TÌM HIỂU QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015 VỀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VÀ ĐIỀU TRA Hà Nội, tháng 4 năm 2020 LỜI CAM ĐOAN số liệu trên đây là hoàn toàn đúng sự thật .
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG HỢP
TÌM HIỂU QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015 VỀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VÀ ĐIỀU
TRA
Hà Nội, tháng 4 năm 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản đề tài là công trình nghiên cứu khoa học độc lậpcủa nhóm tác giả chúng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong đề tài là trung thực
và có nguồn gốc rõ ràng
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
(ký, ghi rõ họ tên)
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VÀ ĐIỀU TRA 6
1.1 Khái niệm bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra 6
1.1.1 Một số khái niệm liên quan 6
1.1.2 Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra 8
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra 9
1.2.1 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra 9
1.2.2 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra 12
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên TG về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra 15
1.3.1 Kinh nghiệm bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Mỹ15 1.3.2 Kinh nghiệm về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Trung Quốc 16
1.3.3 Kinh nghiệm về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Cộng Hòa Liên Bang Đức 18
CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ BẢM ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VÀ ĐIỀU TRA 20
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về đảm bảo quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra 20
2.1.1 Giai đoạn trước khi BLTTHS năm 1988 ra đời 20
2.1.2 Giai đoạn từ BLTTHS năm 1988 đến trước khi có BLTTHS năm 2003 22
2.1.3 Giai đoạn từ khi có BLTTHS năm 2003 đến trước khi có BLTTHS 2015 25
2.1.4 Giai đoạn từ khi có BLTTHS 2015 đến nay 27
2.2 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 liên quan đến bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra 28
2.2.1 Quy định về nguyên tắc tố tụng làm cơ sở bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra 28
2.2.2 Quy định của BLTTHS 2015 về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố 30
2.2.3 Quy định của BLTTHS 2015 về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn điều tra 35
Trang 42.3 Thực trạng thực hiện quy định về bảo đảm quyền con người trong
giai đoạn khởi tố và điều tra 41
2.3.1 Kết quả đạt được 41
2.3.2 Những hạn chế, vướng mắc 44
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VÀ ĐIỀU TRA 46
3.1 Những yêu cầu về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 46
3.1.1 Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền 46
3.1.2 Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra phải phù hợp các tiêu chí quốc tế về quyền con người 47
3.1.3 Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra phải xuất phát từ yêu cầu đổi mới, cải cách hoạt động của các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội 48
3.1.4 Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra trên cơ sở phát huy vai trò giám sát tư pháp của các cơ quan 49
3.2 Một số giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra 49
3.2.1 Giải pháp về pháp luật 49
3.2.2 Giải pháp khác 53
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 59
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTHS: Tố tụng hình sự
BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự
THTT: Tiến hành tố tụng
CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
CQĐT: Cơ quan điều tra
CQCA: Cơ quan Công an
CBĐT: Cán bộ điều tra
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
NTHTT: Người tiến hành tố tụng
NTGTT: Người tham gia tố tụng
VAHS: Vụ án hình sự
TNHS: Trách nhiệm hình sự
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Nhận thức về quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử
xã hội loài người, là giá trị tinh thần quý giá nhất của nền văn minh nhân loại.Khái niệm “quyền con người” ( Human Rights) xuất hiện đầu tiên ở phương Tâythế kỉ XVII – XVIII.Trong một số tác phẩm của các nhà tư tưởng như J.JRousseau, T Hobbes, J Locke.v.v… đã đề cập đến vấn đề này Sau này kháiniệm này đã được cụ thể hóa trong một số văn bản có tính chất pháp lý của một
số quốc gia như: Tuyên ngôn độc lập Mỹ 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dânquyền ở Pháp năm 1789,…
Quyền con người nói chung, quyền của bị can, bị cáo nói riêng khôngnhững được pháp luật quốc tế thừa nhận mà còn được cụ thể thông qua hệ thốngpháp luật của mỗi quốc gia Quyền con người là vốn quý nhất, là một giá trịthiêng liêng, nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có
tố tụng hình sự Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày, hànggiờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường,… nhưng có thể nói quyềncon người trong tố tụng hình sự lại là quyền dễ bị xâm hại nhất và hậu quả để lạicũng nghiêm trọng nhát khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do vàsinh mệnh chính trị của một cá nhân bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước
Ở Việt Nam, vấn đề quyền con người trong tố tụng hình sự luôn đượcquan tâm Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xãhội Chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, quyền con người, quyền và lợi ích của công dân
đã được bảo đảm cả về mặt pháp lý và trên thực tế Các quyền đó đã được ghinhận, bảo đảm nhất quán, xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1952,
1980, 1992, 2013 Hiến pháp năm 2013 đã dành một chương (Chương II) đã quyđịnh về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”; các quyền
về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đã được quy định đầy đủ, tươngthích với các công ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc mà ViệtNam tham gia
Trang 7Cụ thể hoá Hiến pháp 2013, Việt Nam đã ban hành Bộ luật Tố tụng hình
sự 2015 – bước phát triển quan trọng trong chính sách hình sự Theo đó, quyềncon người trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử được sửa đổi,
bổ sung: quy định mở rộng nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan tiến hành tốtụng cũng như quy định về trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ hơn; bổ sung chongười bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo một số quyền;…Các quy định của phápluật tố tụng trong thời gian qua đã phần nào phát huy được hiệu quả điều chỉnhtrên thực tế Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhất định, chưa phù hợp về mặt
lý luận cũng như thực tiễn: một số quyền chưa được bảo đảm; các vi phạm phápluật khi tiến hành các hoạt động điều tra,…Những hạn chế, vướng mắc đó đặt rayêu cầu nghiên cứu các quy định về bảo đảm quyền con người nói chung, bảođảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra nói riêng
Theo đó, chúng em lựa chọn tìm hiểu đề tài “Tìm hiểu quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự 2015 về việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra” Việc nghiên cứu đề tài là quan trọng và cần thiết, góp phần
nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người và phù hợp với xu thế hội nhậpquốc tế
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Tình hình nghiên cứu trong nước: Ở Việt Nam hiện nay đã có một số
công trình nghiên cứu và đã đạt được những thành công nhất định nhưng bảođảm quyền con người trong tố tụng hình sự vẫn là một vấn đề được dư luận
quan tâm Một số công trình đã nghiên cứu:
1 Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự trong điều kiện xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo quốc tếQuyền con người trong tố tụng hình sự, VKSNDTC - Ủy ban nhân quyềnAustralia, Hà Nội, tháng 3/2010
2 Bảo đảm quyền của người bị buộc tội trong các văn bản pháp lý quốc tế
về quyền con người, Học viện tư pháp và Viện FES LB Đức, Hội thảo khao học
“Bảo vệ quyền con người trong Tố tụng hình sự”, Hội An, tháng 12/2014
Trang 83 TS Lê Hữu Thể (Chủ nhiệm), Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện hệthống pháp luật về tố tụng hình sự bảo đảm quyền con người, quyền công dânphù hợp với Hiến pháp, Đề tài khoa học cấp bộ, Viện nghiên cứu lập pháp, HàNội, 2017.
