Giới thiệu PLC: PLC viết tắt của Programmable Logic Controller, là thiết bị điều khiển lập trình được khả trình cho phép thực hiện linh hoạt các thuật toán điều khiển logic thông qua mộ
Các thiết bị chính: 2
Hệ tự động định lượng và điều khiển 4
Giới thiệu chung: 4
Trạm trộn Bê tông 60 m3/giờ dùng để làm đều hỗn hợp phối liệu trong các dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng bằng phương pháp trộn trên máy trộn ngang 2 trục, để sản xuất bê tông tươi, phục vụ trong nhu cầu xây dựng dân dụng và công nghiệp
Trạm có hệ thống cân đong tự động được điều khiển bằng máy vi tính để tạo ra sản phẩm bê tông với các chủng loại khác nhau
TT TÊN THIẾT BỊ ĐVT GIÁ
09 MÁY NÉN KHÍ, ÁP SUẤT Kg/cm2 8 01
10 HỆ THỐNG CÂN TỰ ĐỘNG Bộ 1 01
11 MÁY TÍNH ĐIỀU KHIỂN Bộ 1 01
II HỆ TỰ ĐỘNG ĐỊNH LƯỢNG VÀ ĐIỀU KHIỂN
Hệ thống định lượng và điều khiển trong trạm trộn bê tông được điều khiển hoàn toàn tự động
Tất cả các quá trình điều khiển và quản lý số liệu được thực hiện bằng máy vi tính
Toàn bộ hệ thống bao gồm 3 hệ thống cân:
Hệ thứ nhất: Cân cộng dồn 3 thành phần hỗn hợp gồm : Cát, đá 1, đá 2
Hệ thứ hai: Cân cộng dồn phụ gia và nước
Hệ thứ ba: Cân xi măng
Toàn bộ hệ thống là một hệ thống cân động hiện đại, có mức độ tự động cao, ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến với các thiết bị
Các đầu cân điện tử chính xác được sản xuất ở các nước G7
Các bộ khuếch đại và hiển thị chính xác của hãng Siemens, Cộng hoà Liên bang Đức
Các tín hiệu cân được số hóa
Các bộ lập trình PLC của hãng Siemens
Thiết bị dễ sử dụng, làm việc ổn định và phù hợp với điều kiện khí hậu nước ta.
Các thông số kỹ thuật: 4
Các thành phần cân định lượng: 5
Trọng lượng tối đa của cân hỗn hợp: 3.000kg (Cân cộng dồn cát, đá 1 và đá 2)
Trọng lượng tối đa của cân xi măng: 700kg
Trọng lượng tối đa của cân nước và phụ gia: 350kg Điều khiển định lượng bằng máy tính
Cho phép đặt trước nhiều loại Bê tông, có thể thay đổi định mức tùy ý
Khi đủ số mẻ trộn, máy tính tự động in hóa đơn xuất hàng và lập chu trình cho xe lấy bê tông tiếp theo
Có khả năng lưu trữ để xem và in khối lượng các thành phần của từng mẻ trộn trong ngày
Tự động điều khiển xe skip và thùng trộn
Có chế độ làm việc bằng tay cho cả hệ
Hiện số trọng lượng thực của 3 cân điện tử trên bàn điều khiển ở cả chế độ tự động và bằng tay
Có hệ thống bảo vệ cho các thiết bị chấp hành khi vượt quá dòng tải cho phép hoặc khi mật một pha điện
Nhiệt độ làm việc cho phép: 0 0 C đến 40 0 C Độ ẩm tối đa cho phép: 85%
3.Tóm tắt nguyên lý hoạt động:
Thiết bị gồm 3 phần chính: phần định lượng, phần điều khiển xe Skip và phần điều khiển thùng trộn Điều khiển toàn bộ hệ thống bằng máy vi tính thông dụng kết hợp với bộ điều khiển PLC tạo thành thiết bị điều khiển quá trình công nghệ trong thời gian thực theo một chương trình đặt trước Ngoài ra máy tính cũng cho phép ta lưu trữ và xử lý số liệu khi cần thiết
Khối này gồm 3 cân điện tử chính xác và hệ thống chấp hành như: các van điện từ khí nén, vít tải, bơm nước, bơm phụ gia để điều khiển việc cân tự động theo các khối lượng định mức đặt trước Ngoài ra khối này còn có nhiệm vụ tự động bù sai số cân bằng cách ghi lại sai số của mẻ trước để quyết định điều khiển cân ở mẻ sau sao cho sai số là nhỏ nhất
3.2 Phần điều khiển xe Skip:
Trong chế độ tự động, khối này nhận các tín hiệu điều khiển từ khối định lượng và các thông tin về trạng thái thùng trộn để từ đó ra các quyết định đúng cho xe Skip, bao gồm các chuyển động: lên, xuống, dừng, đổ liệu cho phù hợp với chương trình điều khiển chung
3.3 Phần điều khiển thùng trộn:
Khối này có nhiệm vụ tự động tính thời gian trộn khi các vật liệu được đổ vào thùng, tự động xả bêtông khi trộn xong Nó cung cấp cho khối điều khiển xe Skip các thông tin quan trọng sau: Thông tin về tình trạng của thùng, thông tin báo thùng trộn đang quay.
