1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Noi dung luan van

123 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Và Đề Xuất Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Kết Quả Hoạt Động Tín Dụng Tại Chi Nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Láng Hạ
Tác giả Nguyễn Xuân Hoài
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Xuân Hoài
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận Văn Cao Học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 231,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngược lại ngân hàng cũng đang thực hiện đa dạng hóa sản phẩm - dịch vụ thông qua việc cung ứng các dịch vụ mới như: môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán, hoạt động bảo hiể

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) sẽ có nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế nói

chung và lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng Việt Nam với một nền kinh tếđang phát triển, do đó nhu cầu về vốn đầu tư là rất lớn Chính vì vậy việc thamgia cùng sân chơi trong đó có lĩnh vực tài chính ngân hàng một cách bình đẳng

sẽ là cơ hội vừa là những khó khăn thách thức đối với các ngân hàng thương

mại Việt Nam Bên cạnh đó nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với

những khó khăn trong thời kỳ khủng hoảng tài chính – tiền tệ hiện nay Thị

trường tiền tệ diễn biến bất thường cùng với những tác động xấu của khủng

hoảng tài chính thế giới và hiệu ứng của việc tăng trưởng tín dụng nóng, tăng quy mô và mạng lưới hoạt động quá nhanh của những năm trước đã ảnh

hưởng lớn đến hoạt động của các ngân hàng thương mại Hoạt động kinh

doanh của các doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn khi giá đầu vào tăng

cao Điều này làm cho các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí thậm chí là cắt giảm cả nhân lực Bản thân các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cũng gặp khó khăn trong khả năng thanh khoản, nhiều lần phải nâng lãi suất

huy động tiền gửi Vì vậy, ngoài vấn đề đầu tư con người, đầu tư đổi mới côngnghệ,…các ngân hàng cần chú trọng tăng cường các hoạt động tín dụng để mởrộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tác giả đã chọn đề tài

“Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Láng Hạ” để làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn:

- Nghiên cứu, tổng hợp cơ sở lý thuyết về ngân hàng thương mại và các hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại

Trang 2

- Phân tích, đánh giá thực trạng kết quả hoạt động tín dụng tại chi nhánhNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động tín dụng

tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng

- Phạm vi nghiên cứu: Kết quả hoạt động tín dụng tại chi nhánh Ngân

hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ trong giai đoạn năm 2008

÷ 2009

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích số liệu trong

hoạt động tín dụng qua các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo

tình hình tín dụng năm 2008 ÷ 2009 tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triên Nông thôn Láng Hạ Qua đó đánh giá thực trạng kết quả hoạt động tín dụng của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng

- Thu thập các dữ liệu, đánh giá, nhận định từ các báo cáo của Ngân

hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước,

các tạp chí kinh tế, tài chính – ngân hàng,…để phân tích và đưa ra các giải

pháp tối ưu

Trang 3

5 Đóng góp của luận văn:

- Hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận và phương pháp luận

của lý thuyết hoạt động tín dụng và sự cần thiết của việc nâng cao kết quả hoạtđộng tín dụng tại các ngân hàng thương mại nói chung và chi nhánh Ngân

hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ nói riêng

- Phân tích, đánh giá thực trạng kết quả hoạt động tín dụng tại chi nhánhNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ giai đoạn năm

2008÷2009 từ đó tìm ra những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn

chế đó

- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao kết quả hoạt động tín

dụng tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ Bên cạnh đó đề xuất một số kiến nghị với Nhà nước, ngân hàng Nhà nước,

UBND Thành phố Hà Nội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, sơ đồ, nội dung của luận văn được trình bày với ba chương sau:

Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại.

Chương II: Phân tích thực trạng kết quả hoạt động tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ.

Chương III: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt

động tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ.

Trang 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG

CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

1.1.1 Định nghĩa ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng đối với nền

kinh tế Các định nghĩa về ngân hàng có thể thông qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà nó thực hiện đối với nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các tổ chức tài chính như: công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ, công ty bảo hiểm,…đều đang cố gắng

thực hiện việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng Ngược lại ngân hàng cũng

đang thực hiện đa dạng hóa sản phẩm - dịch vụ thông qua việc cung ứng các

dịch vụ mới như: môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán, hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào các quỹ tương hỗ…Điều đó dẫn đến việc hình thành những

cách định nghĩa không hoàn toàn giống nhau về Ngân hàng thương mại

Ở Anh, hoạt động ngân hàng được phân loại thành 3 loại hình dịch vụ

chính: dịch vụ trung gian tài chính (nhận tiền gửi và cho vay), dịch vụ thanh

toán và các loại dịch vụ khác Theo David Cox, tác giả cuốn sách “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại” thì mọi ngân hàng hoat động với ba chức năng cơ bản:

nhận và giữ các khoản tiền gửi, cho phép rút tiền ra và vận hành hệ thống

chuyển tiền, cho vay các khoản tiền gửi dư thừa tới các khác hàng có nhu cầu vay vốn Đây là chức năng cơ bản nhất, nhưng đầu những năm 90, hệ thống

Trang 5

ngân hàng hiện đại còn có các dịch vụ khác đa dạng hơn và nhiều tiện ích hơn.Trong thực tế một ngân hàng bán lẻ lớn thường có khoảng 300 dịch vụ khác

nhau cho khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp

Nhà kinh tế học Miskin đưa ra định nghĩa: NHTM là trung gian tài

chính, có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở tài

khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi mà đưa vào đó có thể sử dụng các tờ séc

Ở Mỹ, theo Peter S.Rose, giáo sư về kinh tế học và tài chính của trường đại học Yale đưa ra định nghĩa: ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một

danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm

và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế

Ở Việt Nam theo Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12 tháng

12 năm 1997 thì: NHTM là một loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tài chính – tiền tệ, với các nội dung chính là huy động vốn, cho

vay vốn và cung ứng các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác Theo đó,

NHTM là một loại hình ngân hàng, một loại hình tổ chức tín dụng Trong đó

“Ngân hàng là loại hình Tổ chức tín dụng (TCTD) được thực hiện toàn bộ

hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” và

“TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quyđịnh khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân

hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứngcác dịch vụ thanh toán” Đồng thời Luật các TCTD cũng phân biệt các ngân

hàng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Trong đó “TCTD phi ngân hàng

là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như

là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán”

Trang 6

Như vậy, hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thương mại là kinh

doanh quyền sử dụng hàng hóa tiền tệ và thực hiện cung ứng các dịch vụ ngânhàng cho khách hàng

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

Nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng thương mại rất đa dạng và phong phú Bên cạnh những nghiệp vụ truyền thống là huy động tiền gửi dưới nhiều hình thức để cho vay thì trong thời gian gần đây các NHTM còn cho ra đời

nhiều loại hình kinh doanh mới như: phát hành thẻ tín dụng, cung cấp dịch vụ kiểm toán đối với các công ty, tín dụng thuê mua, dịch vụ trả tiền tự động

(ATM), môi giới chứng khoán, tham gia vào thị trường Đô la Châu Âu, cho

thuê két sắt, bao tiêu nợ (factoring) hay gần đây nhất là dịch vụ ngân hàng

điện thoại – internet Như vậy, tầm quan trọng của các NHTM được thể hiện

qua các chức năng cơ bản dưới đây:

Chức năng trung gian: NHTM làm trung gian giữa người gửi tiền và

người vay tiền, giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường

Chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán:để thực hiện chức năng này ngân hàng đã tạo ra các phương tiện thanh toán

(tạo ra tiền), đưa ra các phương thức thanh toán và cung cấp các dịch vụ thanh toán

Chuyển hóa các phương tiện tiền tệ: thay đổi thời hạn sử dụng, tính

năng khả dụng, lãi suất của vốn…

Làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác như mua bán chứng khoán,

thanh toán lãi của chứng khoán cho các công ty, cung cấp các dịch vụ ngân

quỹ, tư vấn, cho thuê két sắt…

Tham gia thị trường (kinh doanh trên thị trường tài chính)

1.1.3 Vai trò của Ngân hàng thương mại

Trang 7

Cung ứng vốn cho nền kinh tế: NHTM huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư

và các tổ chức kinh tế Thông qua nghiệp vụ tín dụng để cung ứng vốn cho

những đối tượng có nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm

nâng cao hiệu quả kinh tế Như vậy, NHTM là nguồn bơm vốn để thúc đẩy

nền kinh tế phát triển

NHTM thực hiện vai trò thực thi chính sách tiền tệ: NHTM chịu trách

nhiệm hoạch định chính sách tiền tệ và sử dụng các công cụ của chính sách

nhằm đạt được các mục đích của mình Chính các NHTM là chủ thể chịu tác

động của những công cụ này và truyền tải các tác động của chính sách tiền tệ đến các khu vực thể chế khác Bên cạnh đó NHTM với chức năng làm trung

gian tài chính nên mọi biến động về giá cả, sản lượng, thu nhập, công ăn việc làm sẽ được phản hồi qua NHTM tới NHTW Nhờ đó sẽ giúp cho NHTW có

những sửa đổi, bổ sung các chính sách tiền tệ cho phù hợp

NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Bằng hoạt

động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống NHTM đã góp

phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, NHTM đã thựchiện dẫn dắt luồng tiền và điều chỉnh vốn sao cho có hiệu quả nhất

