địa phương tạm gia cố bờ sông bằng xi măng, cọc, cừ tràm và bao cát để giảm rủi ro.
Hình 1.8 Gia cố bờ sông bằng cọc tràm để chống sạt lở tại bờ sông Vàm Thuật d Các loại chất thải khác
Rác thải ven sông Vàm Thuật tập trung chủ yếu ở các khu vực ven bờ, bắt nguồn từ hoạt động sinh hoạt của khu dân cư và từ hoạt động sản xuất, thương mại – dịch vụ như nhà hàng, quán cà phê, các công ty, cùng với người đi câu cá và du khách qua lại Khu vực này đã bị bỏ hoang từ lâu và đơn vị quản lý không có sự giám sát thường xuyên nên nhiều người đến đổ xà bần, xả thải lén lút; theo thời gian, những hành vi ấy hình thành các bãi rác tập trung, gây ô nhiễm môi trường và làm xấu cảnh quan sông Vàm Thuật.
Ở các rạch nhánh của Vàm Thuật như rạch Lăng, rạch Ông Cù và rạch Chín Xiểng, người dân ven sông xả rác trực tiếp xuống kênh gây tắc nghẽn dòng chảy, ô nhiễm nguồn nước và tạo điều kiện phát sinh dịch bệnh Tại các rạch nhỏ này, khi nước ròng, rác được cuốn theo dòng chảy và rút ra sông Vàm Thuật, làm ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường sống quanh khu vực.
Hình 1.9: Rác tại khu dân cư đường số 07, P.5, Q Gò Vấp
HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẢI VÀ MIỆNG THẢI RA HỆ THỐNG VÀM THUẬT – BẾN CÁT
RA HỆ THỐNG VÀM THUẬT – BẾN CÁT
2.1.1 Hiện trạng thoát nước thải hệ thống sông Vàm Thuật – Bến Cát
Mạng lưới thu gom nước mưa
Ở các khu vực đô thị, nước mưa chảy tràn vào các tuyến cống đặt trong hẻm và được thu gom chung với nước thải sinh hoạt từ các hộ dân, sau đó thải trực tiếp ra kênh mà không có giếng tác dòng Các tuyến cống này có đường kính phổ biến từ 400 mm đến 600 mm, nhằm đáp ứng việc vận chuyển đồng thời nước mưa và nước thải sinh hoạt tới kênh.
Mạng lưới thu gom và xử lý nước thải
Trên sông Vàm Thuật, tổng số cống được đếm dọc theo dòng chảy là 12 cống, trong đó có 5 cống ngăn triều Các cống ngăn triều này được xây dựng ở đầu các rạch nhằm kiểm soát ngập úng cho khu vực dân cư phía trong khi mưa lớn hoặc triều cường dâng cao.
Nước thải từ các hộ dân cư được xả trực tiếp ra kênh bằng các đường ống cống Theo kết quả phỏng vấn người dân, đường ống cống mới được lắp đặt từ năm 2011 thay thế cho đường ống cũ dẫn nước thải ra sông Vàm Thuật Các đường ống dẫn nước thải sinh hoạt sau này được xả ra các rạch nhánh gần khu dân cư Điển hình là khu dân cư từ đường 7 đến đường 13, phường 5, quận Gò Vấp nằm giữa rạch Lăng và rạch Chín Xiểng; cống thải tập trung của khu dân cư được đưa ra rạch Chín Xiểng Khu dân cư tại đường 20, phường 6, quận Gò Vấp nằm giữa rạch Chín Xiểng và rạch Ông Cù thì đường ống cống thoát ra rạch Ông Cù.
Hình 2.1 trình bày sơ đồ lắp đặt đường ống cống cho các khu vực, trong đó các tuyến ống đã hoàn thành được đánh dấu bằng màu vàng Sơ đồ cho thấy hai đường ống cống tại hai khu dân cư đổ vào rạch Chín Xiểng, với đường kính lần lượt là D = 1200 mm và D = 1800 mm.
Hình 2.1: Cống thu gom nước thải (màu vàng) ra rạch Chín Xiểng
Trong quá trình khảo sát, tác giả cũng đã ghi nhận được 01 trường hợp xây cất nhà trên miệng cống thải để làm nơi ở và buôn bán
Hình 2.2: Xây cất nhà (mặt sau) trên miệng cống cuối hẻm 14 đường Trần Bá Giao, P.5,
Q.GV Nhận xét hiện trạng thoát nước ở hệ thống lưu vực Bến Cát – Vàm Thuật
Vàm Thuật có chế độ bán nhật triều với hai lần nước lên xuống mỗi ngày, tạo điều kiện thoát nước liên tục cho khu vực Với khả năng thoát nước tốt và dòng chảy mạnh, sông Vàm Thuật đóng vai trò là nơi tiêu thoát nước của hệ thống, giúp giảm ngập úng và duy trì sự ổn định của lưu vực.