Tóm tắt nguyên lý họat động: 5
Bê tông là loại vật liệu đá nhân tạo nhận đuợc bằng cách đổ khuôn và làm rắn chắc một hỗn hợp của chất kết dính (xi măng), cốt liệu (cát, sỏi hay đá dăm) và phụ gia Hỗn hợp nguyên liệu mới đuợc nhào trộn xong gọi là hỗn hợp bê tông
Một hỗn hợp bê tông xi măng chiếm 8% - 15%, cốt liệu chiếm 80% - 85% Ngoài ra còn có thêm vào phụ gia để thỏa mãn yêu cầu đặt ra Có nhiều loại bê tông tùy thuộc vào thành phần cát, đá, xi măng, nuớc Mỗi thành phần cát, đá, xi măng khác nhau sẽ tạo thành nhiều loại Mác bê tông khác nhau
Trong lĩnh vực xây dựng, bê tông là một nguyên vật liệu vô cùng quan trọng, chất lượng của bê tông có thể đánh giá đuợc chất lượng của toàn bộ công trình Do đó, việc xác định chính xác khối lượng từng nguyên vật liệu có trong thành phần bê tông cũng chính là việc xác định chất luợng của nó Vì vậy, nhiệm vụ cân trộn bê tông được đề ra Trong luận văn này chỉ mô tả một hệ thống cân cát, đá, xi măng hoàn toàn tự động theo Mác đã được định sẵn Nhiệm vụ chủ yếu là khối lượng nguyên liệu cân cần phải chính xác với khối lượng đặt, cảm biến được sử dụng xác định trọng lượng là loadcell
Những công trình xây dựng khác nhau cần có những loại bê tông khác nhau để thích ứng với môi trường xung quanh Ví dụ như bê tông dùng để xây dựng nhà cao tầng thì yêu cầu chất lượng cao, khả năng chịu nén tốt Bê tông dùng để đúc các trụ cầu cần phải có chất phụ gia chóng đông và phải có độ bền cao trong môi trường nước Loại bê tông được xác định dựa vào tỉ lệ pha trộn các thành phần
- Xác định loại xi măng
- Xác định thành phần cát, đá
- Xác định tỉ lệ nước
Vì vậy, để điều khiển một hệ thống trộn thực tế cầ phải kết hợp nhiều vấn đề từ cơ khí, kỹ thuật xây dựng đến điều khiển.
Khái niệm chung về Bê tông 7
Bê tông là loại vật liệu đá nhân tạo nhận đuợc bằng cách đổ khuôn và làm rắn chắc một hỗn hợp của chất kết dính (xi măng), cốt liệu (cát, sỏi hay đá dăm) và phụ gia Hỗn hợp nguyên liệu mới đuợc nhào trộn xong gọi là hỗn hợp bê tông
Một hỗn hợp bê tông xi măng chiếm 8% - 15%, cốt liệu chiếm 80% - 85% Ngoài ra còn có thêm vào phụ gia để thỏa mãn yêu cầu đặt ra Có nhiều loại bê tông tùy thuộc vào thành phần cát, đá, xi măng, nuớc Mỗi thành phần cát, đá, xi măng khác nhau sẽ tạo thành nhiều loại Mác bê tông khác nhau
Trong lĩnh vực xây dựng, bê tông là một nguyên vật liệu vô cùng quan trọng, chất lượng của bê tông có thể đánh giá đuợc chất lượng của toàn bộ công trình Do đó, việc xác định chính xác khối lượng từng nguyên vật liệu có trong thành phần bê tông cũng chính là việc xác định chất luợng của nó Vì vậy, nhiệm vụ cân trộn bê tông được đề ra Trong luận văn này chỉ mô tả một hệ thống cân cát, đá, xi măng hoàn toàn tự động theo Mác đã được định sẵn Nhiệm vụ chủ yếu là khối lượng nguyên liệu cân cần phải chính xác với khối lượng đặt, cảm biến được sử dụng xác định trọng lượng là loadcell
Những công trình xây dựng khác nhau cần có những loại bê tông khác nhau để thích ứng với môi trường xung quanh Ví dụ như bê tông dùng để xây dựng nhà cao tầng thì yêu cầu chất lượng cao, khả năng chịu nén tốt Bê tông dùng để đúc các trụ cầu cần phải có chất phụ gia chóng đông và phải có độ bền cao trong môi trường nước Loại bê tông được xác định dựa vào tỉ lệ pha trộn các thành phần
- Xác định loại xi măng
- Xác định thành phần cát, đá
- Xác định tỉ lệ nước
Vì vậy, để điều khiển một hệ thống trộn thực tế cầ phải kết hợp nhiều vấn đề từ cơ khí, kỹ thuật xây dựng đến điều khiển
Vấn đề được đặt ra ở đây là cũng có nhiều cách thiết kế mô hình sản xuất phù hợp với yêu cầu sản xuất như: cường độ và tính chất yêu cầu khác nhau của bê tông và hỗn hợp của bê tông, đặc tính của nguyên vật liệu sử dụng, đặc điểm và điều kiện làm việc của kết cấu
Một số mô hình trạm trộn bê tông thưc tế:
Trạm trộn bê tông ướt:
Trạm trộn bê tông khô:
Trạm trộn bê tông di động và bán di động :
Các thành phần cấu tạo bê tông:
- Xi măng: là hợp chất kết dính vô cơ rắn trong nước, là loại bột mịn Tùy vào lượng các thành phần hóa học mà qui định xi măng thành các loại Mác khác nhau Việc chọn Mác bê tông được thực hiện theo đặc tính yêu cầu của nghành xây dựng
- Đá dăm: có nhiều loại được qui định bằng kích cỡ đá 10x20, 20x30,… (mm) Tùy thuộc vào loại Mác bê tông và yêu cầu của sản phẩm mà chọn loại đá cho phù hợp Trong thành phần bê tông đá dăm chiếm khoảng 52%
- Cát: trong việc chế tạo bê tông có thể dùng cát thiên nhiên hay cát nhân tạo Kích thước hạt cát từ 0.4 – 5 mm Chất lượng cát phụ thuộc vào thành phần khoáng, thành phần tạp chất, thành phần hạt,… Trong thành phần của bê tông cát chiếm khoảng 29%
- Phụ gia: thường có 2 loại: loại rắn nhanh và loại hoạt động bề mặt Phụ gia rắn nhanh thường là các loại muối gốc Clo hoặc là các loại hỗn hợp của chúng Do làm tăng nhanh quá trình thủy hóa mà phụ gia rắn nhanh có khả năng rút ngắn quá trình rắn chắc của bê tông trong điều kiện tự nhiên và ở tuổi 28 ngày Phụ gia hoạt động bề mặt mặc dù sử dụng một lượng nhỏ nhưng có khả năng cải thiện đáng kể tính chất của hỗn hợp bê tông và tăng cường nhiều tính chất khác nhau của bê tông
Hiện nay, trong công nghệ bê tông người ta còn sử dụng phụ gia đa chức năng – hỗn hợp của phụ gia rắn nhanh và phụ gia hoạt động
- Nước: để chế tạo bê tông phải có đủ phẩm chất để không ảnh hưởng xấu đến thời gian liên kết và rắn chắc của xi măng và không gây ăn mòn cốt thép Chất lượng của nước được đánh giá bằng phân tích hóa học Ngoài ra, về mặt định tính cũng có thể đánh giá bằng so sánh cường độ của bê tông chế tạo bằng nước uống được và nước nghi ngờ
Hỗn hợp bê tông được chuẩn bị tại các trạm trộn Quá trình thi công bao gồm các khâu: cân đo, nhào trộn, vận chuyển Để tạo ra một sản phẩm bê tông thì nhà sản xuất phải biết được nhu cầu thiết kế thành phần của nó
Thiết kế thành phần bê tông là lựa chọn tỉ lệ hợp lý các nguyên vật liệu thành phần ( nước, xi măng, cát, đá ) cho 1m 3 bê tông sao cho đảm bảo các nhu cầu kỹ thuật và kinh tế Sai số cho phép khi cân đong: đối với xi măng ±1%, đối với cốt liệu ±2% Khi cân phải chú ý đến độ ẩm của cốt liệu để điều chỉnh cho chính xác
THÙNG CHỨA NHIÊN LIỆU & CÂN
BỒN TRỘN NHIÊN LIỆU & XẢ
Mô hình thiết kế trạm trộn bêtông.