NHTM là cầu nối nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế quốc tế: Trong

nền kinh tế thị trường khi mà mối quan hệ hàng hóa tiền tệ phát triển tới đỉnh cao và xu hướng hội nhập, nhu cầu giao lưu kinh tế-xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cấp thiết Sự phát triển kinh tế của một nước gắn

liền với tình hình kinh tế-xã hội của thế giới Với chức năng chủ yếu của

NHTM là nhận tiền gửi, cho vay, trung gian thanh toán, kinh doanh ngoại

hối….Qua các nghiệp vụ chuyên môn này, NHTM đã tạo điều kiện thúc đẩy

ngoại thương không ngừng được mở rộng Thông qua quan hệ qua lại, hợp tác giữa các NHTM nội địa với quốc tế, góp phần điều tiết nền tài chính trong

nước cho phù hợp của nền tài chính quốc tế

1.1.4 Các loại hình Ngân hàng thương mại

Trang 8

Hoạt động của NHTM

-Nguồn vốn phát sinh

-Nguồn vốn quản lý và huy động

-Nguồn vốn đi vay

Trả tiền gửi, tiền vay, lãi vay

- Cho vay

- Chiết khấu

- Đầu tư, liên doanh

-Dịch vụ thanh toán-Dịch vụ kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ-Dịch vụ nhận ủy thác

Thu lại tiền vay, tiền đầu tư, liên doanh và lợi tứcThu phí từ các dịch vụ trung gian

Dựa theo hình thức sở hữu, NHTM có thể phân chia thành bốn loại

NHTM sau đây:

NHTM nhà nước: Là NHTM do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ

chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của Nhà

nước Quản trị NHTM nhà nước là Hội đồng quản trị do Thống đốc NHNN bổ

nhiệm, miễn nhiệm sau khi có thỏa thuận với Ban tổ chức cán bộ của Chính

phủ

NHTM cổ phần: Là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ

phần Trong đó có các doanh nghiệp nhà nước, các TCTD, các tổ chức khác và

các cá nhân cùng góp vốn theo quy định của NHNN

NHTM liên doanh: Là NHTM được thành lập bằng vốn góp của bên

Việt Nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh NHTM liên

doanh có pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam và hoạt động theo

giấy phép thành lập cũng như theo các quy định liên quan của pháp luật hiện

hành

Chi nhánh NHTM nước ngoài: Là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước

ngoài, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi

nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam Chi nhánh NHTM nước

ngoài có quyền và nghĩa vụ do pháp luật Việt Nam quy định, hoạt động theo

giấp phép mở chi nhánh và quy định liên quan của pháp luật Việt Nam

1.1.5 Các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng thương mại

Chúng ta có thể khái quát hóa các lĩnh vực hoạt động của NHTM qua sơ

đồ 1.1 dưới đây:

S

ơ đồ 1.1 Sơ đồ tổng quát về các lĩnh vực hoạt động của NHTM

Trang 9

1.1.5.1 Huy động vốn

Huy động vốn là tạo nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng nên còn

gọi là “nghiệp vụ tài sản nợ”

Các hình thức huy động vốn gồm có: Huy động từ nguồn vốn nợ gồm

việc nhận tiền gửi của các tổ chức và cá nhân và việc đi vay trên thị trường

vốn thông qua phát hành các giấy nợ, vay các TCTD hay vay NHTW Huy

động từ nguồn vốn chủ sở hữu thông qua việc góp vốn của các cổ đông Ngoài

ra nguồn vốn huy động của ngân hàng có thể có từ một số hoạt động khác như nguồn vốn ủy thác….Cụ thể:

Tiền gửi: Là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản nợ của

NHTM Đây là nguồn vốn chủ yếu để kinh doanh của NHTM Tiền gửi bao

gồm các loại:

-Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi được khách hàng gửi vào các

TCTD để thực hiện các khoản chi trả, thanh toán Đây không phải là khoản

Trang 10

tiền mà khách hàng để dành nên khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và

ngân hàng phải thực hiện yêu cầu này

-Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi được ủy thác vào ngân hàng mà có

sự thỏa thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng

Sự khác nhau cơ bản giữa tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn làtiền tạm thời chưa sử dụng hoặc là tiền để dành cá nhân Vì vậy mục đích của khách hàng khi gửi tiền có kỳ hạn vào ngân hàng là lợi tức Do đó, tiền gửi có kỳ hạn thường phụ thuộc vào một số thông số như sau: lãi suất do các NHTM trả cao hay thấp, lãi suất của các loại hình đầu tư khác như trái phiếu, cổ

phiếu…và thu nhập của dân cư Vì vậy các NHTM thường nghiên cứu thị

trường để đưa ra mức lãi suất huy động vốn cạnh tranh với các ngân hàng

khác trong cùng ngành

Phát hành giấy tờ có giá: Các giấy tờ có giá do TCTD phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn dưới hình thức nhận nợ hoặc chứng chỉ tiền gửi, trong đó TCTD cam kết trả gốc, trả lãi cho người muasau một thời gian nhất định Giấy tờ có giá do TCTD phát hành gồm giấy tờ

có giá ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng như: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi

ngắn hạn tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác) và giấy tờ có giá dài

hạn (thời hạn từ 12 tháng trở lên như: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác)

Tiền vay: Theo quy định của một NHTM có thể vay của NHTW và vay của NHTM khác để đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi hoặc vay vốn của khách hàng nếu bản thân NHTM bị thiếu hụt Vốn đi vay chỉ chiếm một tỷ trọng có thể chấp nhận được trong kết cấu nguồn vốn nhưng nó rất cần thiết và có vị tríquan trọng để bảo đảm ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình

thường

-Vay của NHTW: Tất cả các NHTM đều được quyền vay tiền tại NHTW

trong tình huống thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt vốn NHTW có thể áp dụng

Trang 11

mức lãi suất chiết khấu hoặc lãi suất phạt cao phụ thuộc vào chính sách tiền tệ thắt chặt hay nới lỏng để hạn chế hay kích thích cho vay đầu tư.

-Vay trên thị trường tiền tệ: Thị trường tiền tệ hỗ trợ tích cực cho hoạt

động của ngân hàng, bổ sung kịp thời nhu cầu vốn bằng việc điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua việc mua bán trái phiếu ngắn hạn Thị trườngtiền tệ góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đã có tại các ngân hàng

Thị trường tiền tệ giúp cho NHTM tìm được nguồn vốn vay, đồng thời giúp

cho NHTM nào khi dư thanh khoản có được cơ hội sinh lời Ngoài ra, để đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh thì các NHTM còn có thể vay từ các

NHTM khác hay các tổ chức tín dụng khác

Vốn chủ sở hữu:

Là vốn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng thương mại, bao gồm: Vốn

điều lệ, các quỹ dự trữ và các tài sản nợ khác theo quy định

-Vốn điều lệ: Là số vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của ngân

hàng Tùy theo hình thức sở hữu mà vốn điều lệ của NHTM được hình thành từ các nguồn khác nhau Đối với NHTM nhà nước vốn điều lệ do ngân sách

nhà nước cấp khi thành lập và được bổ sung thêm trong quá trình hoạt động ỞNHTM cổ phần vốn này do các cổ đông đóng góp Đối với NHTM liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh đóng góp, còn với chi nhánh NHTM nước ngoài thì do ngân hàng mẹ ở nước ngoài cấp

-Các quỹ dự trữ:

Quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ được lập ra từ việc trích trên lợi

nhuận ròng hàng năm và phần chênh lệch giữa bán cổ phần và mệnh giá

Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro được hình thành từ việc trích một tỷ lệ lợi

nhuận ròng hàng năm theo quy định của pháp luật

Ngân hàng còn tiến hành trích lập các quỹ từ lợi nhuận như quỹ phúc

lợi khen thưởng, quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng…

Trang 12

Toàn bộ các nguồn vốn trên của ngân hàng được gọi là vốn tự có

Nguồn vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số nguồn vốn hoạt động

kinh doanh của một ngân hàng nhưng lại là nguồn vốn rất quan trọng vì nó

cho thấy quy mô và thực lực của một ngân hàng

1.1.5.2 Sử dụng vốn

Sử dụng vốn còn gọi là nghiệp vụ tài sản có Nó bao gồm các hoạt độngnhư: Dự trữ tiền mặt, tiền mặt ký gửi tại NHTW, đầu tư vào chứng khoán, cho vay, đầu tư vào các loại tài sản

Dự trữ tiền mặt: Đây là hoạt động nhằm duy trì khả năng thanh khoản

của ngân hàng Để đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của

khách hàng, NHTM phải duy trì một bộ phận vốn (bằng tiền mặt) để thực hiệnnghiệp vụ dự trữ Mức dự trữ này cao hay thấp tùy thuộc vào quy mô hoạt

- Tiền mặt ký gửi tại NHTW: Dự trữ tiền mặt ký gửi tại kho của NHTWbao gồm cả một bộ phận của dự trữ bắt buộc NHTM sử dụng dự trữ bắt buộc vào hai mục đích:

Một là, một phần dự trữ bắt buộc theo qui định của NHTW.

