1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng chim thần garuda trong văn hóa đông nam á

157 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng chim thần garuda trong văn hóa đông nam á
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Trúc
Người hướng dẫn TS. Phan Anh Tú
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 4,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong muôn vàn những biểu tượng văn hóa chịu sự ảnh hưởng bởi hai tôn giáo trên thì hình tượng Garuda có sự ảnh hưởng sâu sắc và chiếm vị trí quan trọng đến đời sống văn hóa của các quốc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THANH TRÚC

HÌNH TƯỢNG CHIM THẦN GARUDA TRONG VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 8229040

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THANH TRÚC

HÌNH TƯỢNG CHIM THẦN GARUDA TRONG VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 8229040 Người Hướng Dẫn Khoa Học Tiến sĩ PHAN ANH TÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 3

TP.HCM,07/ 2020

Người viết

Nguyễn Thị Thanh Trúc

Trang 4

ii

LỜI TRI ÂN

Hoàn thành khóa học và luận văn này, trước hết người viết xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô Ban Giám hiệu, Ban quản lý Phòng Sau đại học, Ban lãnh đạo Khoa Văn hóa học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức, sắp xếp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người viết trong suốt khóa học

Đồng thời, người viết cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô bộ môn Khoa Văn hóa học đã nhiệt tình trong công tác giảng dạy, truyền trao kiến thức cho người viết trong thời gian qua

Đặc biệt, người viết xin chân thành cảm ơn TS Phan Anh Tú đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn người viết thực hiện công trình nghiên cứu này

Xin tri ân tất cả thân nhân, ân nhân đã động viên, khích lệ, ủng hộ tinh thần lẫn vật chất cho người viết hoàn thành khóa học và luận văn này

Cuối cùng, xin gởi lời cảm ơn đến các tác giả của nguồn tài liệu mà người viết đã sử dụng để tham khảo và trích dẫn trong luận văn này

TP.HCM, 072020 Chân thành cảm ơn Người viết

Nguyễn Thị Thanh Trúc

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI TRI ÂN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học thực tiễn 8

6 Phương pháp và lý thuyết nghiên cứu 9

7 Nguồn tài liệu nghiên cứu 10

8 Cấu trúc luận văn 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13

1.1 Các khái niệm và lý thuyết liên quan 13

1.1.1 Ký hiệu học và ký hiệu học văn hóa 13

1.1.2 Biểu tượng và biểu tượng văn hóa 14

Trang 6

iv

1.1.3 Linh vật và nguồn gốc của linh vật 16

1.1.4 Tín ngưỡng và tôn giáo 18

1.1.5 Giao lưu tiếp biến văn hóa 20

1.2 Định vị văn hóa Đông Nam Á và mối quan hệ của nó với văn hóa Ấn Độ 22

1.2.1 Không gian văn hóa 23

1.2.2 Chủ thể văn hóa 23

1.2.3 Thời gian văn hóa 25

Tiểu kết 37

CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH TƯỢNG CHIM THẦN GARUDA TRONG VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á 38

2.1 Garuda trong văn hóa Ấn Độ 38

2.1.1 Tín ngưỡng Garuda nhìn từ môi trường sinh thái 38

2.1.2 Garuda trong các tôn giáo ở Ấn Độ 42

2.2 Garuda trong giao lưu tiếp biến văn hóa ở Đông Nam Á 53

2.2.1 Sự chuyển tiếp của hình tượng Garuda từ Ấn Độ đến Đông Nam Á 53

2.2.2 Tiếp nhận và biến đổi hình tượng Garuda 56

2.2.3 Garuda, biểu tượng hợp nhất của vương quyền và thần quyền 60

2.2.4 Garuda, biểu tượng kết nối giữa Bà La Môn giáo và Phật Giáo 65

2.2.5 Garuda, biểu tượng kết nối giữa truyền thống và thể chế hiện đại thông qua hai tôn giáo là Bà La Môn giáo và Islam giáo 70

Tiểu kết 72

Trang 7

v

CHƯƠNG 3: HÌNH TƯỢNG CHIM THẦN GARUDA TRONG VĂN HÓA

NGHỆ THUẬT ĐÔNG NAM Á 74

3.1 Garuda trong văn học Đông Nam Á 74

3.1.1 Garuda trong văn học cung đình 74

3.1.2 Garuda trong văn học dân gian 78

3.2 Garuda trong nghệ thuật tạo hình 82

3.2.1 Garuda trong điêu khắc, kiến trúc 82

3.2.3 Garuda trong hội họa 101

3.2.4 Garuda trong các họa tiết trang trí 104

3.2.5 Garuda trong biểu tượng quốc gia hiện đại 108

3.3 Garuda trong nghệ thuật biểu diễn 113

3.3.1 Ca kịch 113

3.3.2 Múa rối bóng 116

3.4 Đặc điểm của hình tượng Garuda trong văn hóa nghệ thuật Đông Nam Á 118

3.4.1 Đặc điểm chung 119

3.4.2 Đặc điểm riêng của từng quốc gia 120

Tiểu kết 124

KẾT LUẬN 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 137

Trang 8

Độ phát hiện quy luật của gió mùa nên họ đã di chuyển dần xuống vùng Đông Nam

Á một cách thuận lợi và tại đây diễn ra quá trình giao lưu – tiếp biến giữa văn hóa Đông Nam Á và văn hóa Ấn Độ Thông qua con đường thông thương buôn bán với

Ấn Độ, Bà La Môn giáo và Phật giáo đã xây dựng nền móng cơ bản và từng bước tác động mạnh mẽ đến cơ tầng văn hóa bản địa của các quốc gia Đông Nam Á Hình tượng chim thần Garuda trong Bà La Môn giáo, Phật thoại được nhắc đến là một linh vật, vật cưỡi của thần Vishnu (thần Bảo tồn) Trong muôn vàn những biểu tượng văn hóa chịu sự ảnh hưởng bởi hai tôn giáo trên thì hình tượng Garuda có sự ảnh hưởng sâu sắc và chiếm vị trí quan trọng đến đời sống văn hóa của các quốc gia, thể chế chính trị cổ đại Đông Nam Á thông qua những tác phẩm điêu khắc, văn học, văn hóa dân gian, nghệ thuật biểu diễn,…

Hình tượng chim thần Garuda đã đi vào văn hóa Đông Nam Á và từng bước phát triển vị thế của mình trong từng giai đoạn lịch sử Garuda mang ý nghĩa như biểu tượng văn hóa chính trị, văn hóa cung đình với chế độ thần quyền do ảnh hưởng bởi Bà La Môn giáo và từ từ từng bước mở rộng đi vào trong các lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật, kinh tế và quân sự Nhưng việc nghiên cứu Garuda hiện nay chưa có chuyên khảo để làm rõ về văn hóa biểu tượng Garuda, cũng như vai trò của Garuda trong nền văn hóa Đông Nam Á và những biến đổi của nó theo dòng lịch sử

Do đó, cần có một chuyên khảo nghiên cứu về hình tượng chim thần Garuda trong quá trình giao lưu tiếp biến giữ văn hóa Ấn Độ với văn hóa Đông Nam Á và Garuda

Trang 9

2

trong quá trình văn hóa Đông Nam Á tiếp xúc với văn hóa phương Tây dưới góc độ

như biểu tượng văn hóa Đó chính là lý do mà chúng tôi chọn đề tài “Hình tượng

chim thần Garuda trong văn hóa Đông Nam Á” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành

Văn hóa học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhằm phục vụ cho chế độ thực dân cùng với tư tưởng khai sáng thuộc địa, Pháp được xem là quốc gia tiên phong trong việc nghiên cứu văn hóa khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là các quốc gia Đông Dương Họ thành lập viện một viện nghiên cứu chuyên nghiệp vào năm 1898 lấy tên là Viễn Đông Bác Cổ năm 1898, bắt đầu cho ra đời hàng loạt các tác phẩm và công trình nghiên cứu về địa lý, tộc người, văn hóa, nghệ thuật và chính trị Từ sự cấp thiết đó của chế độ thực dân mà các nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa khu vực, trong đó có Việt Nam dần được quan tâm và đầu tư khá nghiêm túc Nghiên cứu về tổng quan văn hóa Đông Nam Á ở Việt Nam

có tác phẩm Văn hóa Đông Nam Á của Nguyễn Tấn Đắc (2005) và Giới thiệu về

văn hóa phương Đông của Mai Ngọc Chừ chủ biên (2008) đã có những khảo cứu về

khu vực Đông Nam Á trên nhiều phương diện khác nhau và tổng kết nét tiêu biểu của văn hóa khu vực này chính là tính thống nhất trong đa dạng Theo như những tài liệu chúng tôi đã được tiếp cận và bao quát thì vẫn chưa có các công trình khảo cứu về hình tượng Garuda trong văn hóa Đông Nam Á Hầu hết các công trình nghiên cứu về Garuda được giới thiệu thông qua lĩnh vực văn học, kiến trúc, nghệ thuật hay quá trình hình thay đổi hình tượng Garuda theo từng giai đoạn lịch sử ở một số quốc gia tiêu biểu

