Mục tiêu củamôn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sửdụng Tiếng Việt nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạ
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN: 5
Biện pháp thứ nhất: Khảo sát phân loại học sinh qua từng giai đoạn: 18
Biện pháp thứ hai: Chuẩn bị chu đáo cho giờ học 19
Biện pháp thứ ba: Giáo viên cần đọc mẫu diễn cảm: 20 Biện pháp thứ tư: Cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của từ, ngữ: 23 Biện pháp thứ năm: Rèn kỹ năng đọc ngắt, nghỉ giọng đúng chỗ cho học sinh: 25
Biện pháp thứ sáu: Sử dụng linh hoạt trò chơi học tập: 27
A PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 2I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1 Cơ sở ký luận
Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự pháttriển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, gópphần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tưcách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở
Trong chương trình tiểu học môn Tiếng Việt giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Đó làmôn học có chức năng “kép” (vừa là môn công cụ, vừa là môn khoa học) Mục tiêu củamôn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sửdụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạtđộng của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao táccủa tư duy Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểubiết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nướcngoài Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàuđẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” Tập đọc là một phân môn có vị trí hết sức quan trọng trong môn tiếng Việt nhất là tronggiai đoạn bùng nổ thông tin hiện nay Đọc thông viết thạo là một yêu cầu đặt ra với bất cứhọc sinh tiểu học nào, ngay từ những ngày đầu tiên đến trường các em đã phải học đọc mặc
dù ở giai đoạn này việc đọc của các em mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện kí hiệu chữviết và giải mã bằng âm thanh song đây là một giai đoạn rất quan trọng bởi đó là giai đoạnhọc sinh phải học để đọc và làm nền tảng cho những giai đoạn tiếp theo, giai đoạn đọc đểhọc Càng về sau yêu cầu đặt ra trong việc đọc càng được nâng cao, từ việc đọc để hiểuđược nội dung văn bản đến việc phát triển kĩ năng đọc diễn cảm Dạy học tập đọc ở Tiểuhọc là một việc làm hết sức có ý nghĩa trong việc hình thành và phát triển kĩ năng đọc chohọc sinh, nó khẳng định sự cần thiết cho việc hình thành và phát triển một cách có hệ thống
và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh.Thông qua phân môn Tập đọc mà trau dồi vốnTiếng Việt, vốn học văn và phát triển tư duy, mở rộng vốn hiểu biết của học sinh về cuộc
Trang 3trong cuộc sống, yêu tiếng Việt Bên cạnh đó theo quan điểm tích hợp các bài tập đọc còn
có nhiệm vụ cung cấp ngữ liệu để hình thành và phát triển các kỹ năng khác được quy địnhtrong chương trình Các bài tập đọc đã trở thành nguyên liệu để các phân môn khác như:Tập làm văn – Kể chuyện – Luyện từ và câu khai thác Chính vì vậy việc dạy phân mônTập đọc chiếm một vị trí hết sức quan trọng Nó làm nòng cốt xuyên suốt toàn bộ chươngtrình Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng
2 Cơ cở thực tiễn:
Từ nhiều năm nay Bộ giáo dục và đào tạo đã liên tục chỉ đạo đổi mới phương pháp song
sự chuyển biến trong phương pháp dạy học của giáo viên đang còn chậm Kiểu dạy họcthuyết giảng đã trở thành nếp nghĩ, nếp làm của nhiều giáo viên trong nhà trường Thựchiện dạy Tập đọc theo phương pháp mới đòi hỏi giáo viên phải từ bỏ một số thói quenkhông thích hợp như: Tham giảng bài, nói dài dòng Ngại sử dụng phương tiện dạy học,bệnh nói nhiều, dàn trải Trong thực tế giảng dạy việc tổ chức cho học sinh đọc từ, đọc câu,đọc đoạn là rất phù hợp với lớp 2, 3 Tuy nhiên do giáo viên thiếu linh hoạt trong quá trìnhgiảng dạy, kỹ năng đọc của học sinh còn chậm Việc luyện đọc từ khó – giảng từ của giáoviên còn nhiều bất cập, nên giờ học đã kết thúc mà có khi học sinh chưa được tìm hiểu cáihay, cái đẹp, cái dí dỏm trong nội dung bài tập đọc hoặc giáo viên tham nói, tham giảng từdài dòng mà học sinh không được luyện đọc bài Được trực tiếp giảng dạy và qua dự giờđồng nghiệp tôi nhận thấy tình trạng này diễn ra không phải là ít Người giáo viên cần làmgì? Làm như thế nào? để tiết học nhẹ nhàng, đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy Tập đọc
là điều tôi còn băn khoăn, trăn trở Thông qua giảng dạy tôi đã tìm tòi, học hỏi kinh nghiệmđồng nghiệp và một phần những việc làm mà bản thân đã khám phá ra trong giảng dạy vớimột mong muốn tìm ra các biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 2 để nâng cao hiệu quả giờ
tập đọc Đây chính là lí do khiến tôi chọn đề tài “Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2” để nghiên cứu trong năm học này.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trang 4- Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tập
đọc, để tìm ra phương pháp giúp giáo viên rèn luyện cho học sinh lớp 2 đọc tốt hơn,qua đó từng bước nâng cao năng lực đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm của mỗi học sinh
- Tìm hiểu yêu cầu nhiệm vụ và thực trạng dạy học của phân môn Tập đọc ở lớp 2
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Chương trình môn Tập đọc lớp 2.