Hai là, các ngân hàng phải ký gửi một phần tiền mặt tại NHTW dưới

dạng ký gửi không lãi (hoặc ở một vài nước chỉ có lãi rất thấp) nhằm phục vụ cho việc thanh toán bù trừ hoặc chuyển nhượng liên ngân hàng những tờ séc

mà nó và các ngân hàng khác phát ra

Một số NHTW cho phép các NHTM không nhất thiết phải ký gửi tiền

mặt nhiều ở kho của nó, mà có thể ký gửi ở các nơi khác cũng được miễn sao

Trang 13

khoản ký gửi này phải có tính thanh khoản thật cao không kém gì tiền mặt để đáp ứng việc chuyển sang tiền mặt theo nhu cầu vào bất cứ lúc nào Lúc đó

việc ký gửi tiền mặt này (tại các ngân hàng khác) cũng được tính vào như là

một phần tiền mặt của dự trữ bắt buộc mà ngân hàng đã thực hiện

- Tiền mặt đang trên đường thu hồi: Tiền mặt đang trên đường thu hồi làmột thuật ngữ chỉ hai khoản:

Một là, tiền mặt đã được các đơn vị vay, các đơn vị có trách nhiệm trả

nợ ký cam kết thanh toán rồi và hiện đang thu về

Hai là, tiền mặt được thu lại do một số tờ séc của ngân hàng phát ra

không được chấp nhận hoặc không thanh toán được và phải trả lại cho ngân

hàng

Cho vay: Đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của NHTM, thường chiếm

tỷ trọng lớn trong các khoản mục tài sản có NHTM thường cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:

- Chiết khấu thương phiếu: Khách hàng sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu đối với thương phiếu chưa đến hạn cho ngân hàng để nhận về một số tiền bằngmệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu và phí hoa hồng (nếu có)

- Tín dụng ứng trước: Là một hình thức cho vay được thực hiện trên cơ

sở hợp đồng tín dụng trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay

trong một thời gian nhất định

- Tín dụng thuê mua: Là một kiểu cho thuê tài sản Đây là sự thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên đi thuê, theo đó khi hết thời hạn thuê, bên đi thuê

được phép chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo cácđiều kiện đã thõa thuận trong hợp đồng thuê mua

- Tín dụng bao thanh toán: Là việc người bán hàng chuyển nhượng cho đơn vị bao thanh toán tất cả các quyền và lợi ích liên quan đến những khoản

phải thu ngắn hạn của người bán hàng phát sinh từ việc mua bán hàng hóa

hoặc cung cấp dịch vụ giữa người bán và người mua để người bán được đơn vị

Trang 14

bao thanh toán cung cấp ít nhất một trong bốn chức năng chủ yếu của bao

thanh toán như sau: Theo dõi sổ sách bán hàng của người bán, tài trợ dưới

dạng tạm ứng cho người bán hàng dựa trên giá trị các khoản phải thu, thu nợ

hộ và bảo hiểm rủi ro tín dụng 100% tổng giá trị các khoản phải thu

- Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho cá nhân hoặc các hộ gia đình nhằm phục vụ và đáp ứng cho các nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của họ

- Bảo lãnh ngân hàng: Là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng, theo

đó ngân hàng bằng uy tín của mình đứng ra bảo lãnh nợ cho khách hàng, ngân hàng không phải đưa tiền cho vay, nhưng khi người được bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ của hợp đồng thì ngân hàng đứng ra bảo lãnh phải thay thếđể thực hiện nghĩa vụ thanh toán

Đầu tư: Ngân hàng có thể đầu tư vào rất nhiều lĩnh vực như kinh doanh bất động sản, kinh doanh vàng bạc đá quý, kinh doanh chứng khoán Đầu tư

vào chứng khoán là loại hình phổ biến nhất trong tài sản có của các NHTM tạicác nước đã phát triển NHTM đầu tư vốn vào hai loại chứng khoán là chứng khoán nhà nước (chủ yếu là trái phiếu kho bạc) và chứng khoán công ty Bản thân chứng khoán rất đa dạng về thể loại Ở nhiều nước chỉ riêng chứng khoánkho bạc đã có đến 10, 12 loại Tất cả chứng khoán đều là hàng hóa của thị

trường tài chính-tiền tệ

tệ….Đặc trưng của các hoạt động kinh doanh dịch vụ là thu phí Nền kinh tế

càng phát triển với công nghệ tiên tiến, hiện đại thì các dịch vụ ngân hàng

càng phát triển để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội và dân cư

Trang 15

Dịch vụ thanh toán: Dịch vụ thanh toán bao gồm việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực

hiện việc thu hộ, chi hộ

- Dịch vụ mở và sử dụng tài khoản: Tài khoản ngân hàng thuộc một trong

số các công cụ quan trọng đặc biệt của NHTM Thông qua tài khoản, ngân

hàng cung cấp cho khách hàng một loạt các dịch vụ như thu hộ tiền, chuyển

tiền…

- Dịch vụ thanh toán không cần tiền mặt: Là hoạt động dùng để chỉ các

dịch vụ chi trả tiền hàng, dịch vụ và các khoản khác trong nền kinh tế quốc

dân được thực hiện bằng cách chuyển khoản trong hệ thống các tổ chức tham gia thanh toán hoặc bù trừ công nợ mà không dùng tiền mặt

Dịch vụ chuyển khoản thông qua các công cụ thanh toán như séc, lệnh

chi, thẻ thanh toán trong phạm vi một ngân hàng hay giữa các ngân hàng khác nhau

Thanh toán mua hàng hóa online hay tại các cửa hàng bằng thẻ

Thanh toán bù trừ: Các ngân hàng thực hiện việc thanh toán bù trừ các

khoản nợ lẫn nhau

Trong các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt thì dịch vụ thẻ là một trong những dịch vụ được ưa chuộng và phổ biến nhất hiện nay Thẻ là một

công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cho khách hàng sử dụng để trả tiềnhàng hóa, dịch vụ, các khoản thanh toán khác hoặc rút tiền mặt tại các máy rúttiền tự động (ATM) Hiện nay các ngân hàng thường phân loại thẻ thành hai

dạng là Thẻ tín dụng và Thẻ ghi nợ Thẻ ghi nợ là loại thẻ gắn liền với tài

khoản tiền gửi thanh toán hay tài khoản séc của khách hàng Khách hàng sử

dụng loại thẻ này thì giá trị giao dịch được khấu trừ ngay vào tài khoản của

khách hàng đồng thời ghi có ngay vào tài khoản của người thụ hưởng Thẻ tín dụng là loại thẻ mà ngân hàng cho phép chủ thẻ sử dụng một hạn mức tín

Trang 16

dụng nhất định Thẻ tín dụng có thể cho phép khách hàng chi tiêu ở nhiều

nước khác nhau nên được sử dụng rất phổ biến ở nước ngoài

- Dịch vụ thanh toán quốc tế: Thanh toán xuất nhập khẩu nói riêng cũng như thanh toán nói chung được thực hiện trên cơ sở cam kết giữa các chủ thể thanh toán trong hợp đồng ngoại thương hoặc trong hợp đồng thanh toán

NHTM đóng vai trò là trung gian thanh toán Khách hàng có thể sử dụng

nhiều phương thức thanh toán khác nhau của ngân hàng như chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ…

Dịch vụ ngân quỹ: Ở các nước phát triển, dịch vụ ngân quỹ rất đa dạng

và hiện đại như các hoạt động ký gửi, cho thuê két, thu hộ và chi hộ tiền

mặt…Đối với các NHTM Việt Nam hoạt động ngân quỹ chiếm một tỷ trọng

lớn về lao động và chi phí bởi nhu cầu thanh toán và chuyển tiền thanh toán

quan hệ tín dụng bằng tiền mặt rất lớn và không có hạn chế Trong khi đó dịch

vụ ngân quỹ lại chưa thực sự phát triển, sự xâm nhập vào hoạt động kinh tế -

xã hội

Kinh doanh ngoại tệ: Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên đượcthực hiện là trao đổi (mua bán) ngoại tệ - một ngân hàng đứng ra mua bán mộtloại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ được thực hiện chủ yếu ở các ngân hàng lớn

do mức độ rủi ro cao và đòi hỏi đội ngũ nhân viên phải có trình độ chuyên

Trang 17

NHTM có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, tác động lẫn nhau và đan xen suốt

trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế

1.2 Tín dụng trong hoạt động ngân hàng

1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của tín dụng

Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ latinh là credo – sự tin tưởng tín

nhiệm lẫn nhau Nói cách khác, tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau

dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai Có thể định nghĩa tín dụng một cách đầy đủ như sau: Tín dụng là

quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặchiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định

thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu Như vậy một quan

hệ tín dụng phải thỏa mãn những đặc trưng sau:

