Bức tranh về các ngôn ngữ Đông Nam Á hiện đại cực kì phong phú, đa dạng và cũng khá phức tạp bởi lẽ, ở khu vực này, hiện đang tôn tại không phải hàng chục mà hàng trăm ngôn ngữ khác nha
Trang 1Phan thu ba
CAC THANH TO CUA VAN HOA DONG NAM A
Văn hoá của các dân tộc thường bao hàm trong nó rất
nhiều thành tố: ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập
quán, nhà cửa, nghệ thuật, v.v Trên một ý nghĩa nào đó, có thể nói, đó cũng chính là những thành tựu hay những mặt nội dung của một nền văn hoá Phần này sẽ đi sâu tìm hiểu về các thành tố của văn hoá Đông Nam Á
I NGON NGU - CHU VIET
I Bức tranh về các ngôn ngữ Đông Nam Á hiện đại cực
kì phong phú, đa dạng và cũng khá phức tạp bởi lẽ, ở khu vực này, hiện đang tôn tại không phải hàng chục mà hàng trăm ngôn ngữ khác nhau, đan xen vào nhau Tính chất đa dạng và phúc tạp của bức tranh ngôn ngữ được thể hiện ở nhiều mặt, nhiều phương điện, trong đó có một tình hình đáng chú ý là mot ngôn ngữ có thể tốn tại ở rất nhiều quốc gia, chang han, tiếng Thái không chỉ có ở Thái Lan mà còn ở Lào, Việt Nam, Myanmar, Cămpuchia; tiếng Khmer không chỉ ở Cămpuchia
mà còn ở Việt Nam, Thái Lan; tiếng Melayu ở Malaysia,
Indonesia, Brunei và Singapore, v.v Một tình hình khác cũng
III
Trang 2đáng quan tâm là ở bát kì quốc gia Dong Nam Á nào cũng có
hàng chục, thám chí hàng trăm ngôn nụữ khác nhau Chỉ riêng Indonesia cũng đã có tới hơn 200 ngôn ngữ đang được sử
dụng Thêm vào đó, mối quan hệ cội nguồn, sự tiếp xúc ngôn
IØgỮ, Sự Vay mượn từ vựng, giữa các ngôn ngữ cũng góp phần tạo nên tính chất nhiều vẻ cho bức tranh ngôn ngữ Đông
Nam Á
Tuy nhiên, sự đa dạng không hệ thú tiêu tính thông nhát
của chúng Và nếu nhự nói rằng văn hoá Đóng Nam A la sit
thống nhất trong đa dạng thì nhận định đó cũng hoàn toàn chính vác đối với ngôn ngữ - một thành tổ quan trọng của vàn hoá Các ngôn ngữ Đông Nam Á là bức tranh đa dạng trong
một sự thống nhất cao độ từ trong cội nguồn của chúng
Ngày nay, dựa vào phương pháp so sánh - lịch sử, các nhà khoa học đã quy được các ngôn ngữ Đông Nam Á về một
số họ ngôn ngữ (ngữ hệ) chính Dĩ nhiên, xung quanh vấn đề phân loại các ngôn ngữ Đông Nam Á đã có một quá trình lịch
sử nhất định và cũng có một số ý kiến khác nhau về vị trí của tiếng Việt, tiếng Thái, v.v Song, cho đến gần đây, nhiều ý kiến tương đối thống nhất xếp tiếng Việt vào ngữ hệ Nam Á, còn tiếng Thái thì được tách ra thành một ngữ hệ riêng Trên tỉnh thần đó, có thể hình thành các họ ngôn ngữ Đông Nam Á
như sau:
1.1 Ngit hé Nam dao (Austronesia)
Ngữ hệ Nam đảo còn được gọi là Malai - da dao (Malayopolynesia) Ngữ hệ này gồm 4 nhóm: Melanesia, Polynesia, Micronesia va Indonesia Ngtt hé Nam dao phan bo khá rộng, đến tận Australia và các đảo Nam Thái Binh Duong
Trang 3có ngôn ngữ Melayu (góm khoảng [7Ó triệu người nói, ở các quốc gia Brunet, Malaysia, Indonesia, Smgapore), ngôn ngữ Tagalog (S50 triệu người nói ở Philippines) và các ngôn ngữ Giarai Ede Chăm Raelai Churu ở Việt Nam
1.2 Ngit he Nam A (Austroasiatic)
+
Ngư hệ Nam A được phân bố chủ yếu ở các quốc gia Dong Nam A luc địa Có thẻ chia ngữ hệ này thành bốn nhóm
như sau
a) Nhomngon new Mon - Khmer
- Các ngôn ngữ của người Môn ở Myanmar và tây nam
Thái Lan Ngôn ngữ này được khoảng 700.000 người sử dụng
- Ngôn ngữ của người Khmer ở Cămpuchia, Thái Lan,
Việt Nam Có khoảng 9 triệu người nói ngón ngữ này
- Các ngôn ngữ của những tộc người Môn - Khmer ở
Việt Nam sống rải rác ở vùng Tây Nguyên, Trường Sơn và
Tay Bac, gom: Bahna, Sodang Koho, Hre, Mnong, Stiéng, Bru
- Van kieu, Katu, Khmu, Taoi, Ma, Giétriéng, Sinhmul,
Choro, Mang, Khang, Ronam, Odu va Brau
bj) Nhom ngon net Hmong - Dao
Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao được khoảng 7 triệu
người châu Ä sử dụng Riêng ở khu vực Đông Nam A, nhom
ngôn ngữ này được phân bố ở Việt Nam, Lào, Thái Lan và Myanmar Thuộc nhóm Hmông - Dao là các ngôn ngữ Hmông
(còn gọi là Mèo), Dao, Pàthen, Sơ và Klao
C) Nhóm nụôn nụữ Việt - Mường
Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường gồm bốn ngôn ngữ: Việt
(Kinh), Mường, Thô, Chứt Nhóm ngôn ngữ này chỉ có ở Việt Nam và một số nước Đông Nam A có người Việt sinh sống
113
Trang 4d) Nhontngon ng Nam A khac
Có người gọi đây là nhóm hôn hop hay Kadai (ca
gạch nối giữa ngôn ngữ Tày - Thái cô và Mãlai - Da dao theo Paul K Benedict) Đó là các ngôn ngữ Lachí Laha
Klao, Pupéo ở Việt Nam
1.3 Ngữ hệ Thái
Các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Thái được phân bố ở Thá Lan, Lào, Việt Nam và Myanmar Thuộc họ này có các ngôi ngữ: Thái (Xiêm), Lào, Tày - Nùng, Sán chay, Giáy, Bố y Lự Laha Ở Thái Lan, các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Thái chiến khoảng 74% dân số cả nước, nghĩa là có khoảng 45 triệt nguoi noi
Thái Lan, Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Philippines, v.v (
Malaysia, khoảng 30% (7 triệu người) dân số nói tiếng Hán C Singapore, con số đó là 78%
Thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, ngoài tiếng Hán (Hoa) còi
có Sán đìu, Ngái
b) Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến
Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến được phân bố ở Myanmar Thái Lan, Lào và Việt Nam (j Myanmar, nhóm ngôn ngữ nà)
Trang 5Cúc ngôn ngữ thuộc họ Tạng - Miễn ở Đồng Nam Á là Mien, Kachin, Karen, Kaya, Lolo, Chin (6 Myanmar), Ha nhi, Phu la, La hu, Sila (o Viet Nam), Lisu, Akha (o Thar Lan), Ko, Phú nói (ở Lào)
Ngoại bồn họ ngôn ngữ chính nêu trên, ở mọt só Khu vực
Hong Nam Á còn có một vài ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ khác theo đồng người nước ngoài đến Đông Nam Ấ như tiếng
Tamil (thuộc Đravidian) của người An Độ o Malaysia, Indonesia tiếng Aryen (thuốc Ân - Âu) của mót số người Ấn
Đó và PakKistan o Myanmar
2 Tuy ngày nay bức tranh ngôn ngữ Đông Nam Á rất đa dang nhung theo các nhà ngôn ngữ học, trước đây chúng đều
có mọt góc chưng tạm gọi là ngón ngữ Đông Nam Á tiền sử
[Xin xem: Pham Due Duong, 1983, phan nay chúng tôi dựa vào kết
qua nghiên cứu của tác giá được trình bày trong các trang từ 76 dén 90!