Các công trình của học giả quốc tế

Có lẽ không có một sinh vật nào trong thế giới thần thoại lại có sức ảnh hưởng như Garuda, những đặc điểm miêu tả về Garuda luôn biểu trưng cho sức mạnh siêu nhiên và năng lực phi thường, khá nổi bật so với các sinh vật thần thoại khác hay nhiều con vật có thực được con người tôn thờ Ngay từ rất sớm, Garuda đã

Trang 10

3

xuất hiện trong các văn bản tôn giáo của Ấn Độ sau đó lan truyền sang khu vực Đông Nam Á Các tác phẩm này chi phối sâu rộng đến nhiều lĩnh vực văn hóa và có chức năng ổn định chính trị, giáo dục,…Garuda cũng được xem là sinh vật có khả năng gắn kết với tất cả các vị thần, đặc biệt là thần Vishnu thông qua vai trò là vật cưỡi Có lẽ vì Garuda mang trong mình nhiều nét độc đáo và vai trò đặc biệt nên linh vật này luôn nhận được sự quan tâm rất lớn từ các học giả nước ngoài

Trong sử thi cổ The Mahabharata of Krishna-Dwaipayana Vyasa (Sử thi

Mahabharata của Krishna – Dawaipayana) của Chandra, R.P (1884) Calcutta: Bharata, đã phát họa hình ảnh Garuda trong văn hóa Ấn Độ với đặc điểm hình thể

vô cùng độc đáo như: khuôn mặt sở hữu nhiều nét giống con người nhưng lại mang thân hình của một con chim đại bàng, đôi khi, phần đầu và cánh giống chim đại bàng và hình thể của con người; vẻ ngoài tráng kiện, vạm vỡ sở hữu đôi cánh chắc khỏe và móng vuốt sắc bén Ngoài ra, tính cách Garuda cũng được thể hiện rõ nét với tinh thần chính trực, quyết đoán, thông minh và hiếu thảo nhưng đôi khi tính khí

lại rất dữ dội, mạnh mẽ và hiếu chiến Trong tác phẩm The Garuda Purana được

dịch bởi Wood, E và Subrahmanyam, S.V (1911) chủ yếu nhấn mạnh vào cuộc trò

chuyện giữa thần Vishnu và Garuda, các cuộc hội thoại này nhằm truyền tải thông điệp về ý nghĩa của cuộc sống con người Những thông tin chi tiết về cuộc sống của con người sau khi chết, nghi lễ tang lễ và thuyết luân hồi cũng được giới thiệu Qua hai tác phẩm trên, phần nào giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan về hình tượng Garuda nguyên thủy ở Ấn Độ Đây chính là tiền đề giúp chúng tôi so sánh hình tượng Garuda trong văn hóa Đông Nam Á đã thay đổi như thế nào sau khi bị quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa tác động

Công trình nghiên cứu của tác giả Kluaymai Na Ayuthaya “Garuda

Thailand” (1999) đã khảo cứu rất rõ nét về dấu ấn sâu đậm của hình tượng chim

thần Garuda trong đời sống văn hóa của cư dân Thái như: văn học, kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật biểu diễn, hội họa, kinh tế, chính trị và hoàng tộc (chế độ quân chủ

lập hiến) Tác phẩm đã khẳng định “Garuda là một biểu tượng có ý nghĩa quan

Trang 11

Bên cạnh đó, Aryandini, W (2003) cũng phát hành sách với tựa đề “Garuda

as a cultural identity” (Garuda như một bản sắc văn hóa) Nội dung của sách thể

hiện Garuda như là một biểu tượng quan trọng của Indonesia được biết đến với tên gọi Garuda Pancasila và ngay cả tên của hãng hàng không quốc gia của đất nước này cũng ưu ái sử dụng tên gọi Garuda Garuda là một biểu tượng quan trọng đối với quốc gia Indonesia và chi phối sâu sắc trong các lĩnh vực như: văn hóa, chính trị cũng như quân sự…, do đó, người dân nơi đây xem hình tượng Garuda như một đại diện rõ nét nhất để khẳng định bản sắc văn hóa của đất nước

Một công trình nghiên cứu so sánh về hình tượng Garuda trong văn hóa

đương đại được với tựa đề “A comparison of the significances of Garuda in society,

arts and architecture in two South – East Asian countries: Indonesia and Thailand” (Sự so sánh về tầm quan trọng của Garuda trong xã hội, nghệ thuật và kiến trúc ở hai nước Đông Nam Á: Indonesia và Thái Lan) (2016 – Naresuan University,

Thailand) của hai tác giả Andre Iman Syafrony và Onusa Suwanpratest đã tiếp cận Garuda dưới góc độ văn hóa dân gian và chủ yếu dựa vào những câu chuyện kể về Garuda để xác định những motif huyền thoại về Garuda ở nhiều quốc gia khác nhau Bài viết cũng so sánh kiến trúc, điêu khắc, hội họa và nghệ thuật liên quan đến hình tượng Garuda giữa Thái Lan và Indonesia

Các công trình của các học giả Việt Nam

Từ điển Phật học huệ quang (2003) của Thích Minh Cảnh chứa đựng các vấn

đề lịch sử liên quan đến các nước chịu ảnh hưởng của Phật Giáo như: Ấn Độ, Tích Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Myanmar, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan,

Trang 12

5

Campuchia, Tây Tạng, Mông Cổ…Trong đó có hình tượng Garuda đã được khắc họa thông qua các điển tích Phật giáo khi đức Phật thu phục Garuda như thế nào

Luận văn thạc sĩ Văn hóa rắn trên vùng đất nay là Thái Lan (2005) của Phan

Anh Tú, đã khảo cứu hình tượng rắn Naga trong đời sống văn hóa của người Thái, Naga vốn có mối quan hệ mật thiết với chim thần Garuda Bài nghiên cứu đã giới thiệu về mối liên hệ giữa Naga và Garuda trên nhiều lĩnh vực văn hóa như: văn học, kiến trúc, điêu khắc và hội họa tại Thái Lan

Bài viết “Garuda – Chim cánh vàng (Kim Sí Điểu)” của tác giả Huỳnh

Thanh Bình (06/2013) đăng trong nguyệt san Giác Ngộ số 207, là một trong số ít các bài viết riêng về Garuda Trong bài viết này tác giả giới thiệu về nguồn gốc ra đời, những câu chuyện liên quan đến Garuda trong Bà La Môn giáo và Phật giáo ở những nơi bị ảnh hưởng bởi tôn giáo Ấn Độ Đây là nguồn tài liệu cung cấp nhiều thông tin cần thiết và cơ bản về Garuda nhưng dưới cách nhìn tổng quan, bao quát chứ không đề cặp đến Garuda như là một biểu tượng văn hóa

Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp các thông tin quý giá và lượng kiến thức nền tảng để chúng tôi có thể tham khảo và nghiên cứu chuyên sâu hơn về chủ đề này Tuy nhiên, các tác phẩm chủ yếu tập trung khảo cứu hình tượng Garuda ở một số quốc gia, khu vực tiêu biểu như Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Champa,…nhưng sự liên hệ của việc sử dụng chung hình tượng Garuda hay tiến trình phát triển của Garuda trong văn hóa Đông Nam Á vẫn chưa được làm rõ Bên cạnh đó, công trình thiên về nghiên cứu so sánh đưa ra nhiều sự tương đồng và dị biệt của hình tượng Garuda nhưng không làm rõ vai trò của văn hóa bản địa trong việc tác động đến quá trình định hình phong cách Garuda ở mỗi quốc gia

3 Mục đích nghiên cứu

Ngày nay, ở Đông Nam Á hình tượng chim thần Garuda không chỉ đơn thuần dừng lại là một biểu tượng tôn giáo, văn hóa nên chúng tôi tiếp cận và nghiên cứu hình tượng Garuda thông qua tham chiếu văn hóa từng thời kỳ: văn hóa Khmer

Trang 13

6

cổ, văn hóa đương đại Thái Lan, chuyển tiếp hình tượng Garuda ở Indonesia để tìm hiểu quá trình biến đổi, cũng như phát triển của hình tượng chim thần Garuda trong văn hóa Đông Nam Á Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ vận dụng so sánh nhằm lý giải sự ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu sắc của hình tượng Garuda qua văn học, tín ngưỡng – tôn giáo, nghệ thuật, điêu khắc và kiến trúc trong cơ tầng văn hóa khu vực Qua đó xác định mục tiêu nghiên cứu của đề tài này chính là:

- Làm rõ chức năng của hình tượng chim thần Garuda dưới vai trò là một biểu tượng văn hóa; từ biểu tượng văn hóa ấy Garuda đã phát triển thành biểu tượng quốc gia, xuất hiện trên quốc huy của quốc gia, biểu tượng trên hoàng kỳ của các nước theo chế độ quân chủ lập hiến tại Đông Nam Á cũng sẽ được giải thích Vai trò và tầm quan trọng của Garuda cũng sẽ được thể hiện một cách rõ nét khi Garuda trở thành biểu tượng về kinh tế, chính trị và quân sự