- Tình hình nghiên cứu thế giới: Pháp luật quốc tế có những chuẩn mực
tối thiểu đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong tố tụng hình
sự được áp dụng trong phạm vi toàn cầu không kể hệ thống chính trị, trình độphát triển kinh tế, xã hội Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quyền con ngườitrong tố tụng hình sự được quy định trong nhiều văn kiện, có thể tìm thấy trongcác các văn kiện quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự như: Tuyênngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR), Công ước quốc tế về các quyềndân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR)… Các quy định trên tạo thành hệ thống cácchuẩn mực tối thiểu về quy tắc ứng xử của cơ quan và nhân viên thực thi phápluật cũng như đảm bảo cho bị can, bị cáo có các quyền pháp lý nhất định để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giảm thiểu các nguy cơ xâm hại bất hợp pháp
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu: Tìm hiểu những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người, đồng
thời nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về các biện pháp này và thực tiễn
áp dụng các biện pháp này để làm rõ những vấn đề còn bất cập, hạn chế ảnhhưởng đến quyền con người, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường bảo
vệ quyền con người trong gia đoạn khởi tố và điều tra
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu thì nhiệm vụ nghiên
+ Xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ quyền con người trong giaiđoạn khởi tố và điều tra
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Các quy định của BLTTHS 2015 về bảo đảm quyền con ngườitrong giai đoạn khởi tố và điều tra
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu các văn bản pháp luật, tài liệu liên quan đến quyền con người,kinh nghiệm bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng ở một số quốcgia trên thế giới, đặc biệt là thông qua BLTTHS 2015 về việc bảo đảm quyềncon người trong giai đoạn khởi tố và điều tra
+ Không gian: Phạm vi cả nước
+ Thời gian: Từ khi BLTTHS 2015 có hiệu lực cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch
sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhànước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nướcpháp quyền
- Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là: phươngpháp phân tích; phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp tổng kết thựctiễn, phương pháp số liệu thống kê,…
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra đã đáp ứng việcbảo đảm quyền con người
Trang 10CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ BẢM ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VÀ ĐIỀU TRA
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về đảm bảo quyềncon người trong giai đoạn khởi tố và điều tra
2.2 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 liên quan đến bảo đảmquyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra
2.3 Thực trạng thực hiện quy định về bảo đảm quyền con người trong giai đoạnkhởi tố và điều tra
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VÀ ĐIỀU TRA
3.1 Những yêu cầu về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điềutra vụ án hình sự
3.2 Một số giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi
tố và điều tra
Trang 11CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VÀ ĐIỀU TRA 1.1 Khái niệm bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Quyền con người
Quyền con người theo tiếng Pháp là “droits de l'homme”; tiếng Anh là
“human rights ” hay “The rights of man”; theo nghĩa Hán-Việt gọi là “Nhânquyền” cũng chính là quyền con người và theo Đại từ điển tiếng Việt thì “Nhânquyền” hay “Quyền con người” là đồng nghĩa nhau
Quyền con người là một giá trị nhân loại, đồng thời có tính lịch sử đượchình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung mới qua các thời đạikhác nhau Quyền con người được có một cách tự nhiên gắn bó mật thiết với conngười- một động vật cao cấp có lý trí, có tình cảm làm cho con người khác vớicác loài động vật khác mà nhà nước thành lập với một trong những mục đích,nhiệm vụ quan trọng bậc nhất là bảo vệ những quyền đó Bởi lẽ đó mà quyềncon người luôn là một trong những mục tiêu của Hiến pháp mỗi quốc gia Ở ViệtNam, quyền con người đã được đề cập từ Bộ luật Hồng Đức (Quốc Triều HìnhLuật)
Hiện nay, có nhiều định nghĩa về quyền con người Quyền con ngườikhông chỉ được nhìn nhận trên quan điểm các quyền tự nhiên (natural rights) mà
nó còn được nhìn nhận trên quan điểm các quyền pháp lý (legal rights) Tuynhiên, định nghĩa của Văn phòng Cao uỷ Liên hợp quốc thường được trích dẫnbởi các nhà nghiên cứu, theo đó: “quyền con người được hiểu là những đảm bảopháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại nhữnghành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép
và sự tự do cơ bản của con người”
1.1.1.2 Bảo đảm quyền con người
Theo Từ điển Tiếng Việt, bảo đảm là “làm cho chắc chắn thực hiện được,giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” Ở góc độ ngôn ngữ, bảo đảm
có nghĩa là công cụ, điều kiện hay những hoạt động cần thiết có tính bổ sung,
Trang 12giữa gìn cho một hiện tượng hay một việc làm gì đấy để đạt được kết quả mongđợi Như vậy, bảo đảm cao hơn bảo vệ.
Quyền con người không chỉ được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc giaghi nhận mà điều quan trọng là nhà nước phải bảo đảm cho quyền con ngườiđược thực hiện trên thực tế Khi quyền con người không được thực hiện thì việcghi nhận quyền con người trong pháp luật mãi mãi chỉ là hình thức
Bảo đảm quyền con người được hiểu là một hệ thống tiền đề, điều kiện,công cụ xã hội kinh tế, chính trị, đạo đức, tổ chức, pháp lý nhằm tạo cho cá nhânnhững điều kiện bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các quyền tự do củamình Chủ thể bảo đảm chính ở đây là nhà nước thông qua thực hiện nghĩa vụcủa mình để cho quyền con người được thực hiện trên thực tế Bảo đảm quyềncon người có nhiều loại như: bảo đảm pháp lý, bảo đảm kinh tế, bảo đảm chínhtrị, bảo đảm xã hội Trong đó, bảo đảm pháp lý đóng vai trò quan trọng
1.1.1.3.Khởi tố và điều tra vụ án hình sự
TTHS là quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luậtbao gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.Mỗi giai đoạn thực hiện một nhiệm vụ nhất định nhưng cùng hướng đến mụcđích chung là giải quyết mọi vấn đề của VAHS Tuy độc lập, nhưng mỗi giaiđoạn vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành một trình tựthống nhất; giai đoạn trước là tiền đề cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạnsau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước
Khởi tố vụ án hình sự
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn TTHS đầu tiên mà trong đó cơ quan tưpháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS tiếnhành việc xác định có hay không các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguyhiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi
tố hoặc không khởi tố VAHS liên quan đến hành vi đó Do vậy ở giai đoạn tốtụng vụ án hình sự, các CQTHTT chưa thể kết luận chính xác ngay được về tộiphạm và người thực hiện hành vi phạm tội, mà chỉ tạo các tiền đề pháp luật vềnội dung và pháp luật về hình thức của việc điều tra VAHS
Trang 13Nói tóm lại, giai đoạn khởi tố VAHS là giai đoạn TTHS đầu tiên, được bắtđầu từ khi các CQTHTT có thẩm quyền nhận được tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố của cá nhân, cơ quan, tổ chức và kết thúc khi cơ quan cóthẩm quyền ra một trong hai quyết định: Quyết định khởi tố VAHS hoặc Quyếtđịnh không khởi tố VAHS, nhằm làm cơ sở cho các hoạn động tố tụng tiếp theocủa quá trình giải quyết VAHS
Điều tra
Điều tra VAHS là giai đoạn TTHS thứ hai mà trong đó cơ quan Điều tracăn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của VKS tiếnhành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiêncứu các tình tiết của VAHS, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũngnhư người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu TNHS, đồng thờibảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ
sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra VAHS hoặc là; Chuyển toàn bộ các tài liệucủa vụ án đó cho VKS kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can
Như vậy, giai đoạn điều tra trong VAHS được hiểu là giai đoạn TTHS màtrong đó các CQĐT và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều trađược sử dụng các biện pháp do Luật định để thu thập chứng cứ chứng minh tộiphạm, người phạm tội và những vấn đề có liên quan đến việc xác định sự thậtcủa vụ án
1.1.2 Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra
Quyền con người trong TTHS là tổng hợp các quyền thuộc nhóm quyềndân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe,tôn trọng danh dự nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảođảm việc xét xử công bằng bởi một TA độc lập khách quan đối với nhiều ngườiyếu thế (người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, người bị kết án và nhữngngười tham gia tố tụng khác) khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của các cơ quan
và nhân viên nhà nước trong các hoạt động TTHS
Trong lĩnh vực TTHS luôn tồn tại xung đột giữa lợi ích chung của nhànước, của xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia vào hoạt
Trang 14động TTHS Theo đó, TTHS của bất kỳ quốc gia nào đều coi vấn đề bảo đảmquyền con người là vấn đề cơ bản Bảo đảm quyền con người trong TTHS nóichung, trong giai đoạn khởi tố và điều tra nói riêng là một dạng bảo đảm pháp
lý Trong đó:
Chủ thể bảo đảm quyền con người nói chung là Nhà nước Trong TTHS,chủ thể bảo đảm trong giai đoạn khởi tố và điều tra là các cơ quan có thẩmquyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy địnhcủa pháp luật TTHS Các chủ thể này thông qua các hoạt động, hành vi tố tụngcủa mình làm cho quyền con người được hiện thực hoá
Chủ thể được bảo đảm là những người yếu thế gồm người bị tạm giữ, tạmgiam, bị can, bị cáo, người bị kết án và những người tham gia tố tụng khác màkhông bao gồm người phạm tội đã bị kết án và phải chấp hành hình phạt do TAtuyên
Phạm vi về thời gian của bảo đảm diễn ra trong giai đoạn khởi tố và điềutra
Đối tượng được bảo đảm là quyền con người của các chủ thể được bảođảm Có thể kể đến một số quyền: quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền bấtkhả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm; quyền bào chữa, quyền đượcsuy đoán vô tội,…
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm bảo đảm quyền con
người trong giai đoạn khởi tố và điều tra là: Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra các vụ án hình sự là sự ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các VAHS, xác định các cách thức, biện pháp pháp lý và giám sát thực thi nhằm bảo vệ các quyền con người.
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra.
1.2.1 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra
1.2.1.1.Pháp luật
Trang 15Pháp luật là phương tiện chính thức hóa các giá trị xã hội của quyền conngười; các quyền đó được pháp luật hóa và mang tính bắt buộc, được xã hộithừa nhận, bảo đảm Nếu không có sự thừa nhận của xã hội thông qua pháp luậtthì quyền tự nhiên vốn có của con người chưa trở thành quyền thực sự Ngượclại, quyền con người khi đã được quy định trong pháp luật thì nó sẽ trở thànhquyền pháp định, là ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội thừa nhận phụctùng, được quyền lực Nhà nước tôn trọng bảo vệ Khi quyền con người đượcquy định trong Hiến pháp và pháp luật thì nó sẽ trở thành “tối thượng” có giá trịbắt buộc đối với toàn xã hội, ngay cả với cơ quan cao nhất của Nhà nước.
Pháp luật là công cụ sắc bén của Nhà nước trong việc thực hiện bảo đảmquyền con người Tính sắc bén của pháp luật trong việc thực hiện bảo đảmquyền con người được thể hiện ở các quy định về quyền con người trong phápluật được đảm bảo bằng bộ máy, cách thức tác động quyền lực của Nhà nước,khi cần thiết thì Nhà nước sử dụng các biện pháp cưỡng chế trên cơ sở tiến hànhcác biện pháp giáo dục, thuyết phục bảo đảm cho nội dung quyền con người,quyền công dân được thực hiện và bảo đảm Bên cạnh đó, nhờ hệ thống cơ quanbảo đảm pháp luật mà mọi hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dânđều có khả năng bị phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời
Pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảođảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ Ở đây pháp luật được xem xét khôngchỉ với tư cách là công cụ, phương tiện của Nhà nước mà còn là công cụ, vũ khícủa mọi người trong xã hội để thực hiện, bảo đảm quyền con người Bởi vì phápluật là đại lượng mang giá trị phổ biến, là chuẩn mực của sự công bằng, do đó cóthể đo được hành vi của mọi người, kể cả các cơ quan tổ chức, công chức Nhànước Trong TTHS, hệ thống pháp luật TTHS với đầy đủ các quy định ghi nhậncác quyền con người trong TTHS, quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩmquyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền conngười sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi để thực thi quyền con người Bên cạnh
đó, pháp luật về các cơ chế giám sát, pháp luật về xử lý hành vi vi phạm quyền
Trang 16con người sẽ góp phần hỗ trợ cho việc bảo đảm quyền con người trong TTHSnói chung và trong giai đoạn khởi tố và điều tra nói riêng.
1.2.1.2 Mô hình tố tụng
TTHS là sự thể hiện cách ứng xử của Nhà nước đối với người bị tình nghi
là phạm tội, quyết định toàn bộ quy trình tố tụng hướng tới sự tạo điều kiệnthuận lợi cho cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng hay là sự bảo vệ quyền lợicủa công dân
Trên thế giới đang tồn tại hai hệ tố tụng cơ bản: Tố tụng thẩm vấn và tốtụng tranh tụng Tố tụng thẩm vấn là loại tố tụng huy động tối đa sự tham giacủa các cơ quan tố tụng chuyên nghiệp của Nhà nước vào quá trình xác định ra
sự thật của vụ án, phán quyết của Toà dựa trên hồ sơ vụ án kết hợp với việc tiếptục thẩm vấn tại phiên toà Tố tụng tranh tụng là loại hình tố tụng mà trong đócác bên tham gia vào quá trình xác định sự thật vụ án có lợi ích đối lập nhau, địa
vị tố tụng ngang bằng nhau và phán quyết của TA dựa trên cơ sở tranh tụng giữacác bên tại phiên toà
So sánh giữa hai mô hình, các nhà nghiên cứu đều khẳng định tính ưu việtcủa mô hình tố tụng tranh tụng trong việc bảo đảm quyền con người Song nếuxét theo yêu cầu đấu tranh với tội phạm thì mô hình tố tụng thẩm vấn và môhình tố tụng hỗn hợp được đánh giá cao Do vậy, việc lựa chọn mô hình TTHScũng ảnh hướng đến việc bảo đảm quyền con người của các chủ thể bởi mỗi môhình TTHS có những ưu điểm và hạn chế nhất định
1.2.1.3 Cơ chế xử lý hành vi vi phạm
Hành vi vi phạm quyền con người cần phải bị xử lý một cách kịp thời,nghiêm minh để tạo tính răn đe cho mọi người trong xã hội và giúp người bịxâm phạm tin tưởng vào sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật Theo đó,việc hình thành cơ chế xử lý hành vi vi phạm quyền con người có vai trò quantrọng trong bảo đảm quyền con người nói chung, quyền con người trong giaiđoạn khởi tố và điều tra nói riêng
Cơ chế xử lý vi phạm quyền con người ở các quốc gia là khác nhau dotrình độ phát triển, văn hóa Theo đó, các quốc gia có thể tồn tại mô hình: (i) cơ
Trang 17quan nhân quyền quốc gia; (ii) các thiết chế độc lập trong bộ máy nhà nước cóchức năng xử lý Hiện nay, ở Việt Nam chưa xây dựng mô hình cơ quan nhânquyền quốc gia do việc thiết lập cơ quan nhân quyền quốc gia phải đáp ứngđược một số tiêu chuẩn quốc tế về cơ chế nhân quyền quốc gia, tương thích với
xu hướng quốc tế và khu vực
Mức độ xử lý có thể là xử lý hành chính, xử lý hình sự, bồi thường Xử lýhình sự được áp dụng với những hành vi vi phạm quyền con người nghiêmtrọng Đối với các hành vi vi phạm ở mức độ nhẹ hơn có thể xem xét xử lý hànhchính, bồi thường Tuy nhiên, việc xử lý phải tương xứng với tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi Có như vậy, việc bảo đảm quyền con người mới pháthuy hiệu quả tối đa
1.2.2 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra.