TÌM HIỂU VỀ PLC – SEMENS 12
Giới thiệu bộ PLC S7 – 200 CPU 224 18
1 Cấu trúc phần cứng của S7-200 CPU 224:
S7-200 là thiết bị điều khiển logic khả trình loại nhỏ của Hãng SIMENS (CHLB Đức) có cấu trúc theo kiểu Modul và có các modul mở rộng Các modul này được sử dụng cho nhiều ứng dụng lập trình khác nhau Thành phần cơ bản của S7-200 là khối vi xử lý CPU 224
Mã số: 6ES7 214-1AD22-0XB0 (CPU 224 DC/DC/DC): 24VDC
6ES7 214-1BD22-0XB0 (CPU 224 AC/DC/Relay): 85-270VAC Ngõ vào/ ra số: 14AO/10DO
Ngõ vào/ ra tương tự: không
Các đèn báo trên S7-200 CPU 224:
- SF ( đèn đỏ ): Báo hiệu hệ thống bị hỏng
- RUN ( đèn xanh ): Chỉ định PLC đang ở chế độ làm việc và thực hiện chương trình được nạp vào trong máy
- STOP ( đèn vàng ): Chỉ địng PLC đang ở chế độ dừng chương trình và đang thực hiện lại
- Ix.x ( đèn xanh ): Báo hiệu trạng thái tức thời của cổng Ix.x Đèn này báo hiệu trạng thái của tín hiệu theo giá trị Logic của công tắc
- Qx.x ( đèn xanh ): Báo hiệu trạng thái tức thời của cổng Qx.x Đèn này báo hiệu trạng thái của tín hiệu theo giá trị logic của cổng
Chế độ làm việc: PLC có 3 chế độ làm việc;
- RUN: cho phép PLC thực hiện chương trình từng bộ nhớ, PLC sẽ chuyển từ RUN sang STOP nếu trong máy có sự cố hoặc trong chương trình gặp lệnh STOP
- STOP: Cưỡng bức PLC dừng chương trình đang chạy và chuyển sang chế độ STOP
- TERM: Cho phép máy lập trình tự quyết định chế độ hoạt động cho PLC hoặc RUN hoặc STOP Để ghép nối S7-200 với máy lập trình PG702 hoặc các loại máy lập trình thuộc họ PG7xx có thể dùng một cáp nối thẳng MPI Cáp đó đi kèm với máy lập trình
Ghép nối S7-200 với máy tính PC qua cổng RS232 cần có cáp nối PC / PPI với bộ chuyển đổi RS232 / RS485
Chân Giải thích ããã ãããã
24 VDC Truyền và nhận dữ liệu Không sử dụng Đất
24 VDC (120 mA tối đa) Truyền và nhận dữ liệu Không sử dụng
2 Ngôn ngữ lập trình cơ bản của S7-200 CPU 224 a Phương pháp lập trình:
S7-200 biểu diễn một mạch logic cứng bằng một dãy các lệnh lập trình Chương trình bao gồm một dãy các tập lệnh S7-200 thực hiện chương trình bắt đầu từ lệnh lập trình đầu tiên và kết thúc ở lập trình cuối trong một vòng quét (scan)
Một vòng quét (scan cyele) được bắt đầu bằng một việc đọc trạng thái của đầu vào, và sau đó thực hiện chương trình Vòng quét kết thúc bằng việc thay đổi trạng thái đầu ra Trước khi bắt đầu một vòng quét tiếp theo S7-200 thực thi các nhiệm vụ bên trong và nhiệm vụ truyền thông Chu trình thực hiện chương trình là chu trình lặp
Cách lập trình cho S7-200 nói riêng và cho các PLC nói chung dựa trên hai phương pháp cơ bản Phương pháp hình thang (Ladder, viết tắt là LAD) và phương pháp liệt kê lệnh (Statement list, viết tắt là STL)
Nếu có một chương trình viết dưới dạng LAD, thiết bị lập trình sẽ tự dộng tạo ra một chương trình theo dạng STL tương ứng Ngược lại không phải mọi chương trình viết dưới dạng STL đều có thể chuyển sang được dạng LAD
- Phương pháp hình thang (LAD): LAD là một ngôn ngữ lập trình bằng đồ họa, những thành phần cơ bản dùng trong LAD tương ứng với các thành phần của bảng điều khiển bằng rơ le Trong chương trình LAD, các phần tử cơ bản dùng để biểu diễn lệnh logic như sau:
- Tiếp điểm: Là biểu tượng (Symbol) mô tả các tiếp điểm của rơ le
- Cuộn dây (coil): Là biểu tượng mô tả rơ le được mắc theo chiều dòng điện cung cấp cho rơ le
- Hộp (Box): Là biểu tượng mô tả các hàm khác nhau, nó làm việc khi có dòng điện chạy đến hộp Những dạng hàm thường được biểu diễn bằng hộp là các bộ thời gian (Timer), bộ đếm (counter) và các hàm toán học Cuộn dây và các hộp phải mắc đúng chiều dòng điện
Mạng LAD: Là đường nối các phần tử thành một mạch hoàn thiện, đi từ đường nguồn bên trái sang đường nguồn bên phải Đường nguồn bên trái là dây pha, đường nguồn bên phải là dây trung hòa và cũng là đường trở về nguồn cung cấp (thường không được thể hiện khi dùng chương trình tiện dụng STEPT MICRO / DOS hoặc STEPT – MICRO/WIN Dòng điện chạy từ trái qua tiếp điểm đến đóng các cuộn dây hoặc các hộp trở về bên phải nguồn
Phương pháp liệt kê lệnh (STL): Là phương pháp thể hiện chương trình dưới dạng tập hợp các câu lệnh Mỗi câu lệnh trong chương trình, kể cả những lệnh hình thức biểu diễn một chức năng của PLC b Một số lệnh cơ bản dùng trong lập trình:
Các lệnh số học: a Lệnh cộng (ADD):
Là lệnh thực hiện phép cộng các số nguyên 16-bít IN1 và IN2