Từ ngôn ngữ gốc chung này, trong quá trình phát triển lịch sử,
nó được phân thành các ngữ hệ khác nhau và phát triển theo các hướng khác nhau Một trong những sự thay đối quan trọng nhật để từ ngôn ngữ gốc chung phát triển thành các nhánh Khác nhau chính là sự thay đối về mặt hình thái học, mà cụ thể
là sự thay đổi phương pháp phụ tố Quá trình thay đổi đó diễn
ra như sau
Ngôn ngữ Đông Nam Á tiền sử có các phụ tố mà theo vị trí có thể gọi là tiền tố, trung tố và hậu tố Các phụ tố đó Không nhiều và được biểu thị bảng những pan am nhat dinh,
kèm với nguyên âm “o” dong pha khong co gia tri âm vị hoc, a9 khong ton tại độc lập Trong ngôn ngữ Đông Nam Á tiền sử,
11S
Trang 6căn tố thường là những âm tiết có dạng CVC (phụ am
nguyên âm - phụ âm), do đó dù có thêm loại phụ tố nào thi rut
cuộc đa số các từ cơ bản cũng đều có dạng CCVC, cụ thể là:
Các ngôn ngữ Đông Nam Á lục địa, nói chung, phát triển theo hướng bỏ phụ tố Trong quá trình phát triển theo hướng này các ngôn ngữ Đông Nam Á lục địa chia thành hai dòng:
a) Mất hẳn phương pháp phụ tố, nghĩa là từ CCVC chuyển
thanh CVC, vi du: tem ~> trem, bldoi > gidi, tlim > tram
do đó, trong đa số trường hợp, âm tiết trùng với từ và hình vị đồng thời nảy sinh hệ thống thanh điệu Các ngôn ngữ dòng Đồng Thái (thuộc khu vực cực bắc Đông Nam Á tiền sử) phát
triển theo hướng này
b) Mất phương pháp phụ tố nhưng còn dấu vết, vì vậy cấu trúc từ đơn tiết vẫn là CCVC, không thanh điệu Các ngôn ngữ Môn - Khmer thuộc dòng này Ví dụ, ở tiếng Bahna, Pai
“bay”, Pnar “cái cánh”
Các ngôn ngữ Đông Nam A hai đảo, do tiếp xúc với các
ngôn ngữ châu Đại Dương, đặc biệt là Papua, nên đi theo
Trang 7phap phu to Cac can to co cau truc CCVC, do su gia tang phu
tô chấp nói vào, phát triển thành những từ đa tiết chấp dính Trong tieng Melayu chang han, từ góc apl “lựa”, băng phương pháp chấp dính phụ tố người ta đã tạo ra hàng loạt từ đã tiết,
ví dụ berapr "có lựa, bốc lựa", mengapi "hoá thành lửa như
bóc lửa, mengap' - apiKan "kích thích, Khuyẻn khích" memperapIEan "quay, nướng”, perapian "bếp lò lò” v.v
Như vậy có thể hình dung sự phân chía ngừ hệ Đồng
Nam A tren sử thành bà dòng theo mô hình cấu tạo từ căn như
sơ đỏ hình cây dưới đây
CCVC Đông nam á tiền sử
mat han CVC con dau vét CCVC CVCVCVC
dòng đồng thái | dong Mon-Khmer dong Malay
Tất nhiên, sau này, mỗi dòng ngôn ngữ đều có những
đặc điểm mới riêng song, như đã trình bày ở trên, tất ca chúng
đều có cùng một gốc chung là ngữ hệ Đông Nam Á tiền sử
Như vậy rõ ràng là trong ngôn ngữ cũng phản ánh rất rõ đặc
trưng thông nhất trong đa đạng của văn hoá Đông Nam Á
Các ngôn ngữ Đông Nam Á không chỉ có chung nguồn gốc mà còn có nhiều mối quan hệ, nhiều sự tác động lần nhau trong quá trình phát triển lịch sử Ở các ngôn ngữ Đông Nam
Á có một tình hình rất đáng chú ý là từ một ngôn ngữ A, khi tiếp xúc với ngôn ngữ B, dần dần A bị giải thể cấu trúc và các
117
Trang 8yếu tố của ngôn ngữ này được vận hành theo cơ chế của B, từ
đó nảy sinh một ngôn ngữ mới là C
- Nhóm Việt - Mường là kết quả của sự tiếp xúc của một
bộ phận cư dân Môn - Khmer với một bộ phận cư dân Đồng Thái (hay nói cách khác là nhóm ngôn ngữ này có cơ tầng Môn - Khmer và cơ chế Đồng Thái)
- Nhóm Chàm có cơ tầng Malay và cơ chế Môn - Khmer
- Nhóm Lê có cơ tầng Malay và cơ chế Đồng Thái
- Nhóm Hmông - Dao có cơ tầng Môn - Khmer và cơ chế Tạng - Miến
- Nhóm Karen có cơ tầng Tạng - Miến và cơ chế Đồng Thái
Những điều vừa mới được trình bày trên đây lại một lần nữa khẳng định tính thống nhất trong sự đa dạng của văn hoá Đông Nam Á xét về mặt ngôn ngữ học
3 Một đặc trưng văn hoá chung khác của các ngôn ngữ
Đông Nam Á là ở sự phong phú của các đại từ nhân xưng
Trang 9So với các ngôn ngữ An - Au nhu Nga, Sec, Latinh, Anh, Pháp, v.v., số lượng các đại từ nhân xưng ở các ngôn ngữ Đóng Nam Á nhiều hơn hẳn: Trong khi tiếng Nga có §, tiếng
Sec TÔ, tiếng Anh 7, tiếng Pháp 8 thì tiếng Việt có tới 22, tiếng Lào 32, tiếng Khmer 32 [Nguyên Văn Chiến, 1992, 127
- 128] Day không phải đơn thuần là sự khác biệt về mặt số
lượng mà còn đăng sau nó, là sự khác biệt về mặt văn hoá
Cũng cần nói thêm rang, một số ngôn ngữ Đông Nam A, trong
đó tiếng Việt là một ví dụ tiêu biểu, đã sử dụng một số lượng khá lớn những từ chỉ quan hệ họ hàng (ông - cháu, bà - cháu, bác - cháu, chú - cháu, cháu - có, anh - em, chị - em, v.v ) để
thay the cho đại từ nhân xưng
Việc sử dụng một số lượng lớn các đại từ nhân xưng, kể
cả việc dùng từ chỉ quan hệ họ hàng làm đai từ nhân xưng, là
một đặc điểm văn hoá nổi bật của các ngôn ngữ Đông Nam A
€j đây, việc chọn lựa sử dụng một đại từ nào đó cho thích hợp
với hoàn cảnh giao tiếp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: tuổi
tác mức độ thân sơ, thái độ ứng xử (kính trọng hay xem
thường), v.v Trong tiếng Melayu (bahasa Melayu) chẳng hạn,
tương ứng với chi một từ “You” trong tiếng Anh, tuỳ từng
hoàn cảnh giao tiếp, người nói có thể chọn Saudara, Saudari,
Awak, Anda, Cik, Eneik, v.v Tình hình cũng đúng như thế
đối với các ngôn ngữ Lào, Khmer, Việt Nam, v.v Không phải ngau nhiên mà nhiều người nước ngoài nói răng học và sử dụng đúng được các đại từ nhân xưng tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Khmer, v.v là đã tiếp thu được một số tri thức văn hoá dân tộc nhất định ẩn náu đằng sau chúng
4 Chữ viết cũng là một thành tố của văn hoá Từ đầu công nguyên trở đi, khi cần ghi chép, các dân tộc ở Đông Nam
Á hoặc sử dụng chữ Hán (như ở Việt Nam) hoặc sử dụng chữ
Pali - Sanskrit (nhu ở các nước khác) Tuy nhiên, một câu hỏi
119
Trang 10được đặt ra là, trước khi tiếp thú những thành tựu vẻ chữ viẻ của Trung Quốc và Ấn Độ, ở Đóng Nam Á đã có các loại chí
viết do cư đân bản địa tạo ra hay chưa Câu hỏi này, cho det
nay, vẫn chưa được trả lời một cách khang định Tuy nhiệt
các nhà khoa học đã đưa ra được những bàng chứng chứn:
minh rằng vớ ki¿ người Việt cổ đã tạo ra được một loạt chu
viet so Khai cho minh, Theo giao su Ha Van Tan, ngay từ thờ các vua Hùng đã có một hệ thống chữ Việt cố Chữ này đượ: ghi lại trên lưỡi cày Đông Sơn và trên những chiếc qua đồng ‹ Thanh Hóa và ở vùng Hồ Nam Đây là loại chữ vừa ghi hìnl vừa biêu ý, bởi vì, ngoài hình mặt trời còn có cả những hình ví
biểu hiện các khái niệm trừu tượng, ví dụ, khái niệm về sự sôi
sự nấu chín (qua hình một chiếc nồi bốc hơi) Theo tác gia bà
báo, “hệ thống chữ viết Việt cổ thời kì văn minh Đông Sơi
phát triển rực rỡ ở khoảng thế kỉ thứ IV trước công nguyên
trước khi người Hán vào xâm lược” [Hà Văn Tấn, 1983a]
Nói về chữ viết ở Đông Nam Á, ta không thể bỏ qua va
trò rất to lớn của chữ Pali - Sanskrit, con duoc goi là chí Devanagari (chữ thánh thần), ở khu vực này
: Ở Án Độ: trên cơ sở cải biên mẫu tự Devanagari để ghi chép ngôn nẹi
Ấn - Âu, chữ Sanskrit (chữ Phạn) đã ra đời từ thế kỉ thứ VII trước: côn nguyên Tuy nhiên, sau đó, ở các vùng bắc Ấn Độ, người ta đã cải biên v sáng tạo ra một hệ thống mẫu tự mới với tên gọi Pali để phi lại tiếng nói củ
cư đân ở đây So với chữ Sanskrit, chữ Pali đơn giản hơn Chữ Pali được dùn;
để viết kinh phật Sanskrit là ngôn ngữ văn học, phố biến trong giới trí thức v: học gia Pali là ngôn ngữ phổ thông mà đông đảo quần chúng thường dùng
Vì muốn tư tưởng của mình thấm sâu vào đông đảo quần chúng nhân dân nêi
Đức Phật đã sử dụng chữ Pali để truyền bá Chữ Pali không phải là một hị
thống hoàn toàn mới và khác với Sanskmt, do đó người ta thường dùng c¡
cụm từ Pali - Sanskrit để nói về hệ thống chữ viết này
Nói chung, chữ Pali - Sanskrit (chữ Phạn) vào các nước
Dong Nam A từ đầu công nguyên Chữ Pali - Sanskrit vac
Chämpa sớm nhất Tấm bia cổ xác nhận sự xuất hiện của chỉ
Trang 11dai the ki HP - the ki IV Tren tam bia Dong Yen Chau được