- Tìm hiểu mối quan hệ giao lưu tiếp biến giữa Ấn Độ và Đông Nam Á thông qua hình tượng Garuda Với những đặc điểm nguyên thủy của Garuda Ấn Độ qua góc độ sinh thái học tâm linh và tôn giáo để làm nổi bật sự cải biên hình tượng Garuda trong những nền văn hóa tại Đông Nam Á

- Làm rõ sức mạnh văn hóa bản địa ở Đông Nam Á thông qua hình tượng Garuda

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu về hình tượng chim thần Garuda trong văn hóa Đông Nam Á dưới góc độ biểu tượng văn hóa Nghiên cứu tiến trình hình thành, giao lưu tiếp biến văn hóa của hình tượng chim thần Garuda trong mối quan

hệ văn hóa với Ấn Độ Bên cạnh đó, luận văn cũng sẽ nghiên cứu hình tượng chim thần Garuda trong các lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân Đông Nam Á

Trang 14

7

Luận văn nghiên cứu bản chất nguyên thủy của Garuda trong nền văn hóa

Ấn Độ và đặc điểm văn hóa bản địa Đông Nám Á thời kỳ trước khi chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Ấn Độ

Phạm vi nghiên cứu

Đông Nam Á là khu vực rộng lớn, các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi văn hóa

Ấn Độ thường tiếp nhận hình tượng Garuda Nhưng giới hạn từ năng lực nghiên cứu và phạm vi của một đề tài luận văn thạc sĩ chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu trường hợp ở 03 quốc gia tiêu biểu gồm: Campuchia, Thái Lan và Indonesia để làm rõ hơn về quá trình giao lưu tiếp biến dẫn đến sự thay đổi và lựu chọn hình tượng Garuda của các tộc người trong khu vực

Campuchia (nghiên cứu ở thời kỳ cổ đại và trung đại): biểu trưng cho nền văn hóa cổ qua các giai đoạn lịch sử thời kỳ tiền Angkor, Angkor và hậu Angkor chịu ảnh hưởng sâu sắc và phát triển mạnh mẽ của hình tượng Garuda bởi chế độ thần quyền và vương quyền Hình tượng Garuda cổ xưa được nghiên cứu ở trường hợp Campuchia được xem như là một quốc gia đại diện cho các quốc gia cổ khác tại Đông Nam Á

Thái Lan: hình tượng Garuda tại Thái Lan chịu ảnh hưởng từ Campuchia và Thái Lan đã tiếp nhận theo xu hướng bảo tồn từ cổ đến hiện đại và phát huy mạnh

mẽ nhất là hình tượng Garuda Thái Lan đã lưu giữ những giá trị văn hóa của quá khứ nhằm sử dụng và phổ quát hình tượng Garuda nhiều nhất trong các lĩnh vực văn hóa đương đại, dường như hiện diện trong hầu hết cuộc sống hiện tại của hoàng tộc và đời sống nhân dân Thái Lan

Indonesia: được xem là nền văn hóa hóa chuyển tiếp từ Bà la môn giáo với Islam giáo, mặc dù đã trở thành quốc gia theo Islam giáo nhưng Indonesia đã từng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Bà la môn giáo, Bali ngày nay là minh chứng tiêu biểu Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, hình tượng Garuda được tiếp biến giữa truyền thống văn hóa Ấn Độ, Indonesia và đặc biệt là phương Tây Quốc gia

Trang 15

Luận văn tiếp cận hình tượng chim thần Garuda dưới nhiều góc độ để chứng minh nó không chỉ dừng lại như là một biểu tượng văn hóa mà còn là sự phát triển thành biểu tượng cho nền kinh tế, chính trị và quân sự trong bối cảnh hiện đại Đồng thời luận văn cũng so sánh và đối chiếu hình tượng chim thần Garuda trong các nền văn hóa cùng chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hóa, cũng như chứng minh được tính thống nhất trong đa dạng của hình tượng Garuda ở khu vực Đông Nam Á

Ý nghĩa thực tiễn:

Đây là lĩnh vực nghiên cứu về văn hóa biểu tượng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ

về vai trò của biểu tượng Trong đời sống hiện đại, biểu tượng được sử dụng rất phổ biến trong các giai đoạn phát triển về kinh tế, văn hóa Biểu tượng như một phương tiện quảng bá hình ảnh của một quốc gia, công ty, nhóm cộng đồng,…Nghiên cứu hình tượng Garuda dưới góc độ biểu tượng sẽ làm nổi bật đặc điểm và tính chất thống nhất trong đa dạng của văn hóa Đông Nam Á Qua đó góp phần giúp các

Trang 16

9

nghiên cứu về biểu tượng khác có cái nhìn và cách tiếp cận mới hơn về biểu tượng văn hóa phát triển thành biểu tượng kinh tế, chính trị và quân sự

6 Phương pháp và lý thuyết nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu:

Cách tiếp cận liên ngành (Interdisciplinary Method): vận dụng và tổng hợp

các thành tựu khoa học từ các ngành có liên quan như: văn học, tôn giáo học, biểu tượng học,…để tham chiếu sự biến đổi và ảnh hưởng của hình tượng chim thần Garuda

Phương pháp so sánh (Comparative Method): vận dụng phương pháp này

nhằm tiếp cận mối quan hệ nguồn gốc của hình tượng chim thần Garuda Ấn Độ với các quốc gia và giữa các quốc gia Đông Nam Á với nhau Nhằm ghi nhận những nét đặc trưng và tính đặc thù của hình tượng chim thần Garuda Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi giải thích được sự biến đổi và lựa chọn hình tượng Garuda cho mỗi quốc gia có sự khác nhau nhưng vẫn mang tính thống nhất

Phương pháp nghiên cứu lịch sử: nhằm nghiên cứu hình tượng chim thần

Garuda có sự thay đổi như thế nào trong văn hóa Đông Nam Á theo lịch đại Qua từng thời kỳ lịch sử thì hình tượng Garuda có vai trò như thế nào trong sự hình thành và phát triển của các quốc gia

Phương pháp phân tích tư liệu: phân tích nguồn tư liệu của các học giả, tác

giả đi trước để tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu vấn đề và tím ra hướng nghiên cứu mới cho hình tượng Garuda trong văn hóa Đông Nam Á

Phương pháp nghiên cứu trường hợp: nhằm khu biệt, chọn lọc các nền văn

hóa, tôn giáo, nghệ thuật có liên quan đến đối tượng nghiên cứu Tập trung phân tích sâu các nền văn hóa của các quốc gia tiêu biểu để làm sáng tỏ đặc điểm hình tượng Garuda văn hóa Đông Nam Á

Trang 17

10

Ngoài ra chúng tôi còn vận dụng những kiến thức chuyên ngành đã được học

để phân tích, giải thích hiện tượng, sự kiện, nguồn gốc và các thành tố văn hóa có liên quan đến hình tượng chim thần Garuda trong luận văn

Lý thuyết nghiên cứu:

Chức năng luận (Functionalism): lý thuyết khoa học này có lịch sử hình

thành lâu đời và được các nhà nghiên cứu sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tiêu biểu như xã hội học, văn hóa học và nhân học Lý thuyết này có nhiều trường phái khác nhau nhưng luận văn chủ yếu tiếp cận thuyết của Radcliffe-Brown vì ông cho rằng sự liên kết các thành tố xã hội là yếu tố quan trọng để duy trì

sự tồn tại của xã hội đó Trong đó tôn giáo là một thành tố không thể thiếu và có mối quan hệ chặt chẽ với các thành tố khác Do đó khi vận dụng lý thuyết này sẽ làm nổi bật lên vai trò và chức năng của chim thần Garuda (tôn giáo) ở mỗi quốc gia khác nhau trong việc quyết định cấu trúc chức năng của các thành tố khác như

tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị…

7 Nguồn tài liệu nghiên cứu

Nguồn tài liệu chính được tiếp cận là tài liệu thành văn thông qua các công trình, kết quả nghiên cứu, bài viết, thông báo khoa học, trang web, phim tài liệu của các học giả trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực chuyên môn có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến hình tượng chim thần Garuda Từ đó chúng tôi hình thành cơ sở tiếp cận hình tượng chim thần Garuda một cách đa chiều hơn trong các lĩnh vực văn hóa và tiến trình phát triển của nó trong văn hóa Đông Nam Á

Luận văn sử dụng nguồn tài liệu hiện vật từ ngành khảo cổ học để tìm kiếm các hình tượng Garuda trong điêu khắc, kiến trúc, hội họa, qua thời kỳ cổ, trung đại nhằm phân tích đặc điểm hình tượng chim thần Garuda trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa tại Đông Nam Á

Trang 18

11

Những thành tựu của ngành nhân học được luận văn sử dụng nhằm nghiên cứu các hoạt động nghi lễ tín ngưỡng dân gian liên quan đến hình tượng Garuda ở khu vực Đông Nam Á

Tư liệu điền dã được sử dụng những tài liệu thực tế dựa vào các chuyến đi thăm quan, nghiên cứu từ các đền chùa, viên bảo tàng, lễ hội nhằm có cái nhìn thực

tế và khách quan hơn trong nghiên cứu hình tượng Garuda trong văn hóa Đông Nam Á Tuy nhiên, hạn chế về mặt kinh phí nên chúng tôi chỉ có thể tiếp cận hình tượng Garuda thông qua một số ngôi chùa ở Thái Lan, Việt Nam

