TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ KHOA Y BỘ MÔN PHỤ SẢN Chuyên đề 4 NHIỄM KHUẨN HẬU SẢN Chủ đề học tập NHIỄM TRÙNG VẾT MỔ LẤY THAI Nhóm sinh viên thực hiện NHÓM 6 – Lớp YBK42 CẦN THƠ, THÁNG 10 NĂM 20.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
KHOA Y
BỘ MÔN PHỤ SẢN
Chuyên đề 4 NHIỄM KHUẨN HẬU SẢN
Chủ đề học tập
NHIỄM TRÙNG VẾT MỔ LẤY THAI
Nhóm sinh viên thực hiện: NHÓM 6 – Lớp YBK42
CẦN THƠ, THÁNG 10 NĂM 2021
Trang 2DANH SÁCH SINH VIÊN NHÓM 6
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU IV DANH MỤC HÌNH ẢNH IV
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
I ĐẠI CƯƠNG 2
1.1 Định nghĩa 2
1.2 Phân loại 2
1.3 Sinh lý sự lành vết thương 2
II SINH BỆNH HỌC VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM TRÙNG VẾT MỔ 3
2.1 Tác nhân gây bệnh 3
2.2 Nguồn tác nhân gây bệnh và cơ chế lây truyền 4
2.3 Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ 5
III PHÒNG NGỪA 5
3.1 Yếu tố bệnh nhân: 5
3.2 Các yếu tố trước phẫu thuật 6
3.3 Yếu tố nội phẫu 7
3.4 Trường hợp đặc biệt 9
3.5 Yếu tố hậu phẫu 10
IV TRIỆU CHỨNG, CẬN LÂM SÀNG: 13
4.1 Triệu chứng 13
4.2 Cận lâm sàng 13
V BIẾN CHỨNG 13
VI ĐIỀU TRỊ 14
6.1 Hướng điều trị: 14
6.2 Điều trị cụ thể 14
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các chủng vi khuẩn gây NKVM thường gặp ở một số phẫu thuật 4Bảng 3.1: So sánh các khuyến nghị để ngăn ngừa nhiễm trùng vết mổ của NICE, ACOG,ASC VÀ SIS và WHO 12Bảng 5.1: Kháng sinh dự phòng được khuyến cáo cho phẫu thuật sản phụ khoa 15
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Sơ đồ phần loại nhiễm khuẩn vết mổ 2
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh mổ là một phẫu thuật sản khoa lớn nhằm mục đích cứu sống sản phụ và thai nhi Tỷ lệsinh mổ cả lần đầu và từ 2 lần trở lên đều tăng đáng kể trong vài thập kỷ qua, với số lượngước tính trên toàn cầu là 22,9 triệu ca sinh mổ trong năm 2012 Sinh mổ là một trong nhữngphẫu thuật có thể đi kèm nhiều biến chứng trong đó nhiễm trùng vết mổ là một trong nhữngbiến chứng của sinh mổ Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ giao động tử 3-15% trên toàn thế giới.Hàng năm, số người bệnh mắc nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) ước tính khoảng 2 triệungười Ở một số bệnh viện khu vực châu Á như Ấn Độ, Thái Lan cũng như tại một số nướcchâu Phi, NKVM gặp ở 8,8% - 24% người bệnh sau phẫu thuật
Tại Việt Nam, NKVM xảy ra ở 5% – 10% trong số khoảng 2 triệu người bệnh được phẫuthuật hàng năm NKVM là loại nhiễm khuẩn thường gặp nhất, với số lượng lớn nhất trongcác loại nhiễm khuẩn bệnh viện Khoảng trên 90% NKVM thuộc loại nông và sâu Tỷ lệmắc có thể phản ánh sự khác biệt về đặc điểm dân số và yếu tố rủi ro, phương pháp phẫuthuật và thời gian phẫu thuật Những rủi ro, tai biến của nhiễm khuẩn vết mổ đã giảm đáng
kể trong ba thập kỷ qua, chủ yếu là do cải thiện điều kiện vệ sinh, điều trị dự phòng bằngkháng sinh, thủ tục vô trùng trong mổ và các thực hành khác Mặc dù sợ giảm nhiễm trùngvết mổ do các yếu tố trên, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ dự kiến sẽ tăng liên tục dotăng tỷ lệ sinh mổ trong những năm gần đây Nhiễm khuẩn vết mổ sau sinh có thể làm tăng
tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ Ngoài ra nhiễm khuẩn vết mổ có thể làm khó chịu chongười mẹ khi cố gắng phục hồi sau phẫu thuật và đồng thời chăm sóc trẻ sơ sinh Nó có thểkéo dài thời gian nằm viện của mẹ, tăng chi phí chăm sóc sức khỏe và dẫn đến những tácđộng kinh tế xã hội Tuy nhiên, nhiễm khuẩn có thể gây ra những hậu quả nặng nề nhưngnếu người bệnh được chăm sóc và điều trị tốt thì sẽ hạn chế rất nhiều nguy cơ có thể xảy ra
Do đó, việc điều trị và chăm sóc cho người bệnh nhiễm khuẩn sau mổ lấy thai cần phải toàndiện
Trang 6I ĐẠI CƯƠNG
1.1 Định nghĩa
Theo CDC (The United States Centers for Disease Control and Prevention), nhiễm khuẩnvết mổ (NKVM) là những nhiễm khuẩn tại hoặc gần vết mổ, xuất hiện trong vòng 30 ngàysau phẫu thuật đối với các phẫu thuật không cấy ghép và trong vòng 1 năm sau phẫu thuậtvới các phẫu thuật có cấy ghép
Biểu hiện lâm sàng bề mặt vết mổ nhiễm trùng có ít nhất một trong các dấu hiệu sau:
- Dịch tiết có mủ chảy ra từ vết mổ
- Phân lập được vi khuẩn từ mẫu bệnh phẩm thu được của dịch hoặc mô từ vết mổ
- Có một trong các biểu hiện sau: Đau, đỏ, sưng cục bộ, nóng
Theo lâm sàng, một vết mổ được xem là nhiễm khuẩn khi có mủ được phát hiện từ vết mổ
đó Định nghĩa này không bắt buộc phải có vi sinh vật được phân lập từ vết thương, mặc dùđây là yếu tố giúp quyết định liệu pháp điều trị Trên thực tế lâm sàng, có 25-50% trườnghợp vết thương nhiễm khuẩn nhưng không phân lập được vi sinh vật, ngược lại, các vikhuẩn vẫn có thể phân lập được từ các vết thương đã lành tốt Vì vậy, để chẩn đoán một vếtthương có nhiễm khuẩn hay không, cần dựa vào các triệu chứng lâm sàng và nhất là có sựhiện diện của mủ tại vết thương
1.2 Phân loại
NKVM được chia thành 3 loại:
(1) NKVM nông gồm các nhiễm khuẩn ở lớp da hoặc tổ chức dưới da tại vị trí rạch da.(2) NKVM sâu gồm các nhiễm khuẩn tại lớp cân và/hoặc cơ tại vị trí rạch da NKVMsâu cũng có thể bắt nguồn từ NKVM nông để đi sâu bên trong tới lớp cân cơ
(3) Nhiễm khuẩn cơ quan/khoang cơ thể
1.3 Sinh lý sự lành vết thương
Quá trình liền vết thương: 3 giai đoạn
Hình 1.1: Sơ đồ phần loại nhiễm khuẩn vết mổ
Trang 71 Giai đoạn cầm máu và viêm:
Giai đoạn cầm máu và viêm thường diễn ra từ vài giờ cho đến 4 ngày, thời gian có thể lâuhơn đối với vết thương mãn tính Các tế bào chính tham gia trong quá trình này bao gồm:
Sau khi mạch máu tại vết thương bị vỡ hình thành cục máu đông, tạo thành chất ngoại gianbào tạm thời nhằm làm kín vết thương, giảm mất máu và tạo ra 1 hoạt chất có khả năng thuhút sự di chuyển các tế bào khác đến tham gia tại vị trí vết thương Các tế bào viêm do tiểucầu tiết ra và vết thương được làm sạch bằng thực bào
- Biểu mô hóa
Giai đoạn lên mô hạt hay còn gọi là sự hình thành các mạch máu mới nhờ sự tăng sinh của
tế bào nội mô kết hợp với nguyên bào sợi Sau khi ngoại gian bào được tái tạo, một số hoạtchất bên trong biểu bì da sẽ làm suy thoái và tổng hợp một loại ngoại gian bào mới gọi tên
là Matrix Metallo – protein giúp làm sạch vết thương