khác vào thể Kì EV - V, người ta cũng thấy xuất hiện một loại chữ Cham có mà hình nét giong nhu cht) Devanagari Di nhien, chu Pali - Sanskrit vao Champa da duoc car bien di nhiều để phù hợp với ngôn ngữ Chăm Những thể KỈ sau đó người Chăm đã dùng chữ viết của mình (tức là chtr Pali -
SansKrit đã được cải tiến) để phí chép Kinh thánh và trao đôi
thư từ [Vũ Duong Ninh (chu bien), 1997, 85]
Tam bia co nhat ghi lar cht Khmer co c6 nién dai nam
611 Chữ Khmer co có nguồn sốc từ chữ viết miền nam An
Đô Tuy nhiên, nếu theo truyền thuyết thì chữ viết Ân Độ được đưa vào đây sớm hơn nhiều, khoảng thế kí thứ H
Chir Pali - Sanskrit cũng được đưa vào các quốc gia hat
đảo khá sớm Những bỉ kí cô tìm được ở Indonesia xác nhận
răng chữ viết ở khu vực này xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ
IV Bảng chữ cái cổ nhất ở Jawa là thứ chữ cái theo dạng vùng
nam An Độ vốn có tên gọi Brahmi (chữ của Brahma, do
Brahma tạo ra) Chữ Jawa, chữ Madura đều bắt nguồn từ chữ
Brahmi
Với chữ Thái cô cdc nha‘khoa hoc thudng coi nam 1283 1A
cai moc danh dau su ra doi cua no So di nhu vay là vì họ đã căn
sứ vào một tâm bia được lập dưới triều vua Thái Ram Kham
Hẻng, trong đó có ghi: “Ngày xưa chữ Thái này không có Năm
1205 Xaka (1283), tue nam con đề, vua Ram Khăm Hẻng có mời một ông thầy đến Ông này đã sáng tạo ra chữ Thái này Đó là
1gười mà ngày nay chúng ta phải biết ơn” [Quế Lai, 1994a, 154]
Thực ra, “chữ Thái này”, theo các nhà nghiên cứu, là do những qgười Shan từ Miến Điện mang đến Song công lao của Ram
Kham Heng chính là ở chỗ đã đưa chữ Thái của một bộ phận
igudi Shan (xuống định cư ở Thái Lan) lên thành một thứ chữ -hính thức của quốc gia Thái Lan Như vậy, xét về gốc gác, chữ Thái cùng bắt nguồn từ chữ viết nam Ấn Độ như chữ Khmer, chữ
121
Trang 12Madura cô Nhân đây cũng cần nói thêm rang chữ của người
Shan ở bắc Miền Điện chính là chữ Pegu cô xuất hiện vào đầu
công nguyên, trên cơ sở của chữ cổ An Độ
Chữ Miến Điện cổ xuất hiện vào khoảng thế kỉ XI Nó bắt nguồn từ chữ Môn cổ vốn có từ khoảng thé kỉ thứ IV và
cũng có nguồn gốc từ chữ cổ Ấn Độ
So với các quốc gia khác, nước Lào (với tên gọi Lạnsang) xuất hiện muộn hơn Trong mối tương quan như thế, chữ Lào xuất hiện muộn hơn các thứ chữ Đông Nam Á khác cũng là điều
để hiểu Theo các nhà khoa học, chữ Lào có từ năm 1353 với dấu
vết còn lại là Lời huấn thị của Pha Nguồn Chữ Lào được xây dựng trên cơ sở của chữ Thái cổ, tuy nhiên, so với chữ Thái, nó đơn giản hơn nhiều
Như vậy là, nói chung, các quốc gia Đông Nam Á đều xây dựng chữ viết riêng cho dân tộc mình từ một trong hai nguồn: từ chữ Pali - Sanskrit (như các thứ chữ Khmer, Chăm, Thái, Lào, Miến Điện, Jawa, Madura cổ) và từ chữ Hán (như
chữ Nôm của Việt Nam) Các chữ viết dân tộc này nói chung,
được sử dụng cho đến hết thời kì trung cô
Tir thé ki XIII, các quốc gia hải đảo Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của đạo Hồi Từ đó văn hoá Arập thâm nhập mạnh
mẽ vào khu vực này cùng với đạo Hồi Chữ viết Arập chuyển tải nội dung Hồi giáo đã được mang vào Malaysia, Indonesia
và có ảnh hưởng đáng kể ở đây vào các thế ki XIV - XV
Với sự can thiệp của phương Tây vào Đông Nam Á, chữ
viết của một số quốc gia Đông Nam Á đã được chuyển đổi
theo hướng Latinh hoá Các loại chữ viết này đều là chữ ghi
âm, dùng con chữ Latinh nên dễ đọc, dễ nhớ Chữ viết Malaysia, Brunei, Indonesia, Philippines va Viét Nam hién
Trang 13nay chu Quoc Ngu cua Viet Nam ra doi som nhat - Khoang đầu thẻ Ki XVH, các chữ Latinh khác ở hai đạo xuât hiện vào khoang đầu thể kị XIX - XX
H TÍN NGƯƠNG BẢN ĐỊA
Cùng sinh ra và lớn lên trong một khu vực địa lí cùng có chung mot cơ tầng văn hoá là nông nghiệp lúa nước, cư dân
Đông Nam Á đều có chung mot số yếu tố tín ngưỡng bản địa
như nhau, chang hạn, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng
phôn thực, tín ngưỡng sùng bát lĩnh hồn người đã mất, v.v Cái
chung nhất của tất cả các tín ngưỡng này, như nhiều nhà nghiên cứu khang định, là xuất phát từ học thuyết vạn vật hữu linh, nghĩa là mọi vật (cả con người lẫn động thực vật, thậm
chí cả những vật vô sinh) đều có lĩnh hồn Lĩnh hồn biết tất cả
những gì mà con người đang làm và linh hồn có thể giúp đỡ
họ mọi việc ở mọi lúc, mọt nơi, nhất là những lúc con người ở vào tình thế nguy nan Vì vậy, thờ cúng các linh hồn được coi
là bốn phận của con người
1 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Cuộc sống hàng ngày của con người nói chung và đặc
biệt là việc sản xuất nông nghiệp nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiên tự nhiên, do đó sùng bái tự nhiên là điều tất yêu đối với tất cả cư đân Dong Nam A
Không phải bây giờ con người hiện đại mới phát hiện ra tầm quan trọng của năng lượng mặt trời đối với cuộc sống của
nhân loại mà ngay từ thời xa xưa cư dân Đông Nam Á đã cảm
nhận được điều đó, vì vậy, ở tất cả các quốc gia Đông Nam Á đều có fực thờ mặt trời Người ta thờ thần Mặt trời, người ta khắc hình mặt trời vào các trống đồng, thạp đồng
Trang 14Gan lién truc tiếp voi cong viéc déng ang cua cư dân nông nghiệp Đông Nam Á 1A dat va nude Chinh vi thé, hai vị
thần này được coi là tối cao và được thờ ở mọi nơi Người ta
cúng lễ thần Nước, cầu mong thần ban phát nude dé dong
ruộng, cây cỏ tốt tươi Ở Thái Lan có lễ tạ ơn Mẹ Nước vào
buổi tối trăng tròn tháng I0 âm lịch hàng năm Ở Cămpuchia
và Lào đều có Hội nước Ngay ở một số xã thuộc Hà Nội hiện
vẫn có lễ hội rước nước rất linh đình Việc thờ cúng thần Đất vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay với nhiều hình thức khác nhau như Lễ động thổ, tục thờ Địa Mẫu, v.v
Ở Indonesia, Myanmar, Lào, Cămpuchia, v.v đồng thời với việc thờ thần Nước, người ta còn thờ cả thần Sông - vị thần giữ vai trò chính trong việc cung cấp nước cho đông ruộng
Ngoài ra, liên quan đến nước là các hiện tượng mây, mưa,
sấm, chớp và các hiện tượng này cũng đóng một vai trò đáng
kể trong đời sống của cư dân nông nghiệp Do đó, các vị thần Mưa, thần Mây, than Sam, thần Chớp, thần Gió cũng được tôn thờ ở mọi nơi, từ vùng lục địa, rừng núi của Lào, Myanmar, đến các vùng hải dao Indonesia, Malaysia, Philippines,
Ở nhiều dân tộc thuộc Philippines, các “đối tượng” thờ cúng còn nhiều hơn nữa Người ta thờ cả mặt trăng, các ngôi sao, cầu vồng Mỗi khi có những hiện tượng thiên nhiên khác thường
như mưa to gió lớn, lụt lội, động đất, lốc cuốn, v.v cư dân địa
phương thường tiến hành các nghi lễ cầu khấn, đâng lẻ vật và đọc thần chú Người ta còn quan niệm môi vị thần đảm nhiệm một công việc nhất định, chẳng hạn, đối với người Bontoki, Thần Lamauiga bảo trợ cho công việc đồng áng, đối với các dân tộc ở đảo Mindanao, Thần Cabiga tạo ra cuộc sống còn Thần Pati thì
tạo mưa [Pham Thi Vinh, 1996a, 80 - 81]
Trang 15Khong chi quan tam den việc thờ cúng những gt lien quan trực tiếp đến việc trông lúa nước, cư đân bạn địa Đông Nam A còn thờ ca những vị thân có vat trỏ quyết định đến cuộc sông của những cộng đông cư đân ở miền rừng núi Tại đây, các vị thân Núi, thần Rừng, thần Đá, thân Lựa, thân Suoi
tuôn luôn được sùng bát hơn cá Trong quan niệm của người Lào, núi, rừng, đá lửa, suối đều có các “Phí” (ma, hồn) ngự trị cho nén muốn có cuộc sống no ấm, thanh bình thì
Không thể không chú ý sùng bái các / đó Tín ngưỡng này
cũng có ở người Thái: đối với họ, Phi (ma, hồn) quyết định tất
và, do đó, Phí núi, Phí rừng, Phí đá, Phí lửa, v.v được tôn thờ
ơ mọi nơi Người Tày - Nùng ở Việt Nam cũng có chung tín
ngường thờ các Phi như người Thái, người Lào Đối với họ,
Phi có hai loại: Phí lành bảo vệ người, súc vật và mùa màng
còn Phí dữ thì có thể hại người Người Tày - Nùng thờ cúng Phi lành ở trong nhà hay ở những nơi công cộng như đền, chùa Và họ chị cúng Phi dữ khi trong nhà có hoạn nạn như
ốm đau, bệnh tật [Hoàng Quyết, Ma Khánh Băng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, 1993, 367]