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm

có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Chương này luận văn tập trung

làm rõ các lý thuyết, khái niệm liên quan đến đề tài và tập trung định vị văn hóa Đông Nam Á trong hệ tọa độ không gian – chủ thể - thời gian Từ đó tạo tiền đề cho việc nghiên cứu hình tượng chim thần Garuda cho chương 2 và chương 3

Chương 2: Tiến trình phát triển hình tượng chim thần Garuda trong văn hóa Đông Nam Á Chương này làm rõ nguồn gốc của chim thần Garuda dưới góc

nhìn sinh thái học tâm linh cũng như là sự hiện diện của hình tượng chim thần Garuda trong văn hóa Ấn Độ mà tiêu biểu là thông qua hai tôn giáo lớn Bà La Môn giáo và Phật giáo Chương 2 tập trung nghiên cứu sự xuất hiện, sự tồn tại và phát triển của hình tượng chim thần Garuda Đông Nam Á thông qua quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với Ấn Độ

Chương 3: Hình tượng chim thần Garuda trong văn hóa nghệ thuật Đông Nam Á Chương 3 khảo cứu về hình tượng chim thần Garuda trong các lĩnh vực văn

hóa Đông Nam Á nhằm chứng minh hình tượng chim thần Garuda không chỉ bị tác động bởi nền văn hóa chủ lưu là Ấn Độ mà còn bị chính nền văn hóa bản địa Đông Nam Á và các yếu tố văn hóa bên ngoài tác động ngược lại Bên cạnh đó sẽ phân

Trang 19

12

tích những yếu tố văn hóa nội sinh và ngoại sinh cấu thành nên biểu tượng chim thần Garuda trong văn hóa Đông Nam Á Chương 3 sẽ tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa biểu tượng chim thần Garuda với các biểu tượng và các linh vật khác trong văn hóa Đông Nam Á

Trang 20

13

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm và lý thuyết liên quan

1.1.1 Ký hiệu học và ký hiệu học văn hóa

Trong văn hóa Ấn Độ và Đông Nam Á, Garuda được sử dụng như một ký hiệu, đặc biệt trong tôn giáo và các tác phẩm nghệ thuật liên quan đến tôn giáo Garuda thường xuất hiện dưới hình thức là hình vẽ và chữ (đối với bùa chú), tuy nhiên, ký hiệu hình vẽ về Garuda được thể hiện khá phổ biến Từ lâu, ký hiệu học

và ký hiệu học văn hóa được sử dụng như một luận thuyết quan trọng trong quá trình tìm hiểu các nền văn hóa Do đó, Garuda được tiếp cận và nghiên cứu như một

ký hiệu, mà qua đó chúng tôi muốn phân tích và giải nghĩa hàm ý, vai trò của nó trong hệ thống văn hóa

Với quan điểm Garuda như loại ký hiệu đặc biệt trong Bà La Môn giáo và Phật giáo, trước hết chúng tôi muốn phân tích các khái niệm liên quan đến ký hiệu học và ký hiệu học văn hóa Trước hết, ký hiệu học – semiology là khoa học về ký hiệu và các hệ thống ký hiệu, nó nghiên cứu những yếu tố và quy luật của ký hiệu (sign), theo nhà khoa hoc Ferdinand de Saussure ký hiệu có cấu trúc bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt

Theo Trịnh Bá Dĩnh (2011): “Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu

ngôn ngữ có hai phần: cái biểu đạt (le signifiant) và cái được biểu đạt (le signifié) Cái biểu đạt là một hình ảnh thính giác, cái được biểu đạt là một khái niệm Không có mối liên hệ tất yếu nào giữa ký hiệu với vật được chỉ định, hay như người ta thường nói, liên hệ giữa chúng là võ đoán”

Trang 21

14

Trong đó, cái biểu đạt là một hình ảnh nhưng cái được biểu đạt là một khái niệm, vì thế, khi phân tích nội hàm của thuật ngữ ký hiệu, chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của nó trong nhiều lĩnh vực trong cuộc sống của con người bao gồm mọi

ký hiệu, dấu hiệu, tín hiệu, sự vật, hiện tượng, lời nói, cử chỉ, hành động đều có tính thông tin

Vấn đề này có thể được thấy ở Garuda trong cái biểu đạt mang một hình ảnh giống nhau ở cả hai tôn giáo là Bà La Môn giáo và Phật giáo nhưng khái niệm về Garuda của cả hai tôn giáo này về Garuda là hoàn toàn khác nhau và tùy thuộc rất lớn vào ý niệm văn hóa và góc độ tiếp nhận của nền văn hóa đó đối với Garuda như thế nào

1.1.2 Biểu tượng và biểu tượng văn hóa

Trong vô vàn những ký hiệu thuộc về Bà La Môn giáo, Phật giáo nhưng hiếm có ký hiệu nào lại được xây dựng thành ký hiệu hình tượng và từng bước trở thành biểu tượng cho cả hai tôn giáo nói trên trong khu vực Đông Nam Á Đặc biệt trong bối cảnh hiện đại ngày nay, các quốc gia rất xem trọng vai trò của biểu tượng

và sử dụng nó như một sức mạnh mềm để khẳng định vị thế về kinh tế, văn hóa, chính trị và quân sự Garuda có vài trò hết sức đặc biệt trong nền văn hóa Đông Nam Á, nó góp mặt trong hầu hết các lĩnh vực, với mỗi nền văn hóa, Garuda mang trong mình một nét riêng biệt do sự tiếp nhận và cải biên mỗi nơi có sự khác nhau Trong văn hóa Đông Nam Á, không có biểu tượng tôn giáo nào lại có tầm ảnh hưởng lan rộng và tồn tại trong suốt nhiều thế kỷ như hình tượng chim thần Garuda Chính vì vậy, Garuda cần được nghiên cứu dưới góc độ biểu tượng văn hóa của các quốc gia trong khu vực

Dựa vào cấu trúc tam vị của Charles Sanders Peirce, ký hiệu bao gồm ba loại như sau: Loại thứ nhất gồm những ký hiệu hình tượng, hay là các hình tượng (icons), loại thứ hai đồng nhất ký hiệu với đối tượng được nó biểu đạt tạo thành các ký hiệu dấu chỉ, hay các dấu chỉ (indexes) Loại đồng nhất thứ ba

Trang 22

15

gồm những ký hiệu biểu tượng, hay các biểu tượng (symbols), nền tảng của chúng là mối liên hệ võ đoán, thuần tuý mang tính quy ước giữa ký hiệu và đối tượng của nó Có thể nói, ký hiệu học chính là nền tảng khoa học cơ bản

và quan trọng nhất khi tiếp cận và nghiên cứu biểu tượng (Lã Nguyên dịch, 2013)

Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu tượng có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là: “hình

ảnh tượng trưng,” nghĩa thứ hai là: “hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” (Hoàng Phê (chủ biên), 1998, tr 26))

Trong tiếng Anh, từ symbol bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ ở châu Âu (symbolus

trong tiếng La Mã và symbolon trong tiếng Hy Lạp) Theo Dictionary of

Symbols – Từ điển biểu tượng “những gì được gọi là biểu tượng khi nó được một nhóm người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó” (Carl G Liungman, 1991, tr 25)

Biểu tượng có tính đa nghĩa nhưng chúng ta có thể chia làm hai nghĩa chính

là biểu hình và biểu ý Trên thế giới, thuật ngữ symbology được nhiều từ điển giải thích với các ý nghĩa: (1) Việc nghiên cứu hoặc sử dụng các biểu tượng và (2) Tập hợp các biểu tượng Các từ điển nghệ thuật có thêm một ý nghĩa là: (3) Nghệ thuật sử dụng các biểu tượng để nhắc đến một trào lưu nghệ thuật thịnh hành ở châu Âu vào thế kỷ XIX Như vậy, thuật ngữ symbology trong tiếng Anh tương đương với nghiên cứu biểu tượng (hoặc biểu tượng học) trong tiếng Việt (Đinh Hồng Hải, 2012)

Hệ thống biểu tượng cũng chính là hệ thống các khuôn mẫu văn hoá, nó quy định mọi hành vi ứng xử của con người và "hoạ kiểu" cho lối sống Quá trình

"giải mã" hệ thống các biểu tượng cũng là nhằm mục đích thấy được kiểu lựa chọn khác nhau về văn hoá giữa cộng đồng văn hoá này với cộng đồng văn

Trang 23

ý nghĩa như thế nào trong xã hội hiện đại khi các giá trị của biểu tượng ngày càng được xem trọng Garuda trong nền văn hóa Đông Nam Á và đặc biệt ở hai quốc gia Indonesia và Thái Lan cũng được xem là một biểu tượng tích hợp nhiều sắc thái và vai trò của một biểu tượng văn hóa Ở cả hai quốc gia này cùng tiếp nhận Garuda như một biểu tượng quốc gia đóng vai trò định hình bản sắc cũng như vị thế của mình trong bối cảnh toàn cầu sau khi bị tác động từ văn hóa phương Tây Tuy nhiên, Đối với Thái Lan, Garuda là biểu tượng kết nối giữa Bà La Môn giáo và Phật giáo; trong khi đó tại Indoneisa, Garuda là biểu tượng kết nối giữa Bà La Môn giáo

và Islam giáo Qua đó, Garuda thể hiện vai trò của mình như một biểu tượng văn hóa đa diện, đa sắc và đa nghĩa gắn liền với những giai đoạn lịch sử quan trọng đối với các quốc gia nhưng đồng thời Garuda cũng thể hiện nét văn hóa, tôn giáo và bản sắc chung của khu vực Đông Nam Á