- Phương pháp dạy Tập đọc lớp 2.
IV ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM:
- Học sinh lớp 2A1 và học sinh khối 2 – Trường Tiểu học Thúy Lĩnh, Quận HoàngMai, Hà Nội
V PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
- Tôi nghiên cứu đề tài này từ tháng 9/2013 đến tháng 5 năm 2014 tại Trường Tiểu họcThúy Lĩnh
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu và sách tham khảo
2 Khảo sát thực tế: - Dự giờ thăm lớp
- Khảo sát tình hình thực tế
3 So sánh đối chiếu
4 Phương pháp thực hành
B NỘI DUNG
Trang 5I CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1 Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học
Tiếng Việt ở Tiểu học là một môn học độc lập Nhiệm vụ chủ yếu của bộ môn TiếngViệt ở Tiểu học là cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về Tiếng Việt để trên cơ
sở đó, các em có khả năng sử dụng một cách hiệu quả Tiếng Việt trong hoạt động học tập
và sinh hoạt, đồng thời giúp các em rèn luyện và phát triển tư duy Hay nói cách khác, quaviệc học Tiếng Việt, các em học sinh Tiểu học một mặt vừa lĩnh hội được kiến thức vềngôn ngữ ở mức độ sơ giản, hình thành được năng lực và biết cách tổ chức giao tiếp bằngTiếng Việt, mặt khác giúp các em hình thành được năng lực tư duy, hình thành được nhâncách của mình Các em biết tiếp nhận lời người khác, biết tạo ra lời nói riêng của mình vừađúng với quy tắc ngôn ngữ, phù hợp với quy luật của tư duy, vừa phù hợp với hoàn cảnh,đáp ứng được nhu cầu giao tiếp Đó là cơ sở để các em không chỉ học tốt môn Tiếng Việt
mà còn học tốt tất cả các môn học khác trong nhà trường Nhờ học Tiếng Việt mà tư duycủa các em phát triển, các em sẽ có được những nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từhình thức sang bản chất… và từ đó, những vấn đề về thế giới quan, nhân sinh quan của các
em cũng dần dần được hình thành
Hiện nay, một trong những quan điểm mới của việc biên soạn chương trình và Sáchgiáo khoa Tiếng Việt là quan điểm tích hợp Vì vậy, bên cạnh những nhiệm vụ chính nêutrên, môn Tiếng Việt còn giúp các em hiểu được đời sống xã hội, hiểu được phong tục tậpquán cũng như lối sống của người Việt Nam, hiểu được truyền thống của cha ông, biết tôn
sư trọng đạo, biết bảo vệ môi trường sống… qua những bài tập đọc, qua những bài làm vănhoặc qua những câu chữ dẫn ra như một ngữ liệu trong những bài tìm hiểu về Tiếng Việt.Tuy không phải là nhiệm vụ chính, nhưng theo tinh thần tích hợp thì điều này là không thểkhông chú ý cả trong biên soạn chương trình, Sách giáo khoa lẫn trong việc lựa chọn nội dungdạy học trên lớp
2 Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc
2.1 Vị trí của phân môn Tập đọc
Trang 6Tập đọc là môn học có vị trí quan trọng ở Tiểu học Tập đọc là môn học khởi đầu(được học sớm nhất ở Tiểu học, nối tiếp với học âm, vần) Tập đọc giúp học sinh có mộtcông cụ, một phương tiện quan trọng để học tốt các môn học khác, để chiếm lĩnh kho tàngtri thức văn hoá của nhân loại được tàng trữ trong sách vở.