Người Indonesia cũng có nhiều tục thờ cúng các loại
thần cỏ cây, hoa lá ở trong rừng, trên cánh đông Tại đây, người ta dùng những tảng đá lớn làm bàn thờ tế lễ Họ cũng tin vào sức mạnh thần bí của tự nhiên, tin vào sự tồn tại của
hồn, vì vậy, trong thời gian sản bản, đánh bất cá, khai thác
rừng, dựng nhà mới, v.v người ta đã làm mọi việc để tỏ lòng
Trang 16Đối với cư đân nông nghiệp Đông Nam Á, cây lúa là tà
cả cuộc sống của họ Than Lia, vi vay, la vị than thiéng liens
nhất Người đân Đông Nam A có niềm tin mãnh liệt vào hỏi
lúa Họ cho rằng nếu hồn lúa bay đi thì sẽ mất mùa Trong con mắt người dân Đông Nam Á, hồn lúa rất đẹp Với ngườ Malaysia, hồn lúa (tiếng Malaysia là Semangat padi) được go một cách âu yếm là “chú bé chín tháng”, “công chúa mặt trời hoặc “công chúa pha lê” [Xin xem: Định Gia Khanh, 1993
Một số tư liệu về Thần lúa được trình bày ở mục này, chúng tói rút tì cuốn sách của ông, được trình bày rải rác trong các trang từ I7 đết
165] Người ta luôn luôn phải cầu khấn để hồn lúa ở lại với cây lúa, ở lại với xóm làng của họ Còn ở Jawa (Indonesia) thi cay
lúa được coi là hiện thân của nữ thần Dewi Sri, do đó nó thuộc
“đẳng cấp” cao hơn hẳn các cây lương thực khác Ö Thái Lan thần Lúa được rước vào các nhà kho và giữ “ngài ở đó đết
tận mùa sau
Xung quanh tín ngưỡng về hồn lúa, có nhiêu truyền thuyết rất hay
& Dong Nam A Xin don cử hai ví dụ được dẫn từ cuốn sách của Giáo st
Đình Gia Khánh (1993)
Truyện thứ nhất được lưu truyền ở bán đảo Mãlai Truyền thuyế
kể rằng: Ngày xưa, những người nông dân không phải gat lúa ở ngoà đồng Hàng ngày, vào buổi sáng, một hạt lúa tự lăn vào nhà, chui vào nồ
và người ta chỉ việc nấu thành cơm
Theo nguyên tắc, người chồng không được nấu cơm (vì lúa pạo |i
con gái, cấm kị với đàn ông) Việc nấu cơm chỉ giành cho vợ, mẹ hoặc con gái Khi nấu cơm không được mở vung Mở vung là điêu cấm kị Ct
để nguyên thì đến trưa cơm sẽ chín
Một hôm, người mẹ phải đi làm, dan con ở nhà không được mở vung Khi mẹ đi rồi, cô bé tò mò mở vung ra xem Thật kì lạ, trong nồi có một c(
bé xinh đẹp, tự nhiên biến mất, để lại một hạt gạo nhỏ Khi mẹ vẻ, thấy trong
nồi không có cơm, biết là con gái đã phạm vào điều cấm kỊ
Trang 17Tir neay hom do, tat ca mor nguor phat lam những công việc đồng áng val và, nặng nhọc: cày cây, pạt hát, đập lúa, phơi thóc, quạt sạch và mang
vao nhà
Truyện thứ hài của người Khmer kẻ răng: Ngày xưa, khi lúa chín,
hoe tu bay ve Kho Neuor dan khong phar mat cong gat hat
Mot hom, c6 hat vo chong nha ng, song canh kho théc, cai nhau,
ay ra icng ôn ào Khó chiu, lam phiên thần Lúa Thân Lúa bỏ dị ấn nấu ở
một khe núi Thế là nạn đói xây ra ở vùng đó Người ta tìm mọi cách tìm
hân Lúa về nhưng đêu bị Thân từ chối Cuối cùng, một người có tín
nhiệm (có lẽ là thầy cúng) được cử đến mời mọc mãi, Thần mới chịu trở
vẻ Nhưng từ đó trở đi, thóc không tự bay về kho như trước nữa mà người
lân phải mất công gặt hái để mang thóc lúa về nhà
Liên quan đến tín ngưỡng sùng bái tự nhiên còn có việc
sung bái một số động vat gan liền với cuộc sống của cư dân Đông Nam Á Người dân ở miền đông Sumatra, ngay cả khi
đã theo đạo Hồi vẫn thờ hố và cá sấu, và coi đó là những vị thần có vai trò không nhỏ trong đời sống của họ Ở các đền,
chùa Việt Nam, Cămpuchia, Lào, Myanmar, V.V người ta còn
thờ cả hạc, rùa, rắn, voi, v.v Những con thú khác như trâu, nai, hươu, chim, cóc, cũng được thờ phụng ở nhiều nơi Và con rồng - biểu tượng của loài cá sấu, loại động vật có mặt ở khắp nơi trong khu vực Đông Nam Á - đã trở thành biểu tượng đặc sắc của vùng văn hoá Đông Nam Á
2 Tín ngưỡng phồn thực
Tín ngưỡng phồn thực (phồn = nhiều, thực = nảy nở) là biểu hiện của niềm mơ ước về sự sinh sôi nảy nở của con người, gia súc và mùa màng Phồn thực là một yêu cầu tối cần thiết để duy trì và phát triển xã hội loài người
Trang 18Đề duy trì cuộc sống, con người nông nghiệp Đông Nan
A can mùa màng tươi tốt và gia súc phát triển bởi đó là nguôi thức ăn chính (ca thực vật lần động vật) nuôi sống con người Hơn nữa, để duy trì nòi giống và phát triển xã hội, bản thâi
con người cũng phải sinh sôi này nơ Chính những đòi ho khách quan đó đã là tiền dé để tín ngưỡng phồn thực Đông
Nam Á ra đời và phát triển
Biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực rất đa dạng, nhiều vẻ
Tục cầu mưa, lễ cầu Mẹ nước, tục té nước, tục đi lấy nước th‹ của người Thái, người Lào và của một số dân tộc o Campuchia Myanmar, Philippines, Việt Nam, v.v thực ra cũng là tín ngưỡng phôn thực bởi mục đích của nó chính là xin nước cho cây cối
mùa màng phát triển xanh tốt, bội thu Thêm nữa, tục vũ hội dướ
trăng hay múa khèn của người Dao, người L¡, người Bui, nguo
Hmông, tục đánh trống thi cho đến thủng trống, gay dùi (và kèn theo đó , ở một số dân tộc, là cảnh quan hệ tinh duc tu do cua ci
người già lẫn người trẻ vào lúc kết thúc, đêm khuya) của ngườ Thái, người Mường, người Việt, v.v ; tục nhảy múa tập thể củ: người Lào, người Khmer, tục đánh bu, tục hát đối nam nữ củ: nhiều dân tộc và hàng loạt hình thức cúng bái, tế lễ cầu trời khác của cư đân Đông Nam Á cho mùa màng bội thu, cho các giống loài sinh sôi nảy nở đều phần nào biểu hiện nghi thức phồn thực của một xã hội nông nghiệp
Tuy nhiên, biểu hiện rõ nhất, đặc sắc nhất của tít ngưỡng phôn thực Đông Nam Á là tục thờ sinh thực kh (phallicism) Cần nói thêm rằng tục thờ này có từ trong cc tầng văn hoá Đông, Nam Á nguyên thuỷ, trước khi có ảnl hưởng của văn hoá Ấn Độ, mặc dù tục thờ sinh thực khí không
phải chỉ có ở khu vực Đông Nam Á Ở Việt Nam, trên thạt
đồng Đào Thịnh, có một số cặp tượng nam nữ, nam năm úp ‹
Trang 19tren, nue nam ngừa ở dưới, đang giao phôi với nhau Hình bộ
phan sinh dục phóng đại cũng được khác trên các tạng đá ở
Sapa (Lào Cai) Tượng nam nữ với bo phan sinh duc được phòng to còn tìm thấy trong các nhà mô Tây Nguyên [Xem them: Dinh Gia Khánh, 1993, 173; Tran Ngoc Them, 1996, 264: Neo Van Doanh, 1993, 97]
() mot so noi Dong Nam A, tap tuc ton tho sinh thuc khi
van con ton tai dén tan ngay nay O Thai Lan, người ta có tục nặn hình người bảng đất sét để cầu nguyện cho mùa màng tươi tốt Tượng là một cặp nam nữ ôm nhau, hoặc năm, hoặc ngôi, nhưng trong tự thể đang giao hợp Khi nặn cặp tượng, người ta luôn miệng niệm câu than chu, dai y: “Nan dam may va doc lời chú: nạn ra hình cát (của đàn ông), nặn ra hình cái (của đàn ba), rôi mưa sẽ rơi nặng hạt” [Định Gia Khánh, 1993, 174] Cũng có khi người ta mang hình âm vật và con mèo cái ra để kích thích
Bồ Trời giao hợp với Mẹ Đất, bơi trong quan miệm của họ, mưa gió chính là kết quả của sự giao phối ây Trong dam lẽ, đám đông trẻ, già, trai, gái vừa đi điều hành vừa hát:
Mèo cái ơi! Cầu trời cho mưa
Trời mưa bốn tran dam dé Lot ao, lot vay xem cát
Mưa về như trút, như vãi
Cách thứ ba để kích thích Bố Trời hưng phấn là tục thăng thiên pháo Những đêm tổ chức thăng thiên pháo, nam nữ
thanh niên tha hồ tan tỉnh, chòng ghẹo nhau Trong dịp thăng
thiên pháo, trẻ con đua nhau làm, nặn hình các dương vật đủ
kiểu (to, nhỏ, đài, ngắn) và cầm chúng múa hát hoặc “bắn”
chúng vào các cô gái Tục đốt pháo thăng thiên cũng có ở Lào Trong đếm đốt pháo, người ta cầm hình âm vật, dương vật
129
Trang 20diéu hanh va mo phong dong tac giao phoi, bieu hien y niem tạo ra sự phồn thực cho mùa màng, có cây, hoa lá, gia súc và con người [Ngô Văn Doanh, Vũ Quang Thiện, 1997, 33T -
332, 336]
Như đã nói ở trên, tục thờ sinh thực khí phổ biên không
phải chỉ ở Đông Nam Á Ở Ấn Độ, tục này gắn liền với tục thờ
Linga (dương vật) và Linga chính là biểu tượng cua Than Siva
Từ khi Ân Độ giáo vào Đông Nam Á, tục thờ Lìnga đã kết hợp chặt chế với tục thờ sinh thực khí bản địa Chính vì thế, tục thờ