1.1.3 Linh vật và nguồn gốc của linh vật

Garuda là linh vật thần thoại, được con người dùng trí tưởng tượng nhào nặn thành, trong khía cạnh tôn giáo Garuda được miêu tả có một thân hình nửa người nửa chim, sở hữu sức mạnh phi thường và là vua của muôn loài Trong giai đoạn đầu Garuda là một linh vật có vai trò kết nối giữa con người với thần linh và là đại diện cho thế giới siêu nhiên Do đó, nghiên cứu hình tượng Garuda dưới góc độ là một linh vật tồn tại dưới hai hình thức là linh thú và linh tượng cho ta thấy tôn giáo buổi sơ khai của con người chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường tự nhiên cũng như

Trang 24

17

nền tảng của tôn giáo nguyên thủy trong bước đầu củng cố và phát triển của các tôn giáo sau này

Theo các bộ từ điển lớn trên thế giới như Oxford, Merriam-Webster “vật linh

hay con vật linh (holy animal hay sacred animal) là con vật được sử dụng trong các tín ngưỡng thờ động vật (animal worship) thể hiện sự tôn kính con vật thông qua sự kết nối của nó với một vị thần đặc biệt Ở đây, các vị thần được biểu hiện dưới hình dạng động vật nhưng hoàn toàn không phải là sự thờ phụng chính con vật đó Thay vào đó, sức mạnh thiêng liêng của vị thần được thể hiện trong mỗi con vật như là hóa thân của chính vị thần này Qua đây, chúng ta có thể định danh các con vật linh là những con vật có thực hoặc hư cấu gắn với truyền thống văn hóa và tín ngưỡng của một cộng đồng dân cư, được thiêng hóa thành những biểu tượng của cộng đồng đó hay nền văn hóa đó” (Đinh Hồng Hải, 2016, tr 7)

Thuyết vật linh hay vật linh giáo (animism) của Edward Burnett Tylor được giới thiệu vào thế kỷ 19, theo ông, học thuyết vật linh ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội, nhiều phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo và lễ nghi là sự tiếp nối, biến thái của thuyết này Ví dụ như bái vật giáo, thờ ngẫu tượng, niệm thần chú, thờ vật tổ hay Tô – tem giáo (totemism), đa thần giáo và một

số nghi lễ tôn giáo bản địa khác, có thể nói học thuyết này chính là cơ sở hình thành nên khái niệm linh vật Từ linh vật là một thuật ngữ có nguồn gốc

từ chữ Hán, trong quyển Hán ngữ đại từ điển của tác giả La Trúc Phong thì linh vật bao hàm bốn ý nghĩa sau: Vật trỏ điềm lành, các sản vật quý báu, thần kỳ, thần linh, thần minh, các vật của người tu tiên đắc đạo (Đinh Hồng Hải, 2012, Các Con Vật Linh)

Các định nghĩa về linh vật ở Việt Nam cũng rất đa dạng và phong phú, một

số định nghĩa kế thừa và phát triển từ gốc Pháp hay gốc Hán của từ Trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (1895), Huỳnh Tịnh Của đã đưa ra định nghĩa về

Trang 25

18

linh vật: (1) linh theo Hán tự là “, có nghĩa là phần hồn, trí; có phép thần thông, biến hóa, hiển tích, hiệu nghiệm (2) linh vật là vật có phép thần thông, hoặc có trí hiểu biết nhiều việc lạ lùng” (HuỳnhTịnh Của, 1895, tr 568) Tuy nhiên, linh vật không có sự thống nhất chung giữa các tộc người do ảnh hưởng bởi yếu tố địa văn hóa và văn hóa tộc người Do đó, mỗi tộc người sẽ chọn cho mình một linh vật phù hợp với hoàn cảnh xã hội, tín ngưỡng, và đặc điểm môi trường sống Trường hợp Garuda trong văn hóa Đông Nam Á được nhiều quốc gia trong khu vực lựa chọn làm linh vật thiêng do có sự tương đồng giữa địa lý, văn hóa

và tôn giáo Nhưng ứng với mỗi quốc gia, Garuda mang một ý niệm khác nhau phụ thuộc vào nền văn hóa bản địa

di chuyển trên thảo nguyên, những hoạt động tín ngưỡng mang tính chất du mục dần được góp nhặt và hình thành nên Bà La Môn giáo với hệ thống giáo lý đồ sộ từ kinh Veda, Garuda cũng theo đó mà trở thành nhân tố không thể thiếu trong văn hóa tinh hoa phương Bắc Ấn Độ

Tuy nhiên, sau khi tiếp xúc với niềm Nam Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam

Á, Garuda từ hệ thống tôn giáo chuyển sang như một hình thức tín ngưỡng dân gian riêng biệt do tín ngưỡng thờ đa thần và văn hóa bản địa, thể hiện thông qua việc Garuda được xây đền thờ riêng và được thờ phượng như một vị thần độc lập, đây là

xu hướng thứ hai Chính vì hai xu hướng trên nên việc nghiên cứu Garuda không thể tách rời với đặc điểm tôn giáo của Ấn Độ và tín ngưỡng của khu vực Đông Nam

Trang 26

bản chất của khái niệm tôn giáo, “tôn giáo là niềm tin đối với một đấng tối cao, sự

phán xét sau khi chết, thờ cúng các thần tượng, có tập tục hiến tế, hay có các giáo thuyết hoặc nghi thức nào tương đối phổ biến…” (E B Tylor, 2000, tr. 508) Hình thức sớm nhất của tín ngưỡng tôn giáo bắt nguồn từ thuyết vạn vật hữu linh (animism) về sau các khái niệm về tôn giáo được phát triển và hình thành những học thuyết phức tạp hơn Nghiên cứu về tôn giáo thường dựa vào hệ thống các yếu

tố như: thần phả, nghi lễ, giáo lý, cơ sở tôn giáo và tổ chức tôn giáo Trong nghiên cứu hình tượng Garuda ở khu vực Đông Nam Á những câu chuyện viết hoặc lời kể

về Garuda ở các quốc gia là cơ sở dữ liệu để tiếp cận các khía cạnh khác nhau đối với các nền văn hóa chịu tác động của hình tượng Garuda Krud là tên gọi mà người Khmer đặt cho Garuda và các giai thoại về Krud cũng mang các chi tiết khác so với nguyên bản nhưng motif nội dung lại có sự tương đồng

Quan điểm về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa đặc biệt dưới góc độ

nghiên cứu biểu tượng tôn giáo và văn hóa, Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Xét

cho cùng, mọi hệ thống biểu tượng của tôn giáo, tín ngưỡng đều là hệ thống biểu tượng của văn hoá, nó vừa chứa đựng hệ giá trị của dân tộc đồng thời

là sự thể hiện bản sắc và các sắc thái của dân tộc trong một thời đại nhất định” (Trích theo Hoàng Thị Lan trong Vai trò của tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng sông Hồng, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 (111) –

2017, tr.75)

Trang 27

20

Tuy xuất phát điểm là từ nền văn hóa Ấn Độ nhưng hình tượng Garuda lại có tầm ảnh hưởng chi phối đến hệ thống các biểu tượng tôn giáo cũng như văn hóa trong khu vực Đông Nam Á Từ những vương quốc đã suy tàn như: Phù Nam, Champa, Sri Jaya, Majapahit … đến các quốc gia hiện đại như Indonesia, Campuchia và Thái Lan đều sử dụng phổ biến hình tượng Garuda trong văn hóa, vương quyền và tôn giáo Chính vì vậy, cần nghiên cứu Garuda như một thành tố tín ngưỡng và tôn giáo không thể thiếu ở các quốc gia Đông Nam Á

1.1.5 Giao lưu tiếp biến văn hóa

Garuda có nguồn góc từ Ấn Độ nhưng bối cảnh nghiên cứu của Garuda là ở khu vực Đông Nam Á, do đó, cần làm rõ khái niệm liên quan đến giao lưu và tiếp biến văn hóa nhằm phân tích quá trình tiếp nhận, ảnh hưởng của Garuda trong khu vực cũng như sự cải biên so với hình tượng gốc trong mỗi nền văn hóa khác nhau ở Đông Nam Á

Trước hết, cần hiểu rằng giao lưu tiếp biến văn hóa (acculturation) là khái niệm được các nhà nhân học phương Tây đưa ra vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Hiện tượng này xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm người Theo như quan niệm của các học giả Mỹ, tiếp biến văn hóa là nói đến sự có mặt của hai nhóm người, hai dân tộc có văn hóa khác nhau, là nói đến sự tiếp xúc văn hóa lâu dài và quan hệ trực tiếp giữa hai bên và dần sẽ hình thành chiều hướng đồng hóa văn hóa (cultural assimilation) (Huỳnh Ngọc Thu, 2011)