Hệ thống lưu vực Bến Cát – Vàm Thuật và Bến Cát – Tham Lương là thành phần then chốt của mạng lưới thủy lợi khu vực Tuy nhiên, ở một số rạch nhánh, dòng chảy bịt kín bởi lục bình và rác khiến nước ứ đọng, gây ô nhiễm mùi và nguy cơ phát sinh dịch bệnh cho cộng đồng Tình trạng ứ đọng nước làm giảm khả năng thoát nước, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của người dân địa phương, đồng thời đặt áp lực lên môi trường và hệ sinh thái của lưu vực.
Việc đồng thời xả nước mưa và nước thải ra sông khiến hệ thống thoát nước bị quá tải khi mưa lớn, nước tràn ngược vào các con hẻm nhỏ và làm gián đoạn sinh hoạt, gây mất vệ sinh và khó khăn cho người dân trong khu phố.
Dự án Mạng lưới thu gom và xử lý nước thải của hệ thống sông Vàm Thuật – Bến Cát đang ở giai đoạn hoàn thiện; giai đoạn 1 thực hiện giải phóng mặt bằng và lắp đặt các đường ống thoát nước cấp 3,4 để thu gom nước mưa và nước thải sinh hoạt Giai đoạn 2 của Dự án tiêu thoát nước và cải thiện vệ sinh môi trường cho hệ thống Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật – rạch Nước Lên triển khai với các gói thầu số 05 và số 07: Xây dựng nhà máy xử lý nước thải khu vực Tây Sài Gòn và xây dựng hệ thống thu gom nước mưa, nước thải và trạm bơm lưu vực Tây Sài Gòn Dự án dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2015; khi đưa vào vận hành, sẽ phần nào giải quyết triệt để các nguồn nước thải gây ô nhiễm sông.
2.1.2 Hiện trạng hệ thống thoát nước thải và miệng thải ra hệ thống kênh TL – BC – NL a) Rạch Bến Cát
Mạng lưới thu gom nước mưa
Nước mưa được xem là nguồn nước tưới tiêu hiệu quả, đặc biệt tại lưu vực rạch Bến Cát Nước mưa từ lưu vực này được thu gom bằng hệ thống mương dẫn nước và đưa vào ruộng lúa cũng như các ruộng rau nhút và rau muống Quá trình thu gom và phân phối nước mưa cung cấp nước cho ao hồ và các ruộng, đảm bảo tưới tiêu liên tục cho vụ mùa Việc tận dụng nước mưa không chỉ giúp giảm chi phí tưới mà còn tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp tại địa phương.
Về nước mưa chảy tràn trong khu dân cư, nước này được thu gom bằng các cống hộp, sau đó nhập chung với nước thải sinh hoạt trong hệ thống thoát nước và xả trực tiếp ra rạch.
Mạng lưới thu gom và xử lý nước thải
Có tổng cộng 18 cống ven rạch Bến Cát, trong đó 02 cống nằm dọc hai bên đập Đá Hàn và phần còn lại là các cống thoát nước thải Các cống có kích thước 80x80 được đo tại hai đoạn bờ kè quanh đập Đá Hàn Phần còn lại ra kênh là các cống thải dạng tròn, đã cũ và không có miệng cống được bao quanh.
Hiện nay ven rạch Bến Cát đang chịu ô nhiễm từ nguồn thải của hộ dân và từ các vuông ao cá, ruộng khi các chất thải này chưa qua bất kỳ hình thức xử lý nào đã thải trực tiếp ra sông Một số tuyến ống nước thải bằng nhựa có đường kính D = 300–600 mm đã cũ, chưa được nâng cấp và chưa lắp đặt đường ống mới Quá trình khảo sát cho thấy toàn bộ đường dân sinh ven rạch là đường đất, không có nắp cống hộp nổi lên, cho thấy hệ thống thoát nước và quản lý chất thải còn thiếu đồng bộ và dễ gây ô nhiễm khi mưa.
48 hộ dân trong khu dân cư Thới An thì nước thải sinh hoạt được đổ vào các rạch nhánh nhỏ của rạch Bến Cát
Hình 2.3 mô tả nước thải thoát từ cống của khu dân cư có bọt trắng tại Thới An, Q.12 Kênh Chợ Mới – Tham Lương – Cầu Bưng là một hệ thống sông – kênh rạch phức tạp về thu gom và xử lý nước thải cũng như quản lý chất lượng nước mặt Do đây là khu vực có mật độ dân cư cao và đa dạng về loại hình công trình, cùng với nhiều hoạt động sản xuất, nguồn nước thải chính đổ vào kênh này từ nhiều nguồn khác nhau.