1.2.2.1 Xét ở góc độ của cơ quan, người tiến hành tố tụng:
CQTHTT là cơ quan nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước trong việctrong việc giải quyết VAHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thểtrong xã hội Các quyết định của cơ quan này có giá trị bắt buộc các chủ thểkhác phải chấp hành
Trong TTHS, CQTHTT gồm có CQĐT, VKS và TA (Khoản 1 Điều 34BLTTHS 2015) Khi tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan này
có quyền, đồng thời có nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sựthật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng
cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng vànhững tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo Trách nhiệm chứngminh trong VAHS thuộc về các CQTHTT Ngoài ra, trong quá trình tiến hànhTTHS, CQĐT, VKS và TA còn có nhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điềukiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện phápkhắc phục nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thờimọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 18NTHTT là những người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giảiquyết vụ việc hình sự, thi hành án hình sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS Những NTHTT được thay mặt các CQTHTT thực hiện việc giảiquyết các vụ việc hình sự và kiểm sát việc tuận theo pháp luật trong thủ tục tốtụng Những NTHTT được chủ động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mìnhđộc lập với các chủ thể khác và chỉ tuân theo pháp luật.
Căn cứ theo khoản Điều 34 BLTTHS 2015, NTHTT gồm có:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên
Hiệu quả của CQTHTT, NTHTT phụ thuộc vào các yếu tố như số lượng, chất lượng và đạo đức nghề nghiệp Sự thiếu hụt nhân sự sẽ dẫn đến người tiến hành tố tụng ở mỗi cơ quan phải đảm nhận công việc quá nhiều, khả năng xảy
ra sai sót tăng Chất lượng chuyên môn nghiệp vụ non kém có thể dẫn đến những sai sót trong quá trình xử lý VAHS, xâm phạm đến quyền con người Bên cạnh đó ý thức bảo vệ quyền con người của các chủ thể tiến hành tố tụng cũng
có vai trò quan trọng Giữ gìn đạo đức tư cách trong sáng, vượt qua các cám dỗ
để hoàn thành công việc giúp xử lý nghiêm minh đồng thời bảo đảm quyền con người.
1.2.2.2 Xét ở góc độ của người tham gia tố tụng
- Đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can trong vụ án.
Nội dung bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS
là việc CQTHTT, NTHTT và các chủ thể tố tụng khác thực hiện, tuân thủ cácquy định, trình tự, thủ tục tố tụng do BLTTHS 2015 quy định để bảo vệ cácquyền con người: được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự nhânphẩm, quyền sở hữu… đã được “tố tụng hóa” thành các quyền tố tụng của người
bị buộc tội (người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị can) và các chủ thể tham gia tố
Trang 19tụng khác (người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan…) theo quy định của BLTTHS 2015.
Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can trong VAHS bị tạm thời hạn chếquyền tự do, quyền bất khả xâm phạm thân thể nhưng các quyền tố tụng khác,trong đó có các quyền con người không bị hạn chế, tước đoạt Pháp luật quyđịnh cho họ các quyền: được biết lý do mình bị bắt, bị tạm giữ, bị khởi tố; đượcthông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêucầu;…Song do hạn chế về nhận thức pháp luật nên việc các chủ thể này khôngthể biết và thực hiện tốt nhất quyền của mình
- Đối với người bị hại
Theo pháp luật của Nhà nước ta quy định việc khởi tố VAHS là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc duy trì trật tự và bảo
vệ công lý là không phụ thuộc vào ý muốn của riêng ai Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp nhất định, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại,pháp luật quy định cho phép người bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặckhông khởi tố vụ án
Việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại vẫn phải tuân theo những quyđịnh của BLTTHS 2015 về khởi tố VAHS Đặc biệt, việc khởi tố VAHS theo yêucầu của người bị hại, được quyết định trên cơ sở kết hợp 2 yếu tố: Có dấu hiệucủa tội phạm; Có yêu cầu khởi tố về hình sự Nếu không có dấu hiệu tội phạmthì dù người bị hại có yêu cầu khởi tố cũng không được khởi tố Ngược lại, nếungười bị hại không yêu cầu khởi tố thì dẫu đã xác định có dấu hiệu tội phạmcũng không được khởi tố
- Đối với người tham gia tố tụng khác
NTGTT có vai trò nhất định trong việc bảo đảm quyền con người, đặcbiệt là người bào chữa, người đại diện của người chưa thành niên, người phiêndịch
Sự tham gia của người bào chữa trong TTHS thúc đẩy việc thực hiện cácquy trình tố tụng được đầy đủ và khách quan hơn Trình độ chuyên môn, khảnăng tranh tụng của người bào chữa ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bị
Trang 20can Đối với người đại diện của người chưa thành niên, sự tham gia của họ cótác động trực tiếp đến quyền lợi của người chưa thành niên Đối với người phiêndịch nếu không dịch đúng, đầy đủ ý kiến cũng làm giảm việc bảo đảm quyềncon người.
