Về mặt bản chất, người lao động nữ khi tham gia quan hệ lao động đượcxác định là người lao động khi họ có đầy đủ năng lực chủ thể của người laođộng, nghĩa là họ có năng lực pháp luật lao
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn của ThS Ngô
Đức Chiến, tôi đã hoàn thành bài tiểu luận: “Tìm hiểu quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam đối với lao động nữ từ năm 1994 đến nay” Tôi xin gửi
lời cảm ơn chân thành đến thầy Ngô Đức Chiến – người đã trực tiếp giảng dạy,tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành bài tiểu luận này
Bước đầu mới tiếp xúc với các vấn đề lí luận về Luật Lao động, trình độcũng như kinh nghiệm thực tiễn của bản thân còn hạn chế nên bài tiểu luận
không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đánh giá đóng
góp của quý thầy cô để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thànhcảm ơn
Tác giả đề tài
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi thôngtin được viết trong bài đều hoàn toàn trung thực và khách quan
Quảng Nam, tháng 01 năm 2018
Tác giả đề tài
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình của lịch sử nhân loại, phụ nữ luôn là người đóng vai tròkhông thể thiếu đối với gia đình và xã hội Bằng phẩm chất, trí tuệ và quá trìnhlao động của mình, họ không chỉ góp phần tạo ra của cải, vật chất, tinh thần màcòn tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ củanhân loại Do đó, khả năng và điều kiện lao động, trình độ văn hóa, chuyên mônnghiệp vụ cũng như vị trí xã hội, đời sống vật chất của phụ nữ ảnh hưởng vôcùng to lớn đến sự phát triển thế hệ tương lai
Những vấn đề về quyền và lợi ích của lao động nữ Việt Nam được quyđịnh rõ trong Bộ Luật Lao động Cùng với dòng chảy của thời gian, sự thay đổi
và phát triển không ngừng của đất nước, Bộ Luật Lao động từ năm 1994 đến nay
đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và ngày một hoàn thiện hơn
Từ những lí do trên, tác giả quyết định thực hiện đề tài: “Tìm hiểu quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam đối với lao động nữ từ năm 1994 đến nay” Thông qua đề tài này, tôi muốn tìm hiểu, phân tích và tích lũy kiến thức về
Bộ Luật Lao động Việt Nam, nhất là những quy định đối với lao động nữ trongkhoảng thời gian từ năm 1994 đến nay Từ đó, đề xuất những giải pháp để ápdụng hiệu quả Bộ luật lao động vào đời sống cũng như giải pháp hoàn thiệnnhững quy định của Bộ luật lao động đối với lao động nữ, bảo vệ quyền và lợiích của lao động nữ trong quan hệ lao động
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 6Tìm hiểu quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam đối với lao động nữ từnăm 1994 đến nay.
Đề xuất giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của
Bộ Luật Lao động Việt Nam đối với lao động nữ
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam đối
với lao động nữ
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: Việt Nam
+ Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 26/12/2017 đến ngày 7/01/2018
+ Tiến trình sự vật: từ năm 1994 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu;
- Nghiên cứu phi thực nghiệm: quan sát; phỏng vấn…
Trang 7- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện quy địnhcủa Bộ luật lao động Việt Nam đối với lao động nữ.