Như vậy, để xác định một nền văn hóa có thực sự bị đồng hóa hay không thì phải dựa trên sức mạnh văn hóa bản địa của nền văn hóa đó Trên lý thuyết nhiều học giải phương Tây và Ấn độ cho rằng Đông Nam Á bị Ấn hóa trong hầu hết các phương diện văn hóa Nhưng thực tế Đông Nam Á đã có thời gian dài xây dựng cho mình một cơ tầng văn văn hóa bản địa vững chắc trước khi giao lưu văn hóa với hai

Trang 28

mà ít có khu vực nào có thể làm được đó là tính thống nhất trong đa dạng

Hình tượng chim thần Garuda ở khu vực Đông Nam Á thể hiện rõ nét quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Ấn Độ và các nền văn hóa khác nhau có cơ tầng văn hóa bản địa riêng tại khu vực Đông Nam Á Về cơ bản, hình tượng Garuda

ở Đông Nam Á mang những đặc điểm tương đồng với Ấn Độ và đế chế Khmer cổ đại là một ví dụ điển hình cho sự ảnh hưởng trực tiếp từ của linh vật này Tuy nhiên,

sự lụi tàn của Bà La Môn giáo thay vào đó là sự phát triển rực rỡ của Phật giáo mà đại diện tiêu biểu là Thái Lan đã khiến hình tượng Garuda có những bước chuyển đổi cần thiết để phù hợp với thiết chế xã hội mới Các vị vua cổ đại của Campuchia, Thái Lan và Indonesia được người dân công nhận họ là hóa thân của hoàng tử Rama/thần Narayan (các hóa thân (avatar) của thần Vishnu) còn Garuda thì tượng trưng cho quyền năng và sức mạnh thiêng liêng của nhà vua Vì Garuda là vật cưỡi của thần Vishnu nên nó xuất hiện phổ biến và gắn liền với hình ảnh của hoàng gia Mặc dù, ngày nay các quốc gia trên đã có sự chuyển biến về phương thức thực hành tôn giáo sang Phật giáo đối với Campuchia và Thái Lan hay Hồi giáo đối với Indonesia nhưng Garuda vẫn có sức ảnh hưởng nhất định Ngoài ra, sự tác động của nền văn minh lúa nước và đặc điểm khí hậu Đông Nam Á khiến hình ảnh của Garuda trong các tác phẩm nghệ thuật có sự thay đổi linh hoạt từ hình dáng, chất liệu, ý tưởng, vật trang trí đi cùng,… Đối với các quốc gia thuộc Đông Nam Á hải đảo, tiêu biểu là Indonesia lại có sự tách biệt về không gian và còn chịu sự tác động của nền văn hóa phương Tây, Hồi giáo đã làm cho hình tượng Garuda có sự thay đổi mạnh mẽ so với hình tượng gốc xuất phát từ Ấn Độ Cũng vì thế mà hình tượng Garuda tại quốc gia này được đánh giá là có sự khác biệt rõ nét nên rất dễ nhận biết Nhìn chung, tầm ảnh hưởng sâu sắc của Bà La Môn giáo, triết lý vương quyền kết

Trang 29

22

hợp với thần quyền dần trở thành kim chỉ nam trong việc quản lý và cai trị đất nước

ở các quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn cổ đại, sự hiện thân của nhà vua được

ví như đại diện của thần Vishnu trên trần thế Ở giai đoạn này, hình tượng Garuda chiếm vị trí rất quan trọng trong văn hóa cung đình Tiếp nối giai đoạn Bà La Môn giáo là sự xuất hiện của Phật giáo, việc sùng bái Garuda đã dần trở nên phổ biến hơn trong văn hóa dân gian Cư dân Đông Nam Á tin rằng Garuda còn chứa đựng một quyền năng thần bí khác nữa, đó là có những thần chú mang tính ứng nghiệm trong xua đuổi bệnh tật và mưu cầu phước lành Bên cạnh đó, Garuda sỡ hữu đôi cánh thần kỳ nên được tin là một vị thần đưa tin, có khả năng truyền những thông điệp đến các vị thần Garuda trong Phật giáo đã thừa kế khá nhiều ý tưởng trên nền tảng của Bà La Môn giáo, do đó, mặc dù có sự thay đổi về mặt tôn giáo nhưng những quốc gia vẫn rất xem trọng và sử dụng Garuda như là một biểu tượng linh thiêng Ví dụ như trong Phật giáo Thái Lan, Garuda đại diện cho quyền lực hoàng gia và lòng trung thành tuyệt đối với hoàng tộc Bên cạnh đó, linh điểu này cũng được xem là đại diện cho trí tuệ và là vị thần bất tử sở hữu nhiều sức mạnh phi thường như: có thể bay từ mất lên trời rất nhanh hay có khả năng thổi bay tất cả các loài sinh vật khác

1.2 Định vị văn hóa Đông Nam Á và mối quan hệ của nó với văn hóa

Ấn Độ

Hiện nay, các quốc gia trên thế giới biết đến khu vực Đông Nam Á như một khu vực có tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng với các nền văn hóa đặc sắc Tuy nhiên trước thế kỷ XIX, khu vực này dường như ít nhận được sự chú ý bởi Đông Nam Á đững giữa hai nền văn hóa lớn và phát triển mạnh mẽ là Ấn Độ và Trung Quốc Không lâu sau đó, Đông Nam Á trở thành khu vực được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu rộng rãi Ngày nay, Đông Nam Á đang từng bước khẳng định vị trí kinh tế chiếc lược cũng như là khu vực lịch sử - văn hóa - chính trị quan trọng trên bản đồ thế giới

Trang 30

23

1.2.1 Không gian văn hóa

Khu vực Đông Nam Á gồm hai khu vực chính là Đông Nam Á hải đảo (Maritime Southeast Asia) và Đông Nam Á lục địa (Mainland Southeast Asia) Theo Nguyễn Tấn Đắc (1991) từ xa xưa, khu vực này được người Trung Quốc gọi

là Nam Dương, người Nhật Bản gọi là Nan Yo, người Ấn Độ gọi là Suvarnabhumi (đảo vàng), là khu vực giữ vai trò đặc biệt trên con đường buôn bán Đông – Tây, nơi gặp gỡ, giao thoa của các nền văn hoá lớn trên thế giới Mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và con người chính là cơ sở hình thành nên các đặc điểm văn hóa,

theo Trần Quốc Vượng (1998) “Con người tồn tại trong tự nhiên, bởi vậy, mối quan

hệ giữa con người và tự nhiên cũng là một mặt cơ bản của đời sống văn hóa” (Trần

Quốc Vượng (chủ biên), 1998, tr 25)

Với khí hậu nhiệt đới gió mùa cùng với sự đa dạng về mặt địa lý mà khu vực này sở hữu được nhiều những sản vật quý hiếm cùng với nguồn nguyên, hương liệu phong phú, ngoài ra các loài động vật và thảm thực vật cũng rất đa dạng Từ đó hình thành nên một khu vực giàu khoáng sản, tài nguyên và từ lâu đã trở thành nơi trao đổi buôn bán tấp nập giữa các quốc gia trong và ngoài Điểm nổi bật của khu vực này chính là có vị trí đường biển vô cùng thuận lợi cho cả thông thương và lĩnh vữ quân sự, nơi đây là cửa ngỏ liên kết các tuyến đường hàng hải quốc tế có khả năng nối liền Đông Á với Tây Âu và Châu Phi Vì thế Đông Nam Á sở hữu nhiều cảng biển có niên đại từ rất sớm kéo theo đó là sự hình thành các vương quốc, đế chế giàu mạnh

1.2.2 Chủ thể văn hóa

Do chưa có điều kiện phân tích sâu vào đặc trưng văn hóa tôn giáo của từng cộng đồng dân cư Đông Nam Á nên ở mục này chúng tôi chỉ giới thiệu sơ lược về nguồn gốc dân cư tại khu vực này

Không gian văn hóa đa dạng, địa lý có sự phân hóa thành nhiều địa hình phong phú khiến Đông Nam Á từ lâu đã trở thành nơi sở hữu điều kiện thuận lợi

Trang 31

24

cho sự sinh sống và phát triển của con người Minh chứng cho điều đó, vào năm

1891 một chiếc sọ của vượn người Java Pithecanropus Erectuc cho thấy sự tồn tại những sinh vật dạng người ở khu vực Đông Nam Á từ rất sớm Nhiều bằng chứng cho thấy người Homo – Sapien đã cư trú tại Phillipines trong khoảng thời gian 40.000 năm cách ngày nay Họ là tổ tiên của người Aeta đã đến vùng hải đảo này cùng thời gian khi đến Australia và Papua New Guinea Người Aeta đã phát triển từ nhóm người di cư đầu tiên vốn sống bằng săn bắn và hái lượm họ lang thang trong một khu vực rộng lớn để tìm kiếm thức ăn