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên TG về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra
1.3.1 Kinh nghiệm bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Mỹ
Hoa Kỳ có 50 tiểu bang và chính quyền liên bang; do đó có đến 51 môhình TTHS riêng biệt và độc lập Trong đó, mô hình TTHS của liên bang Hoa
Kỳ là mô hình tố tụng tranh tụng Không có BLTTHS riêng, nhưng pháp luậtcủa liên bang Hoa Kỳ điều chỉnh về TTHS bằng nhiều văn bản: Quy tắc TTHSLiên bang, Quy tắc tố tụng phúc thẩm liên bang, Quy tắc của tòa án tối cao, Quytắc về bằng chứng của liên bang, hàng loạt các đạo luật của liên bang và cácquyết định hợp hiến của Tòa tối cao, Quy tắc nội bộ của cơ quan điều tra (Quytắc Miranda)
CQĐT của liên bang Hoa Kỳ gồm: Cục điều tra liên bang (FBI); cơ quanbài trừ ma túy; Cục quản lý rượu, thuốc lá, vũ khí và chất nổ; Cục Thi hành án;Cục thực thi luật nhập cư và hải quan; Sở thuế vụ; Các văn phòng của Tổngthanh tra với trên 37.000 điều tra viên hình sự Công tố viên không có vai trògiám sát đối với FBI nhưng lại có thẩm quyền điều tra rất lớn, là người lập cáotrạng hình sự (chứ không phải điều tra viên) Các cơ quan này và cả cơ quancông tố không có quyền bắt giữ nghi can trong giai đoạn điều tra Việc bắt giữnày chỉ được thực hiện khi có lệnh phê chuẩn của TA
- Quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo
Người bị tình nghi phạm tội không có quyền được thông báo về việc điềutra hoặc tham gia điều tra; không bị bắt hoặc bị giam giữ; có quyền từ chối đếnvăn phòng ĐTV và từ chối chấp nhận cho ĐTV vào nhà hoặc vào văn phòng nếukhông có lệnh của tòa; từ chối trả lời các câu hỏi của ĐTV và có thể được triệutập ra trình diện trước đại bồi thẩm đoàn Khi bị bắt giữ, bị can phải được thông
Trang 21báo ngay lập tức, không chậm trễ về lý do bị bắt giữ và tội trạng bị cáo buộc Họđược ĐTV dẫn giải "không chậm trễ" tới một vị Thẩm phán để được xét xửtrong một thời gian hợp lý hoặc được thả tự do Việc "không chậm trễ" đượchiểu là trong vòng chưa đến 6 tiếng kể từ khi bị bắt, bị can được chuyển sang TAgiam giữ Những người bị bắt giữ hay giam giữ đều có quyền yêu cầu TA thụ lýđơn yêu cầu xem xét tính hợp pháp của việc giam giữ và yêu cầu được thả tự donếu việc giam giữ trái pháp luật Nạn nhân của việc bắt giữ, giam giữ trái phápluật có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Pháp luật TTHS Hoa Kỳ quy định: Một cá nhân chỉ bị bắt giữ khi (1) Cólệnh bắt giữ do Thẩm phán ban hành khi xét thấy có đủ chứng cứ chính đáng đểkết luận người đó phạm tội; và (2) Cảnh sát có cơ sở chính đáng để cho rằngngười đó đang phạm tội hoặc đã phạm tội Trong quá trình bị tạm giữ, bất kỳphát ngôn nào của bị can được đưa ra như là kết quả của sự tra tấn sẽ khôngđược sử dụng làm bằng chứng trong bất kỳ quy trình tố tụng nào Nếu thẩm vấn
bị can đang bị giam giữ, cảnh sát phải thông báo cho bị can biết họ có 03 quyềnquan trọng: quyền được giữ im lặng; quyền được tiếp cận luật sư (trường hợp bịcan không đủ khả năng mời luật sư, người đó sẽ được chỉ định luật sư miễn phí)
và bất kỳ điều gì bị can nói ra đều có thể được sử dụng làm bằng chứng chốnglại bị can tại phiên tòa
Người bị tình nghi, bị can, bị cáo cũng có quyền khiếu kiện đối với cácđiều tra viên, công tố viên để đòi bồi thường thiệt hại nếu việc điều tra không đủchứng cứ ĐTV hoặc công tố viên có thể bị kỷ luật hành chính nếu có cơ sở chorằng họ đã không làm đúng chức trách, nhiệm vụ của mình
1.3.2 Kinh nghiệm về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Trung Quốc
Mô hình TTHS Trung Quốc về cơ bản là mô hình tố tụng thẩm vấn Tuynhiên, so với TTHS Việt Nam, TTHS Trung Quốc mang nhiều yếu tố tranh tụnghơn
Luật TTHS Trung Quốc quy định có 14 loại người tham gia tố tụng baogồm: người bị tình nghi phạm tội (nghi can), người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,
Trang 22người bị hại, tư tố viên, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện theopháp luật, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa,người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Các quyền và nghĩa vụcủa người tham gia tố tụng được quy định ở nhiều điều luật khác nhau, theo đóngười bị tình nghi, bị can, bị cáo có quyền: bào chữa hoặc nhờ người khác bàochữa, được yêu cầu hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, được thông báo kết luậngiám định, quyền yêu cầu giám định bổ sung Ngoài ra bị cáo còn có quyền:được hỏi người làm chứng và người giám định; tranh luận tại phiên tòa; đượcđọc biên bản phiên tòa và yêu cầu bổ sung hay sửa chữa biên bản này nếu thấy
có sai sót; kháng cáo bản án, quyết định của tòa án; nói lời sau cùng Người bịtình nghi, bị can, bị cáo có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiếnhành tố tụng
Bên cạnh việc quy định các quyền của NTGTT thì luật TTHS TrungQuốc cũng quy định rất rõ trách nhiệm của TAND, VKSND và CQĐT phải bảođảm cho NTGTT hưởng các quyền tố tụng theo quy định của pháp
Quyển bào chữa của người bị tình nghi, bị can, bị cáo và cơ chế bảo đảm quyển bào chữa của những người này
Theo quy định của pháp luật TTHS Trung Quốc thì người bị tình nghi, bịcáo có thể tự bào chữa hoặc chọn một hoặc hai người khác làm người bào chữa.Tuy nhiên, để bảo đảm chất lượng bào chữa cũng như hạn chế có quá nhiềungười tham gia bào chữa cho một bị cáo, luật TTHS Trung Quốc quy định: một
bị cáo không được mời quá hai người làm người bào chừa Trong các vụ án cónhiều người phạm tội, một người bào chữa không được bào chữa cho hai bị cáotrở lên trong cùng một vụ án Để thực hiện nhiệm vụ bào chữa, người bào chữaphải thu thập tài liệu, đồ vật chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ TNHS hoặc miễntruy cứu TNHS cho nghi can, bị cáo và phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp phápcủa nghi can, bị cáo
Trong giai đoạn điều tra, CQĐT phải bảo đảm hoạt động bào chữa củaluật sư theo pháp luật Sau khi tiến hành thẩm vấn lần thứ nhất hoặc từ ngày ápdụng các biện pháp cưỡng chế theo luật đối với người bị tình nghi phạm tội,
Trang 23CQĐT phải thông báo cho người bị tình nghi phạm tội biết họ có quyền mời luật
sư để tư vấn pháp luật cho họ Đối với vụ án có liên quan đến bí mật quốc gia,nếu người bị tình nghi phạm tội hoặc người thân thích của họ đề nghị cho mờiluật sư, CQĐT cấp huyện trở lên, trong vòng 3 ngày sau khi nhận được đề nghịphải ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn và thông báo cho người bịtình nghi phạm tội và người thân thích của họ biết Đối với vụ án không liênquan đến bí mật quốc gia, Luật sư gặp gỡ người bị tình nghi phạm tội thì khôngcần thông qua phê chuẩn; CQĐT không được ra quyết định không phê chuẩn vì
lý do cần phải giữ bí mật trong quá trình điều tra CQĐT phải bố trí cuộc gặp gỡtrong vòng 48 giờ sau khi Luật sư đưa ra đề nghị gặp gỡ người bị tình nghiphạm tội; đối với vụ án đồng phạm lớn và phức tạp như có tổ chức, các vụ án docác tổ chức xã hội đen thực hiện; tổ chức khủng bố hoặc phạm tội buôn lậu,phạm tội ma túy, phạm tội tham ô hối lộ v.v thì trong vòng 05 ngày sau khiLuật sư đưa ra đề nghị gặp gỡ người bị tình nghi phạm tội, CQĐT phải cho phépgặp Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, vai trò của Luật sư là rất hạn chế trongviệc tư vẩn, kiến nghị hay khiếu nại thay mặt người bị tình nghi Luật sư chỉđược khuyên 1 một cách chung chung về vụ án, về quyền của người bị tình nghi
và luật sư cũng không thể trợ giúp pháp lý cho người bị tình nghi trong việcchuẩn bị bào chữa Trong giai đoạn này, CQĐT có thể có mặt trong bất cứ cuộctiếp xúc nào giữa người bị tình nghi với Luật sư