Trang 8B NỘI DUNG Chương 01
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ 1.1 Khái niệm lao động nữ và các đặc điểm của lao động nữ
1.1.1 Khái niệm lao động nữ
Trong các văn bản pháp luật từ trước cho đến nay chưa có bất kỳ một kháiniệm chính thức nào về lao động nữ Tuy nhiên từ sự khác biệt về giới và tổngquan chung trong quan hệ lao động, có thể hiểu “lao động nữ” là người lao động
mà xét về mặt giới tính được xác định là phụ nữ Do đó, cần xem xét khái niệmlao động nữ dưới các góc độ khác nhau
Thứ nhất, xét về mặt sinh học lao động nữ là người lao động có “giới tínhnữ” Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật bình đẳng giới năm 2006 thì giớitính là các đặc điểm sinh học của nam, nữ Như vậy, sự xác định giới tính là đặcđiểm riêng biệt nhất để phân biệt nam và nữ, chỉ có người phụ nữ mới có thiênchức làm mẹ, có khả năng mang thai và sinh con
Thứ hai, xét về mặt pháp lý thì lao động nữ là “người lao động” Bộ LuậtLao động năm 2006 đã đề cập tới khái niệm người lao động, theo đó người laođộng là “người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợpđồng” Còn Bộ Luật Lao động 2012 thì quy định: “Người lao động là người từ
đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo Hợp đồng lao động, đượctrả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”
Trang 9Về mặt bản chất, người lao động nữ khi tham gia quan hệ lao động đượcxác định là người lao động khi họ có đầy đủ năng lực chủ thể của người laođộng, nghĩa là họ có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động.Năng lực pháp luật lao động là khả năng của cá nhân mà pháp luật quy định họ
có quyền được làm việc, được trả công và được thực hiện những nghĩa vụ củangười lao động Năng lực hành vi lao động là khả năng của cá nhân bằng chínhhành vi của mình trực tiếp tham gia quan hệ lao động, gánh vác nghĩa vụ vàhưởng quyền lợi của người lao động Như vậy, một người đủ 15 tuổi bìnhthường được coi là người có khả năng để tham gia quan hệ lao động Tuy nhiên,trong một số trường hợp đặc biệt, người lao động vẫn có thể là người dưới 15tuổi Chẳng hạn như: trẻ em dưới 15 tuổi, có khả năng lao động cũng có thể đượctham gia các quan hệ lao động trong những ngành nghề như múa, hát, sân khấuđiện ảnh, thủ công mỹ nghệ đồng thời phải thỏa mãn điều kiện nhất định về độtuổi, sức khỏe, thời gian làm việc
Do đó, khái niệm về lao động nữ được hiểu như sau: người lao động nữ làngười lao động có giới tính nữ, từ đủ 15 tuổi trở lên (trừ một số trường hợp ngoạilệ), có khả năng lao động, làm việc theo Hợp đồng lao động, được trả lương vàchịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động
1.1.2 Các đặc điểm của lao động nữ
Đặc điểm của lao động nữ được quy định khách quan bởi những đặc điểm
về giới tính và các đặc trưng về chính trị, kinh tế, xã hội
Xét về thể lực, sức khỏe, thông thường nữ giới yếu hơn nam giới nên họthích hợp với công việc nhẹ nhàng
Trang 10Xét về mặt sinh lý, bước vào thời kỳ lao động, phụ nữ phải trải qua cácgiai đoạn đặc biệt như thời kỳ thai nghén, sinh con làm ảnh hưởng thậm chígiảm sút sức khỏe
Xét về mặt tâm lý, ngược lại với một số bộ phận lao động nữ đã tiếp thunhững luồng tư tưởng mới, phù hợp với sự phát triển hiện đại của kinh tế - xã hộithì vẫn còn một bộ phận lao động nữ chịu ảnh hưởng của quan niệm truyềnthống, mang nặng tâm lý trọng nam khinh nữ: người phụ nữ sống phụ thuộc vàongười đàn ông bởi “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, do đóngười phụ nữ ít được tham gia vào các quan hệ xã hội, ít được học hành, ít đượcnói lên tiếng nói của riêng mình.Trong thực tế đời sống hiện nay thì tư tưởng đóhiện gần như đã được xóa bỏ, vị thế của người lao động nữ được nâng cao và vaitrò của họ đã được xã hội thừa nhận, tuy nhiên người phụ nữ vẫn chưa được giảiphóng hoàn toàn Đó cũng là một lí do khiến phần lớn lao động nữ Việt Nam cóbản tính rụt rè, nhút nhát, chưa quen với tác phong làm việc công nghiệp
Lao động nữ là một lực lượng lao động xã hội đông đảo, lao động nữ đã tỏ
rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực Lao động nữ cầnđược sự quan tâm đúng mức từ Nhà nước, xã hội để họ có được vị trí độc lậptrong đời sống xã hội và gia đình, là nền móng vững chắc cho sự phát triển, tiến
bộ của phụ nữ trong bối cảnh hội nhập hiện nay
1.2 Quyền của lao động nữ
Người lao động dù là nam hay nữ đều được pháp luật ở mỗi quốc gia bảo
vệ dưới góc độ quyền công dân và được pháp luật quốc tế công nhận và đảmbảo Ủy ban Quyền con người của Liên Hợp quốc đã có sự phân chia nhómquyền con người trong lĩnh vực lao động thuộc nhóm quyền dân sự và dưới góc
Trang 11độ pháp luật lao động “Quyền của người lao động phải được bảo đảm như quyền con người”.