2.2 Tính chất của môn Tập đọc
Tập đọc có tính chất thực hành Khi dạy Tập đọc, giáo viên phải coi trọng việc luyệnđọc cho học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau, thời gian giảng bài của giáo viên chỉchiếm một tỉ lệ nhỏ trong tiết học
2.3 Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc
* Rèn kĩ năng đọc và rèn trí nhớ cho học sinh
- Thông qua hai hình thức: đọc thành tiếng và đọc thầm
- Rèn đọc thành tiếng theo các mức độ từ thấp đến cao: đọc đúng; đọc rõ ràng, rànhmạch; đọc lưu loát, trôi chảy; đọc diễn cảm Đọc diễn cảm là sự tổng hợp của tất cả cácmức độ đọc làm nổi bật ý nghĩa, tình cảm mà tác giả gửi gắm trong bài
- Rèn đọc thầm cũng cần được chú ý bởi đọc thầm ít mệt, có thể đọc nhanh, mau hiểunội dung đọc Rèn đọc thầm phải gắn với một yêu cầu nhất định để buộc học sinh phải tậptrung đọc
- Nhiệm vụ rèn trí nhớ được thực hiện thông qua việc dạy học sinh đọc thuộc lòng cácvăn bản thơ và một số văn bản văn xuôi
* Trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ và kiến thức đời sống
- Dạy Tập đọc phải thông qua nhiều loại văn bản khác nhau Các văn bản Tập đọcchứa đựng nhiều mặt kiến thức văn hoá của nhân loại và dân tộc Do vậy thông qua Tậpđọc có thể trau dồi kiến thức nhiều mặt cho học sinh như kiến thức văn học, kiến thức ngônngữ và kiến thức về đời sống
* Giáo dục thẩm mĩ, tình cảm tư tưởng và phát triển tư duy
- Học Tập đọc, học sinh được tiếp xúc với vẻ đẹp của văn chương thông qua các vănbản nghệ thuật Đó là cơ hội để học sinh được giáo dục về tình cảm thẩm mĩ, tư tưởng và
Trang 7động với vẻ đẹp của văn chương, nhận thức được tình cảm yêu thương con người và cuộcsống mà tác giả gửi gắm trong bài đọc…
3 Các cở sở của việc dạy Tập đọc
3.1 Cơ sở tâm lí, sinh lí của việc dạy đọc
Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình dạy đọc, nắm bảnchất của kĩ năng đọc, đặc điểm tâm sinh lí của học sinh khi đọc hay cơ chế của đọc là cơ sởcủa việc dạy đọc
Đọc thuộc lĩnh vực hoạt động trí tuệ phức tạp, mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tinbằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác Quá trình này bao gồm những đặcđiểm sau:
Đọc được xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc xácđịnh bộ mã gồm hai phương tiện Thứ nhất, đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ
mã chữ âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh.Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm sử dụng bộ mã chữ - nghĩa, tức là mốiliên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểucho được nội dung những gì được đọc
Như vậy đọc được xem là một hoạt động lời nói trong đó có:
Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ
Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh
Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, bài)
Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài.T.G.Egônôp chia việc hình thành kĩ năng đọc làm ba giai đoạn: Phân tích, tổng hợp (còngọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chưa chỉnh thể về hành động) và giaiđoạn tự động hóa
Giai đoạn dạy Học vần là sự phân tích chữ cái và đọc từng tiếng theo các âm Giaiđoạn tổng hợp là giai đoạn đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó sự tiếp nhận “từ” bằng thịgiác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa Tiếp nhận sự thông hiểu của “từ”trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm Điều này có nghĩa là đọc được thực hiện trong
Trang 8sự đoán nghĩa Bước sang lớp 2, 3 học sinh bắt đầu đọc tổng hợp, dần đến cuối cấp thì việcđọc ngày càng được tự động hóa Cụ thể hơn, người đọc ngày càng ít quan tâm đến chínhquá trình mà chú ý nhiều đến việc chiếm lĩnh văn bản như: Nội dung các sự kiện, cấu trúc,chủ đề, các phương tiện biểu đạt của nó Thời gian gần đây, người ta đã chú trọng hơn đếnnhững mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng làm việc với văn bản.Nghĩa là đòi hỏi tổ chức giờ Tập đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đồngthời hướng đến việc hoàn thiện kĩ năng đọc, hướng đến đọc có ý thức bài đọc Như vậyviệc đọc như thế nhằm vào nhận thức, chỉ có thể xem một đứa trẻ biết đọc khi nó đọc màhiểu được điều đang đọc Đọc là hiểu nghĩa của chữ viết, nếu trẻ không hiểu những từ mà
ta đưa cho chúng đọc, chúng sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thànhcông Do đó hiểu những gì được đọc sẽ tạo ra động cơ, hứng thú cho việc đọc
Quá trình hiểu được văn bản gồm các bước sau:
- Hiểu nghĩa các từ, các ngữ
- Hiểu các câu
- Hiểu các đoạn
- Hiểu được cả bài
Học sinh Tiểu học không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng hiểu được những điều mìnhđọc Hầu như toàn bộ sức chú ý đều dồn vào việc nhận ra mặt chữ, đánh vần để phát rathành âm, nghĩa của vấn đề đọc thì học sinh chưa đủ thời giờ và sức lực để nhận biết Mặtkhác, do vốn từ còn ít, năng lực liên kết thành câu, thành ý còn hạn chế nên việc hiểu vànhớ nội dung còn khó khăn Điều này chính là cơ sở để đề xuất các biện pháp hình thànhnăng lực đọc hiểu cho học sinh Tiểu học
3.2 Cơ sở ngôn ngữ và văn học
Phương pháp dạy Tập đọc phải dựa trên cơ sở của ngôn ngữ học Nó liên quan mậtthiết với một số vấn đề của chính âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học).Phương pháp dạy Tập đọc sẽ dựa trên những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học, Việt
Trang 9phẩm chất của đọc không thể tách rời ngôn ngữ học Không coi trọng đúng mức cơ sở này,việc dạy học sẽ mang tính tùy tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy học.