Vào 10.000 năm trước (thời đại Đá Mới) có một dòng người thuộc chủng Mongoloid từ lục địa châu Á (Tây Tạng) di cư về hướng Đông Nam và dừng lại ở khu vực bán đảo Trung Ấn (Indochina) Tại đây đã diễn ra sự hợp chủng với nhóm Australo – Melanesian (còn gọi là Mã Lai cổ) để hình thành nên nhóm Indonesian Chủng này có đặc điểm nước da ngăm đen, tóc quăn dợn sóng, tầm vóc thấp, Nguyễn Đính Khoa gọi họ là tiền Đông Nam Á (Trần Ngọc Thêm, 2001, tr 55)

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, lại được phân thành hai chủng mới là Austroasiantique (Nam Á) và Austroneisan (Nam Đảo) Chủng Austroasiantique phân bố chủ yếu dọc bờ Nam sông Dương Tử đến lưu vực sông Hồng, chủng người này mang những nét đặc trưng nổi trội của chủng Mogoloid Trong khi đó chủng Austronesian xuất hiện ở Đông Nam Á hải đảo cách đây 5.000 năm và có xu hướng

mở rộng dần từ miền Hoa Nam đến Đài Loan, Philipines và quần đảo

Sự đa dạng về tộc người là một trong những nguyên nhân khiến bức tranh ngữ hệ của khu vực Đông Nam Á mang nhiều màu sắc Dòng Nam Á (Austroasiantique) phân bố chủ yếu thuộc vùng núi cao Đông Nam Á lục địa, các vùng núi phía Bắc Đông Dương đến cao nguyên Khorat (Thái Lan), Boloven (Lào), Tây Nguyên (Việt Nam) Dòng ngôn ngữ Austronesian (Nam Đảo) phân bố chủ yếu ở vùng hải đảo Chủ yếu là cư dân Mã Lai đa đảo cư

Trang 32

25

trú trên vùng quần đảo Philippines, Malaysia, Indonesia, một số vùng Đông Nam Á lục địa như nhóm Chăm, Raglai, Ê Đê, Chu Ru Hiện tại tiếng Thái là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến ở khu vực Đông Nam Á lục địa (Reid Anthony, 2008, tr 5)

Trong khi đó, ngữ hệ Môn – Khmer được phân bố rộng rãi từ khu vực Trường Sơn trải dài đến vùng đồng bằng sông Cửu Long Ngữ hệ Việt - Mường phân bố rộng khắp vùng duyên hải phía Đông của Đông Nam Á lục địa Những nhóm ngôn ngữ thuộc về ngữ hệ Tạng – Miến, Karen, Môn được sử dụng rộng rãi tại Myanmar và miền Tây Thái Lan Tiếng Hoa dùng phổ biến khắp vùng Đông Nam Á do những nhóm di dân Trung Quốc đến đây từ thời suy vong của triều đại nhà Minh Ngày nay, trong quá trình giao lưu – tiếp biến tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chung để giao tiếp giữa các quốc gia trong khu vực và quốc tế

1.2.3 Thời gian văn hóa

Thời gian văn hóa khu vực Đông Nam Á có thể được phân chia thành các lớp ảnh hưởng văn hóa như sau:

Lớp văn hóa bản địa:

Do điều kiện thiên nhiên thuận lợi nên trồng trọt và canh tác nông nghiệp trở thành hoạt động sinh sống chủ yếu của cư dân nơi đây Thời đại Đá mới (Neolithic Age) là giai đoạn xuất hiện nền nông nghiệp trồng lúa ở Đông Nam Á lục địa trong khoảng thời gian 3.000 năm TCN (Phan Anh Tú, 2013, tr. 38)

Đây được xem là giai đoạn mà các quốc gia khu vực Đông Nam Á tập trung xây dựng cho riêng mình cơ tầng văn hóa riêng mang đặc điểm riêng của mỗi dân tộc trước khi chịu ảnh hưởng bởi các lớp văn hóa khác, tiêu biểu là lớp văn hóa Ấn

Độ, lớp văn hóa Hồi giáo, ảnh hưởng từ phương Tây Nét văn hóa bản địa này mang đậm tính chất văn hóa nông nghiệp gắn liền với tín ngưỡng vạn vật hữu linh Được thể hiện qua các truyền thuyết lập quốc của tộc người Thái, Campuchia, với câu

Trang 33

26

chuyện về rắn – nàng công chúa Neang Neak, con gái của vua tộc rắn thần Naga Trong thực tế, rắn là một loài động vật có lợi cho mùa màng và họ tôn thờ rắn như một tín ngưỡng dân gian Hay sự gắn liền với những câu chuyện mang màu sắc phồn thực và câu chuyện về Âu Cơ – Lạc Long Quân đẻ ra bọc trăm trứng của người Việt cổ là một ví dụ

Lớp văn hóa chịu ảnh hưởng Ấn Độ

Sự tác động rõ nét nhất của văn hóa Ấn Độ đối với Đông Nam Á được thể hiện thông qua sự hình thành các quốc gia, tiêu biểu là hệ thống vận hành nhà nước chịu nhiều sự chi phối của văn hóa Ấn Độ Từ đầu công nguyên đến thế kỷ VII bắt đầu xuất hiện một số nhà nước như Phù Nam, Champa, Chân Lạp, …

Phù Nam lấy vùng đồng bằng sông Cửu Long làm trung tâm, từ đó bành trướng dần khắp khu vực lân cận Biên giới phía Đông của Phù Nam giáp với Champa; phía Bắc là nước Chân Lạp (Chen La) – là một chư hầu của Phù Nam Khi trở thành một đế chế mạnh, Phù Nam bắt đầu kiểm soát những đường biển nối giữa

Ấn Độ và Trung Quốc, vì thế ở đây tập trung rất nhiều hải cảng quan trọng như: Takeo (Nền Chùa), Ô Keo (Óc Eo) ở Việt Nam, Takkola và Ligor ở eo biển Malacca (miền Nam Thái Lan) Vào thế kỷ thứ VII, Phù Nam bước vào thời kỳ suy thoái dẫn đến sụp đổ, đây là cơ hội cho nước chư hầu là Chân Lạp nổi dậy chiếm lấy trung tâm Phù Nam, bước đầu thuận lợi để tiến hành kế hoạch thôn tính những vùng đất còn lại và xây dựng nên đế chế Khmer hùng mạnh Vương quốc Champa tọa lạc ở vùng duyên hải miền Trung Việt Nam ngày nay, trải dài từ Quảng Bình (vĩ tuyết 18) Phan Thiết và Biên Hòa (vĩ tuyến 11) Giai đoạn thế kỷ II TCN đến thế kỷ III SCN, Champa có liên hệ sâu sắc về mặt kinh tế với người Ấn Vương quốc Champa được chia thành năm khu vực hành chính hay gọi là tiểu vương quốc gồm: Indrapura, Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga Ba nhà nước cổ nói trên chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi Bà La Môn giáo và họ tôn thờ những vị thần Ấn giáo như Shiva và Vishnu, các công trình kiến trúc, nghệ thuật,…chịu sự chi phối rất

Trang 34

27

mạnh mẽ từ các quan niệm và triết lý của tôn giáo này Trong khi đó, có một bộ phận người sinh sống ở vùng hạ Myanmar và miền Bắc Thái Lan dọc theo đồng bằng sông Chao Phaya, được gọi là người Môn lại tôn sùng Phật giáo Sau khi Phù Nam sụp đổ, người Môn bắt đầu xây dựng cho mình nhà nước riêng lấy tên gọi là Dvaravati Ngày nay, vị trí của Dvaravati nằm trên phần Đông Bắc của vịnh Thái Lan, thủ đô của nó bây giờ là thành phố Nakhon Phathom

Văn hóa Ấn Độ không chỉ ảnh hưởng đến Đông Nam Á lục địa mà các quốc gia Đông Nam Á hải đảo cũng bị tác động Sự hình thành các quốc gia dưới thời kỳ này như: Srivijaya, Seilendra và Majaphahit là một minh chứng Đặc biệt vương quốc Majapahit được nhắc đến như một đế chế vĩ đại nhất của các nhà nước Bà La Môn giáo và Phật giáo ở Indonesia Những nhà nước này chủ yếu phát triển dựa vào

vị trí địa lý thuận lợi cho việc thông thương, trao đổi, buôn bán trên đường biển

Theo dòng lịch sử, các vương quốc và đế chế dần sụp đỗ, phân tách dẫn đến hình thành các quốc gia độc lập như: Thái, Campuchia, Lào, Myanmar, Indonesia… nhưng cơ bản văn hóa vẫn bị ảnh hưởng bởi hai tôn giáo lớn của Ấn Độ là Bà La Môn giáo và Phật giáo Sự ảnh hưởng này sẽ được đề cập và giải thích chi tiết hơn trong phần mối quan hệ văn hóa giữa Ấn Độ và Đông Nam Á trong chương 1 Trong mục này chủ yếu đề cặp đến sự ảnh hưởng bao quát và khá toàn diện của văn hóa Ấn Độ đối với các quốc gia Đông Nam Á lục địa và hải đảo