Trong LAD kết quả là một số nguyên 16-bít được ghi vào OUT, tức là: IN1 + IN2 = OUT
Còn trong STL, kết quả cũng là một giá trị 16-bít nhưng được ghi vào IN2, tức là IN1 + IN2 = IN2
Là lệnh thực hiện phép cộng các số nguyên 32-bít IN1 và IN2
Trong LAD, kết quả là một số nguyên 32-bít được ghi vào OUT, tức là: IN1 + IN2 = OUT
Còn trong STL, kết quả cũng là một giá trị 32-bít nhưng được ghi vào IN2, tức là IN1 + IN2 = IN2
Là lệnh thực hiện phép cộng các số thực 32-bít IN1 và IN2
Trong LAD, kết quả là một số thực 32-bít được ghi vào OUT, tức là: IN1 + IN2 = OUT
Còn trong STL, kết quả cũng là một giá trị thực 32-bít nhưng được ghi vào IN2, tức là IN1 + IN2 = IN2 b Lệnh trừ (SUB):
Là lệnh thực hiện phép trừ các số nguyên 16-bít IN1 và IN2
Trong LAD kết quả là một số nguyên 16-bít và được ghi vào OUT, tức là: IN1 - IN2 = OUT
Còn trong STL, kết quả là một giá trị 16-bít nhưng được ghi lại vào IN2, tức là IN1- IN2 = IN2
Là lệnh thực hiện phép trừ các số nguyên 32-bít IN1 và IN2
Trong LAD kết quả là một số nguyên 32-bít được ghi vào IN2, tức là: IN1 - IN2 = IN2
Còn trong STL, kết quả là một giá trị 32-bít nhưng được ghi lại vào IN2, tức là IN1- IN2 = IN2
Là lệnh thực hiện phép trừ các số thực 32-bít IN1 và IN2
Trong LAD kết quả là một số thực 32-bít được ghi vào OUT, tức là: IN1 - IN2 = OUT
Trong STL, kết quả là một giá trị 32-bít nhưng được ghi lại vào IN2, tức là IN1- IN2 = IN2
Cú pháp dùng lệnh cộng và trừ trong LAD và STL như sau:
- R IN1 IN2 c Lệnh nhân (MUL):
Trong LAD: Lệnh thực hiện phép nhân 2 số nguyên 16-bít IN1 và IN2 và cho ra kết quả 32-bít chứa trong từ kép OUT (4 byte)
Trong STL: Lệnh thực hiện phép nhân giữa 2 số nguyên 16-bít n1 và số nguyên chứa trong từ thấp (từ 0 đến bít 15) của toán hạng 32-bít n2 (4 byte) Kết quả 32-bít được ghi vào n2
Trong LAD: lệnh thực hiện phép nhân hai số thực 32-bít IN1 và IN2 và cho ra kết quả 32-bít chứa trong từ kép OUT (4 byte)
Trong STL: Lệnh thực hiện phép nhân giữa số thực 32-bít được ghi vào IN2
Cú pháp dùng lệnh trong LAD và STL như sau:
*R IN 1 IN2 d Lệnh chia (DIV):
Trong LAD: Lệnh thực hiện phép chia số nguyên 16-bít IN1 cho số nguyên 16-bít IN2 Kết quả 32-bít chứa trong từ kép OUT gồm thương số ghi trong mảng 16-bít từ bít 0 đến bít15 (từ thấp) và phần dư cũng 16-bít ghi trong mảng từ bít-16 đến bít-31 (từ cao)
Trong STL: Lệnh thực hiện phép chia số nguyên 16-bít n1 cho số nguyên, số nguyên 16-bít nằm trong từ thấp từ bít 0 đến bít 15 của toán hạng 32- bít n2 Kết quả 32-bít được ghi lại vào n2 bao gồm thương số ghi trong mảng 16- bít từ bít 0 đến bít 15 (từ thấp) và phần dư ghi trong mảng 16-bít từ bít-16 đến bít-31 (từ cao)
Trong LAD: lệnh thực hiện phép chia số thực 32-bít IN1 cho số thực 32- bít IN2 và cho ra kết quả 32-bít chứa trong từ kép OUT
Trong STL, lệnh thực hiện phép chia số thực 32-bít IN1 cho số thực 32- bít IN2, kết quả 32-bít được ghi lại vào IN2
Cú pháp dùng lệnh chia hai số trong LAD và STL như sau:
Các lệnh dịch chuyển nội dung ô nhớ:
Các lệnh dịch chuyển nội dung ô nhớ thực hiện việc di chuyển hoặc sao chép số liệu từ vùng này sang vùng khác trong bộ nhớ
Trong LAD hay trong STL lệnh dịch chuyển thực hiện việc di chuyển hay sao chép nội dung của một byte, một từ đơn, một từ kép hoặc một giá trị thực từ vùng này sang vùng khác trong bộ nhớ a Lệnh MOV_B:
Là lệnh sao chép nội dung của byte IN sang byte OUT
Cú pháp dùng lệnh MOV_B trong LAD hay MOVB trong STL như sau:
Là lệnh sao chép nội dung của từ đơn IN sang từ đơn OUT
Cú pháp dùng lệnh MOVW trong STL hay MOV_W trong LAD như sau:
Là lệnh sao chép nội dung của từ kép IN sang từ kép OUT
Cú pháp dùng lệnh MOVD trong STL hay MOV_DW trong LAD như sau:
Là lệnh sao chép một số thực từ IN (4 byte) sang OUT (4 byte)
Cú pháp dùng lệnh MOV_R trong LAD hay MOVR trong STL:
Giới thiệu về Modul tương tự 235 41
Giá trị đặt trước T-word Giá trị đếm tức thời Đặc tính chung:
- Công suất tiêu thụ: 2 W Đặc điểm ngõ ra:
- Tầm điện áp ngõ ra: ± 10V, dòng 0 – 20 mA
- Độ phân giải (toàn tầm): áp: 12bit, dòng: 11bit
- Dạng dữ liệu: 0 – 32000, lưỡng tầm: -32000 - 32000
- Độ chính xác: trong trường hợp lý tưởng: 0.5% giá trị toàn tầm (ở
25 0 C) Trường hợp xấu nhất sai số 2% giá trị toàn tầm
0 Giá trị dữ liệu 11 bit 0 0 0 0
Dữ liệu lưỡng tầm Đặc điểm ngõ vào:
- Lọc ngõ vào: -3dB/3.1KHz