Thứ nhất, là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời Đối tượng

của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hóa dưới hình thức kéo

dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa Tính chất tạm thời

của sự chuyển nhượng đề cập tới thời gian sử dụng lượng giá trị đó Thực chấttrong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi

quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó Nó là kết quả của sự thỏa thuận giữa

các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa

thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó

Thứ hai, tính hoàn trả Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả

đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: gốc và lãi Phần

lãi đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời Nói cách khác, nó là giá

trả cho sự hy sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó

Trang 18

Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả khi đến

hạn, người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay

Sự gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là điều kiện

hình thành nên quan hệ tín dụng Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín

của người đi vay, do giá trị tài sản thế chấp và do bảo lãnh của người thứ ba

Cơ sở khách quan của sự ra đời và phát triển quan hệ tín dụng là mâu

thuẫn vốn có của quá trình tuần hoàn vốn tiền tệ trong xã hội, đó là cùng một lúc có chủ thể kinh tế tạm thời dư thừa một khoản vốn tiền tệ trong khi các

chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu cần bổ sung vốn Nếu tình trạng này khôngđược giải quyết thì quá trình sản xuất có thể bị ngưng trệ ở chủ thể này trong khi vốn đang nằm im ở các chủ thể khác Kết quả là nguồn lực của xã hội

không được sử dụng một cách có hiệu quả nhằm đảm bảo cho quá trình tái sảnxuất được tiến hành liên tục Tình trạng thừa thiếu vốn so với nhu cầu xảy ra

thường xuyên trong quá trình hoạt động của các chủ thể kinh tế trong xã hội

xuất phát từ sự không ăn khớp giữa thu nhập và chi tiêu về thời gian cũng như khối lượng Đó là, sự không trùng khớp giữa thu nhập và chi tiêu của hộ gia

đình, của các chủ thể sản xuất kinh doanh và của ngân sách nhà nước Như

vậy, chức năng của tín dụng là phân phối lại vốn tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội, nghĩa là tín dụng thực hiện việc di chuyển các khoản vốn tạm thời nhàn

rỗi đến những nơi phát sinh nhu cầu về vốn Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước cũng được coi là một phương thức phân phối lại tuy nhiên nó hoàn

toàn không thích hợp với việc phân phối lại các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi

cho những nhu cầu về vốn tạm thời Các đặc trưng riêng có của quan hệ tín

dụng cho phép nó trở thành một phương thức có hiệu quả nhất trong việc phânphối lại các khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội Bởi lẽ, việc phân phối vốn trong quan hệ tín dụng luôn gắn với các điều kiện đảm bảo tính hoàn trả và có lãi,

các khoản vốn nhàn rỗi sẽ được phân bổ cho các đối tượng có khả năng thỏa

Trang 19

mãn những điều kiện tín dụng một cách tốt nhất Và như vậy vốn được giao

cho người sử dụng có hiệu quả nhất Bằng cách đó, tín dụng góp phần vào

việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả kinh doanh của xã hội

1.2.2 Phân loại tín dụng

Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựatrên một số tiêu thức nhất định Sau đây là một số tiêu thức cơ bản:

1.2.2.1 Theo thời hạn tín dụng

Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả dưới một năm,

được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và

các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân

Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả từ một năm

đến dưới năm năm, được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến

hoặc đổi mới thiết bị công nghệ mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các

dự án mới có quy mô nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh và là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp Trong nông nghiệp, chủ

yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng như máy cày, máy bơm

nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp

Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả trên năm năm

được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng xí nghiệp

mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay ), cải

tiến mở rộng với quy mô lớn

1.2.2.2 Theo hình thức tài trợ

Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam

kết khách hàng hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Các

hình thức cho vay mà ngân hàng có thể thực hiện để cấp tín dụng cho khách

hàng gồm: thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vayluân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp

Trang 20

Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách

hàng tương ứng với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng

để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn hoặc một giấy nợ

Cho thuê tài sản: Hoạt động chủ yếu của NHTM là cho vay để khách

hàng mua tài sản Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khách hàng không đủ

điều kiện vay, NHTM sẽ mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho họ

thuê Cho thuê có hai hình thức là cho thuê hoạt động và cho thuê tài chính

Bảo lãnh ngân hàng: Là cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên

có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bênnhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay Nếu phân theo mục tiêu bảo lãnh gồm các loại sau: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo đảm hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh hoàn trả vốn vay, bảo lãnh đảm bảo thanh toán

1.2.2.3 Theo mức độ tín nhiệm

Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức cấp tín dụng có đảm bảo hoặc người

bảo lãnh đứng ra bảo đảm cho khoản tiền vay

Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Là hình thức tín dụng không có tài

sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng

1.2.2.4 Theo xuất xứ tín dụng

Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng mà theo đó ngân hàng sẽ cung

cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu sử dụng vốn đồng thời người vay trực tiếp hoàn trả nợ ngân hàng Mức độ rủi ro của ngân hàng trong trường hợp nàythấp vì tận dụng được trình độ của CBTD khi mà họ trực tiếp làm việc với

người vay để xem xét trước khi quyết định cho vay

Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không

trực tiếp cung cấp vốn cho người có nhu cầu vay vốn mà là mua lại các khế

ước hoặc chứng từ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán

Trang 21

1.2.3 Các dịch vụ tín dụng trong NHTM

Dịch vụ tín dụng chính là kết quả đầu ra của hoạt động tín dụng, là dịch

vụ cung ứng ra thị trường nhờ đó NHTM thu về doanh thu, lợi nhuận Các

dịch vụ tín dụng hiện nay rất đa dạng, phong phú nhằm đáp ứng đầy đủ các

yêu cầu ngày càng cao của khách hàng Các dịch vụ này phục vụ cho các mục đích từ tiêu dùng cá nhân đến hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng quy

mô, các dự án đầu tư…

Mỗi NHTM có những tên gọi dịch vụ với một số tính chất khác nhau

nhưng đều xuất phát từ những phương thức, loại hình cơ bản trong các nghiệp

vụ của hoạt đông tín dụng như sau:

1.2.3.1 Dịch vụ cho vay

Cho vay là việc ngân hàng cung cấp một khoản tiền cho khách hàng để sửdụng vào mục đích và thời gian nhất định với cam kết khách hàng hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Và việc cho vay phải tuân thủ ba

nguyên tắc cơ bản dưới đây:

- Một là, khác hàng phải cam kết sử dụng vốn vay theo đúng mục đích

được thỏa thuận với ngân hàng, không trái với quy định của pháp luật, của

Các loại hình cho vay:

Cho vay theo món: Là loại vay theo hình thức cho vay từng lần với thời hạn vay là ngắn hạn Loại vay này áp dụng cho khách hàng có quan hệ không thường xuyên với ngân hàng

Cho vay theo hạn mức: Là loại vay mà ngân hàng cùng khách hàng xác định một hạn mức tín dụng duy trì trong khoảng thời gian nhất định (dưới 12

Trang 22

tháng) Loại vay này chỉ áp dụng với khách hàng có tình hình sản xuất kinh

doanh ổn định, nguồn thu thường xuyên và có quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng

Cho vay theo dự án đầu tư: Là loại hình vay có thời hạn vay trung và

dài hạn phục vụ các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và các dự án đầu tư phục vụ cuộc sống

Cho vay hợp vốn, cho vay đồng tài trợ: Là loại hình cho vay trong đó

các NHTM cùng hợp vốn cho vay một dự án, phương án vay vốn của khách

hàng Một NHTM trong các NHTM cho vay hợp vốn hoặc đồng tài trợ sẽ làm ngân hàng đầu mối để thu xếp khoản vay

Cho vay qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Visa Card:

Visa Card là thẻ tín dụng quốc tế cho phép khách hàng sử dụng số vốn vay

(thấu chi) trong hạn mức của thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ mà không

phải dùng tiền mặt tại các điểm chấp nhận thẻ Ngoài ra khách hàng còn được rút tiền mặt tại các máy ATM hoặc điểm ứng tiền mặt của các NHTM có hệ

thống Visa Card trong và ngoài nước

Cho vay trả góp: Loại hình cho vay này chủ yếu phục vụ cho nhu cầu

tiêu dùng, mua sắm trang thiết bị, phương tiện vận tải của cá nhân hoặc tổ

chức Ở loại hình cho vay này ngân hàng thường kết hợp với các công ty bán các sản phẩm trên thực hiện cho vay trả góp và tài sản đảm bảo tiền vay chính

là các sản phẩm mua bằng hình thức vay trả góp

Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là hình thức ngân hàng chấp nhận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách

hàng trong khoảng thời gian nhất định

Các phương thức cho vay khác: Các NHTM được quyền cho khách

hàng vay vốn theo các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm và phù hợp với quy chế cho vay của NHNN Việt Nam