Để bảo vệ quyền của lao động nữ, đã có nhiều văn kiện, công ước quốc tế
ra đời Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền năm 1948 cũng đã ghi nhận nhữngquyền cơ bản, tôn trọng quyền tự do cũng như quyền bình đẳng nam nữ TheoĐiều 23, 24 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền thì quyền con người trong phápluật lao động bao gồm: quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm phù hợpvới năng lực và điều kiện của mỗi cá nhân, quyền được chăm sóc sức khỏe tronglao động, quyền được hưởng các điều kiện việc làm chính đáng và thuận lợi đốivới công việc, quyền được bảo vệ chống thất nghiệp, quyền được hưởng lươngbằng nhau, quyền được nghỉ ngơi…
Công ước quốc tế về các quyền chính trị, xã hội, văn hóa năm 1996 củaLiên Hợp Quốc quy định việc nam nữ có quyền bình đẳng trong mọi hoạt độngkinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội; Công ước này có sự ưu tiên đặc biệt đối vớicác bà mẹ trong thời gian trước và sau khi sinh con bởi đây là khoảng thời gian
mà các bà mẹ cần phải được nghỉ ngơi có hưởng lương và các chế độ phúc lợikhác Điển hình nhất về bảo vệ quyền lao động nữ không thể không kể tới đó làCông ước CEDAW - Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xửchống lại phụ nữ Nội dung cơ bản của công ước CEDAW là đề cập tới việc bảo
vệ quyền lợi của lao động nữ trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống nhằmxóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ nhằm xây dựng một chương trìnhhành động thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ…
Xét trên bình diện thế giới, quyền của lao động nữ được thể hiện trongnhiều lĩnh vực, tuy nhiên trong pháp luật lao động thì quyền của lao động nữ là
Trang 12quyền được pháp luật ghi nhận trong mối quan hệ với người sử dụng lao động.
Sỡ dĩ, có thể khẳng định như vậy là bởi quan hệ lao động được hình thành trên
cơ sở sự tham gia của hai đối tượng là người lao động và người sử dụng laođộng, thiếu một trong hai thì quan hệ lao động không được hình thành Bởi vậy,nhìn một cách tổng quát việc bảo vệ quyền của lao động nữ trong pháp luật laođộng cũng là bảo vệ trong mối quan hệ với người sử dụng lao động
1.3 Sự cần thiết phải quy định riêng về quyền của lao động nữ trong pháp luật lao động
Với vai trò to lớn của mình trong xã hội, lao động nữ đã có những đónggóp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội cũng như góp phần làmphong phú cuộc sống con người Lao động nữ luôn thể hiện vai trò không thểthiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực hoạtđộng vật chất, lao động nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôisống con người
Không chỉ tái sản xuất ra của cải vật chất, lao động nữ còn tái sản xuất rabản thân con người để duy trì và phát triển xã hội Tuy nhiên, ngoài việc thựchiện nghĩa vụ lao động như nam giới lao động nữ còn phải đảm nhận chức nănglàm mẹ nên có những đặc điểm riêng về sức khỏe, tâm sinh lý, do đó việc bảo vệquyền của lao động nữ là hết sức cần thiết
1.4 Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền của lao động nữ
Pháp luật ghi nhận và bảo vệ người lao động với tư cách là bảo vệ quyềncon người trong lĩnh vực lao động Nó không chỉ bao hàm mục đích bảo vệ sứclao động, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động mà còn phảibảo vệ cho họ trên nhiều phương diện: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tính
Trang 13mạng, danh dự, nhân phẩm, nhu cầu nghỉ ngơi, liên kết và phát triển trong môitrường xã hội lành mạnh và phát triển…