Đến quá trình tái tạo biểu mô sự chuyển đổi của các nguyên bào sợi thành cơ nguyên bàosợi Chức năng của chúng là sắp xếp các ngoại gian bào nhằm liên kết vết thương Quátrình này bắt đầu từ các mép của vết thương và phần phụ của vết thương sau đó vào trongkhu vực chính của vết thương dần dần Đây là lý do vì sao vết thương thường bắt đầu gâyngứa xung quanh mép da khi sắp lành thương
3 Giai đoạn tái tạo
Các thành phần chính tham giai trong giai đoạn tái tạo bao gồm đại thực bào và nguyên bàosợi Sự kết hợp của các nguyên bào sợi và ngoại gian bào cùng các tế bào mới được dichuyển lên đến đỉnh điểm khoảng 3 tháng đến 1, 2 năm thì vết thương bắt đầu lành và để lạisẹo
Giai đoạn tái tạo hình thành trong suốt quá trình tổ chức các ngoại gian bào mới do cơnguyên bào sợi thực hiện Các tế bào này liên kết với các bó vi sợi dẫn đến sự liên kết chặtchẽ mới Lúc này phản ứng sinh học cũng tiết ra hàng loạt hoạt chất mới giúp tăng mật độ
và ổn định chất nền, tăng sức đề kháng
Song song với đó, quá trình sửa đổi phần trăm collagen cũng được thực hiện tạo thànhcollagen I và collagen III Sau đó, nguyên bào sợi sẽ được phân hủy, tổng hợp các ngoạigian bào khỏe khoắn góp phần cho vết thương được liền nhanh chóng
TRÙNG VẾT MỔ
II.1 Tác nhân gây bệnh
Vi khuẩn là tác nhân chính gây NKVM, tiếp theo là nấm Rất ít bằng chứng cho thấy virus
và ký sinh trùng là tác nhân gây NKVM Các vi khuẩn chính gây NKVM thay đổi tùy theotừng cơ sở khám chữa bệnh và tùy theo vị trí phẫu thuật Loài vi khuẩn thường gặp ở một
Trang 8số phẫu thuật được trình bày ở Bảng 1 Các vi khuẩn gây NKVM có xu hướng kháng khángsinh ngày càng tăng và là vấn đề nổi cộm hiện nay, đặc biệt là các chủng vi khuẩn đa khángthuốc như: S aureus kháng methicillin, vi khuẩn gram (-) sinh β-lactamases rộng phổ Tạicác cơ sở khám chữa bệnh có tỷ lệ người bệnh sử dụng kháng sinh cao thường có tỷ lệ vikhuẩn gram (-) đa kháng thuốc cao như: E coli, Pseudomonas sp, A baumannii Ngoài ra,việc sử dụng rộng rãi các kháng sinh phổ rộng tạo thuận lợi cho sự xuất hiện các chủngnấm gây NKVM.
Loại phẫu thuật Vi khuẩn thường gặp
- Bacillus anaerobes, Bacillus, B enterococci
- S aureus, Streptococci, Anaerobes
- E coli, Enterococci
- Streptococci, Anaerobes
- E coli, Klebsiella sp.; Pseudomonas spp
- B fragilis và các vi khuẩn kỵ khí
Bảng 2.1: Các chủng vi khuẩn gây NKVM thường gặp ở một số phẫu thuật
II.2 Nguồn tác nhân gây bệnh và cơ chế lây truyền
Có 2 nguồn tác nhân gây NKVM gồm:
- Vi sinh vật trên người bệnh (nội sinh): Là nguồn tác nhân chính gây NKVM, gồm các
vi sinh vật thường trú có ngay trên cơ thể người bệnh Các vi sinh vật này thường cư trú ở
tế bào biểu bì da, niêm mạc hoặc trong các khoang/tạng rỗng của cơ thể như: khoangmiệng, đường tiêu hóa, đường tiết niệu - sinh dục, v.v Một số ít trường hợp vi sinh vật bắtnguồn từ các ổ nhiễm khuẩn ở xa vết mổ theo đường máu hoặc bạch mạch xâm nhập vàovết mổ và gây NKVM Các tác nhân gây bệnh nội sinh nhiều khi có nguồn gốc từ môitrường bệnh viện và có tính kháng thuốc cao
- Vi sinh vật ngoài môi trường (ngoại sinh): Là các vi sinh vật ở ngoài môi trường xâm
nhập vào vết mổ trong thời gian phẫu thuật hoặc khi chăm sóc vết mổ Các tác nhân gâybệnh ngoại sinh thường bắt nguồn từ:
+ Môi trường khu phẫu thuật: Bề mặt phương tiện, thiết bị, không khí buồng phẫu thuật,nước và phương tiện vệ sinh tay ngoại khoa, v.v
+ Dụng cụ, vật liệu cầm máu, đồ vải phẫu thuật bị ô nhiễm
+ Nhân viên kíp phẫu thuật: Từ bàn tay, trên da, từ đường hô hấp
Trang 9+ Vi sinh vật cũng có thể xâm nhập vào vết mổ khi chăm sóc vết mổ không tuân thủ đúng
nguyên tắc vô khuẩn Tuy nhiên, vi sinh vật xâm nhập vào vết mổ theo đường này thườnggây NKVM nông, ít gây hậu quả nghiêm trọng
Các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào vết mổ chủ yếu trong thời gian phẫu thuật theo cơ
chế trực tiếp, tại chỗ Hầu hết các tác nhân gây NKVM là các vi sinh vật định cư trên davùng rạch da, ở các mô/tổ chức vùng phẫu thuật hoặc từ môi trường bên ngoài xâm nhậpvào vết mổ qua các tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp, đặc biệt là các tiếp xúc qua bàn tay kípphẫu thuật
II.3 Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ
trước mang thai
Trong phẩu thuật hoặc trong sinh
Sau phẩu thuật
- Tuổi
- Béo phì
- Đái tháo đường
- Nơi cư trú- vùng nông thôn
- Hút thuốc (co mạch, thiểu
dưỡng tại chỗ)
- Dùng ức chế miễn
dịch-Steroid, alcohol
- Tình trạng dinh dưỡng kém
- Thời gian lưu trú trước
phẫu thuật (tăng lượng
VSV định cư)
- Thiếu máu
-Tăng huyết áp thai kì -Đái tháo đường thai kì -Đa thai
-Từng sinh mỏ trước đó -Chuẩn bị da
-Tẩy lông -Đái tháo đường type 1, 2 -Hiệp hội gây mê Hoa Kì
(ASA) điểm tối thiểu 3 điểm
-Thời gian nằm viện tối
-Không sử dụng kháng
sinh dự phòng
-Băng huyết sau sinh -Chứng sốt rét sau sinh -vỡ ối sớm
-Tụ máu -Truyền máu -Thời gian nằm
viện kéo dài
Thao tác phẫu thuật: Phẫu thuật làm tổn thương, bầm giập nhiều mô tổ chức, mất máunhiều, vi phạm nguyên tắc vô khuẩn trong phẫu thuật làm tăng nguy cơ mắc NKVM
Một số nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy các yếu tố nguy cơ gây NKVM liên quan tới phẫuthuật gồm: Phẫu thuật sạch – nhiễm, phẫu thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn, các phẫu thuậtkéo dài > 2 giờ, các phẫu thuật ruột non, đại tràng
Một số chiến lược đã được sử dụng và đánh giá trong các thử nghiệm để giảm tỷ lệ mắcNKVM và cải thiện kết quả chăm sóc bệnh nhân Hướng dẫn khác nhau đã được phát triển,bao gồm những người từ Viện Quốc gia về Sức khỏe và chăm sóc sắc (NICE), AmericanCollege of sản phụ khoa (ACOG), các Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), người Mỹ Cao đẳngcủa bác sĩ phẫu thuật (ACS), nhiễm trùng phẫu thuật Society (SIS) và các Trung tâm KiểmSoát bệnh Tật (CDC)
III.1 Yếu tố bệnh nhân:
Xác định và quản lý các yếu tố rủi ro có thể thay đổi được như thay đổi lối sống (bỏ hútthuốc, giảm uống rượu và duy trì cân nặng bình thường trước khi phẫu thuật) đã đượcchứng minh là làm giảm tỷ lệ mắc NKVM Hơn nữa, kiểm soát đường huyết đầy đủ, tránh
ức chế miễn dịch, tối ưu hóa tình trạng hemoglobin và dinh dưỡng tốt đều giúp tăng cườngkhả năng chữa lành vết thương và giảm nguy cơ mắc các bệnh NKVM Giảm nhập viện
Bảng 2.2: Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn vết mổ
Trang 10trước phẫu thuật đã được chứng minh ngăn chặn sự phát triển của bệnh kèm theo và cũng
để giảm tỷ lệ mắc của NKVM
III.2 Các yếu tố trước phẫu thuật
Khử ion hóa mũi