- Ngõ vào tối đa: áp: 30V, dòng: 32mA
- Độ phân giải: ADC 12bit
I TỔNG QUÁT VỀ HỆ THỐNG CÂN:
PHA TU CHAP HANH BAN CAN
BO DIEU KHIEN DAU CAN
Hệ thống cho phép cài đặt thông số khối lượng cần cân cho bộ điều khiển Phần tử chấp hành thông thường là các van xả (cân định lượng)
Cảm biến loadcell là lọai cảm biến ứng lực có ngõ ra điện áp tuyến tính với khối lượng của vật tác động lên
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
II GIỚI THIỆU VỀ LOADCELL PT2000 – 20KG:
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Có nhiều loại Loadcell khác nhau nên cách kết nối vào hệ thống cũng khác nhau
Thông số kỹ thuật của từng loại Loadcell được cho trong catalogue của mỗi loại Loadcell và thường có các thông số như: tải trọng danh định, điện áp danh định (giá trị này có thể là từ 2mV/V đến 3mV/V hoặc hơn tùy loại Loadcell), tầm nhiệt độ hoạt động, điện áp cung cấp, điện trở ngõ ra, mức độ chịu được nhiệt độ quá tải…
Với giá trị điện áp danh định là 2mV/V và với nguồn cung cấp là 10V thì điện áp ngõ ra là 20mV ứng với tải trọng tối đa
Kích thước và cấu tạo của loadcell
Cách bố trí và nối dây nhiều loadcell lại cho hệ thống nhiều loadcell lại với nhau:
Do sử dụng nhiều loadcell trong hệ thống cân nên cần phải cộng các tín hiệu ra trước khi đưa về đầu cân để xử lý Vì mỗi loadcell có một độ nhạy khác nhau cho dù dùng cùng loại, nên có hai biến trở điều chỉnh để các loadcell cùng ra một sai lệch điện áp đối với một tải trọng Các biến trở này được mắc vào nguồn cung cấp cho loadcell vì thay đổi áp nguồn cung cấp sẽ làm thay đổi tín hiệu ra
Những loadcell này dựa trên nguyên lý cầu điện trở cân bằng Wheatstone Giá trị lực tác dụng tỉ lệ với sự thay đổi điện trở cảm ứng trong cầu điện trở, và do đó trả về tín hiệu điện áp tỉ lệ Ưu điểm chính của công nghệ này là xuất phát từ yêu cầu thực tế, với những tham số xác định trước, sẽ có các sản phẩm thiết kế phù hợp cho từng ứng dụng của người dùng Ở đó các phần tử cảm ứng có kích thước và hình dạng khác nhau phù hợp với yêu cầu của ứng dụng Các dạng phổ biến: dạng kéo (shear), dạng uốn (bending), dạng nén (compression)…
Một số hình dạng Loadcell phổ biến khác:
Một hệ thống cân dùng loadcell tương tự điển hình thông thường bao gồm một hoặc một vài loadcell nối song song với nhau qua một hộp nối (Junction Box) như hình vẽ
Hộp nối nhiều loadcell (Junciton Box)
Tuy nhiên, khó khăn gặp phải ngay từ buổi đầu của các hệ thống này là tín hiệu điện áp đầu ra của loadcell rất nhỏ (thường không quá 30mV) Những tín hiệu nhỏ như vậy dễ dàng bị ảnh hưởng của nhiều loại nhiễu trong công nghiệp như:
Nhiễu điện từ: sinh ra bởi quá trình truyền phát các tín hiệu điện trong môi trường xung quanh, truyền phát tín hiệu vô tuyến điện trong không gian hoặc do quá trình đóng cắt của các thiết bị chuyển mạch công suất lớn…
Sự thay đổi điện trở dây cáp dẫn tín hiệu: do thay đổi thất thường của nhiệt độ môi trường tác động lên dây cáp truyền dẫn…
Do đó, để hệ thống chính xác thì càng rút ngắn khoảng cách giữa loadcell với thiết bị đo lường càng tốt Cách giải quyết thông thường vẫn dùng là giảm thiểu dung sai đầu ra của loadcell Tuy nhiên, giới hạn của công nghệ không cho phép vượt quá con số mong muốn quá nhỏ Trong khi nối song song nhiều loadcell với nhau, mỗi loadcell tải với một đầu ra độc lập với các loadcell khác trong hệ thống, do đó để đảm bảo giá trị đọc nhất quán, ổn định và không phụ thuộc vào vị trí, hệ thống yêu cầu chỉnh định đầu ra với từng loadcell riêng biệt Công việc này đòi hỏi tốn kém về thời gian, đặc biệt với những hệ thống yêu cầu độ chính xác cao hoặc trong các ứng dụng khó tạo tải kiểm tra như: cân tank, cân xilô…
Tín hiệu ra chung của một hệ nhiều loadcell dựa trên cơ sở đầu các tín hiệu ra trung bình của từng loadcell Điều đó gây nên dễ xảy ra hiện tượng có loadcell bị lỗi mà không được nhận biết Một khi đã nhận ra thì cũng khó khăn trong việc xác định loadcell nào lỗi, hoặc khó khăn trong yêu cầu sử dụng tải kiểm tra, hay yêu cầu sử dụng các thiết bị đo lường như đồng hồ volt-ampe với độ chính xác cao, đặc biệt trong điều kiện nhà máy đang hoạt động liên tục
Thực tế còn rất nhiều yếu tố khác liên quan đến độ chính xác của hệ thống cân như:
- Quá trình chỉnh định hệ thống
- Do tác dụng chuyển hướng lực trong các cơ cầu hình ống
- Quá trình phân tích dò tìm lỗi