Cũng cần phải thấy rằng hiện nay kết quả của Việt ngữ học còn hạn chế, chưa đápứng được những yêu cầu đòi hỏi của phương pháp Chẳng hạn như việc chưa thống nhấtđược một chuẩn chính âm, những nghiên cứu ít ỏi về ngữ điệu tiếng Việt… làm chophương pháp dạy Tập đọc không tránh khỏi lúng túng khi giải quyết vấn đề về đọc đúng,đọc diễn cảm Và khi không giải quyết được vấn đề về phát âm địa phương một cách cótính nguyên tắc, không có được những chỉ dẫn cụ thể cho đọc diễn cảm có khi lại đànhlòng với những cách đọc chung chung, hời hợt Ví dụ những quy tắc ít ỏi của ngữ pháp:Đọc kết thúc câu kể phải xuống giọng, hết câu hỏi phải lên giọng chỉ đưa lại những chỉ dẫnchung chung về giọng đọc như “Bài thơ được đọc với giọng tha thiết sôi nổi…” còn nhữngchỉ dẫn có tính định hướng về mối tương quan giữa cao độ, cường độ, ngắt nhịp… củađoạn, bài chưa được xác định Chính điều này làm việc dạy đọc diễn cảm còn mang tínhchủ quan cảm tính Đây sẽ là một khó khăn không nhỏ trong việc xác lập nội dung củaphương pháp dạy đọc
4 Mục đích tác dụng của việc rèn kĩ năng đọc trong giờ dạy Tập đọc
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sanglời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trìnhchuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng vớihình thức đọc thầm) Đọc cũng không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm hai phần chữviết và phát âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự đánh vần lên thành tiếng theo đúng các kíhiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì đượcđọc Trên thực tế, nhiều khi người ta đã không hiểu khái niệm đọc một cách đầy đủ Nhiềuchỗ người ta chỉ nói đến đọc như nói đến việc sử dụng bộ mã chữ - âm, còn việc chuyển từ
âm sang nghĩa đã không được chú ý đúng mức Có thể khái quát yêu cầu của việc đọc nhưsau:
Năng lực đọc được cụ thể hóa thành hai hình thức là đọc thành tiếng và đọc thầm.Chất lượng của hình thức đọc thành tiếng bao gồm đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc
Trang 10diễn cảm Chất lượng của hình thức đọc thầm bao gồm đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu,(đọc diễn cảm không được bàn đến khi đọc thầm).
Đọc đúng: Đọc đúng là cách phát âm thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn Nóicách khác là phải đọc đúng chính âm, không đọc theo cách phát âm địa phương vì phát âmđịa phương sẽ có chỗ sai với âm chuẩn
Đọc đúng đòi hỏi thể hiện chính xác các âm vị của âm tiết: âm đầu, âm đệm, âmchính, âm cuối, thanh điệu
Ngoài ra đọc đúng còn có nghĩa là đúng ngữ điệu, bao gồm lên giọng, xuống giọng,nhấn giọng, chuyển giọng, ngắt hơi, cường độ giọng… Đọc đúng quan trọng nữa là phảiđúng nội dung của từ, của câu, đúng phong cách chức năng vủa văn bản
Đọc nhanh: Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) là nói đến phẩm chất đọc
về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a, ngắc ngứ Vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọcđúng
Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn: đọc không ê a, ngắc ngứ, không vừađọc vừa đáng vần Về sau tốc độ đọc phải song song với việc tiếp nhận có ý thức bài đọc.Đọc nhanh chỉ thực sự có ích khi nó không tách rời việc hiểu rõ điều được đọc Khi đọccho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ nhanh nhưng để cho người nghehiểu kịp được Vì vậy, đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng Tốc độ chấp nhận đượccủa đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói Khi đọc thầm thì tốc độ đọc
sẽ nhanh hơn nhiều
Đọc hiểu: Hiệu quả của việc đọc (nhất là đối với hình thức đọc thầm) được đo bằngkhả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc Do đó, dạy đọc phải gắn với đọc có ý thức, đọchiểu: hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài, tức là toàn bộ những gì được đọc Giáo viêncần có biện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc, bắt đầu từ việc hiểu nghĩa từ Do vậy, giáoviên phải có hiểu biết về từ địa phương cũng như có vốn từ của tiếng mẹ đẻ vùng dân tộcmình dạy học để chọn từ giải thích cho thích hợp, đồng thời phải chuẩn bị để sẵn sàng giảiđáp cho học sinh về bất cứ từ nào trong bài mà các em yêu cầu
Trang 11Đọc diễn cảm: Đọc diễn cảm là đọc có tác dụng diễn ý, diễn cảm Đọc diễn ý làm rõnghĩa từ, câu, văn bản Đọc diễn cảm làm rõ sắc thái biểu cảm của từ, câu, văn bản Tùythuộc vào nội dung của văn bản mà người đọc sử dụng ngữ điệu phù hợp nhằm diễn tảnhững điều tác giả muốn nói trong văn bản đọc Đọc diễn cảm là một yêu cầu được đặt rakhi đọc những văn bản văn chương hoặc có yếu tố của ngôn ngữ nghệ thuật và chỉ có thểtiến hành khi đã hiểu thấu đáo bài đọc.
II CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1 Vài nét về Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
* Chương trình Sách giáo khoa môn Tiếng Việt bậc Tiểu học được biên soạn dựatrên các nguyên tắc sau:
- Dạy học Tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp
- Tận dụng những kinh nghiệm sử dụng Tiếng Việt của học sinh
- Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc dạy học
* Các tiêu chuẩn của Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học:
- Trình bày các kiến thức lí thuyết cơ bản về Tiếng Việt, những quy tắc và các địnhnghĩa đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống, dễ hiểu đối với học sinh
- Góp phần giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan duy vật biệnchứng, phát triển ở các em tư duy logic và lòng yêu mến sự giàu đẹp của Tiếng Việt
- Đưa vào số lượng vừa đủ bài tập sao cho chúng vừa phong phú, đa dạng, vừa cóhiệu quả thiết thực và sắp xếp một cách hợp lí
- Sách hay về nội dung, hấp dẫn về hình thức, nhiều bài đọc mang tính truyện đểtăng tính hấp dẫn, làm cho học sinh ham học Chú trọng vai trò của kênh hình (tranh ảnh,màu sắc)
* Cấu trúc nội dung chương trình:
- Các bộ phận của chương trình:
Chương trình Tiếng Việt Tiểu học gồm những bộ phận sau:
+ Kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói)
Trang 12+ Tri thức Tiếng Việt (một số hiểu biết cơ sở, tối thiểu về ngữ âm, chính tả, ngữ nghĩa,ngữ pháp…).
+ Tri thức về văn học, về tự nhiên và xã hội (một số hiểu biết tối thiểu về văn học vàcách tiếp cận chúng; về con người; về đời sống tinh thần và vật chất; về đất nước và dântộc Việt Nam…)
- Cấu trúc hai giai đoạn của chương trình:
đó viết con chữ e Những tri thức về âm chữ cái, về tiếng (âm tiết) chữ, về thanh điệu dấu ghi thanh đều được học qua những bài dạy chữ Những tri thức về câu trong hội thoại(câu hỏi, đáp và dấu câu) cũng không được dạy qua bài lí thuyết mà học sinh được hìnhdung cụ thể trong một văn bản cụ thể Trình độ nắm tri thức của học sinh ở giai đoạn nàycũng chỉ dừng ở mức: các em nhận diện được và sử dụng được các đơn vị của Tiếng Việt,các quy tắc sử dụng Tiếng Việt trong lúc đọc, viết, nghe, nói Phần tri thức có trong nộidung chương trình của các lớp 1, 2, 3 chỉ có ý nghĩa xác định những tri thức học sinh cầnlàm quen
-+ Giai đoạn 2 (các lớp 4, 5):
Nội dung chương trình giai đoạn này nhằm phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nóilên một mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn, trong đó yêu cầu viết hoàn chỉnh một số văn bản,yêu cầu đọc - hiểu được đặc biệt coi trọng
Trang 13Học sinh ở giai đoạn này đã được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vịngôn ngữ và quy tắc sử dụng Tiếng Việt làm nền móng cho việc phát triển kĩ năng Bêncạnh những bài học thực hành (ở giai đoạn trước), các em được học các bài về tri thứcTiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản, phong cách…) Những bài học này cũng khôngphải là lí thuyết đơn thuần, được tiếp nhận hoàn toàn bằng con đường tư duy trừu tượng,
mà chủ yếu vẫn bằng con đường nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã đọc, viết,nghe, nói; rồi sau đó mới khái quát thành những khái niệm
2 Chương trình, Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và phân môn Tập đọc
Chương trình Sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 2 có hai tập, được học trong 35 tuần
với tổng số 315 tiết (9 tiết/tuần) và bao gồm 6 phân môn: Tập đọc, Chính tả, Tập viết,Luyện từ và câu, Kể chuyện và Tập làm văn
Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 có 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn vói một chủ điểm, họctrong 2 tuần (riêng chủ điểm Nhân dân học 3 tuần):
Tập một gồm 8 đơn vị học, với các chủ điểm sau:
+ Tuần 1, 2: Em là học sinh
+ Tuần 3, 4: Bạn bè
+ Tuần 5, 6: Trường học
+ Tuần 7, 8: Thầy cô
+ Tuần 9: Ôn tập giữa kì I
+ Tuần 10, 11: Ông bà
+ Tuần 12, 13: Cha mẹ
+ Tuần 14, 15: Anh em
+ Tuần 16, 17: Bạn trong nhà
+ Tuần 18: Ôn tập cuối kì I
Tập hai gồm 7 đơn vị học, với các chủ điểm sau:
+ Tuần 19, 20: Bốn mùa
+ Tuần 21, 22: chim chóc
+ Tuần 23, 24: Muông thú
Trang 14+ Tuần 25, 26: Sông biển
+ Tuần 27: Ôn tập giữa kì II
+ Tuần 28, 29: Cây cối
+ Tuần 30, 31: Bác Hồ
+ Tuần 33, 34: Nhân dân
+ Tuần 35: Ôn tập cuối kì II
Cấu trúc của một đơn vị học: Học trong 2 tuần, mỗi tuần học 9 tiết, gồm:
có điều kiện
Chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 chú trọng cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc,viết
Nhìn từ góc độ giao tiếp, có thể thấy các bài đọc trong Sách giáo khoa Tiếng Việt 2
đã được lựa chọn rất hay Những chủ điểm đưa vào Sách giáo khoa không chỉ gần gũi vớisinh hoạt thường nhật của học sinh mà còn thể hiện khá đậm nét tính hướng dẫn giao tiếp.Việc sắp xếp các chủ điểm cũng được sách hết sức chú ý để sao cho phù hợp với hoạt độnggiao tiếp của lứa tuổi Tiểu học Trong các chủ điểm đó, các bài đọc hướng dẫn học sinh
Trang 15hiểu sâu hơn về những sự vật, sự việc, con người gần gũi với cuộc sống hằng ngày của các
em hay chính những hoạt động các em đã từng trực tiếp tham gia
Có thể nói, các ngữ liệu dạy học Tập đọc ở lớp 2 đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợicho việc dạy học của giáo viên Và, nhiệm vụ chính của giáo viên là sử dụng nhữngphương pháp phù hợp để rèn luyện cho học sinh những kĩ năng ngôn ngữ cần thiết theođịnh hướng đổi mới - định hướng giao tiếp
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trang 16Thực trạng tình hình dạy học của giáo viên và việc học của học sinh qua điều tra cụ thểlà: Đầu năm học khi có ý định làm đề tài này tôi đã trao đổi với các đồng nghiệp trongkhối, xin thăm lớp dự giờ các tiết tập đọc ở khối Qua dự giờ sau các tiết dạy tôi có nhậnxét sau:
- Cơ sở vật chất ở lớp học đầy đủ, bàn ghế đẹp, kích thước phù hợp với học sinh lớp 2
- Thực tế giảng dạy cho thấy rằng các năm học thực hiện đổi mới giáo dục trên toànquốc chất lượng học sinh có tiến bộ rõ rệt Đặc biệt là các em mạnh dạn, tự tin trong giaotiếp Nhiều học sinh đọc rất hay mặc dù yêu cầu đọc diễn cảm chưa đặt ra đối với học sinhlớp2 Thông qua luyện đọc học sinh bước đầu đã hiểu nghĩa từ chìa khoá để hiểu nội dungbài tập đọc, có khả năng nghe và nhận xét bạn đọc
2.2 Khó khăn:
Tuy địa bàn trường tôi đã chuyển lên phường thuộc nội thành Hà Nội song thực tế vẫn
là khu vực còn mang tính nông thôn, người dân sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, trình
độ dân trí chưa cao - đời sống nhân dân còn thấp, các em rụt rè, còn thẹn thùng khi ứng xửcác tình huống giao tiếp trong sách giáo khoa, đọc lí nhí khi được gọi Số lượng học sinhphát âm sai do nói “ngọng l/n ở địa phương” còn nhiều
- Cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu, thiết bị dạy học phục vụ cho môn Tiếng Việtlớp 2 còn thiếu như: Tranh, các thiết bị sử dụng dạy học còn thiếu Bàn ghế khó cho giáoviên trong khi dạy thay đổi hình thức tổ chức dạy học
Trang 17- Một số ít phụ huynh còn giao khoán việc học của con em mình cho cô giáo và nhàtrường.