S aureus , đặc biệt là MRSA có liên quan với tăng nguy cơ của NKVM, đặc biệt là trong
phẫu thuật tim và chỉnh hình Bằng chứng từ các nghiên cứu đã cho thấy việc giảm tỷ lệmắc của NKVM trong những bệnh nhân đã trải qua khử nhiễm mũi với một chất khử trùng
so với giả dược NICE khuyến cáo rằng mupirocin nên phụ thuộc vào kiểu của phẫu thuật
và bệnh nhân với các yếu tố như tình trạng MRSA
Áo choàng bệnh nhân và nhân viên
Mặc dù không có đủ bằng chứng cho thấy áo choàng phẫu thuật làm giảm tỷ lệ NKVM,nhưng việc sử dụng chúng được khuyến khích thực hành vì chúng làm giảm ô nhiễm khuvực phẫu thuật với các nguồn lây nhiễm có thể xảy ra Bằng chứng từ RCT khác nhau đãxác nhận có sự khác biệt trong tỷ lệ của NKVM với việc sử dụng màn phủ dùng một lầnhoặc tái sử dụng; cả hai đều được khuyến khích Màn phủ tái sử dụng đặc biệt có chi phí-hiệu quả, đặc biệt là nơi có điều kiện kém Màn không tẩm iodophor được chứng minh làmtăng nguy cơ NKVM Do đó màn rạch tẩm Iodophor được khuyến khích
Tắm trước phẫu thuật
Bệnh nhân được khuyến cáo tắm hoặc tắm bằng bình thường hoặc xà phòng kháng khuẩn,một ngày trước hoặc trong ngày phẫu thuật.Đối với các quy trình trong đó S aureus là nguyên nhân có thể gây ra NKVM, tốt nhất nên thực hiện với chlorhexidine.
Hướng dẫn ACOG khuyên bệnh nhân trải qua phẫu thuật phụ khoa bụng lớn nên đi tắmhoặc tắm toàn thân bằng cách sử dụng xà phòng (kháng khuẩn hoặc nonantimicrobial)hoặc một chất khử trùng đại lý vào đêm trước khi phẫu thuật NICE tương tựkhuyên rằng bệnh nhân nên tắm hoặc có bồn tắm bằng xà phòng những ngày trước hoặcvào ngày phẫu thuật Khuyến nghị này áp dụng cho tất cả các ca phẫu thuật lớn ở bụng
Tẩy lông
Trước đây là một thực tế phổ biến trong sản phụ khoa, triệt lông ngày càng ít phổ biếnhơn Loại bỏ lông có thể đạt được bằng cách cạo bằng dao cạo, kẹp hoặc sử dụng kem làmrụng lông WHO khuyến cáo rằng, nếu nó là hoàn toàn cần thiết, tẩy lông nên được đượcthực hiện bằng cách sử dụng một cái kéo, cạo lông nên được khuyến khích NICE khôngkhuyến khích tẩy lông định kỳ trước phẫu thuật vì nó không được coi là hiệu quả về chi phí
và không ngăn chặn NKVM Tuy nhiên, NICE khuyên rằng nếu cần thiết phải tẩy lông thìnên dùng tông đơ điện có đầu sử dụng một lần chứ không dùng dao cạo vì dao cạo đã đượcchứng minh là làm tăng nguy cơ mắc bệnh NKVM Liên quan đến thời điểm cạo, một tổngquan của Cochrane kết luận không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ NKVM giữa cạo hoặccắt một ngày trước khi phẫu thuật hoặc vào ngày phẫu thuật Tuy nhiên, các nghiên cứu từ
đó đưa ra kết luận này còn ít, vì vậy cần phải nghiên cứu thêm
Dự phòng kháng khuẩn để mổ
Kháng sinh là trung tâm phòng chống NKVM Việc xem xét kết luận rằng thuốc kháng sinhlàm giảm tỷ lệ mắc của NKVM, nội mạc tử cung và các biến chứng nhiễm trùng ở mẹnghiêm trọng 60 - 70% Cephalosporin thế hệ thứ nhất làm giảm nguy cơ hậu phẫu vếtthương nhiễm trùng bởi 62% và viêm nội mạc tử cung 58% Với liên quan đến thời giancủa thuốc kháng sinh, cho thấy rằng tiêm tĩnh mạch (IV) kháng sinh tiêm trong vòng 60