- Thay thế các thành phần trong hệ thống cân hoặc các hệ thống liên quan
- Đi dây cáp tín hiệu dài
- Môi trường hoạt động quá kín…
Không thể tính toán được trước các yếu tố ảnh hưởng này để có thể mô hình hóa trong quá trình phân tích và thiết kế Trong khi đó điều kiện làm việc ở mỗi nơi rất khác nhau, thiết bị đo ở các xa cảm biến, tín hiệu truyền dẫn yếu dễ bị tiêu hao và nhiều loại nhiễu tác động, đặc biệt với môi trường làm việc khắc nghiệt trong nhà máy và xí nghiệp Tín hiệu đưa về đến thiết bị đo lường khó phản ảnh trung thực giá trị thực tế
Trong khi đó, các bộ hiển thị hiện nay thường dùng hệ vi xử lý tốc độ thấp, năng lực tính toán không cao, ít thiết bị tích hợp các thuật toán xử lý chỉnh định các số liệu thu thập về, hoặc nếu có còn ở mức độ đơn giản Do các bộ hiển thị sử dụng với nhiều loại loadcell khác nhau nên các thuật toán chỉnh định chỉ mang tính tương đối, không triệt để, đặc biệt là chưa có thiết bị nào tích hợp tính năng bù sai lệch do nhiệt độ Chức năng lọc nhiễu điện từ trường cho tín hiệu đo của các thiết bị này còn rất kém Một yếu điểm nữa là tần số lấy mẫu thấp, do đó không thể áp dụng trong các ứng dụng mà lực tác dụng biến đổi nhanh (cân động) như các hệ thống cân bằng liên tục,…
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1970, các nhà chế tạo loadcell đã khám phá khả năng có thể kết hợp giữa công nghệ điện tử hiện đại với các thành phần đo cơ bản, và khái niệm loadcell số ra đời Ban đầu, khi khái niệm loadcell số mới ra đời, nhiều người hiểu lầm là các loadcell số có các phần tử điện tiêu hao thấp có thể được sử dụng để chuyển đổi một loadcell chất lượng thấp lên một loadcell chất lượng cao Thực tế thì ngược lại, mỗi loadcell số đơn giản cũng mang trong nó một cấu trúc khá phức tạp Thứ nhất, phải có một load cell cơ bản với độ chính xác, độ ổn dịnh và khả năng lặp lại rất cao trong mọi điều kiện làm việc Thứ hai, phải có một bộ chuyển đổi tương tự-số (ADC) 16 đến 20 bit tốc độ cao để chuyển đổi tín hiệu điện tương tự sang dạng số Thứ ba, phải có hệ vi mạch xử lý để thực hiện điều khiển toàn bộ quá trình chuyển đổi từ tín hiệu lực đo được thành dữ liệu số thể hiện trung thực nhất và giao tiếp với các thiết bị khác để trao đổi thông tin
Trong mô hình này, bộ hiển thị đóng vai trò là trạm chủ giao tiếp trực tiếp với các loadcell hoặc với Junction Box Ngoài chức năng hiển thị, bộ hiển thị này có thể thực hiện một số chức năng điều khiển khác thông qua các đầu vào ra
Khái quát lại, hệ thống cân dùng loadcell có một số ưu điểm nổi bật sau:
- Tín hiệu ra rất ít bị ảnh hưởng của nhiễu điện từ hoặc thay đổi nhiệt độ thất thường trên đường dây cable dẫn
- Khoảng cách dây cáp dẫn có thể kéo dài đến 1200m
- Dễ dàng thay thế loadcell
- Dữ liệu số có thể xử lý trực tiếp bằng máy tính, PLC hoặc trên bộ hiển thị khi cần
Mỗi load cell là một thiết bị hoạt động độc lập trong hệ thống, do đó:
- Có thể mở rộng cấu trúc dễ dàng
- Có thể thực hiện tối ưu hóa hệ thống dễ dàng qua phân tích từng thành phần tích hợp
Giới thiệu đầu cân K3HB_V 52
Có chỉ thị dạng thanh, hiển thị 5 số
Chức năng đặt thang đo, biến đổi tín hiệu vào thành giá trị hiển thị thích hợp
K3HB có các chức năng sau đây: scaling, chon đầu ra so sánh, đầu ra tuyến tính, đầu ra BCD, đầu ra truyền thông (RS232, RS485, ModBus)
Ngoài ra, bộ K3HB có chức năng về Zero Nghiã là bằng cách bật Zero lên ON, giá trị hiện tại được chỉnh về không mà các thông số cài đặt khác không đổi
Hình dáng mặt sau của đầu cân:
Cổng A1 và A2 được nối tới nguồn 220Vac nhằm cung cấp nguồn hoạt động cho đầu cân
Cổng B5 có điện áp +10Vdc, cổng B6 có điện áp 0Vdc Cả hai cổng này được nối tới 2 ngõ vào EXC + và EXC – của Loadcell nhằm cung cấp nguồn chuẩn cho Loadcell
Cổng E6 đóng vai trò là COM, được nối tới ngõ ra SIG – của Loadcell
Cổng E2 (A), E3(B), E4 (C), E5 (D) đóng vai trò ngõ tín hiệu vào từ, chúng được kết nối tới ngõ ra SIG + của Loadcell Tầm điện áp được cho trong bảng sau:
3 Các nguyên tắc cân chỉnh thông số: a Trong mục Initial setting level L0 : sử dụng để chọn loại đầu vào và cân chỉnh đầu cân
Loại đầu vào được cho phép như bảng trên
: Chọn tần số 50Hz hoặc 60Hz
Input type Range Set value
: Vị trí dấu chấm thập phân
Đặt lại hay kiểm tra lại thông số Trong TN này chọn ngõ vào B tức tầm điện áp 0.000 – 19.999mV