- Khả năng tiếp thu môn học Tiếng Việt của các em cũng nhiều hạn chế so với cácmôn Toán hay Tự nhiên xã hội, ở phân môn Tập đọc lớp 2 đa phần các em đó đọc được,song một số em đọc cũng chưa được rõ ràng, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy,nhiều em phát âm chưa phân biệt rõ phụ âm đầu l/n; tr/ch; s/x Đặc biệt học sinh trường tôiđang công tác thì đa số các em đọc còn ngọng phụ âm l/n, về kĩ thuật đọc chưa thể hiệnđược tình cảm, nội dung mà văn bản đề cập tới Ví dụ như các em chưa biết nhấn giọng ởtừ ngữ gợi tả, những từ ngữ trọng tâm, từ chìa khoá, trong những trường hợp sắm vai hayđối thoại, các em cũng lúng túng, nhiều em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọccủa mình Đối với đối tượng học sinh trung bình và yếu các em chưa xác định được đâu làgiới hạn những câu đối thoại của mình Với thực tế trên, tôi đi sâu vào nghiên cứu vấn đề
“rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2” với mong muốn tích lũy thêm cho bản thân những
kiến thức và kinh nghiện chỉ đạo chuyên môn nhằm đạt hiệu quả cao trong việc dạy học vàchỉ đạo chuyên môn tổ khối và để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 2
Trang 18CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ
Trước tình hình thực tế dạy học của trường, là một tổ trưởng chuyên môn, tôi đã làmtốt công tác tham mưu để nhà trường quyết định tổ chức chuyên đề Tập đọc lớp 2, 3 ngaytừ đầu năm học để rút kinh nghiệm Qua thực tế giảng dạy và chỉ đạo công tác chuyên môn
tổ khối tôi đã rút ra một số biện pháp để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 2 nhưsau:
Biện pháp thứ nhất: Khảo sát phân loại học sinh qua từng giai đoạn:
Để nắm được khả năng đọc của học sinh, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành tìm hiểu,phân loại học sinh Tôi tiến hành kiểm tra các em về đọc và kiến thức trong bài Kết quảđiều tra kỹ năng đọc của học sinh lớp 2A1 do tôi phụ trách cũng như các lớp 2 trong toàntrường trong đợt khảo sát chất lượng đầu năm như sau:
Trả lờithànhcâu
Biết nghe
và nhận xétbạn đọc
Mạnh dạn xử lý tìnhhuống giao tiếp củabài tập đọc
học sinh hứngthú, thích họctập đọc
Biện pháp thứ hai: Chuẩn bị chu đáo cho giờ học
Trang 19Để giúp các em học tốt một bài tập đọc, tôi thường hướng dẫn các em chuẩn bị một cách
chu đáo, cụ thể như sau:
- Trước tiên các em cần đọc thành tiếng ít nhất 5 lần sau đó đọc thầm Tìm xem bài tậpđọc có mấy đoạn, mấy câu (mấy khổ thơ)
- Đọc kĩ phần giải nghĩa các từ ngữ ở cuối bài
- Tập trả lời miệng các câu hỏi về tìm hiểu nội dung trong sách giáo khoa, từ đó các
em có thể nêu được nội dung bài tập đọc
- Tìm hiểu bài tập đọc thuộc thể loại gì (thơ hay văn xuôi)
- Để giúp học sinh đọc tốt, ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi trao đổi với phụhuynh, thống nhất phương pháp hướng dẫn học sinh học môn Tập đọc tại nhà Từ đóphụ huynh học sinh có thể giúp đỡ các em chuẩn bị tốt bài Tập đọc của giờ học sau
- Chính vì có sự chuẩn bị chu đáo như vậy nên trong những giờ Tập đọc sẽ giúp các
em đọc lưu loát, biết cách ngắt nghỉ đúng ở các dấu câu, dấu phẩy trong câu văn
Ví dụ: Khi dạy bài Ngôi trường mới tôi đã hướng dẫn học sinh chuẩn bị như sau:
- Đọc thành tiếng 5 lần, dùng bút chì ghi số câu trong bài tập đọc
- Đọc kĩ phần giải nghĩa các từ: - > điều này sẽ giúp các em hiểu rõ hơn nội dung bàiđọc
- Học sinh tập trả lời miệng các câu hỏi để tìm hiểu nội dung bài:
+ Tìm đoạn văn ứng với từng nội dung sau:
a, Tả ngôi trường từ xa
b, Tả lớp học
c, Tả cảm xúc của học sinh dưới mái trường mới
+ Tìm những từ ngữ tả vẻ đẹp của ngôi trường
+ Dưới mái trường mới, bạn học sinh cảm thấy có những gì mới?