Điều kiện vay vốn:

Đây là các quy định đối với khách hàng vay vốn Ngân hàng xem xét vàquyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện về năng lực pháp luật

Trang 23

dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật, cụ thể:

Đối với pháp nhân Việt Nam: Phải đảm bảo có các văn bản đang có

hiệu lực tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của pháp nhân như:

Quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có tài sản và

nguồn thu tài chính mà pháp nhân đó có quyền tự mình quyết định để trả nợ

cho ngân hàng, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân…

Đối với cá nhân là người Việt Nam: Cá nhân vay vốn phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 24 và 25 của Bộ luật dân sự

Đối với hộ gia đình: Người đại diện hộ gia đình quan hệ giao dịch vay

vốn với ngân hàng phải là chủ hộ hoặc là người đại diện của chủ hộ và phải cóđủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự như xác định đối với cá

nhân

Đối với tổ hợp tác: Phải có hợp đồng hợp tác giữa các thành viên tổ hợptác được sự chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn theo quy định tại Điều

120 của Bộ luật dân sự Và Tổ trưởng là đại diện của tổ hợp tác hoặc người

được tổ trưởng ủy quyền bằng văn bản phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự như xác định đối với cá nhân

Đối với doanh nghiệp tư nhân: Phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh

doanh, giấy phép hành nghề (nếu có) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.Chủ doanh nghiệp tư nhân có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

như xác định đối với cá nhân

Đối với công ty hợp danh: Thành viên công ty hợp danh phải có năng

lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự như xác định đối với cá nhân Có

điều lệ của công ty, có văn bản thỏa thuận của tất cả các thành viên hợp danh

và thành viên góp vốn về việc cử người đại diện vay vốn tại ngân hàng

Đối với pháp nhân, cá nhân nước ngoài: Do từng NHTM có những quy định trong từng trường hợp cụ thể

Thời hạn cho vay:

Trang 24

Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt

đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vay Thời hạn vay

được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng Từ

việc xác định thời hạn cho vay mà NHTM phân ra được các thể loại vay phù

hợp với thời hạn vay, gồm:

- Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn vay dưới 1 năm

- Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn vay từ 1 năm đến 5 năm

- Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn vay trên 5 năm

Quy trình cho vay:

Quy trình cho vay được bắt đầu từ khi CBTD tiếp nhận hồ sơ khách

hàng và kết thúc khi tất toán thanh lý hợp đồng tín dụng Quy trình thực hiện được tiến hành theo 5 bước dưới đây:

Bước 1: Lập hồ sơ đề nghị vay vốn

Về mặt kinh tế, trong giai đoạn này quan hệ tín dụng chưa hình thành

Nhưng đây là giai đoạn quan trọng vì để phân tích, đánh giá khách hàng vay

vốn được chính xác ngân hàng phải dựa vào nguồn thông tin từ những tài liệu,giấy tờ của khách hàng cung cấp trong giai đoạn này Đây là giai đoạn chuẩn

bị những điều kiện cần thiết để quan hệ tín dụng lành mạnh được thiết lập

Việc lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng đòi hỏi phức tạp hay đơn giản phụ thuộc

vào các nhân tố:

- Loại khách hàng: Tùy thuộc vào khách hàng thuộc nhóm nào – nhóm

đã có quan hệ tín dụng với ngân hàng trước đó hay nhóm mới có quan hệ tín

dụng với ngân hàng lần đầu mà hồ sơ yêu cầu phải có ít hay nhiều loại giấy tờ

- Loại và kỹ thuật cấp tín dụng: Với mỗi loại và kỹ thuật cấp tín dụng

khác nhau mà đòi hỏi hồ sơ thay đổi phù hợp yêu cầu về mặt thông tin đối với kỹ thuật và loại hình cho vay đó

Trang 25

- Quy mô nhu cầu tín dụng: Quy mô món vay càng lớn thì yêu cầu

thông tin từ hồ sơ tín dụng càng tăng Bên cạnh đó thời hạn món vay càng dài thì yêu cầu thông tin từ hồ sơ càng nhiều

Bước 2: Phân tích khoản vay

Với vô số rủi ro khi cho vay xuất phát từ nhiều yếu tố có thể dẫn đến

việc không thanh toán được nợ khi đến hạn Nguyên nhân đó có thể do thiên

tai, thay đổi về nhu cầu tiêu dùng hoặc về kỹ thuật của một ngành công nghiệpnào đó, sự suy thoái kinh tế dẫn đến việc làm ăn thua lỗ của các công ty cũng

là một nguyên nhân khách quan Để quyết định có chấp nhận cho vay hay

không ngân hàng cần phải ước lượng rủi ro kể trên bằng phương pháp phân

tích tín dụng

Mục tiêu chính của phân tích tín dụng là xác định khả năng và ý muốn của người vay trong việc hoàn trả tiền vay phù hợp với các điều khoản trong

hợp đồng tín dụng Quá trình phân tích tín dụng gồm các bước: Thu thập

thông tin có ý nghĩa đối với việc đánh giá tín dụng→chuẩn bị và phân tích cácthông tin thu thập được→sưu tầm và lưu lại thông tin để sử dụng trong tương lai

Bước 3: Quyết định cho vay

Sau khi quá trình phân tích tín dụng kết thúc bộ phận tín dụng chuyển

lên tờ trình đề xuất cho vay cùng biên bản thẩm định, ngân hàng đứng trước

quyết định có cho vay hay không? Để ra quyết định cho vay thì ngoài thông

tin có được từ giai đoạn trước ngân hàng cần dựa vào những cơ sở sau:

- Thông tin bên ngoài ví dụ như từ Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của NHNN hay từ các công ty chuyên môn xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

- Thông tin từ chính sách tín dụng của ngân hàng, những quy định quản lý hoạt động cho vay từ phía NHNN

- Các nguồn vốn có thể huy động được để thực hiện cho vay đối với

khách hàng

Trang 26

Trong giai đoạn này, các ngân hàng phân cấp thực hiện quyền ra quyết định tín dụng Đối với món vay nhỏ có thể giao cho nhân viên tín dụng ra

quyết định, đối với món vay trung bình thì hội đồng cho vay của ngân hàng ở cấp chi nhánh ra quyết định và hội đồng cho vay của ngân hàng mẹ sẽ quyết

định những món vay lớn Kết quả của giai đoạn này được thể hiện trong hai

trường hợp sau:

Nếu từ chối cho vay thì phải có văn bản thông báo và nêu lý do từ chối Đại diện cấp ra quyết định tín dụng phải ghi ý kiến từ chối lên giấy đề nghị

cấp tín dụng của khách hàng

Nếu chấp thuận cho vay thì ngân hàng tiến hành ký kết hợp đồng tín

dụng với khách hàng chính thức hình thành quan hệ tín dụng với khách hàng

về mặt pháp lý

Kể từ thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng thành lập bộ hồ sơtín dụng bao gồm các giấy tờ hình thành từ hai giai đoạn trước cùng với bản

hợp đồng vừa mới được ký kết Hồ sơ tín dụng là cơ sở pháp lý quan trọng

chứng minh sự hình thành, tồn tại và kết thúc quan hệ tín dụng với khách

hàng Vì vậy, nó luôn được bổ sung thường xuyên trong các giai đoạn tiếp

theo và được bảo quản nghiêm ngặt Đặc biệt, các giấy tờ liên quan đến tài sảnbảo đảm được giao cho bộ phận ngân quỹ và được bảo quản như tiền mặt

Bước 4: Giải ngân

Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết, ngân hàng sẽ tiến hành giải

ngân theo hạn mức tín dụng đã được cam kết trong hợp đồng Như vậy, giải

ngân là việc ngân hàng tiến hành chi tiền cho khách hàng theo mức cho vay

được duyệt trong hợp đồng tín dụng Khi thực hiện giải ngân, CBTD phải luônchú ý tới nguyên tắc tiền vay trong hợp đồng tín dụng Tùy theo hình thức và quy mô của món vay cụ thể mà ngân hàng sẽ áp dụng những phương thức giải ngân phù hợp nhưng nhìn chung ngân hàng thường tiến hành giải ngân theo

hai cách đó là:

Trang 27

- Giải ngân một lần: Tiền vay được phát cho khách hàng một lần vào

đầu kỳ hạn vay tiền Phương thức này thường được áp dụng cho những món

vay nhỏ, thời hạn vay ngắn

- Giải ngân nhiều lần: Tiền vay theo hạn mức tín dụng được phát cho

khách hàng thành nhiều đợt Phương thức này được áp dụng cho những trườnghợp món vay lớn, thời hạn vay dài hoặc việc sử dụng vốn vay của khách hàng phục vụ cho sản xuất kinh doanh có tính phức tạp thông qua việc giải ngân

nhiều lần ngân hàng có thể tiến hành giám sát việc sử dụng vốn vay của kháchhàng

Bước 5: Giám sát và thanh lý khoản vay

Đây là khâu cuối cùng của quy trình tín dụng, ở khâu này ngân hàng sẽ thực hiện các công việc sau:

Giám sát tín dụng: Được thực hiện kể từ khi ngân hàng bắt đầu giải

ngân với nội dung chủ yếu là theo dõi việc tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng của khách hàng Ngân hàng có thể thực hiện nhiều cách giám sát khách hàng như:

- Giám sát trực tiếp: Ngân hàng trực tiếp cử người tới cơ sở của khách

hàng để kiểm tra, thu thập thông tin về khách hàng

- Giám sát gián tiếp: Ngân hàng thực hiện theo dõi khách hàng thông qua các thay đổi tài khoản tiền vay, tiền gửi của khách hàng, qua các báo cáo tài

chính định kỳ do khách hàng gửi tới, qua việc khách trả lời các phiếu điều tra, phỏng vấn của ngân hàng hoặc qua các nguồn thông tin khác như thông tin từ các trung tâm phân tích, dự báo của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh

vực tài chính ngân hàng, kế toán…

Tái xét khách hàng: Là việc đánh giá và phân loại lại khách hàng dựa

trên kết quả của việc giám sát Việc tái xét khách hàng thường nhằm vào các

mục tiêu phát hiện, ngăn ngừa những rủi ro liên quan đến việc khách hàng suyyếu trong năng lực trả nợ Do đó, công tác tái xét được thực hiện với các nội

Trang 28

dung chủ yếu là dự báo và đưa ra những phương án xử lý khi năng lực tài

chính của khách hàng có thay đổi, khi hiệu quả kinh doanh của khách hàng

thay đổi, khi bảo đảm tín dụng của khách hàng có thay đổi

Thu nợ: Khách hàng và ngân hàng thỏa thuận phương thức trả nợ tiền

vay cụ thể và được quy định trong hợp đồng Việc trả nợ cũng có thể thực hiệntheo nhiều cách như trả một lần vào cuối kỳ hạn vay, trả dần trong suốt thời

hạn vay, trả theo tài khoản vãng lai…

- Khi khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nợ với ngân hàng thì ngân

hàng sẽ tiến hành làm thủ tục hoàn trả lại tài sản đảm bảo tiền vay cho khách hàng

- Khi khách hàng không trả đủ số nợ ngân hàng thì ngân hàng tiến hành chuyển số nợ đó qua nợ quá hạn Khoản nợ quá hạn sẽ chịu lãi suất quá hạn

cao hơn mức thông thường

- Trong trường hợp khách hàng không trả nợ đúng hạn do nguyên nhân

khách quan, nếu ngân hàng xét thấy chính đáng thì có thể thực hiện gia hạn nợcho khách hàng

Xử lý nợ có vấn đề và thanh lý tín dụng: Những trường hợp nợ quá hạn ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá khả năng và mức độ thu hồi Tùy vào trường hợp cụ thể mà ngân hàng sẽ áp dụng những biện pháp thu nợ từ mềm dẻo đến mức khắt khe với mục đích thu nợ ở mức tối đa có thể được Những khoản nợ quá hạn sau khi đã được xử lý sẽ được thanh lý để chấm dứt sự tồn tại (những khoản nợ trả đúng được thanh lý mặc nhiên) kết thúc quan hệ tín dụng giữa

ngân hàng và khách hàng

Kết quả của nghiệp vụ cho vay:

Kết quả của nghiệp vụ cho vay là một chỉ tiêu quan trọng của hoạt độngtín dụng Vì hoạt động cho vay là hoạt động chính tạo ra nguồn thu cho các

NHTM Các chỉ tiêu kết quả của hoạt động cho vay đó là:

- Dư nợ

Trang 29

- Số tiền cho vay.

- Số tiền thu nợ

- Doanh thu cho vay

- Nợ xấu

- Lợi nhuận cho vay

1.2.3.2 Chiết khấu

Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng

chuyển nhượng phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để đổi một số tiền bằng

mệnh giá của thương phiếu trừ lãi chiết khấu và hoa hồng phí (nếu có)

Nghiệp vụ chiết khấu bao gồm các loại chiết khấu chứng từ có giá (sổ tiết

kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu…) và hình thức chiết

khấu trong xuất nhập khẩu (chiết khấu bộ chứng từ hàng nhập, hàng xuất,

thương phiếu, séc đòi tiền)

Quy trình chiết khấu: Đứng trên kỹ thuật cấp tín dụng, chiết khấu là

phương pháp xác định số tiền cho vay bằng cách khấu trừ phần lãi và các yếu

tố khác trên mệnh giá của thương phiếu, ngược lại khi đến hạn thanh toán số

tiền ngân hàng thu nợ bằng mệnh giá Với những hối phiếu và lệnh phiếu còn trong hạn thanh toán, khách hàng có thể đề nghị ngân hàng chiết khấu Cũng

giống như thẩm định các hồ sơ cho vay theo kỹ thuật ứng trước ngân hàng sẽ tiến hành phân tích tín dụng nếu mức độ rủi ro nằm trong giới hạn chấp nhận được ngân hàng sẽ tiến hành chiết khấu Quy trình chiết khấu là được thực

hiện như sau:

Bước 1: Xác định lãi chiết khấu: là số tiền lãi trong nghiệp vụ chiết

khấu mà ngân hàng được hưởng

Bước 2: Xác định hiện giá: là số tiền còn lại của mệnh giá sau khi trừ đi

lãi chiết khấu

Bước 3: Xác định giá trị ròng: là số tiền cấp cho khách hàng đi vay

(bằng hiện giá trừ đi hoa hồng phí)

Trang 30

Kết quả của chiết khấu:

- Số tiền chiết khấu trong một năm

- Doanh thu chiết khấu

1.2.3.3 Nghiệp vụ cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở

hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là TCTD với khách hàng thuê

Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản

đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp hợp đồng thuê Nghiệp vụ này

cung ứng các dịch vụ cho thuê máy móc, thiết bị thi công, phương tiện vận

chuyển, dây chuyền sản xuất, thiết bị gắn liền với bất động sản…

Quy trình cho thuê tài chính:

Quy trình cho thuê tài chính được thực hiện qua 4 bước dưới đây:

Bước 1: Lập hồ sơ thuê tài chính:

Bộ hồ sơ thuê tài chính bao gồm: Hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế và hồ sơ thuê tài chính Trong đó hồ sơ thuê tài chính bao gồm: giấy đề nghị thuê tài

chính, dự án hoặc phương án đầu tư sản xuất kinh doanh, văn bản thỏa thuận với nhà cung cấp về tài sản thuê (nếu có) Cán bộ cho thuê nhận hồ sơ đề nghị thuê tài chính của khách hàng, kiểm tra sơ bộ về tính hợp lý và hợp pháp của

bộ hồ sơ

Bước 2: Thẩm định hồ sơ thuê tài chính:

Cán bộ cho thuê thẩm định để làm rõ tính pháp lý, tình hình tài chính

của khách hàng trước khi thuê tài chính, tính toán hiệu quả kinh tế sử dụng tài sản thuê Sau đó lập báo cáo thẩm định và ghi rõ ý kiến đồng ý hay không

đồng ý cho thuê trình trưởng phòng Trưởng phòng cho thuê sẽ kiểm tra hồ sơ

và kết quả thẩm định, nếu thấy cần thiết thì yêu cầu cán bộ cho thuê thẩm địnhlại hoặc trực tiếp tái thẩm định, ghi rõ ý kiến đồng ý hay không đồng ý cho

thuê trình giám đốc

Bước 3: Trình duyệt, thông báo và ký kết hợp đồng:

Trang 31

- Trong thời gian quy định kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, bên cho thuê phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê về quyết định cho thuê hoặc không cho thuê Nếu từ chối phải nêu rõ lý do và thông báo cho bên thuê biết.