Trang 11phút của một CS giảm các nhiễm trùng ở mẹ hỗn bệnh tật bằng 53% , nội mạc tửcung bằng 56% và nhiễm trùng vết mổ 41% so với những trẻ được tiêm kháng sinh saukhi kẹp rốn sơ sinh.Hơn nữa, amoxicillin- axid clavulanic IV (Augmentin) tiêm trước CS
đã được chứng minh là làm tăng nguy cơ viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh Do đó đềnghị thuốc kháng sinh nên được trao trước khi bắt đầu CS,nhưng nếu Augmentin là để được sử dụng, nó nên được trao sau khi dây kẹp
Điều trị dự phòng bằng kháng sinh để cắt bỏ tử cung
Nồng độ mô tối ưu của thuốc kháng sinh trước khi phẫu thuật rất quan trọng để giảm nguy
cơ của NKVM Việc đạt được nồng độ tối ưu phụ thuộc vào các đặc tính dược động họcnhư thời gian bán thải và nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) Ví dụ, Cefuroxime có thời gianbán hủy từ 1 - 2 giờ và MIC thường đạt được trong khoảng từ 20 đến 90 phút sau khi dùng.Trong sản khoa và phẫu thuật phụ khoa, thuốc kháng sinh IV dự phòng được khuyến khích
để được tiêm trong vòng 60 phút của các vết rạch da NICE khuyến nghị một liều khángsinh dự phòng IV duy nhất khi khởi mê cho các thủ thuật phẫu thuật Loại kháng sinhthường phụ thuộc vào chính sách của từng bệnh viện Kháng sinh dự phòng thường đượckhuyến cáo cho các ca phẫu thuật với vết thương sạch, sạch bị nhiễm khuẩn và nhiễmkhuẩn Trong trường hợp vết thương bị nhiễm, kháng sinh phải được nhiều hơn so với dựphòng (kéo dài)
Bảng 4 cho thấy danh sách đề xuất liều lượng của các kháng sinh tiêu chuẩn thường đượckhuyến cáo để phòng ngừa NKVM trong sản khoa và phụ khoa
Kéo dài phẫu thuật, Nơi máu mất lúc phẫu thuật (hơn so với 1500 ml), các MIC của dựphòng kháng sinh được giảm, kết quả trong hiệu quả thấp hơn=> do đó khuyến cáo nếu:
● Phẫu thuật kéo dài (> 3 giờ) và mất máu hơn 1500 ml
Đối với phụ nữ béo phì, cần xem xét đưa vào quản lý một cao hơn - hoặc thực sự đôi - liềuchuẩn kháng sinh dự phòng Ví dụ, các liều chuẩn của cefazolin là 2 g, nhưng đối vớinhững người cân nặng hơn 120 kg, điều này sẽ là 3 g
Trong đặc biệt trường hợp, ví dụ như sản khoa và phụ khoa bệnh nhân bị bệnh lý tim mạch,van ngực và cấy ghép, phẫu thuật điều trị dự phòng kháng sinh chế độ là không thườngkhác nhau
Mặc dù thực hành tốt là cung cấp kháng sinh dự phòng, nhưng cần phải nhớ rằng chúngkhông được khuyến khích trong các phẫu thuật sạch, không có chân giả, không biến chứng,chẳng hạn như nội soi ổ bụng chẩn đoán, cắt u nang buồng trứng (đối với u nang đơn giảnkhông biến chứng) hoặc nội soi triệt sản
Rửa tay
Khử nhiễm với chlorhexidine hoặc povidon trước khi phẫu thuật đã được chứng minh đểgiảm tải của hệ thực vật da thường trú, với việc giảm tiếp theo trong các tỷ lệ của NKVM.Trong khía cạnh này, rượu cọ xát và chà kỹ với povidone-iodine đã được chứng minh là củatương tự hiệu quả, rửa tay bằng một dung dịch sát khuẩn và duy nhất sử dụng bàn chải chàngóc tay trước khi phẫu thuật Sau đó, tay có thể được rửa sạch với một trong hai giải phápphẫu thuật khử trùng hoặc một tay chà cồn cho các hoạt động tiếp theo, nhưng nếu các taytrở nên bẩn, họ nên sau đó được rửa sạch với một dung dịch sát khuẩn, tay chà kỹ cho mộttối thiểu của 3 phút đã được chứng minh là làm giảm hình thành của các vi sinh vật trên tay
so với chà kỹ chỉ 2 phút