1.4.1 Quyền được bình đẳng về cơ hội làm việc, thu nhập
Tất cả các văn bản luật trên thế giới công nhận quyền bình đẳng về cơ hộilàm việc, thu nhập của lao động nữ
Khi lao động nữ không được trả lương bình đẳng, họ và cả gia đình của họđều phải chịu thiệt hại Vì vậy, lao động nữ có quyền bình đẳng về cơ hội việclàm, được trả lương, thu nhập không có những thiên vị trái với luật pháp
1.4.2 Quyền làm mẹ
Ngoài những quyền về kinh tế xã hội thì lao động nữ còn có quyền bất khảxâm phạm về tình dục, quyền được bảo vệ với tư cách là người mẹ mà không bịcoi là phân biệt đối xử
1.4.3 Quyền nhân thân
Quyền nhân thân được hiểu là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân,không thể chuyển giao cho người khác Để phân biệt với các quyền dân sự khác,quyềnnhân thân mang các đặc trưng như: gắn liền với mỗi cá nhân mà khôngthuộc cácchủ thể khác; không bị phân biệt bởi bất cứ điều kiện hay yếu tố nào,được phápluật bảo vệ về bí mật đời tư, an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm; quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản, lợi ích vật chất mà chủthể được hưởng là do giá trị tinh thần mang lại
1.5 Các biện pháp cơ bản bảo vệ quyền của lao động nữ
Có nhiều biện pháp thực hiện mà pháp luật trao cho người lao động thôngqua cơ chế pháp lý do Nhà nước thiết lập Biện pháp chính là cách thức để thực
Trang 14hiện cơ chế pháp lý nói trên, nó được xác lập trên cơ sở pháp lý và dựa trênquyền lực nhất định
Nếu căn cứ vào chủ thể thực hiện biện pháp bảo vệ thì pháp luật đã ghinhận biện pháp để người lao động có quyền đấu tranh để tự bảo vệ mình nhưđình công, thừa nhận quyền của tổ chức đại diện cho họ thông qua việc thươnglượng tập thể, tham gia cơ chế ba bên; quy định trong những trường hợp nhấtđịnh cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ người lao động thông qua hoạtđộng thanh tra và xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp
Nếu căn cứ vào tính chất thì có các biện pháp mang tính xã hội như liênkết tổ chức, thương lượng tập thể hoặc kinh tế như bồi thường thiệt hại, đìnhcông, xử phạt…có biện pháp mang tính tư pháp như giải quyết tranh chấp tạiTòa án, truy tố tội phạm trong lĩnh vực lao động Như vậy, biện pháp bảo vệquyền của lao động nói chung và lao động nữ nói riêng rất đa dạng, phức tạp,được sử dụng đan xen
Trang 15lợi ích vật chất khác Khi lao động nữ không được trả lương kịp thời và đầy đủ,không được đóng bảo hiểm xã hội thì chủ sử dụng phải khắc phục số còn thiếu
và phải trả thêm một khoản bằng tiền lãi trên số tiền lương bị chiếm dụng hoặccao hơn Khi lao động nữ tham gia lao động, họ bị tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng thì người chủ sử dụng thường phảichịu mọi chi phí y tế và chi phí hợp lý khác như tổn thất tinh thần, mai táng phí,trợ cấp nuôi con…cho người lao động
Như vậy, biện pháp kinh tế mà nổi bật là biện pháp bồi thường thiệt hạicho
người lao động và biện pháp xử phạt vừa trực tiếp bảo vệ người lao động đánhvào
lợi ích kinh tế của người sử dụng lao động nên có tác động đến việc nâng cao ýthức pháp luật, tuân thủ pháp luật góp phần tôn trọng và bảo vệ quyền của ngườilao động nói chung và lao động nữ nói riêng
1.5.2 Biện pháp liên kết và thông qua tổ chức để tự bảo vệ
Trong quan hệ lao động thì người lao động luôn ở thế yếu và phụ thuộcvào người chủ sử dụng nên luôn tiềm tàng những nguy cơ tan vỡ do mâu thuẫn