Linga và tục thờ sinh thực khí có phạm vi phổ biến rất rộng ở Dong Nam A: Thai Lan, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, v.v Ở Việt Nam, tục thờ sinh thực khí không chỉ
có ở người Việt (Kinh) mà còn có ở nhiều dân tộc ít người như Thái, Mường, Chăm, v.v
3 Tín ngưỡng sùng bái nguoi da mat
Xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, cư dân Đông
Nam Á cho rằng mỗi người sinh ra đều có một nhóm hồn, ma nhất định Số lượng hôn ca một con người tuỳ thuộc vào cách quan niệm của từng dân tộc Theo quan niệm của người Thái, mỗi người có I20 hồn và sau khi con người qua đời, các hồn
đó đều biến thành Phỉ (ma) Người Mường nghĩ rằng họ có 90 hồn, còn ở người Khmer thì chỉ có 9 hồn chính [Vũ Dương Ninh (chủ biên), 1997, 79] Các dân tộc miền núi Mindanao (Philippines) thì cho rằng mỗi người đều có hai hồn: hồn trái
và hồn phải Hồn trái có thể tự do “la” khỏi xác còn hồn phải thì không Sau khi con người qua đời, hồn trái trở thành ma ác, hồn phải trở thành ma lành [Lưu Kiếm Thanh 1996, 61] Trong quan niệm của người Dyak ở Indonesia, thế giới không gian được chia thành năm tầng trời, trong đó tầng thứ ba là linh hôn của những người đã mất
Trang 21Hon, theo cu dan Dong Nam Á, cĩ quan hẹ mật thiết với cuộc đời mơi người Nếu hơn thốt khỏi xác thì con người sẽ
chet Nhung chét khong co nghia là hết Người chết là người
trợ vẻ với tơ tiên, ơng bà nơi chín suối Do cĩ hồn, người chết van co thể thường xuyên đi về phù hộ độ trì cho con chấu ở
dương gian Quan niệm này là cơ sơ ra đời tín ngưỡng thờ cúng người đã mất, mà trước hết và quan trọng nhất là thờ
củng ơng bà tơ tiên của gia đình, dịng họ Việc thờ cúng tơ
tiên vừa cĩ ý nghĩa nhớ về cội nguồn, biết ơn cội nguơn vừa thể hiện lịng ước muốn sự phù hộ độ trì của tổ tiên cho người
cịn sống Thờ cúng tố tiên, vì vậy, cũng là một nét văn hố
đặc trưng trong tín ngưỡng nhiều dân tộc Đơng Nam Á Ở nhiều gia đình Đơng Nam Á, trong đĩ cĩ các gia đình Việt Nam, bàn thờ tổ tiên thường được đặt ở gian giữa nhà và ở nơi cao ráo, sạch sẽ, sang trọng nhất
Cĩ một điều đáng chú ý là ngay cả khi các tơn giáo từ Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây, v.v tran vio Dong Nam A
và phát huy ảnh hưởng mạnh mẽ ở vùng này thì tục thờ cúng
tơ tiên vẫn khơng vì thế mà bị quên đi Ở đảo Bali (indonesia) chẳng hạn, mặc dù Ấn Độ giáo cực kì phát triển, người dân địa phương vẫn vừa thờ cúng Thần Siva vừa thờ tổ tiên, ơng bà Ở Philippines, những người Katigan, người V1zaya, người llokl, người Apuyo cũng vẫn cĩ điện thờ cúng tổ tiên trong nhà, mặc
dù họ là những người cơng giáo thực thụ Nhà thờ Cơ đốc giáo
buộc phải chấp thuận Thậm chí cả người Mợơ - dân tộc sùng bái Hồi giáo hơn ai hết - cũng tơn trọng việc thờ cúng tổ tiên Riêng ở Việt Nam, dù khơng theo tơn giáo hay theo bất kì tơn giáo nào thì trong nhà người Việt cũng vẫn cĩ bàn thờ tổ tiên,
ơng bà
131]
Trang 22Thuộc tín ngưỡng sùng bái người đã mất còn phải kề đến
tục thờ các thân Thành Hoàng các vị anh hùng của dân tộc, những người sáng lập ra bộ lạc, bộ tộc Tục này không chỉ có
ở Việt Nam mà còn xuất hiện ở nhiều nước Đông Nam Á khác như Lào, Thái Lan, Cămpuchia, Myanmar, Philippines, Malaysia, Indonesia, Singapore, v.v
I TON GIAO
I1 Những nhận xét khái quát
Bức tranh về các tôn giáo ở Đông Nam Á đa dạng, nhiều
vẻ bởi trong quá trình phát triển lịch sử, ở đây đã hội tụ đủ các
hệ ý thức tư tưởng từ cả phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ, Arập) lẫn phương Tây
Những tôn giáo chính ở Đông Nam Á là: Phật giáo,
Bàlamôn (sau đó là Hinđu) giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Hỏi
giáo và Kito giáo
Ở Đông Nam Á có một tình hình đáng chú ý là mỗi quốc gia thường có không phải một mà nhiều tôn giáo khác nhau, mặc dù, ở một số nước, có một tôn giáo chính được coi là quốc giáo
Sau đây là tình hình phân bố cụ thể các tôn giáo ở từng quốc gia Dong Nam A [Nguén: Chen Linshu, Yuan Yayu (Zhubian) Zongjiao Shehuixue tonglun, Chengdu, Sichuan
Daxue Chubanche, 1992 Dẫn lại qua: Viện Thông tin Khoa
học Xã hội Tôn giáo và Đời sống hiện đại, Tập II, 1997, từ trang 165)
Trang 25Thien chua giao 4.0%
Bức tranh trên cũng cho thấy một tôn giáo thường có mặt
ở nhiều quốc gia Các tôn giáo Hồi, Phật, Kito xuất hiện ở hầu hết, nếu như không nói là tất cả, các quốc gia Đông Nam Á
Một đặc điểm khá tiêu biểu của tôn giáo Đông Nam Á
mà nhiều nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh đến [Xin xem, ví
du, Dinh Gia Khanh, 1993; VG Duong Ninh, 1997, v.v.] là khi vào Đông Nam Á, các hệ ý thức khác nhau (các tôn giáo khác
nhau) đã hoà đồng vào nhau (Ở Cămpuchia chẳng hạn, sau khi nhà nước lấy Phật giáo Tiểu thừa làm quốc giáo, ở cung đình, vai trò của Bàlamôn giáo vẫn được coi trọng và các lễ thức của
135
Trang 26Bàlamôn giáo vẫn tiếp tục tôn tại hoặc pha trộn với các lẻ thức Phật giáo Việt Nam cũng thê, các vua Lí, Trần đã từng coi
tam giáo (Nho, Đạo, Phật) như đều có chung một nguồn góc
Ö Thái Lan, người ta cũng cho rằng Phật giáo và Hindu giác ủng hộ lần nhau Trong một số chùa ở Đông Nam Á tượng
Đức Phật được đặt ngồi trên toà sen có răn thần Naga làm lọng che mưa nang Sự hoà đồng, pha trộn các tôn giáo c Đông Nam Á có lẽ bắt nguồn từ tính để thích nghi tinh coi
mở và uyển chuyển của bản thân con người Đông Nam Á
Cũng cần nhắc lại một điều là, do có một nền văn hoá bái địa vững chắc, khi các tôn giáo được du nhập vào Đông Nam Á
bên cạnh việc tôn thờ tôn giáo mới, cdc dan toc Dong Nam A var
bảo tồn tín ngưỡng bản địa cổ truyền của họ Do đó, ở Đông Nam Á không chỉ có sự hoà đồng, pha trộn các tôn giáo mà còn
có sự hoà đồng giữa tôn giáo (được nhập từ bên ngoài) với tín ngưỡng bản địa Tình hình này xảy ra ở tất cả các nước, các dâu: tộc Đông Nam Á mà Việt Nam là một ví dụ tiêu biểu Có thể nói không một gia đình người Việt nào lại không thờ cúng tố tiên
thần linh, bất kể họ theo tôn giáo nào
Như đã trình bày rải rác ở trong các phần nói về tiến trình lịch sử văn hoá Đông Nam Á, các tôn giáo vào Đông Nam Á bằng những con đường khác nhau và không phải cùng một thời gian Bàlamôn giáo (sau này là Hindu giáo) và Phật giáo Tiểu thừa truyền vào Đông Nam Á khoảng đầu cong nguyên Chúng được đưa vào Đông Nam Á trực tiếp từ Ấn Dé hoặc qua Xrilanca (như trường hợp Phật giáo Tiểu thừa)
Các hệ ý thức Nho giáo và Đạo giáo được truyền tù Trung Hoa sang Việt Nam từ các thế kỉ đầu công nguyên Sau này, thông qua cộng đồng người Hoa, chúng được đưa vào các
Trang 27quốc gia Đông Nam A khác như Thar Lan, Singapore, Malaysia, v.v
Phát giáo Tiêu thừa từ Ấn Đồ vào các quốc gia Đóng Nam
\ theo con đường biên phương nam, trong Khi đó phật giáo Đại thừa lại vào Việt Nam chủ yếu qua trung gian Trung Hoa
Hỏi giáo từ vùng Tiêu A duoc truyen vao Dong Nam A
bạt đâu từ khoang thế Ki XHI Tôn giáo này chủ yếu được
truyen qua Ấn Độ mới vào Đông Nam A
Kito giáo đến Đông Nam A tur khoang thé ki XVI Anh hương mạnh mẽ của nó là ở Philippines
Trong số các tôn giáo vừa kể ra ở trên, một số đã mất han, mot số vẫn còn tốn tại và có chiều hướng phát triển
Thuộc số tôn giáo đang phát triển khá mạnh ở Đông Nam Á là Phat giáo, Hồi giao, Kito giao va Hindu giao H6i giáo phát trién mạnh ở các quốc gia hải đảo như Indonesia, Malaysia,
Brunei Phật giáo phát huy ảnh hưởng nhiều ở các quốc gia
lục địa thuộc bán đảo Trung - An Myanmar, Lao, Thai Lan,
Campuchia và Việt Nam Kito giáo thì vẫn phát triển cực thịnh
ở đất nước - đảo Philippines
2 Hỏi giáo
a) Hồi giáo (Tiéng Arap: Islam, tiéng Melayu: Muslim, với nghĩa gốc là "phục tùng”) ra đời tại Arập vào đầu thế ki thứ VH Hiện nay, trên thế giới, Hồi giáo là một trong ba tôn giáo có số lượng người đi theo nhiều nhất: khoảng 590 triệu
Người ta thường cho răng, giáo luật của đạo Hồi thuộc vào loại “khát khe” nhất trong số các giáo luật tôn giáo Đại để, giáo luật đạo Hồi có mấy điểm đáng chú ý như sau.