Xem lại màn hình cân hiển thị giá trị bao nhiêu (ta không quan tâm dấu chấm thập phân) thì cài đặt giá trị này vào ( cũng không quan tâm đến dấu chấm thập phân) Sau khi cài đặt xong ta thoát ra màn hình cân Màn hình sẽ hiển thị giá trị 0
Cài đặt bằng 000.00 ( nghĩa là hiển thị có 2 dấu chấm thập phân ) Hoặc chọn số dấu chấm thập phân theo yêu cầu
Đặt khối lượng chuẩn M kg lên cân ( M: thường chọn là khối lượng Max của hệ thống).Nếu khối lượng hiển thị nhỏ hơn M kg thì ta giảm thông số
, còn nếu khối lượng hiển thị lớn hơn M kg thì ta tăng Việc thay đổi chỉ dừng khi màn hình hiển thị đúng M kg
Sau khi cân chỉnh xong , bỏ khối lượng chuẩn M kg xuống và cho kiểm tra lại với các khối lượng trong dải từ 0 tới M kg để kiểm tra tính tuyến tính của giá trị ngõ ra ứng với ngõ vào
Trong trường hợp thông số bị thay đổi thì ta phải cân chỉnh lại cân b Trong mục Linear output level L5 : cài đặt các thông số cho đầu ra tuyến tính
: chọn đầu ra dòng ( 0 - 20mA hay 4 - 20mA ) Trong TN chọn
: chọn đầu ra áp ( 0 - 5V , 1 - 5V hay 0 - 10V)
: mức cao đầu ra tuyến tính Trong TN chọn 5.00 (5Kg)
: mức thấp đầu ra tuyến tính Trong TN chọn 0.00 (0Kg) Điều này có nghĩa là ứng với khối lượng đặt trên bàn cân 5 Kg thì tín hiệu ngõ ra của đầu cân là 20mA c Trong mục Display adjustment level L2: cài đặt hiển thị trên đầu cân
:bật hay tắt hiển thị giá trị so sánh đầu ra số ( ON- OFF)
:chọn thời gian refresh màn hình ( OFF , 0.5s , 1s , 2s , 4s )
:chọn màu hiển thị (xanh- đỏ)
:chọn giá trị hiển thị (PV , Max , Min)
:chọn thời gian tự động trở về màn hình hiển thị ( 0 - 99s)
:chọn kiểu hiển thị cho thanh Bar meter
:giá trị Max của thanh Bar Meter
:giá trị Min của thanh Bar Meter d Trong mục Protect Level LP : cài đặt bảo vệ
: bảo vệ khi hoạt động
: bảo vệ mức cài đặt
: bảo vệ không thay đổi cài đặt( có 2 mức ON or OFF)
: bảo vệ không chỉnh Zero ( có 2 mức ON or OFF)
HỆ THỐNG VAN KHÍ NÉN 57
Cấu trúc hệ thống truyền động bằng khí nén 57
Các thành phần trong hệ thống truyền động bằng khí nén dù đơn giản hay phức tạp đều có thể chia thành 4 nhóm cơ bản sau:
- Nhóm cung cấp năng lượng, gồm các thiết bị cung cấp khí nén như máy nén, bình chứa, bộ điều tiết áp suất và các thiết bị xử lý khí nén
- Nhóm các phần tử nhập gồm: van điều khiển hướng, chuyển mạch giới hạn, nút nhấn
- Nhóm các phần tử xử lý gồm: van điều khiển hướng, phần tử logic, van điều khiển áp suất…
- Nhóm các phần tử sau cung gồm: xy lanh tác động, động cơ khí nén, các phần tử chỉ báo
Các phần tử trong hệ thống được biểu diễn bằng các kí hiệu, các kí hiệu thể hiện một cách vắn tắt chức năng của các phần tử Sự kết hợp các phần tử khí nén theo một logic sẽ thực hiện các chức năng theo yêu cầu Sơ đồ mạch được vẽ có cấu trúc tương ứng với lưu đồ dòng khí nén.
Ưu điểm, nhược điểm của hệ thống truyền động bằng khí nén 57
- Không khí có sẵn ở mọi nơi, không giới hạn về số lượng
- Không khí có thể được truyền tải dễ dàng bằng hệ thống ống, ngay cả khi khoảng cách truyền tải lớn
- Không khí nén có thể lưu trữ được trong bình chứa và lấy ra sử dụng khi cần thiết Vì vậy, máy nén khí không cần phải làm việc liên tục Ngoài ra bình chứa khí thể di chuyển đến nhiều nơi khi có yêu cầu
- Không khí nén tương đối ít nhạy cảm với sự dao động của nhiệt độ Điều này làm cho sự hoạt động của hệ thống trở nên đáng tin cậy khi làm việc ở những nơi có điều kiện khắc nghiệt
- Khí nén là khí sạch nếu bị rò rỉ ở các bộ phận hoặc đường ống sẽ không gây nguy hiểm đến môi trường Điều này rất quan trọng đối với hệ thống dung khí nén trong các thiết bị thực phẩm, y tế…
- Cấu tạo các phần tử tương đối đơn giản vì vậy giá thành tương đối thấp Không khí nén là phương tiện làm việc với đáp ứng rất nhanh, lên tốc độ làm việc có thể lên rất cao
- Các thiết bị và công cụ vận hành bằng khí nén khi hoạt động quá tải có thể ngưng hoạt động nhưng không gây ra hư hỏng b Nhược điểm:
- Không khí nén cần phải được xử lý tốt nếu không sẽ có bụi và các chất ngưng tụ trong khí nén
- Tốc độ của pittong trong xylanh khí nén không phải luôn luôn là hằng số
- Hệ thống khí nén chỉ có tính khinh tế khi làm việc ở yêu cầu về lực xác định Lực tác động của các phần tử tác động phụ thuộc rất lớn vào áp xuất cũng, như hành trình và tốc độ của pittong
- Không khí nén thoát ra gây tiếng ồn lớn, vì vậy cần phải xử lý tiếng ồn.