Trong quá trình khảo sát hệ thống cống, nhóm nhận thấy nước thải sinh hoạt từ đường ống cũ có đường kính khoảng 300–500 mm sẽ được đấu nối vào đường ống mới có đường kính trên 600 mm, sau khi miệng cống đã được xây dựng xong Hiện tại, một số tuyến dọc theo đường Phan Huy Ích đang được thi công, kết hợp giữa trải nhựa đường và đặt đường ống để hoàn thiện hệ thống thoát nước.
Hiện nay, hai đường ống cống cũ đã bị vỡ trong quá trình nạo vét lòng sông, khiến nước thải sinh hoạt chảy tràn ra đất trước khi thấm vào đất hoặc đổ ra sông, tạo nên các vũng nước thải lớn Những vũng nước thải này gây mùi khó chịu và trở thành điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh của ruồi, muỗi và các dịch bệnh.
Kênh Tham Lương – rạch Cầu Bưng
ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC TẠI HỆ THỐNG KÊNH RẠCH TL – BC – VT – NL
2.2.1 Kết quả phân tích chất lượng nước tại hệ thống sông/kênh rạch khảo sát Để thuận tiện cho việc xem xét xu hướng biến đổi của chất lượng nước Tác giả xin gộp chung mẫu phân tích chất lượng nước mặt và nước thải sông Bến Cát vào kết quả phân tích hệ thống sông Vàm Thuật – Bến Cát
Chất lượng nước mặt thuộc lưu vực Vàm Thuật – Bến Cát
53 Đối chiếu so sánh với Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08 – 2008 cột B
• Độ Oxy hòa tan (DO)
Trong lưu vực Vàm Thuật – Bến Cát, kết quả đo chất lượng nước cho thông số oxy hòa tan cho thấy mọi mẫu đều không đạt chuẩn và nồng độ oxy hòa tan thấp hơn quy chuẩn cho phép từ 0,64 đến 0,83 lần, được thể hiện rõ trong Hình 2.8.
Hình 2.8 Diễn biến DO trên lưu vực Vàm Thuật – Bến Cát
• Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD 5 )
Diễn biến nồng độ BOD 5 trên lưu vực Vàm Thuật – Bến Cát dao động từ 8 mg/l ÷
Ở mức 25 mg/l, so với quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT cột B (15 mg/l), mẫu VT – NMC3 lấy tại cầu Bến Phân và 02 mẫu lấy tại rạch Bến Cát vượt chuẩn với mức lần lượt 1,2 và 1,67 lần Các mẫu còn lại có nồng độ thấp hơn chuẩn khoảng 0,53 ÷ 0,67 lần, được thể hiện tại Hình 2.9.
Hình 2.9: Diễn biến nồng độ BOD 5 trên lưu vực Vàm Thuật – Bến Cát
• Nhu cầu oxy hóa học (COD)
Diễn biến COD trên lưu vực Vàm Thuật – Bến Cát dao động từ 19 ÷ 55 mg/l; so với quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT cột B (30 mg/l), chỉ có mẫu VT–NMC3 lấy tại cầu Bến Phân vượt chuẩn 1,83 lần và 02 mẫu lấy tại rạch Bến Cát vượt lần lượt 1,33 và 1,37 lần, còn lại có COD thấp hơn tiêu chuẩn khoảng 0,63 ÷ 0,8 lần, được thể hiện tại Hình 2.10.
Hình 2.10: Diễn biến nồng độ COD trên lưu vực Vàm Thuật – Bến Cát
• Thông số tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
Nồng độ tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trong các mẫu nước mặt thuộc lưu vực Vàm Thuật – Bến Cát cho thấy sự chênh lệch nhiều, dao động từ 29 đến 56 mg/l Chỉ có 03 mẫu nước mặt lấy tại sông Vàm Thuật và BC – NMC3 đạt yêu cầu và có TSS thấp hơn ngưỡng QCVN 08:2008/BTNMT cột B (50 mg/l), được thể hiện trên Hình 2.11.
Hình 2.11: Diễn biến nồng độ tổng chất rắn lơ lửng trên lưu vực Vàm Thuật – Bến Cát
• Thông số Nito Amoni (N- NH4 +)
Nồng độ Nitơ amoni trong các mẫu nước mặt từ lưu vực Vàm Thuật – Bến Cát dao động 1,31–3,92 mg/L Trong đó, một mẫu VT-NMC1 không phát hiện được (