Trang 28- Tin vào một Thượng Để duy nhât là Đức Thánh Allah
do đó, ở bản địa (nơi sinh ra đạo Hồi), người ta chỉ thờ cúng
duy nhất đức anh linh này (chứ không thờ tổ tiên, họ mạc)
- Tin tưởng vào sứ mạng của giáo chủ Mohamad
- Cầu nguyện (sembahyang) mỗi ngày 5 lần [ở nhà, ở nhà thờ hoặc ở phòng cầu nguyện (bilik sembahyang)]
- Hàng năm thực hiện một tháng kiêng khem (ăn chay) [gọi là Bulan berpuasa] vào tháng Ramadan (tháng thứ 9 theo Hồi lịch) Trong suốt tháng này, người theo Hồi giáo phải không được ăn, uống, hút và sinh hoạt vợ chồng vào ban ngày, tính từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn Luật này không
bắt buộc đối với phụ nữ có thai và trẻ em
- Đóng góp cho Đạo 10% tổng thu nhập của mình
- Không ăn thịt lợn dưới bất kì hình thức nào
Ngoài những điều luật chính như trên còn có một số điều
khác tuy không mang tính bắt buộc nhưng vẫn thường được thực hiện ở nhiều nơi, chẳng hạn:
- Trong đời ít nhất có một lần hành hương tới Thánh địa
Mecca
- Nam giới đạo Hồi có thể lấy tới bốn vợ nhưng phải tôn
trọng nguyên tắc khi lấy vợ sau phải được những người vợ trước đồng ý và của cải, tiền bạc do người chồng kiếm phải được phân phát công bằng cho tất cả những người vợ, không được thiên vị một aI
- Nữ giới khi ra khỏi nhà phải đội khăn che tóc (vì theo người Hồi giáo, tóc là thứ sexy nhất, chỉ chồng mới được chiêm ngưỡng)
Trang 29Những giáo luật trên đây Khi vào Đồng Nam Á có bị thay đối chút ít cho phù hợp với truyền thống văn hoá bản
dia So di khi vao Dong Nam Á, Hồi giáo không còn cuồng tín nữa là vì tôn giáo này đã qua cái máy lọc đây tính nhập thế
của Ấn Đồ - nơi Hồi giáo đã "nhập cư” trước khi được du nhập
vào Đông Nam Á Một lí do khác nữa là tính nhân bản của van hoá bản địa Dong Nam A - noi Hoi gido dén “dinh cu”
cho dén ngay nay
Mặc dù có một số điều luật khá nghiêm khắc song trên
thực tế Hỏi giáo không phải là một tôn giáo hoàn toàn cực đoan, nghĩa là bắt các tín đồ của mình từ bỏ cuộc sống hiện
tại, coi cuộc sống hiện tại chỉ là tạm bợ (do đó không cần
phấn đấu) và chỉ đặt niềm tin vào kiếp sau, vào “thế giới bên kia” “Hỏi giáo đã từng cống hiến cho nhân loại những thành
tựu to lớn về khoa học, đặc biệt trong các ngành y học, thiên văn học, hoá hoc, van học, v.v.” [Pham Thị Vinh, 1996, 112]
b) Hồi giáo tuy bắt đầu được đưa vào Đông Nam Á từ thế kí XIHII nhưng tôn giáo này chỉ thực sự có ảnh hưởng lớn
trong khu vực vào thời gian sau đó một vài thế kỉ Hồi giáo đến Malaysia, Indonesia trước, sau đó qua con đường
Malaysia mới lan sang các đảo miền nam Philippines Cũng như Phật giáo và Hinđu giáo, Hồi giáo đến Đông Nam Á không phải bằng con đường guom gido, bang những cuộc chiến tranh “thần thánh” như đã từng diễn ra ở Trung Cận Đông và Ân Độ mà bằng con đường hoà bình Chính vì vậy, ngay từ đầu, nó dé dàng được người dân địa phương tiếp nhận
và, trên thực tế, càng ngày Hồi giáo càng gây được nhiều ảnh hưởng đến đời sống chính trị, kinh tế và văn hoá ở các quốc gia hải đảo Ở một số tiểu quốc, vua đồng thời là giáo chủ (Khalifah), do đó, về chính trị, tiểu quốc đó đã biến thành Hồi
139
Trang 30quốc Ví dụ, ở Philippines, tiêu quốc Hỏi giáo đâu tiền là Sulu
(vao thé ki XV), sau d6 là tiểu quốc Hồi giáo thứ hai ở phía
nam dao Mindanao (thé ki XVI) Vé kinh té, tt khi đạo Hỏi được truyền vào Đông Nam Á, ở các quốc gia Indonesia, Malaysia, các hoạt động thương mại, buôn bán càng trơ nên tấp nập, mà rõ nhất là Malacca Về văn hoá, hàng loạt trường học Hồi giáo ra đời Tại đây, người ta không chỉ dạy kinh Koran, đạy Hôi luật, lịch sử Hồi giáo mà còn dạy cả chữ viết
và văn học Arập
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945) đến nay đạo
Hồi có vai trò lớn lao ở Malaysia, Brunei, Indonesia và một
phần Philippines Rất nhiều tổ chức chính trị, xã hội, văn hoá Hồi giáo được lần lượt ra đời ở các quốc gia này Các trường tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học Hồi giáo tiếp tục được thành lập và có quy mô ngày càng lớn Chi riêng ở Indonesia, hiện đã có tới 1O nghìn trường hồi giáo nội trú đang ton tại Người ta tăng cường đào tạo tu sĩ, luật sư Hồi giáo, các tăng lữ cao cấp cho nhà thờ Ở Malaysia, Trường Đại học Hồi giáo Quốc tế (International Islamic University) la mét trong những trường đại học lớn nhất của quốc gia, có hàng chục nghìn sinh viên theo học Tại đây có rất nhiều sinh viên nước ngoài, trong đó có cả sinh viên Việt Nam, theo học Có một điều đặc biệt là ngày nay, ở các trường Hồi giáo, cả phổ thông lần đại học, người ta không chỉ dạy kinh thánh, giáo lí thuần
tuý như trước mà còn mở rộng ra mọi lĩnh vực tri thức khác Chẳng hạn, ở Đại học Hồi giáo Quốc tế Malaysia, có cả các khoa Y học, Luật, Kinh tế, Thương mại, Tài chính, Nghệ thuật
và nhân văn, v.v Tuy nhiên, theo Ban Giám hiệu ở đây cho
biết, điểm khác nhau giữa các sinh viên được đào tạo ở trường
đại học này với các trường đại học khác chính là ở chỗ trong thời gian là sinh viên, họ phải học và khi ra trường, họ phải
Trang 31làm việc theo tỉnh thân của Hồi giáo, nghĩa la day tinh than
Melayu (Akademi Pengajian Melayu) cling dac biệt chú trong
đến việc nghiên cứu đạo Hỏi Ở Philippines, có hai trung nghiên cứu Hồi giáo là Trung tâm nghiên cứu Dansalan (ở Maravi) và Trung tâm nghiên cứu Arập và Hồi giáo mang tên
Hoàng Đế Pheisal Ngoài ra ở đây còn có cả Viện nghiên cứu
Hoi gido Manila duoc thành lập từ năm 1973 [Pham Thi Vinh,
1996a, 79] Cac đẻ tài nghiên cứu về Hồi giáo cùng hết sức đa
dạng, phong, phú song phô biến hơn ca vẫn là những đề tài tập trung vào những mặt tích cực và tâm quan trọng của văn hoá Hoi giao doi voi khu vực
Ngày nay, ở nhiều quốc gia, dac biét 1a 6 Malaysia va
Brunei, noi Hoi giao duge coi la quéc gido, va o Indonesia,
nơi có gần 90% dan số là tín đô Hồi giáo (cộng đồng Hồi giáo lớn nhất thế giới), Hồi giáo càng có sức sống mãnh liệt và ảnh hưởng rộng lớn Ở các quốc gia này, các sinh viên Hồi giáo
được nhận nhiều sự ưu tiên đặc biệt của chính phủ: hạ điểm vào đại học, được nhận học bổng, được nhận vào những cơ
quan “đầu não" của chính phủ sau khi tốt nghiệp (như các cơ quan Nội vụ, Ngoại giao, Pháp lí, Tài chính, v.v.) Thủ tướng Malaysia Mahathr Mohamad đã từng tuyên bố: “Các đường
lối của Malaysia được xây dựng trên những nguyên tắc của
l4i
Trang 32đạo Hồi” [Dân lai qua: Pham Duc Thanh, 1993, 20] Dieu này chứng tỏ Hồi giáo vần dang 1a mot ché dua tinh than ving chắc cho người dân Malaysia nói riêng và cho thé giới tín đỏ Hồi giáo ở Đông Nam Á nói chung
tự mình đi tìm một tôn giáo khác Sau 6 năm khổ hạnh tu hành
tại núi Tuyết Sơn (vùng Uruvela, gần Gaya) vẫn chưa tìm ra được con đường mới, ông rời đến một nơi khác, ngôi dưới gốc cây Pipal (sau được gọi là cây Boddhi - “Bồ đề”) và tịnh tâm suy nghĩ Sau 49 ngày tu luyện, trí óc Siddhartha sáng to Ngai
đã hiểu ra được quy luật của cuộc đời và nổi khổ đau của dân chúng Từ đó Ngài cùng với 5 người bạn đi khắp nơi để tuyên truyền tư tưởng của mình Ngài được tôn là Buddha (Đấng Giác Ngộ, người Việt gọi là Bụt, Phật) và trở thành người sáng lập ra Phật giáo