Bình chứa khí nén 58
Khí nén sau khi ra khỏi máy nén khí và được xử lý thì cần phải có một bộ phận lưu trữ để sử dụng Bình chứa khí nén có nhiệm vụ cân bằng áp suất khí nén từ máy nén khí chuyển đến tích chứa, ngưng tụ và tách nước
Kích thước bình chứa phụ thuộc vào công suất của máy nén khí và công suất tiêu thụ của các thiết bị sử dụng, ngoài ra kích thước này còn phụ thuộc vào phương pháp sử dụng: ví dụ sử dụng liên tục hay gián đoạn
Các van khí nén 59
Áp lực trong hệ thống khí nén được truyền theo mọi hướng và tuân thủ định luật Pascal Áp lực chất khí P được định nghĩa là lực tác động lên một đơn vị diện tích
Trong đó: P: áp suất [ Pa]
Trong hệ thống này ta sử dụng van điều khiển pittong đóng mở cửa xả nguyên liệu Pittong này có thể dùng loại pittong hành trình kép một đầu trục điều bằng khí nén Do đó van cũng chọn loại có 2 vị trí, và ít nhất phải có 3 cửa
Dựa vào những đặc tính của hệ thống và của van khí nên ta chọn loại van: 5 cửa
Ký hiệu: a Các van điều khiển hướng (solennoide)
Các van điều khiển hướng là các thiết bị tác động đến đường dẫn các dòng khí Tác động có thể là: cho phép khí lưu thông đến các đường ống dẫn khí, ngắt các dòng không khí khi cần thiết bằng cách đóng các đường dẫn hoặc phóng thích không khí vào trong khí quyển thông qua cổng thoát
Van điều khiển hướng được đặt trưng bằng số các đường dẫn được điều khiển, cũng chính là số cổng của van và số vị trí chuyển mạch của nó Cấu trúc của van là yếu tố quan trọng ảnh hưởng về các đặc tính của dòng chảy của van b Van chắn
Van chắn là loại van chỉ cho dòng khí nén chảy theo một chiều, chiều ngược lại dòng khí sẽ bị khoá lại Áp suất ở phía sau van theo chiều dòng chảy, sẽ tác động lên cơ cấu đóng cửa thông khí của van c Van tiết lưu
Van tiết lưu là van điều tiết lưu lượng khí nén theo cả hai chiều d Van áp suất
Van áp suất là các van tác động chủ yếu đến áp suất hoặc được điều khiển bởi độ lớn của áp suất Chúng được chia thành 3 nhóm:
- Van điều tiết áp suất
- Van giới hạn áp suất
Các bộ phận dẫn động 61
Bộ phận dẫn động là thiết bị ở đầu ra dùng để chuyển đổi nguồn năng lượng khí nén cung cấp thành cơ năng Tín hiệu ngõ ra được điều khiển bởi hệ thống điều khiển và các bộ phận dẫn động sẽ đáp ứng theo tín hiệu điều khiển thông qua các phần tử điều khiển sau cùng
Các bộ phận dẫn động khí nén được chia làm hai nhóm dựa theo chuyển động của chúng: nhóm chuyển động thẳng và chuyển động quay
- Nhóm chuyển động thẳng gồm:
- Nhóm chuyển động quay gồm: Động cơ khí nén
Các dẫn động có chuyển động quay khác a Xylanh tác dụng đơn
Trong xylanh tác dụng đơn không khí nén chỉ tác dụng vào một phía của pittong, phía còn lại thông với khí quyển Xylanh chỉ tạo ra công theo một chiều Chuyển động trở lại của pittong là do tác động của lò xo nén hay của ngoại lực
Lò xo nén được thiết kế sao cho phản lực do nó tạo ra đưa pittong ở trạng thái không tải trở về vị trí ban đầu một cách nhanh chóng
Xylanh khí nén trong hệ thống này có nhiệm vụ đóng mở cửa xả nguyên liệu, do đó ta chỉ cần dùng xylanh loại hành trình kép một đầu trục
Trong xylanh tác dụng đơn, với sự trở về của pittong nhờ tác dụng của lò xo, hành trình của pittong bị giới hạn bởi chiều dài tự nhiên của lò xo Vì vậy, loại xylanh này chỉ có hành trình pittong lên tới xấp xỉ khoảng 80mm
Xylanh tác dụng đơn có cơ cấu và vận hành đơn giản nên hoạt động chắc chắnvà với đặc điểm là hành trình pittong ngắn nên xylanh này được sử dụng các ứng dụng như:
- Kẹp chặt các chi tiết
- Các tác động nén, ép… b Xylanh tác động kép
Nguyên tắc cấu tạo của xylanh tác dụng kép tương tự như xylanh tác dụng đơn Tuy nhiên, trong xylanh tác dụng kép không có lò xo trở về và hai cổng của xylanh vừa có chức năng là cổng nạp vừa có chức năng là cổng xả Ưu điểm của xylanh này là có khả năng sinh công ở hai chiều chuyển động
Trong loại xylanh này ở cả hai chiều chuyển động đều chịu sự điều khiển bởi nguồn khí nén cung cấp
Một số hình ảnh thực tế Đặc tính kỹ thuật của xylanh Đặc tính kỹ thuật của xylanh có thể xác định bằng lý thuyết hoặc bằng các thông số do nhà sản xuất cung cấp Cả hai phương pháp đều được chấp nhận, nhưng một cách tổng quát thì các số liệu của nhà sản xuất có lien quan đến đặc điểm cấu tạo và tác dụng của từng pittong
Chiều dài của hành trình xylanh khí nén loại có thanh pittong không quá 2m Nếu hành trình vượt quá giới hạn, sự xung đột cơ khí trên thanh pittong và trên phần đầu ổ trục sẽ trở lên quá lớn Để tránh những hư hỏng khi hành trình lớn có thể dùng thanh pittong có đường kính lớn hơn
Lực tác động của pittong:
Lực tác động của pittong phụ thuộc vào các yếu tố: Áp suất không khí nén, đường kính của xylanh và sự ma sát của các bộ phận làm kín Về lý thuyết lực pittong được tính gần đúng là:
Trong đó: - Fth: lực pittong [ N ]
- A : diện tích tác dụng của pittong [ m 2 ]
- p : áp suất hoạt động [ Pa]
Tốc độ của các xylanh khí nén phụ thuộc vào tải, áp suất khí nén, chiều dài đường ống, diện tích mặt cắt ngang giữa phần tử điều khiển sau cùng và phần tử làm việc cũng như lưu lượng chảy qua phần tử sau cùng Thêm vào đó, tốc độ pittong chịu tác động bởi bộ phận giảm chấn ở vị trí cuối cùng
Tốc độ trung bình của pittong với xylanh tiêu chuẩn khoảng 0,1 – 1,5 m/s Đối với các xylanh đặc biệt tốc độ pittong có thể lên tới 10m/s
Tốc độ pittong có thể điều tiết bằng van tiết lưu một chiều và có thể gia tăng tốc độ bằng van xả khí nhanh
Lượng tiêu thụ không khí nén:
Trong việc xử lý không khí nén và khi xem xét các yếu tố lien quan đến giá thành năng lượng tiêu thụ Điều quan trọng là phải biết sự tiêu thụ không khí của hệ thống Lượng tiêu thụ không khí được tính bằng công thức:
Q = tỉ số nén.diện tích pittong.chiều dài hành trình tỉ số nén = (1,013 +p) / 1,013.