về lợi ích Người lao động ý thức rằng nếu đấu tranh đơn lẻ thì ít có khả năngbảo vệ được quyền lợi của mình nên cần liên kết với nhau trong một tổ chứcthống nhất Vì vậy, công đoàn ra đời cùng với sự ý thức của người lao độngvềsức mạnh tập thể trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các thànhviên của mình
1.5.3 Biện pháp tư pháp
Trang 16Dưới góc độ bảo vệ pháp luật nói chung thì biện pháp tư pháp chính làcách thức bảo vệ pháp luật bằng việc tổ chức áp dụng và thi hành những luật lệ(chủ yếu bằng việc xét xử của Tòa án) Theo nghĩa hẹp thì biện pháp tư phápchính là việc xét xử của Tòa án, tuân theo những thủ tục tố tụng nhất định đốivới vụ việc, những vi phạm pháp luật, những tranh chấp kiện tụng của các chủthể trong đời sống xã hội nhằm bảo vệ pháp luật, cũng như duy trì bảo vệ, bảođảm công bằng cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.
Trang 17Chương 02 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ TỪ NĂM 1994 ĐẾN NAY 2.1 Khái quát về Bộ Luật Lao động Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu Bộ Luật Lao động Việt Nam
Bộ Luật Lao động Việt Nam là văn bản luật do Quốc hội nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành
Bộ Luật Lao động Việt Nam bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyềnkhác của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổnđịnh, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc và laođộng chân tay, của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng vàtiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng và quản
lý lao động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì sự nghiệp dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Bộ Luật Lao động năm 1994 là bộ luật đầu tiên quy định về các vấn đềliên quan đến người lao động, người sử dụng lao động và quan hệ lao động Cóthể nói, 1994 là dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của
Bộ Luật Lao động Việt Nam, đánh dấu bước tiến mới của Nhà nước trong quản
lí quan hệ lao động trong xã hội
Trang 182.1.2 Tiến trình sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Lao động Việt Nam từ năm 1994 đến nay
Từ năm 1994 đến nay, căn cứ vào tình hình thực tế, cùng với sự phát triểncủa đất nước, Bộ Luật Lao động Việt Nam đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung vàngày một hoàn thiện hơn, quan tâm hơn đến vấn đề bảo vệ quyền của lao độngnữ
Trong tiến trình đó, gồm có: Bộ Luật Lao động 1994, sửa đổi, bổ sung vàocác năm 2002, 2006, 2007; Bộ Luật Lao động 2012
Gần đây nhất, Chính phủ đã trình với Quốc hội Dự án Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Bộ Luật Lao động tại kỳ họp thứ 3 vào tháng 5/2017 vàthông qua tại kỳ họp thứ 4 vào tháng 10/2017
2.2 Nội dung quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam năm 1994 đối với lao động nữ
2.2.1 Quy định về quyền làm việc đối với lao động nữ
Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt vớinam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện đểngười lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việctheo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giaoviệc làm tại nhà (Khoản 1, Điểu 109 BLLĐ 1994)
Theo Nghị định số 23 của Chính phủ hướng dẫn về BLLĐ 1994, căn cứvào đặc điểm, điều kiện làm việc, tính chất công việc của doanh nghiệp, người
sử dụng lao động nữ chủ động bàn với công đoàn lập kế hoạch bố trí lao động nữtheo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao
Trang 19việc làm tại nhà, tạo điều kiện cho người lao động có việc làm thường xuyên,phù hợp với nguyên vọng chính đáng của lao động nữ.