Giáo pháp của Đức Phật được trình bày đầy đủ trong “Tú diệu đế" (bốn chân lí kì điệu): Khổ đế (bản chất nỗi khổ), Tập
đế hay Nhân đế (nguyên nhân của nỗi khổ), Diệt đế (cảnh giới
diệt khổ) và Đạo đế (cách diệt khổ) Trong bốn diệu đế này,
ba diệu đế đầu tiên thiên về triết lí còn đế cuối cùng (Đạo đế)
là phần hướng dẫn thực hành cuộc sống đạo đức để đạt được
mục đích diệt đế Nói một cách đơn giản, theo Đức Phật, cuộc đời là bể khổ Khổ do sinh, lão, bệnh, tử, do mọi thứ ước muốn, dục vọng và do sự ngu đốt gây ra Muốn hết khổ, con
Trang 33người phái loại trừ các nguyên nhân gây ra nói khố, tức là phải diệt dục và thực hiện Niệt bàn
Đức Phật đã chỉ ra bát chính đạo (tắm nẻo đường chân chính) để diệt khô: † - chính kiến (Kiến giải chính xác), 2 - chính tư duy (suy nghĩ đúng đân)., 3 - chính ngữ (lời nói chân thành, chính xác) 4 - chính nghiệp (làm việc tốt), Š - chính
mẹnh (cuộc sống chính đáng, lương thiện), 6 - chính tính tiến
(tien lên một cách chính đáng), 7 - chính niệm (nhớ, nghĩ những điều tốt lành, chính đáng) và 8 - chính định (tinh tam, tập trung tư tưỡng vào một việc)
Trong “bát chính đạo” nêu trên, chính kiến, chính tư duy
và chính tinh tiến thuộc linh vực khai sáng trí tuệ (TUỆ);
chính ngữ, chính nghiệp, chính mang thuộc phạm vi rèn luyện
đạo đức (GIỚI) còn chính niệm và chính định thì nằm trong lĩnh vực rèn luyện tư tưởng (ĐỊNH) [Xem thêm: Trần Ngọc
Thêm, 1996, 472 và nhiều tác øia khác]
Sau khi Đức Phật qua đời (khoảng năm 483 trước công
nguyên), nhiều hội nghị kết tập kinh Phật được tổ chức Tại
hội nghị kết tập kinh Phật lần thứ hai (cách thời điểm Đức Phật qua đời IOO năm), một số chư tăng đòi thay đổi một vài điều trong giới luật Tại hội nghị lần thứ ba, nhóm chư tăng theo xu hướng cải tổ còn đòi thay đối cả kinh pháp nữa Càng
về sau, ý kiến càng không thống nhất Điều này dẫn đến sự ra đời của hai trường phái Phật giáo: Trường phái Thượng tọa hay Trưởng lão (Theravada) chủ trương không thay đổi những
gi ma Đức Phật đã đề ra và, Trường phái Đại chúng (Mahasanghika) chủ trương mở rộng kinh Phật Sau này, trường phái Đại chúng tự nhận là Đại thừa (Mahayana) và coi trường phái cố điển là Tiểu thừa (Hinayana)
Trang 34b) Phat giáo, mà cụ thể là Phật giáo Tiểu thừa, có mạt ‹
Đông Nam Á khá sớm Phât giáo Tiểu thừa nguyên thuỷ xuã hiện ở Thái Lan ngay từ thế kỉ thứ [II trước công nguyên Tì
Ấn Độ hoặc qua Srilanca, tôn giáo này, nói chung, vào các quốc gia Đông Nam Á từ đầu công nguyên
Tại Indonesia, trong quốc gia Srivijaya, Phật giáo phá
triển rất rực rỡ Chùa Borobudur đánh dấu sự hưng thịnh cú:
Phật giáo ở quốc gia này đã trở thành một biểu tượng kiến trúc Phật giáo nổi tiếng trong khu vực Ở Indonesia, đầu tiên l
Phật giáo Đại thừa Phật giáo Tiểu thừa đến đây từ thế kỉ XIH
Phật giáo ở Indonesia tập trung chủ yếu ở hai đảo lớn: lawa vì
Sumatra Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XIV đầu XV, Phật giáo b
mất dần ảnh hưởng ở Sumatra Một thế kỉ sau đó, tôn giáo này cũng chịu chung số phận như thế ở Jawa Ngày nay, c Indonesia, vẫn tồn tại khá nhiều chùa chiền và các tổ chức Phật giáo vẫn còn hoạt động Các tín đồ Phật giáo ở day phar lớn là người Hoa và một số người Ân Độ
Cũng như ở Indonesia, số lượng các Phật tử ở Malaysi: không nhiều Họ đều là những người Hoa và người Ấn Độ Trong số các chùa hiện còn ở đất nước này, phải kể đến mộ ngôi chùa khá to và nổi tiếng ở trung tâm thủ đô Kual: Lumpur: Chùa Phật giáo Quốc tế (International Buddhis Pagoda) Tại đây hàng năm thường diễn ra các lễ hội lớn vớ hàng vạn người tham gia Trong số các hoạt động nhân đạc thường diễn ra ở đây, đặc biệt đáng chú ý là những đợt hiết
máu cho bệnh nhân một cách tự nguyện của các tín đồ Phậ
giáo Đây là một nét đẹp trong đời sống văn hoá của Phật giác
Malaysia
Trang 35() Dong Nam A, quoc gia ma Phat giao c6 anh huong lớn nhất là Thái Lan Tại đây, Phật giáo được chính phủ coi là quốc giáo Sau đĩ, Campuchia Myanmar rồi Việt Nam cùng
là những quốc gia sùng bát đạo Phat
[Dưới vương triểu SrIviaya Phật giáo Đại thừa vào Nam Thái Lan từ thế kí thứ VIH Tơn giáo này cũng vào miền
Trung va mien Bác Thái Lan từ thể kỉ thứ X bởi lúc đĩ các
khu vực này thuộc quyền thống trị của đế quốc Ậngco và người Thái Lan đã tiếp thu Phật giáo Đại thừa từ người Khmer Phật giáo Đại thừa ở Thái Lan thuộc dịng Mật tơng (dịng tơn giáo chủ trương dùng những phép tu huyền bí như
mật chú, ấn quyết, v.v để giác ngộ và giải thốt) [Xin xem
them: Quế Lai, 1994 Từ đây về sau, một số tự Hiệu vẻ Phật giáo ở Thái Lan, chúng tơi mượn từ bài báo này]
Sự phát triển của Phật giáo Tiểu thừa ở Miến Điện và Thái Lan gắn liên với tên tuơi của nhà sư Sin Arahan - người
theo Phật giáo Tiểu thừa ở Kanchi (Nam Ấn Độ) Những buổi
thuyết pháp của ơng tại Pagan (Miến Điện) năm 1056, da chính
phục được vua Anarat bởi sự uyên bác của nhà sư và sự sâu sắc của giáo lí Tiểu thừa Từ đĩ, Phật giáo Tiểu thừa được chính thức
đưa vào Miến Điện Khi đĩ, dưới vương, triều Anarat, Pagan rất
hùng mạnh Vương triều Anarat thực hiện chính sách mở mang
bờ cõi, bành trướng thế lực sang các nước láng giềng Và cùng
với sự bành trướng đĩ là sự lan truyền, phổ biến của Phật giáo Tiểu thừa Thế là Phật giáo Tiểu thừa từ Nam Ân Đơ vào Pagan
và từ Pagan vào Bắc Thái Lan
Một con đường khác để Phật giáo Tiểu thừa vào Pagan
và Thái Lan là Srlanca Đầu thế kí XII, đưới vương triệu [Parakramabaru đệ nhất, Phật giáo Tiểu thừa ở Srilanca rất phát
i45
Trang 36triển và có ảnh hưởng mạnh mẽ ra xung quanh Nhiều nha su
từ Pagan đến Srilanca tu nghiệp và sau đó trở về nước thuyết pháp Và nhiều nha su tir Srilanca cing duoc cu dén Pagan, Thai Lan truyền bá, trong đó có cả đại sứ Rahula thuộc phái Phật giáo Tiểu thừa
Một sự kiện lớn có liên quan đến ảnh hướng của Phật
giáo Tiểu thừa Srilanca ở Đông Nam Á là Hội nghị kết tập kinh Phật lần thứ bảy tại Srilanca vào nửa sau thế ki XI Nhờ
hội nghị này, vào đầu thế kỉ XIH, Phật giáo Tiểu thừa Srilanca
đã lan rộng và phát huy ảnh hưởng mạnh mẽ ra khắp vùng
Đông Nam Á
Ở Việt Nam, ngay từ đầu công nguyên, Phật giáo từ Ân
Độ đã được mang trực tiếp vào qua đường biển Phái tôn giáo
này là Phật giáo Tiểu thừa Trung tâm Phật giáo lớn nhất thời
đó là Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành, Hà Bác) Đến khoảng thế kỉ IV - V, một phái Phật giáo khác cũng được truyền vào
Việt Nam từ phương Bắc, đó là Phật giáo Đại thừa Dần dần
phái Đại thừa có ưu thế hơn hẳn và thay thế phái Tiểu thừa
Phật giáo Việt Nam phát triển thịnh đạt nhất là vào thời
Lí - Trần Trong thời kì này, hàng loạt chùa có quy mô lớn và cấu trúc độc đáo được xây dựng: chùa Phổ Minh, chùa Yên
Tử, chùa Phật Tích, chùa Quỳnh Lâm, v.v Đến đời Lê, do Nho giáo được coi làm quốc giáo, Phật giáo bị suy yếu dần Tuy nhiên, từ đầu thế kí XX đến nay, Phật giáo lại bước vào thời kì hưng thịnh Ngày nay, Phật giáo là tôn giáo lớn nhất ở
Việt Nam