1.3.3 Kinh nghiệm về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Cộng Hòa Liên Bang Đức.
Cộng hòa Liên bang Đức là nước theo truyền thống pháp luật châu Âu lụcđịa Mô hình tố tụng là mô hình tố tụng thẩm vấn BLTTHS hiện hành của Đứcđược xây dựng từ năm 1987 và đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Lần sửa đổi,
bổ sung gần đây nhất là vào tháng 10/2008 Có thể nêu một số điểm đáng chú ýtrong TTHS của Đức như sau:
- Cơ quan công tố có chức năng điều tra và truy tố người phạm tội ratrước Tòa án Cơ quan công tố chỉ huy hoạt động điều tra tội phạm Khi thamgia TTHS, Cơ quan công tố có thẩm quyền quyết định khởi tố hay không khởi tố
Trang 24vụ án Cơ quan công tố có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước cung cấp thôngtin về tội phạm, có thể tự mình hoặc thông qua cơ quan cảnh sát và nhân viêntrong lực lượng cảnh sát tiến hành điều tra Cơ quan cảnh sát và nhân viên tronglực lượng cảnh sát có nghĩa vụ phải tuân thủ những yêu cầu hoặc mệnh lệnh của
Cơ quan Công tố (Điều 160 và 161 BLTTHS)
Trong trường hợp cấp bách, để ngăn chặn viêc che giấu dấu vết phạm tội,
cơ quan và nhân viên cảnh sát có nghĩa vụ thực hiện ngay các biện pháp điều tratội phạm Sau đó phải chuyển ngay hồ sơ cho Cơ quan Công tố (Điều 163BLTTHS)
- BLTTHS Đức cho phép áp dụng biện pháp điều tra bằng cách nghe lénđiện thoại và ghi âm điện thoại nếu có căn cứ nghi ngờ một người đã thực hiệnhoặc có liên quan đến một số loại tội phạm nhất định như tội phản bội tổ quốc,giết người, cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, rửa tiền hoặc che giấu tài san dophạm tội mà có (Điều 100a BLTTHS)
Việc nghe lén điện hoại chỉ được thực hiện khi được Thẩm phán chophép Trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan công tố có thể ra lệnh, lệnh đó sẽkhông còn hiệu lực nếu trong thời hạn 3 ngày Thẩm phán không phê chuẩn Việcnghe lén và ghi âm điện thoại được thực hiện 1 lần không quá 3 tháng và có thểđược gia hạn 1 lần không quá 3 tháng (Điều 100b BLTTHS)
- Một trong những biện pháp điều tra đặc biệt mới được pháp luật tố tụngĐức quy định là sử dụng điều tra trinh sát Trinh sát hoạt động bí mật là nhânviên cảnh sát tiến hành điều tra đã được thay đổi căn cước
Việc cơ quan cảnh sát sử dụng điều tra trinh sát chỉ được thực hiện khi có
sự đồng ý của Cơ quan Công tố Trong trường hợp cấp bách không thể xin ýkiến ngay thì có thể tự ý sử dụng biện pháp này nhưng ngay sau khi sử dụngđiều tra trinh sát phải báo cáo xin ý kiến của Cơ quan công tố Trong thời hạn 3ngày kể từ khi áp dụng biện pháp này, Cơ quan công tố phải có văn bản trả lờiđồng ý hay không đồng ý áp dụng biện pháp này Nếu không đồng ý thì biệnpháp này phải bị chấm dứt (khoản 1 Điều 110b)
Trang 25- Về sự tham gia của Luật sư bào chữa: Bị can, bị cáo có thể mời tối đa là
3 luật sư tham gia bào chữa cho mình ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình tốtụng (Điều 137 BLTTHS)
Ở Đức quan niệm đấu tranh chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng đặcbiệt nên Công tố viên, Thẩm phán được miễn trừ trách nhiệm pháp lý cả trongtrường hợp trong khi thi hành công vụ để xảy ra việc truy tố, xét xử làm oanngười vô tội không phải do lỗi cố ý của họ
CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ BẢM ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VÀ ĐIỀU TRA 2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về đảm bảo quyền con người trong giai đoạn khởi tố và điều tra.