Nhà nước có chính sách và biện pháp từng bước mở mang việc làm, cảithiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ,tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động
nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống laođộng và cuộc sống gia đình (Khoản 2, Điều 109, BLLĐ 1994)
Người sử dụng lao động phải ưu tiên nhận phụ nữ vào làm việc khi người
đó đủ tiêu chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ mà doanhnghiệp đang cần (Khoản 2, Điều 111, BLLĐ 1994)
Những quy định trên đã đưa ra những yêu cầu về việc làm tương đối chitiết, đảm bảo quyền làm việc và ưu tiên về việc làm đối với lao động nữ
2.2.2 Quy định về tiền lương, thu nhập đối với lao động nữ
Người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ vềtuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động Có nghĩa là người sửdụng không được có sự phân biệt khi trả lương, nâng bậc lương giữa người laođộng nam và nữ
BLLĐ bảo vệ quyền được đảm bảo về tiền lương, thu nhập đối với laođộng nữ, để họ có thể trang trải cho cuộc sống
2.2.3 Quy định về bảo vệ tính mạng, sức khỏe đối với lao động nữ
Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ làmnhững công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh
Trang 20hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con, theo danh Mục do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.
-Doanh nghiệp nào đang sử dụng lao động nữ làm các công việc nói trênphải có kế hoạch đào tạo nghề, chuyển dần người lao động nữ sang công việckhác phù hợp, tăng cường các biện pháp bảo vệ sức khoẻ, cải thiện điều kiện laođộng hoặc giảm bớt thời giờ làm việc (Khoản 1, Điều 113, BLLĐ 1994)
Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ bất kỳ độtuổi nào làm việc thường xuyên dưới hầm mỏ hoặc ngâm mình dưới nước(Khoản 2, Điều 113, BLLĐ 1994)
Bộ luật lao động 1994 đã đưa ra những quy định để bảo vệ tính mạng, sứckhỏe cho người lao động nữ, tạo điều kiện để người lao động nữ làm công việc
an toàn, phù hợp với thể trạng
2.2.4 Quy định về bảo vệ danh dự, nhân phẩm của lao động nữ
Nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ
nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ (Khoản 1, Điều 111, BLLĐ 1994)
Các quy định cấm đối với người sử dụng lao động theo Điều 111 của BộLuật lao động được quy định cụ thể như sau: Cấm ban hành quy định không cólợi hơn những quy định của pháp luật cho người lao động nữ; Cấm những hành
vi làm hạn chế khả năng được tiếp nhận lao động nữ vào làm việc; Cấm mạt sát,đánh đập xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của người lao động nữ trongkhi làm việc
Trường hợp người sử dụng lao động vi phạm các điều cấm quy định trên,tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
Trang 212.2.5 Quy định về hợp đồng lao động đối với lao động nữ
Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứthợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thaisản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạtđộng (Điều 112, BLLĐ 1994)
Cụ thể như sau: Người sử dụng lao động phải chuyển ngay người lao động
nữ có thai đang làm công việc có nguy cơ ảnh hưởng không tốt tới thai nhi sanglàm công việc khác phù hợp, khi có giấy chứng nhận của bác sĩ phòng khám đakhoa trong các bệnh viện hoặc các phòng khám từ cấp huyện trở lên; Trườnghợp người sử dụng lao động không bố trí được công việc phù hợp với người laođộng nữ có thai thì người lao động nữ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồnglao động mà không phải bồi thường phí đào tạo (nếu có)
Người lao động nữ có thai có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng laođộng mà không phải bồi thường theo quy định tại Điều 41 của BLLĐ 1994, nếu
có giấy của thầy thuốc chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thainhi Trong trường hợp này, thời hạn mà người lao động nữ phải báo trước chongười sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do thầy thuốc chỉ định
2.2.6 Quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ
2.2.6.1 Điều kiện hưởng chế độ thai sản
Lao động nữ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi: mang thai, sinh con,nhận nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai
2.2.6.2 Chế độ và quyền lợi