c) Nói đến Phật giáo, người ta không thể không nhắc đến
thuyết nhân - quả Nhán được tạo ra bởi các hành động cụ thể
Trang 37hang ngay Vian nao thi qua ay Nguor lam ra n/iai sẽ được nhan qua cua nod Nidan tot thi qua tot, va nguoc lại Để có được z2 tốt con người phải có các hành động sóng tót Tất nhiên hành động sống tôi tệ sẽ tạo ra ¿nu xâu và con người
sẽ phai nhận qua xấu Như vậy, học thuyết nhàn - q@ud của Phật giáo trên một ý nghĩa nào đó, là có tính giáo dục và có Ý
nghĩu nhàn văn cao cá Quan điểm luân lí đạo đức này đã góp phần tích cực vào việc khích lệ đông đảo quần chúng nhân đân
“tu thân tích đức” và làm nhiều việc thiện cho đời Như vậy,
theo thuyết /øhón - quả, hành động của con người sẽ quyết
định chính cuộc sống và tương lai của họ Hơn thế nữa, những hành động và việc làm tốt hay xấu của thế hệ này, cuộc đời
này sẽ còn có ảnh hưởng tốt hay xấu đến thế hệ sau, kiếp sau
Rõ ràng, xét ở khía cạnh này, Phật giáo có ý nghĩa giáo dục
đáng khích lệ vì n6 gdp phan lam trong sạch hoá xã hội, hạn che nhitng mat tiéu cuc cua con nguoi Thuyét nhdn - qua cua
Phật giáo được phố biến khá rộng ở Đông Nam Á, đặc biệt là
ơ Thái Lan, Lào, Việt Nam, Myanmar Đối với người Thái,
việc tích luy các “Bun” hoàn toàn giống như việc tích phúc
đức của người Việt bởi trong quan niệm của họ càng tích được nhieu “Bun” (nhiều nhân tốt, nhiều phúc) thì cuộc sống mai
sau, kiếp sau sẽ càng tốt đẹp Trái lai, cang gay ra nhiéu “Bap”
(nhân xấu, tội) thì hậu quả càng tôi [Qué Lai, 1994, 83 - 86]
d) Phat gido déng mét vai trò rất quan trọng trong đời
xóng tinh thân của nhân dân Đóng Nam Á Không chỉ ở Thái
Lan, noi hat giáo được coi :à quốc giáo, mà ở ca Cămpuchia, Myanmar, v.v các nhà sư là người có vai trò đặc biệt lớn lao, đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội Họ được coi là tấm
147
Trang 38gương về sự tu thân tích đức, do đó, tiếng nói của họ được đông đảo mọi người tôn trọng, làm theo Các nhà sư thực sự trở thành những nhân vật trung tâm, là cho dựa tình thân, là niềm tin và sự ngưỡng mộ của nhân dân vì chính họ là những người bảo vệ đạo đức truyền thống của Phật giáo
Cuộc sống tu hành là dịp để con người rèn luyện, vì vậy
ở Lào, Campuchia và đặc biệt là Thái Lan nhiều gia đình đã
tự nguyện cho con trai đi tú một thời gian Cuộc sông nghèo
khổ trong thời gian tu hành sẽ giúp họ vượt qua được những
cám đỗ đời thường sau này Ước tính, hàng năm có tới 10% số nam giới Thái Lan sống trong các chùa theo chế độ tu hành
[Quế Lai, 1994, 71]
Ở Cămpuchia, Thái Lan, Myanmar và Lào hàng ngày các nhà sư thường mang âu đi dọc phố để nhận quà biếu từ nhân dân Quà biếu thường là thức ăn, hoa qua, cũng có khi là tiên Tuy nhiên, khi đi khat thực như thế, các nhà sư không bao giờ nói lời cầu xin và người dân mang quà biểu cũng hoàn toàn tự nguyện, với thất độ tôn Kính chứ Không phải với hành động bố thí như cho người ăn xin
Không chỉ bản thân các nhà sư mà các tổ chức tôn giáo cũng có vai trò đáng kể trong xã hội Ở đây cần đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của một hệ thống chùa chiền ở những quôc gia ma Phat giáo trở thành phổ biến như Thái Lan, Cămpuchia, Lào, Myanmar Ở đây, ¡gói chùa trở thành trung
tam văn hoá - xd hoi Chita thường đồng thời là trường học Chùa, vì vậy, không chỉ là nơi giáo đục tôn giáo mà còn là Hơi cung cấp trí thức văn hoá nói chung cho con em những người
lao động Nhà chùa tổ chức các lớp học không thu tiền Ở thủ
đô Phnôm Pênh, Cămpuchia nhà chùa còn đành ra một số
phòng cho những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, quê ở xa đến
cư trú Hàng ngày họ được hưởng lộc của nhà chùa Âu đó cũng
Trang 39la mọt việc làm từ thiện, giúp sinh viên Khác phục Khó khan trong
hoc tap!
Chính vì Phật giáo có vai trò rất quan trong trong đời sống văn hoá - xã hội và tình thân của nhân dan cho nén, ngay
từ xa xưa các vương triệu đã rất coi trọng hệ ý thức này Do
đó, giữa nhà chùa và cung điện thường có môi quan hệ chặt
chẽ | Thái Lan chẳng hạn nhiều triệu đại phong kiến đã dựa vào sức mạnh và uy tín của nhà chùa để củng cố địa vị của
mình Có trường hợp vua và sư không phân biệt, nghĩa là vua
cũng là sư hoặc sư trở thành vua [Quế Lai 1994, 71] Hiện nay, đạo Phật vẫn được chính phủ các nước coi trọng OG mot
số nước, Phat giáo và dao đức Phật giáo da trở thành một môn học được dạy ở các trường phổ thông Ở Thái Lan, chính phủ
“đã dùng rất nhiều biện pháp để giảng dạy và củng cố đạo đức
Phật giáo, triệt để sử dụng những tư tưởng đạo Phật phục vụ
cho mục đích của chính phủ là làm cho những thanh thiếu
miền trở thành những người trung thành, tận tuy với vua, với chính phủ” [Quế Lai, 1994, 74]
4 Kito giao (Christianism)
a) Kito gido con duoc gọi là Cơ đốc giáo hoặc Gia tô giáo Tôn giáo này xuất hiện vào đầu công nguyên Đó là “tôn giáo của những người nô lệ, những người được phóng thích,
thuộc các dân tộc bị đế chế Lamã chính phục” [Đô Quang
Hung, 1991, 8] Kito giao do Chua Jesus Christ sang lap Vi la tôn giáo của nô lệ nên lúc đầu nó bị các chủ nô cấm đoán nghiêm ngặt Dudi thoi Hoang Dé Constantin (thé ki thi IV),
Kito giáo được công nhận và được coi là quốc giáo
149
Trang 40Xa hoi Lama thoi Kito giao ra doi 1a mot che d6 chiem
hữu nô lệ tàn bạo, thảm khốc Những người no lệ sông trong hoàn cảnh bị áp bức thâm tệ bởi các chủ nô Tuy nhiên, che độ Lamã lúc đó đã lung lay tận gốc vì những cuộc nồi dậy của
những người nô lệ đang nghẹt thở Trong hoàn cảnh đó, sự xuất hiện của Chúa lesus là cứu cánh cho họ Bởi Jesus là
người bình dân, người kêu gọi tình thương con người, người chủ trương đòi hỏi sự công bằng trong xã hội cho nên Kito giáo nhanh chóng chiếm được cảm tình và sự ủng hộ của tầng lớp nô lệ Lamã Ít nhất, vào thời điểm đó, Kito giáo cũng đã là một sự giải phóng về mặt tỉnh thần cho họ Sau đó, Kito giáo nhanh chóng phát triển thành một tôn giáo mang tính thế giới C
Mặc dù tự coi là giáo hội hiệp thông song cũng như một
số tôn giáo khác, trong quá trình phát triển, Kito giáo không tránh khỏi sự phân hoá thành các tông phái khác nhau Sự phân hoá đầu tiên làm xuất hiện hai giáo hội Tây và Đông Tất nhiên, lúc đầu, cả hai giáo hội này đều coi Roma là trung tam của mình Và, nói cho đúng ra, đây mới chỉ là sự phân chia thuần tuý về mặt khu vực bởi cả hai đều vẫn chung một tín điều và chưa có gì khác biệt nhau Tuy nhiên, sau đó, vào khoảng cuối thế kỉ X đầu thế kỉ XI đã chính thức tách thành hai giáo phái riêng biệt: Công giáo (catholique, catholicism) hay Thiên chúa giáo ở phần đất phía tây và Chính thong giáo (orthodoxie) ở phía đông Đế chế La mã
Công giáo lấy Roma làm trung tâm (nên vân được gọi là Công giáo Lamã hay Lamã giáo), được xem là giáo phái mạnh nhất thế giới
Theo giáo phái này, Đức Chúa Jesus (Chúa con) được coi là ngang quyền
với Đức Chúa cha (Chúa Trời) Giáo Hoàng - người đứng đầu giáo hội Roma - được bầu ra bởi một Hội đồng các Hồng y giáo chủ Trên thực tế, cho đến nay, Toà thánh Lamã (Vatican), dù đất đai cực kì nhỏ hẹp (chỉ