Phần tìm hiểu này giúp học sinh nhớ được nội dung bài
Với sự chuẩn bị bài kỹ của học sinh như vậy nên ở trên lớp dưới sự dẫn dắt, hướngdẫn của giáo viên, học sinh sẽ đọc lưu loát, tiến tới đọc hay, các em chủ động trong việcnắm bắt nội dung bài đọc, phát huy được tính cực, chủ động của học sinh trong giờ học
Trang 202 Chuẩn bị của giáo viên:
Qua thực tế giảng dạy, dưới sự chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường, tôi nhậnthấy rằng để dạy thành công một tiết tập đọc, truyền thụ được kiến thức một cách khoahọc, sâu sắc giáo viên cần chuẩn bị kỹ những việc sau:
+ Soạn bài cụ thể, chi tiết thể hiện rõ hoạt động của thầy, của trò Xây dựng được cácphương pháp dạy học truyền thống kết hợp với các phương pháp, phương tiện dạy học hiệnđại một cách linh hoạt để giờ dạy nhẹ nhàng, ddaqtj hiệu quả
+ Nắm chắc yêu cầu rèn đọc ở từng bài Đọc kĩ bài tập đọc sắp dạy, trao đổi học tậpcách dạy của đồng nghiệp, dự kiến các tình huống học sinh sẽ mắc phải và cách sửa cáctình huống đó
+ Tìm hiểu kĩ nội dung bài để hiểu được các biện pháp nghệ thuật tác giả đã dùng, từ
đó xác định cách đọc đối với từng đoạn, từng bài để thể hiện đúng tình cảm của từng bài + Nắm vững hệ thống câu hỏi trong bài tập đọc, đưa ra thêm những câu hỏi dẫn dắt đểgiúp học sinh phân tích, khai thác nội dung
Biện pháp thứ ba: Giáo viên cần đọc mẫu diễn cảm:
Việc đọc mẫu của giáo viên là cần thiết vì muốn học sinh đọc đúng, đọc hay giáoviên phải giới thiệu mẫu đúng Lời đọc mẫu của giáo viên nhằm định hướng cho học sinhđọc đồng thời giúp học sinh nhận thức đúng nội dung bài học Nếu là văn bản nghệ thuậtcòn có tác dụng khơi gợi hứng thú và sự tưởng tượng của học sinh – giúp các em dễ đi vàothế giới của tác giả, tác phẩm dưới một ánh sáng hấp dẫn hơn Với văn bản nghệ thuật đọcmẫu của giáo viên là đọc diễn cảm Còn văn bản thông thường đọc mẫu là đọc đúng Yêucầu đọc diễn cảm chưa đặt ra với học sinh lớp 2, nhưng nếu giáo viên biết khích lệ, độngviên học sinh sẽ bắt chước thầy cô Giáo viên đọc mẫu tốt, chuẩn mực thì không có gì đángngại nếu như học sinh bắt chước thầy cô
Đọc mẫu của GV bao gồm:
- Đọc toàn bài: thường nhằm giới thiệu, gây xúc cảm, tạo hứng thú và tâm thế học đọc
Trang 21- Đọc câu, đoạn: Nhằm hướng dẫn, gợi ý hoặc “tạo tình huống” để học sinh nhận xét,giải thích nội dung bài đọc.
- Đọc từ, cụm từ: nhằm sửa phát âm sai và rèn cách đọc đúng cho học sinh
Vấn đề đặt ra trước tiên, để đọc mẫu tốt, giáo viên cần tìm hiểu và cảm thụ bài văn, tìmhiểu bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh sáng tác, vị trí của tác phẩm, tác giả tiếp đến là việc tìmhiểu nội dung, hình thức bài đọc: thể loại, bố cục, kết cấu, nghệ thuật
Hiểu được nội dung cảm thụ: cảm thụ sâu sắc, tính lôgic sẽ đọc diễn cảm tốt Giọng đọchay sẽ bắt đầu với cảm xúc của lòng mình, người đọc phải nhập vai lúc đó khả năng truyềncảm người nghe lớn hơn
Ví dụ: * Bài “Ông Mạnh thắng Thần Gió”
- Đoạn 1: Giọng kể chậm rãi
- Đoạn 2: Nhịp nhàng hơn, nhấn giọng những từ ngữ tự sự, ngạo nghễ của Thần Gió, sự
tức giận của ông Mạnh – “Xô, ngã lăn quay, lồm cồm, quát, ngạo nghễ ”
- Đoạn 3, 4: Đọc nhấn giọng các từ ngữ thể hiện quyết tâm chiến thắng Thần Gió của
ông Mạnh; sự điềm tĩnh, kiên quyết của ông trước thái độ tức tối của Thần Gió, “quyết chống trả, quật đổ, thật vững chãi, lớn nhất, thật to, thét, không, giận dữ, lồng lộn ”
- Đoạn 5: Kể về sự thoả thuận giữa ông Mạnh và Thần Gió – Đọc với giọng kể chậmrãi, thanh bình
Đọc thơ phải nắm vững đặc trưng của thơ Đó là tiếng nói tình cảm mãnh liệt, là sảnphẩm của những rung động đột xuất, độc đáo, là kết tinh của trí tưởng tượng, phân tích.Ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, tính hàm xúc trong trong thơ Vì vậy, khi đọc thơ cần thểhiện được tình cảm tác giả gửi gắm trong từng từ, từng dòng thơ, nhịp thơ, vần thơ đểtruyền cảm xúc đến người nghe
Ví dụ: Nhịp điệu 2/2 trong đoạn thơ dưới đây sẽ góp phần tích cực thể hiện nét vui tươi
hoạt bát của chú bé liên lạc