2.1.1 Giai đoạn trước khi BLTTHS năm 1988 ra đời
Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công, dưới sự lãnh đạo sáng suốt củaĐảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước công nông non trẻ đã tích cực tiếnhành hoạt động lập pháp nói chung và hoạt động lập pháp TTHS nói riêng Ngay
từ những ngày đầu xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xây dựngcác cơ quan chuyên trách như cơ quan Công tố và TA có nhiệm vụ trấn áp bọnphản cách mạng, trừng trị tội phạm hình sự, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ củanhân dân
Trong giai đoạn từ năm 1945 - 1959, hoạt động điều tra không chỉ nằmtrong một CQĐT mà còn ở nhiều bộ phận khác: KSV, Kiểm lâm, Hoả xa,Thương chính và tất cả các viên chức mà pháp luật giao phó nhiệm vụ cho tưpháp công an đối với những việc phạm pháp riêng cho từng ngành (Điều 3 sắclệnh số 131) Toàn bộ hoạt động điều tra trong giai đoạn này đều thuộc quyềnkiểm soát, điều hành của Công tố Viện, mà trực tiếp là Biện lý, Phó Biện lý vàtrên hết là Chưởng lý ở Toà thượng thẩm Quy định này của pháp luật cho thấy
Trang 26hoạt động điều tra thực chất là hoạt động công tố (nhưng ở giai đoạn tiền côngtố), giúp cơ quan công tố thay mặt Nhà nước buộc tội người phạm tội trước TA.Các nhân viên và cơ quan có thẩm quyền điều tra không theo sự chỉ đạo của cơquan chủ quản hành chính mà đều dưới sự chỉ đạo của Công tố Viện; đồng thời,pháp luật cũng có quy định bảo đảm để các cơ quan này phải tuân theo sự chiđạo đó, như Điều 13 sắc lệnh số 131 đã ghi nhận: “Việc bổ sung, thăng thưởng
và trừng phạt hành chính những uỷ viên Tư pháp công an không phải là Thẩmphán viên đều làm sau khi hỏi ý kiến của Biện lý và Chưởng lý”
Hoạt động điều tra ở giai đoạn đầu (từ 1945 - 1950) có hình thức là điềutra ban đầu và điều tra thẩm cứu Đến giai đoạn sau (từ 1950 - 1960), hình thứcđiều tra thẩm cứu như một giai đoạn bắt buộc đối với những trường hợp luậtđịnh đã không còn tồn tại Hoạt động điều tra của cơ quan và nhân viên điều tratách khỏi sự quản lý trực tiếp của Chưởng lý (công tố Viện) mà quy định Việncông tố có quyền giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra củaCQĐ
Thẩm quyền điều tra của các nhân viên và cơ quan có trách nhiệm điều trangày càng hình thành rõ nét hơn Tuy nhiên, việc điều tra đối với một số đốitượng có đặc quyền miễn trừ tư pháp như Thẩm phán, Bộ trưởng, Thứ trưởng,Đại biểu Quốc hội phạm tội thì thẩm quyền điều tra thuộc về Công tố Viện;đồng thời, pháp luật cũng giành quyền chủ động cho Chưởng lý Toà thượngthẩm trong việc điều tra của Công tố Viện
Sau khi Viện Công tố Trung ương và hệ thống Viện Công tố được thànhlập dựa trên việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước năm 1958, Viện
Công tố có nhiệm vụ là: “… để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự
an ninh, bảo vệ tài sản của công, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm công cuộc kiến thiết và cải tạo xã hội chủ nghĩa tiến hành thuận lợi”
Sự ra đời của Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 đã ngày càngkhẳng định các nguyên tắc quan trọng về bảo đảm quyền con người liên quanđến tố tụng hình sự
Trang 27Trong giai đoạn khởi tố- điều tra VAHS, chức năng kiểm sát việc tuân thủpháp luật trong việc điều tra của CQCA và của CQĐT khác trong quá trình giảiquyết VAHS của VKSND được ghi nhận trong Luật tổ chức viện kiểm sát nhândân năm 1960 và được tiếp tục ghi nhận và có sự bổ sung trong Luật tổ chứcviện kiểm sát nhân dân năm 1981.
Theo quy định tại Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960, việcthực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong việc điều tra củaCQCA và của CQĐT khác trong quá trình giải quyết VAHS nhằm: Không đểmột hành vi phạm tội và người phạm tội nào tránh khỏi việc xử lý của pháp luật;Không để một công dân nào bị bắt giam, bị đưa ra xét xử hoặc bị hạn chế về cácquyền dân chủ một cách trái pháp luật (Điều 14, Luật tổ chức viện kiểm sát nhândân năm 1960)
Đến Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1981, mục đích này đãđược sửa đổi bổ sung và quy định cụ thể hơn nhằm đảm bảo: Mọi hành vi phạmtội đều phải được điều tra để xử lý theo pháp luật, không để lọt người phạm tội,không làm oan người vô tội; Không để một người nào bị bắt, bị tạm giam, bịhạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, tài sản, danh dự và nhânphẩm một cách trái pháp luật; Việc khởi tố và điều tra phải theo đúng quy địnhcủa pháp luật Trong việc điều tra phải thu thập cả chứng cứ kết tội và chứng cứ
gỡ tội, phải làm rõ những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm của bịcan và tìm ra những nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm;Việc truy cứutrách nhiệm phải có đủ căn cứ và phải bảo đảm tính hợp pháp (Điều 9, Luật tổchức viện kiểm sát nhân dân năm 1981)
Tóm lại việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật củaVKS đã góp phần bảo đảm việc điều tra của các cơ quan được khách quan, đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần bảo đảm việc pháp luật được thực thimột cách nghiêm minh
2.1.2 Giai đoạn từ BLTTHS năm 1988 đến trước khi có BLTTHS năm 2003.
Kế thừa và phát triển pháp luật TTHS của Nhà nước ta từ Cách mạngtháng Tám, với tinh thần đổi mới trên mọi mặt của đời sống xã hội, BLTTHS
Trang 28đầu tiên của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988 và có hiệu lực thihành từ ngày 1/1/1989 Bằng việc ban hành bộ luật này, lần đầu tiên pháp luậtTTHS được hệ thống hóa trong một văn bản thống nhất Bộ luật quy định rõtrình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thihành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các CQTHTT, đề cao vaitrò của các tổ chức xã hội và công dân trong việc tiến hành tố tụng, kết hợp sứcmạnh của pháp chế xã hội chủ nghĩa với sức mạnh của quần chúng nhân dântrong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
Cùng với các chế định khác, việc bảo vệ quyền con người trong TTHS nói chung và bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra nói riêng được quy định trong BLTTHS năm 1988 tương đối đầy đủ, toàn diện và mang tính hệ thống, được thể hiện qua các nguyên tắc: nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, quy định tại Điều 3 BLTTHS năm 1988; nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, được quy định tại Điều 4 BLTTHS năm 1988, được thể hiện: Bất cứ người nào phạm tội, dù họ
là ai, cũng phải bị xử lý theo pháp luật hình sự Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án được tiến hành theo thủ tục, trình tự thống nhất do pháp luật TTHS quy định, không có ngoại lệ, vì lý do nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội của bị can, bị cáo, người bị kết án Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, được quy định tại Điều 5 BLTTHS năm 1988 Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền tự do cá nhân quan trọng nhất của con người Vì vậy, việc BLTTHS năm 1988 coi việc bảo đảm quyền này là một trong những nguyên tắc
cơ bản của luật TTHS đã thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người nói riêng.
Trong các biện pháp ngăn chặn được quy định trong pháp luật TTHS,các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam là các biện pháp nghiêm khắc nhất, đụngchạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân đã được
ghi nhận trong Hiến pháp Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp này đòi
Trang 29hỏi vừa phải có căn cứ, đúng pháp luật, vừa góp phần tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được tôn
trọng và bảo vệ BLTTHS năm 1988 đã nghiêm cấm mọi hành vi bức cung,
dùng nhục hình Những người thực hiện hành vi bức cung, dùng nhục hình phải
chịu TNHS về tội dùng nhục hình, tội bức cung
Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân được quy định tại Điều 6 BLTTHS năm 1988 Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, NTHTT không được có những việc làm trái pháp luật như đánh đập, dùng nhục hình, mắng chửi bị can, bị cáo hoặc người bị kết án; không được sử dụng vũ khí trái pháp luật trong khi thi hành công vụ làm chết bị can, bị cáo hoặc người bị kết án Tài sản của bị can, bị cáo hoặc của người bị kết án được pháp luật bảo hộ, không ai có quyền thu giữ một cách trái pháp luật Nhân phẩm, danh dự của bị can, bị cáo hoặc của người bị kết án được pháp luật bảo
hộ, không ai có quyền hành hạ, ngược đãi bị can, bị cáo hoặc người bị kết án; không được phép khám người mà không có người cùng giới khám.
Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín,
điện thoại, điện tín của công dân, được quy định tại Điều 7 BLTTHS năm 1988 Việc BLTTHS năm 1988 coi việc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở,
an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân là một nguyên tắc cơ bản của TTHS, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc bảo
vệ quyền con người nói chung, bảo vệ bí mật đời tư của con người nói riêng Để kịp thời phát hiện, ngăn chặn tội phạm, thu thập chứng cứ, các CQTHTT có quyền tiến hành các biện pháp cưỡng chế TTHS như khám người, chỗ ở, địa
điểm,… nhưng việc tiến hành các biện pháp này phải tuân theo các quy định của
BLTTHS năm 1988 Người ra lệnh, người tiến hành khám xét, kê biên tài sản, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm trái pháp
luật, thì tùy trường hợp mà bị xử lý kỷ luật hoặc phải chịu TNHS theo quy địnhcủa pháp luật
Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo được quy định tại Điều 12BLTTHS 1988 Quyền bào chữa trước hết là quyền tự bào chữa của bị can, bị
Trang 30cáo Bị can, bị cáo có thể tự mình thực hiện quyền bào chữa để chống lại việc buộc tội hoặc để giảm nhẹ TNHS Bào chữa là quyền chứ không phải là nghĩa
vụ của bị can, bị cáo Họ có thể tự bảo chữa một cách tích cực như đề xuất chứng cứ, tham gia tranh luận… Bị can, bị cáo có thể nhờ người khác bào chữa cho mình (luật sư, bào chữa viên nhân dân, người đại diện hợp pháp của bị can,
bị cáo) Người bào chữa bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo
là góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự thật; ngược lại bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự thật sẽ tạo điều kiện, tiền đề cho việc bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo CQĐT, VKS có nhiệm vụ bảo đảm bị can, bị cáo được thực hiện quyền bào chữa của họ Các CQTHTT phải giải thích cho bị can, bị cáo về quyền bào chữa, tạo điều kiện cho họ tự bào chữa bằng cách đề xuất thu thập chứng cứ, đề xuất thỉnh cầu, được kháng cáo bản án, quyết định của TA… Các CQTHTT phải tạo mọi điều kiện cần thiết cho
bị can, bị cáo chọn người bào chữa và trong một số trường hợp do pháp luật quy định, các CQTHTT phải bảo đảm có người bào chữa cho bị can, bị cáo CQĐT, VKS phải tạo mọi điều kiện cần thiết để người bào chữa được nghiên cứu hồ sơ, được tiếp xúc với bị can, bị cáo… phải coi họ là những người góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, chống oan sai; không được coi người bào chữa là người gây khó khăn cho hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử
Tóm lại, so với các văn bản pháp luật TTHS trước đây, BLTTHS năm
1988 đã có một bước phát triển lớn liên quan đến việc tôn trọng và bảo vệ cácquyền tự do, dân chủ của công dân Các chế định khác nhau của BLTTHS năm
1988 đều thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền con người trongTTHS, tạo cơ sở pháp lý TTHS cho VKS trong giai đoạn khởi tố- điều traVAHS, phù hợp với mục tiêu cách mạng trong giai đoạn này
2.1.3 Giai đoạn từ khi có BLTTHS năm 2003 đến trước khi có BLTTHS 2015
Bộ luật TTHS năm 2003 được Quốc hội khoá XI tại kì họp thứ tư thôngqua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004
Trang 31Tại đây, quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra đã được quantâm nhiều hơn Cụ thể như, Điều 19 BLTTHS năm 2003 đã quy định về bảo đảmquyền bình đẳng trước TA: KSV, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyênđơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án,người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều cóquyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu vàtranh luận dân chủ trước TA TA có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiệncác quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Điều 23 BLTTHS năm 2003 quy định, VKS nhân dân thực hành quyềncông tố, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước TA Đồng thời kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của cácCQTHTT,NTHTT và NTGTT Hai chức năng này vừa có tính độc lập tương đối, vừa cóquan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung lẫn nhau, không tách rời nhau, tạonên tính thống nhất trong chức năng của VKSND trong TTHS
Điều 26 BLTTHS năm 2003 quy định sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước
và CQTHTT: “Trong phạm vi trách nhiệm của mình, các cơ quan nhà nước phải
áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm; phối hợp với CQĐT, VKS, TAtrong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm…” Dựa trên quy định nàycác CQTHTT, NTHTT được tạo điều kiện trong phát hiện và xử lý tội phạm
Với chức năng, nhiệm vụ của mình CQĐT, VKS, TA có trách nhiệm đảmbảo mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, đều phải được khởi tố- điềutra và xử lý kịp thời; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oanngười vô tội; không để người nào bị khởi tố, bắt giữ, tạm giữ, tạm giam, bị xâmphạm tính mạng, tự do, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản một cách tráipháp luật; việc điều tra được tiến hành một cách khách quan toàn diện, đầy đủ,chính xác, toàn diện, đúng pháp luật; việc truy cứu TNHS đối với bị can phải cócăn cứ và đúng pháp luật Việc khởi tố bị can tự nó đã có tác động mạnh đếndanh dự, nhân phẩm của người bị khởi tố đồng thời là một cơ sở pháp lý TTHSdẫn đến việc lựa chọn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế, làm hạn chếmột số quyền của người bị khởi tố, có ý nghĩa pháp lý bất lợi đối với họ Để ra
Trang 32quyết định khởi tố bị can (Điều 104 BLTTHS), cơ quan có thẩm quyền phải có
đủ chứng xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, làm rõ đó là tộiphạm gì, quy định điều khoản nào của BLHS, xác minh rõ lý lịch của người thựchiện hành vi phạm tội
Có thể thấy các quy định của BLTTHS năm 2003 đã tạo cơ sở pháp lí chocác cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ
án hình sự, đáp ứng phần nào yêu cầu về Cải cách tư pháp và công cuộc xâydựng Nhà nước pháp quyền ở Việt nam Những thành công của việc thực hiện
Bộ luật đã khẳng định và nêu cao được trách nhiệm của Nhà nước với công dân,đảm bảo các quyền tự do dân chủ của nhân dân; xác định rõ trách nghiệm củacác cơ quan tố tụng, đảm bảo xử lý nhanh gọn, kịp thời hành vi tội phạm, đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tộiphạm; góp phần đưa cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm thắng lợi, giữ vững
an ninh, chính trị xã hội
2.1.4 Giai đoạn từ khi có BLTTHS 2015 đến nay
Với mục tiêu xây dựng BLTTHS khoa học, tiến bộ, có tính khả thi cao, làcông cụ pháp lí sắc bén để đấu tranh hữu hiệu với mọi loại tội phạm, BLTTHS
2015 được ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 BLTTHS2015 khắc phụcnhững khó khăn, bất cập trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình
sự, bảo đảm cho TAND thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao,bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật
BLTTHS 2015 thể hiện những quy định mới theo hướng ngày càng bảođảm tốt hơn quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS; đồng thời tăngcường vai trò, trách nhiệm của VKS bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội, tích cực phòng, chống oan sai và
bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, bằng cách bổ sung nhiều nguyên tắc mới như:suy đoán vô tội (điều 13); không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (điều 14);tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra (điều 19); tranh tụng trong xét xửđược bảo đảm (điều 26); đặc biệt là kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trongTTHS(khoản 2 điều 33)