- Bên cho thuê cùng khách hàng tính toán, thỏa thuận và thống nhất các nội dung trong hợp đồng cho thuê như: lãi suất cho thuê, thời hạn cho thuê,

thanh toán tiền thuê, tiền đặt cọc, ký cược, giao nhận tài sản và bảo hiểm tài

sản cho thuê…Sau đó ký kết hợp đồng cho thuê

- Căn cứ vào hợp đồng cho thuê và văn bản thỏa thuận lựa chọn tài sản của bên thuê với bên cung ứng, bên cho thuê với bên cung ứng ký hợp đồng

mua bán tài sản

Bước 4: Thực hiện hợp đồng:

- Bên thuê tiếp nhận tài sản thuê từ bên cung ứng theo thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê và hợp đồng mua bán tài sản

- Bên cho thuê phối hợp với bên thuê và bên cung ứng thực hiện các thủtục đăng ký sở hữu tài sản theo quy định và đăng ký tài sản cho thuê tại trung tâm đăng ký giao dịch có đảm bảo theo quy định của pháp luật

- Bên cho thuê thực hiện kiểm tra sau khi cho thuê, bao gồm kiểm tra sửdụng tài sản thuê, kiểm tra tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của bên

thuê, thanh toán tiền thuê (gốc, lãi)

Kết quả của nghiệp vụ cho thuê tài chính:

- Số tiền cho thuê trong một năm

- Doanh thu cho thuê

Trang 32

Các hình thức bảo lãnh:

+ Bảo lãnh dự thầu

+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng

+ Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước

+ Bảo lãnh bảo hành chất lượng công trình/bảo hành chất lượng sản

phẩm

+ Bảo lãnh vay vốn

+ Bảo lãnh thanh toán

+ Bảo lãnh đối ứng

+ Các loại bảo lãnh được phép khác

Riêng đối với bảo lãnh thanh toán, khi khách hàng nhập khẩu yêu cầu

ngân hàng mở thư bảo lãnh để mua hàng từ nước ngoài thì hình thức này đượcgọi là Thư tín dụng (L/C)

Điều kiện bảo lãnh:

Khách hàng được bảo lãnh phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật,

- Mục đích đề nghị ngân hàng bảo lãnh là hợp pháp

- Có bảo đảm hợp pháp cho nghĩa vụ được bảo lãnh

Các hình thức bảo đảm cho bảo lãnh gồm: Ký quỹ, cầm cố tài sản, thế

chấp tài sản, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba và các biện pháp bảo đảm

khác theo quy định của pháp luật

- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh trong thời hạn cam kết

Quy trình bảo lãnh: Được thực hiện theo 5 bước dưới đây:

Bước 1: Khách hàng lập và gửi hồ sơ đề nghị bảo lãnh:

Trang 33

Trong hồ sơ gồm có: hồ sơ pháp lý, giấy đề nghị bảo lãnh, báo cáo tài

chính, báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh và các thông tin khác, hồ sơ

tài sản bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định

Bước 2: Ngân hàng thẩm định hồ sơ và ra quyết định bảo lãnh:

Sau khi tiếp nhận hồ sơ xin bảo lãnh của khách hàng, ngân hàng tiến

hành thẩm định hồ sơ đó Sau đó ngân hàng đưa ra quyết định bảo lãnh hay

không bảo lãnh (nếu không bảo lãnh ngân hàng phải trả lời bằng văn bản cho khách hàng và nói rõ lý do)

Bước 3: Ngân hàng ký hợp đồng bảo lãnh với khách hàng và phát hành thư

bảo lãnh Khách hàng nhận một bản cam kết bảo lãnh do ngân hàng phát hành.Ngân hàng kiểm tra theo dõi chặt chẽ tiến trình bảo lãnh nhằm hạn chế rủi ro, đôn đốc khách hàng thực hiện các nghĩa vụ được bảo lãnh

Bước 4: Khách hàng thanh toán phí bảo lãnh và các khoản phí khác (nếu có)

theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo lãnh

Bước 5: Tất toán bảo lãnh:

Sau khi thư bảo lãnh hết thời hạn hiệu lực hoặc khi có thông báo hoặc

xác nhận của bên nhận bảo lãnh về việc hoàn thành nghĩa vụ liên quan đến

bảo lãnh, ngân hàng tiến hành tất toán bảo lãnh Trường hợp bên được bảo

lãnh vi phạm nghĩa vụ đã được bảo lãnh, bên bảo lãnh phải trả thay và tự độnghạch toán nợ vay bắt buộc đối với số tiền trả nợ thay theo lãi suất nợ quá hạn của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh và áp dụng các biện pháp cần thiếtđể thu nợ

Kết quả của nghiệp vụ bảo lãnh:

- Số tiền bảo lãnh trong một năm

- Doanh thu bảo lãnh

1.3 Phân tích kết quả hoạt động tín dụng của NHTM

1.3.1 Thực chất và mục đích phân tích kết quả hoạt động tín dụng

Trang 34

Thực chất của phân tích kết quả hoạt động tín dụng là tiến hành thu thậpcác số liệu, tính toán các chỉ tiêu kết quả sau đó đem so sánh để tìm ra nguyên nhân.

Mục đích của phân tích kết quả tín dụng là để cung cấp cho các nhà

quản trị biết được điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân Từ đó đưa ra giải

pháp nhằm khắc phục các điểm yếu giúp ngân hàng nâng cao kết quả hoạt

động tín dụng

1.3.2 Nội dung và trình tự phân tích

1.3.2.1 Phân tích kết quả và hiệu quả hoạt động tín dụng

Phân tích kết quả và hiệu quả hoạt động tín dụng là đi tính toán các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả hoạt động tín dụng qua các thời kỳ Đem các chỉ tiêu vừa tính toán so sánh với nhau qua các thời kỳ để đánh giá được sự tăng giảm,phát triển hay giảm sút của hoạt động tín dụng qua các thời kỳ Mặt khác, đem

so sánh các chỉ tiêu này với các chỉ tiêu của các ngân hàng khác trên địa bàn

hoặc các chi nhánh cùng cấp trên cùng địa bàn để thấy được vị thế của chi

nhánh đang phân tích Từ đó đưa ra nhận xét về hoạt động tín dụng của chi

nhánh là tốt hay xấu và tìm nguyên nhân

a) Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động tín dụng:

Kết quả của hoạt động tín dụng là tổng hợp kết quả của 4 loại hình dịch

vụ sau:

Dịch vụ cho vay:

Kết quả của dịch vụ cho vay bao gồm các chỉ tiêu về số tiền cho vay, số tiền thu nợ, dư nợ, doanh thu cho vay, nợ xấu Từ các chỉ tiêu này mà ta đánh giá được kết quả của hoạt động cho vay tại NHTM

Số tiền cho vay : Là số tiền mà ngân hàng đã giải ngân trong một năm

Con số và tốc độ tăng trưởng của số tiền cho vay qua các năm phản ánh quy mô và xu hướng hoạt động cho vay của ngân hàng là mở rộng (khi tốc độ

Trang 35

tăng trưởng số tiền cho vay là dương) hay thu hẹp (khi tốc độ tăng trưởng số

tiền cho vay là âm)

Số tiền thu nợ: Chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã thu

hồi được trong một thời kỳ (thường là 1 năm)

Số tiền này được xem xét với con số dự kiến, nếu số tiền thực tế giảm so

với kế hoạch thì trong các khoản vay đang có dấu hiệu rủi ro, khoản tín dụng

đó không đảm bảo hiệu quả Nếu số tiền thu nợ tăng so với kế hoạch trong khi

số tiền cho vay giảm trong thời gian dài, liên tục chứng tỏ khách hàng đang

dần từ bỏ ngân hàng và như vậy hoạt động cho vay đang ở tình trạng xấu

Dư nợ: Là số tiền mà khách hàng vay ngân hàng tại một thời điểm cụ

thể

Tổng dư nợ phản ánh quy mô ngân hàng, tổng dư nợ thấp phản ánh việc ngân hàng không mở rộng được hoạt động tín dụng, không thu hút được kháchhàng Nhưng tổng dư nợ cao thì chưa chắc hoạt động tín dụng đã tốt vì tổng

dư nợ còn tiềm ẩn những RRTD Do vậy phải xem xét tổng dư nợ trong mối

quan hệ với các yếu tố khách quan lẫn chủ quan đã ảnh hưởng đến hiệu quả

hoạt động tín dụng, đồng thời kết hợp với các chỉ tiêu nợ quá hạn, lợi nhuận

do hoạt động cho vay mang lại để đánh giá được đúng đắn, chính xác và khoa học thực chất của hoạt động tín dụng

Doanh thu cho vay: Chỉ tiêu này phản ánh ngân hàng đã tạo được bao

nhiêu thu nhập từ khoản vay

Lãi tín dụng (tính theo ngày) được tính như sau:

Doanh thu cho vay là số lãi lũy kế từng ngày trong kỳ tính lãi Doanh

thu cho vay không chỉ phản ánh thu nhập của hoạt động cho vay mà còn cho

Trang 36

thấy lãi suất cho vay thực tế mà ngân hàng đang có được qua công thức dưới đây:

Lãi suất cho vay thực tế mới phản ánh chính xác hoạt động tín dụng

hiện tại đem lại cho ngân hàng hiệu suất sinh lợi là bao nhiêu, khả năng bù đắpcác chi phí có đủ đảm bảo hay không Đồng thời lãi suất cho vay thực tế được tính toán để so sánh với lãi suất cho vay danh nghĩa bình quân gia quyền theo quy định của ngân hàng trong năm so sánh để xét xem ngân hàng có thu hồi

lãi đủ và đúng theo hợp đồng tín dụng hay không

Nợ xấu: Là các khoản nợ khi đến kỳ hạn trả nợ hoặc hết thời hạn vay

vốn cộng với thời gian được gia hạn thêm (nếu có) nhưng khách hàng vay vẫn chưa trả được nợ

Trong trường hợp này khách hàng sẽ phải chịu lãi suất nợ quá hạn cao hơnnhiều so với lãi suất đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Để đánh giá sâu hơn người ta thường dựa vào các tiêu thức như: thời gian nợ xấu, nguyên nhân gây ra nợ xấu, uy tín của khách hàng vay mà chia nợ xấu thành hai loại: nợ quá hạn và nợ quá hạn hạn khó đòi

Chiết khấu:

Kết quả của nghiệp vụ chiết khấu bao gồm: Số tiền chiết khấu và doanh thu chiết khấu

- Số tiền chiết khấu: Là tổng số tiền mà ngân hàng đã chi cho khách

hàng vào hoạt động chiết khấu trong năm

- Doanh thu chiết khấu: Chỉ tiêu này phản ánh ngân hàng đã tạo thêm

được bao nhiêu thu nhập từ chiết khấu

Cho thuê tài chính:

Trang 37

Kết quả của nghiệp vụ cho thuê tài chính bao gồm: Số tiền cho thuê và doanh thu cho thuê.

- Số tiền cho thuê: Là tổng số tiền mà ngân hàng đã chi cho khách hàng vào nghiệp vụ cho thuê tài chính trong năm

- Doanh thu cho thuê: Chỉ tiêu này phản ánh ngân hàng đã tạo được bao nhiêu thu nhập từ cho thuê tài chính

Bảo lãnh:

Kết quả của nghiệp vụ bảo lãnh bao gồm: Số tiền bảo lãnh, phí bảo lãnh

và doanh thu bảo lãnh

- Số tiền bảo lãnh: Là tổng số tiền mà ngân hàng nhận bảo lãnh

- Phí bảo lãnh: Là khoản tiền mà khách hàng phải trả cho ngân hàng để

được ngân hàng bảo lãnh

- Doanh thu bảo lãnh: Là toàn bộ phí bảo lãnh mà ngân hàng thu được

từ nghiệp vụ bảo lãnh

Ngoài ra, một chỉ tiêu không thể thiếu để đánh giá kết quả hoạt động tín dụng đó là lợi nhuận tín dụng - Là khoản tiền mà ngân hàng thu được từ hoạt động tín dụng sau khi đã trừ đi chi phí cho hoạt động tín dụng Chỉ tiêu này

cao thì kết quả hoạt động tín dụng cao và ngược lại

Chi phí bao gồm: Chi phí huy động vốn, chi phí nguồn lực, chi phí cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho hoạt động cho vay và các chi phí khác

Trang 38

Số cho vay lớn, khả năng thu nợ, thu lãi tốt, khách hàng trả gốc và lãi đầyđủ, đúng hạn và đạt được kế hoạch đề ra của ngành cũng như của ngân hàng

thì hoạt động tín dụng của ngân hàng tốt

b) Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng:

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đối với một ngân hàng là hết sức cần thiết và quan trọng vì hiệu quả tín dụng cho thấy khả năng hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tự đánh giá vị trí của mình Qua đó giúp ngân hàng có những thay đổi kịp thời trong hoạt động và đưa ra những quyết định hợp lý nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như đáp ứng mục tiêu an toàn

và khả năng sinh lợi của ngân hàng

Hiệu quả hoạt động tín dụng được xác định như sau:

Trong đó, nguồn lực đầu vào bao gồm: chi phí huy động vốn, chi phí về trang thiết bị, cơ sở vật chất, hạ tầng, chi phí về nhân lực và các chi phí khác

liên quan đến hoạt động tín dụng

Như vậy, hiệu quả hoạt động tín dụng phụ thuộc vào kết quả hoạt động tín dụng và các chi phí đầu vào

Ở yếu tố nguồn lực đầu vào, các chi phí về trang thiết bị, cơ sở vật chất,

cơ sở hạ tầng, chi phí nhân lực thì hầu hết các NHTM có thể kiểm soát được

Do đó, để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng cần xem xét hai yếu tố định

lượng còn lại là kết quả hoạt động tín dụng và chi phí tạo vốn

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng (đứng trên quan điểm của ngân hàng):

Khả năng cấp tín dụng:

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn huy động đảm bảo cho bảo cho bao nhiêu đồng vốn cho nhu cầu tín dụng Nó cho thấy khả năng tự chủ của ngân

Trang 39

hàng trong việc cấp tín dụng cho nền kinh tế Ngoài ra chỉ tiêu này còn ảnh

hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng

Tuy nhiên, chúng ta không thể dựa vào chỉ tiêu này để đánh giá hiệu

quả hoạt động tín dụng Bởi vì, nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ ngân hàng cho

vay nhiều so với vốn huy động nhưng điều đó chưa đủ để nói lên hiệu quả tín dụng của ngân hàng là cao hay thấp mà cần đánh giá trong tương quan với khảnăng huy động vốn Nếu chỉ tiêu này thấp kết hợp với khả năng huy động vốn cao thì có thể cho rằng ngân hàng đã sử dụng vốn không hiệu quả, lãng phí

vốn làm ảnh hưởng tới lợi nhuận và an toàn trong hoạt động ngân hàng

Tỷ lệ thu nợ:

Tỷ lệ này cho biết ngân hàng thu được bao nhiêu nợ từ một đồng cho vay

Tỷ lệ này cao chứng tỏ công tác thu hồi nợ của ngân hàng tốt, ngược lại thì

hoạt động thu hồi nợ của ngân hàng đang diễn ra xấu

Tỷ lệ nợ xấu:

- Tỷ lệ nợ quá hạn:

Tỷ lệ này cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn thể hiện khả năng dư nợ của ngân hàng đến đâu, tỷ lệ nợquá hạn càng cao thì ngân hàng càng gặp nhiều khó khăn hơn, mặc dù ngân

hàng chưa gặp rủi ro mất vốn nhưng khả năng cung ứng vốn cho khách hàng khác bị hạn chế Không những thế nó còn ảnh hưởng đến khả năng thanh

khoản và ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng từ đó làm cho

chi phí cơ hội của ngân hàng tăng lên

- Tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi:

Tỷ lệ này cho biết trong một đồng tổng dư nợ của ngân hàng có bao

nhiêu đồng là nợ khó đòi Một ngân hàng luôn đặt ra mục tiêu không có nợ

Trang 40

khó đòi, tuy nhiên điều này rất khó thực hiện trong thực tế do hoạt động này

luôn tiềm ẩn những rủi ro rất lớn mà khó có thể lường hết được

Các tỷ lệ nợ này càng cao thì hiệu quả hoạt động tín dụng càng thấp và

ngược lại Nó gây ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh doanh của ngân hàng

và cũng chính là rủi ro của hoạt động tín dụng Việc xác định các tỷ lệ nợ này giúp ngân hàng xác định được quỹ bù đắp và quỹ dự phòng rủi ro

Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng:

Chỉ tiêu này đánh giá được khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng

đồng thời cho thấy vị trí của tín dụng trong hoạt động của ngân hàng Chỉ tiêu này tỷ lệ thuận với hiệu quả tín dụng: chỉ tiêu này cao thì hiệu quả hoạt động tín dụng cao và ngược lại

- Nhóm các nhân tố thuộc về ngân hàng: các nhân tố thuộc về 7P của

marketing dịch vụ (chính sách sản phẩm/dịch vụ, lãi suất, phân phối, xúc tiến, con người, quy trình thực hiện, cơ sở vật chất) và khả năng tài chính của ngân hàng

- Nhóm các nhân tố bên ngoài: các nhân tố thuộc về khách hàng và đối thủ cạnh tranh

1.3.2.2.1 Nhóm các nhân tố thuộc về ngân hàng:

Ngày đăng: 21/10/2022, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Hồ Diệu (2008), Giáo trình tín dụng ngân hàng, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tín dụng ngân hàng
Tác giả: TS. Hồ Diệu
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
2. PGS. TS. Nguyễn Thị Mùi (2008), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Thị Mùi
Nhà XB: NXBTài chính
Năm: 2008
3. PGS. TS. Nguyễn Thị Mùi (2008), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: uản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Thị Mùi
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2008
4. TS. Nguyễn Minh Kiều (2008), Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
Tác giả: TS. Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: NXB Thốngkê
Năm: 2008
5. TS. Trần Viết Hoàng (2008), Các nguyên lý tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên lý tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính
Tác giả: TS. Trần Viết Hoàng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
6. PGS. TS. Lê Văn Tề (2009), Tín dụng ngân hàng, NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng ngân hàng
Tác giả: PGS. TS. Lê Văn Tề
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2009
7. PGS. TS. Đinh Văn Thanh (2006), Những quy định của pháp luật về hoạt động tín dụng, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định của pháp luật về hoạt động tín dụng
Tác giả: PGS. TS. Đinh Văn Thanh
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2006
8. TS. Trịnh Quốc Trung (2008), Marketing ngân hàng, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing ngân hàng
Tác giả: TS. Trịnh Quốc Trung
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
9. PGS. TS. Nguyễn Đình Tự (2006), Các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng ở Việt Nam, NXB Lao động-Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản quy phạm pháp luật về tiềntệ và hoạt động ngân hàng ở Việt Nam
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Đình Tự
Nhà XB: NXB Lao động-Xã hội
Năm: 2006
10. Báo cáo thường niên năm 2008,2009 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và NHNN Hà Nội Khác
11. Sổ tay tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.Website Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w