Lớp văn hóa chịu ảnh hưởng Hồi giáo

Người Hồi giáo khi đến với khu vực Đông Nam Á đặc biệt không phá hủy những công trình tôn giáo trước đây Thay vào đó, các tín đồ Hồi giáo tiếp nhận những công trình này một cách nhẹ nhàng, có xu hướng kế thừa, cải biên để phù hợp với giáo lý và cách thực hành tôn giáo mới Cho đến nay vẫn chưa có một kết luận thống nhất về quá trình du nhập của tôn giáo này vào khu vực Đông Nam Á Những yếu tố tranh cãi nhiều nhất là người truyền giáo là người Ả Rập, Ấn Độ hay Trung Quốc…Trong đó, ý kiến cho rằng Hồi giáo du nhập thông qua tiếp xúc giữa

Trang 35

28

các thương gia Ả Rập và Ấn Độ với cư dân Đông Nam Á vào khoảng thế kỉ XIII nhận được nhiều ủng hộ Đạo Hồi bắt đầu xuất hiện tại những thương cảng Đông Nam Á vào những năm 632 Thế kỷ thứ VII, người Ả Rập đã cho xây dựng nơi ở và các thánh đường xung quanh các cảng lớn có vị trí quan trọng trong khu vực Sự xuất hiện của Hồi giáo được xem là một bước chuyển lớn về mặt kinh tế, chính trị lẫn văn hóa của khu vực Trong thời kỳ này, các vương quốc Bà La Môn

VII-cổ đại bước vào thời kỳ khủng hoảng và các tiểu vương quốc bắt đầu phân tách Bên cạnh đó, hệ thống phân biệt đẳng cấp của Bà La Môn giáo đã không còn phù hợp mà ngược lại kiềm chế sự phát triển và dẫn đến mâu thuẫn xã hội Chính vì sự thay đổi trên đã giúp hệ tư tưởng của Hồi giáo lan rộng vì đáp ứng được hoàn cảnh chính trị, kinh tế và văn hóa lúc bấy giờ Sau đó, hàng loạt những cuộc chiến dựa trên danh nghĩa của Sultan – được gọi là thánh chiến liên tiếp xảy ra ở Java, Sumatra và Sulaweisi nhằm mục đích bành trướng thế lực cũng như thoát khỏi chế

độ cũ Tuy nhiên, trong những cuộc đụng độ này, người Hồi giáo ít tác động đến công trình tôn giáo của Bà La Môn giáo và Phật giáo ở Đông Nam Á Ở Indonesia, hình ảnh Garuda vốn mang giá trị đại diện cho sức ảnh hưởng của nền văn hóa Ấn

Độ nhưng khi bị tác động bởi Hồi giáo khiến không ít những giá trị liên quan đến Garuda thay đổi nhưng sức mạnh tư tưởng của Garuda trong cơ tầng văn hóa vẫn rất sâu đậm nên các công trình tôn giáo liên quan đến nó vẫn còn duy trì sự ảnh hưởng

Lớp văn hóa chịu ảnh hưởng phương Tây

Người phương Tây lần đầu tiên đến Đông Nam Á vào thế kỷ XVI với ý định xâm lược và bành trướng thuộc địa Vào năm 1521, Tây Ban Nha là quốc gia

mở đầu cho quá trình này bằng sự đô hộ đối với Philipines Sau đó, Hà Lan tiếp tục xâm lược Indonesia vào thế kỷ thứ XVII Xu hướng này nở rộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khiến hầu như các quốc gia Đông Nam Á rơi vào tình trạng đô hộ

và xâm lược của các quốc phương Tây Với chính sách ngoại giao mềm dẻo và ý thức sâu sắc về cục diện chính trị lúc bấy giờ nên riêng Thái Lan tình trạng này không xảy ra nhưng bản thân đất nước này vẫn có những thay đổi nhất định để phù

Trang 36

29

hợp với xu thế Cũng như Ấn Độ, chính quyền thực dân phương Tây đến đây đều xuất phát từ mục đích là tìm kiếm lợi ích kinh tế nhưng cách tiếp cận là hình thức xâm lược và đô hộ Sau khi chiếm đóng các nước, các cường quốc bắt đầu cho xây dựng cơ sở hạ tầng và bắt đầu bành trướng thế lực Từ năm 1850 trở đi, tốc độ thực dân hóa liên tục được đẩy mạnh khiến nhiều mặt của các quốc gia Đông Nam Á đánh dấu nhiều bước phát triển lớn Trong đó, nổi bật nhất có lẽ là sự thay đổi về tộc người và chữ viết trong khi văn hóa của các quốc gia này cũng xuất hiện nhiều yếu tố mới lạ và không ít các giá trị lỗi thờ bị triệt tiêu Giàu khoáng sản và dầu mỏ khiến nền công nghiệp nặng ở khu vực này phát triển khá nhanh và kéo theo nhu cầu về nhân công, tình trạng nhập cư diễn ra tấp nập Dù có những mặt tối và sự đàn

áp đến từ chế độ thực dân nhưng nhìn chung thì các quốc gia khu vực đã phát triển tích cực ở một số mặt với quy mô lớn nhỏ khác nhau

Không thể phủ nhận những lợi ích mà cư dân Đông Nam Á có được từ những cuộc xâm lược này Văn minh và văn hóa phương Tây đóng vai trò tiên quyết trong sự phát triển về mọi mặt của các quốc gia Đông Nam Á Phương Tây không phá hủy những giá trị vật chất và tinh thần của các tôn giáo mà thay vào đó là nghiên cứu và tìm hiểu Từ đó, cư dân khu vực hiểu hơn về nền bản sắc văn hóa dần dần hình thành ý thức giữ gìn, khẳng định màu sắc dân tộc trong bức tranh đa sắc

trong khu vực – vốn là đặc điểm của văn hóa Đông Nam Á “thống nhất trong đa

dạng” Sau khi các quốc gia Đông Nam Á giành lấy độc lập thì việc khẳng định vị

trí và bản sắc càng được xem trọng nhằm thể hiện nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa Theo đó, Garuda từ biểu tượng đậm tính chất tôn giáo đã trở thành biểu tượng mang tính đa diện biểu trưng cho quốc gia và chi phối mạnh mẽ trong cơ tầng văn hóa của các quốc gia trong khu vực

1.2.4 Quan hệ văn hóa giữa Đông Nam Á và Ấn Độ

Tất cả những lớp ảnh hưởng trên đều có vai trò định hình bản sắc của các nền văn hóa trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, khi nghiên cứu đề tài này thì lớp

Trang 37

30

ảnh hưởng Ấn Độ có sự chi phối mạnh mẽ đến khu vực hơn cả và nó cũng là nơi khởi nguyên cho hình tượng Garuda Do đó, cần phải nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến việc hình thành mối quan hệ giữa hai khu vực này Thông qua đó, nhằm minh chứng mối quan hệ này đã được thiết lập từ rất sớm, giữa hai khu vực có mối giao lưu mật thiết và ôn hòa kết hợp với tiêu chí hợp tác hòa bình, cùng mang lại lợi ích cho cả hai

Xu hướng tiến về khu vực Đông Nam Á của Ấn Độ phần lớn chính là do nhu cầu về kinh tế, có nhiều lý do và điều kiện dẫn đến sự bắt buộc này Lý do đặc biệt nhất chính là sự sụp đỗ của đế chế La Mã ở phương Tây dẫn đến mối quan hệ thương mại giữa Ấn Độ gặp nhiều khó khăn và khiến họ phải có những thay đổi để

đảm bảo nền kinh tế Trong buổi tọa đàm khoa học – Di sản nghệ thuật và lịch sử

Campuchiaqua 10 thế kỷ, 2017, Filippi Jean – Michel cho rằng lý do làm bùng nổ

xu hướng này là do La Mã đã áp dụng những sắc lệnh cấm người Ấn Độ trao đổi, mua bán vàng Trong khi đó, vai trò của vàng trong nền văn hóa, kinh tế của người

Đông Nam Á được thiên nhiên ưu ái ban tặng thổ nhưỡng đa dạng với khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo nên môi sinh phù hợp cho nhiều loài động, thực vật đa dạng cũng như có những sản vật quý hiếm ít khu vực nào sánh bằng Phải kể đến những tên gọi Suvarnabhumi hay Suvarnavipa (Xứ Vàng hay Đảo Vàng) được người Ấn Độ dùng để chỉ vùng đất liền và hải đảo phía Đông Ấn Độ (Đông Nam Á)

vì họ tin rằng nơi đó có nhiều mỏ vàng và đá quý Bên cạnh đó, những mặt hàng về

Trang 38

31

gia vị, sản vật từ rừng như trầm hương, gỗ quý, ngà voi và những mặt hàng có giá trị khác thu hút sự chú ý của các thương nhân Ấn Độ Tuy nhiên, để có mối quan hệ lâu dài cần có sự trao đổi qua lại giữa người Ấn Độ và các cư dân nơi đây Theo

Phan Anh Tú, “Những mặt hàng sản xuất tại địa phương trong di chỉ Khao Sam

Keo như vòng đeo tay bằng thủy tinh cùng với những hạt chuỗi đá quý mà theo các nhà khảo cổ nguyên liệu thô được nhập khẩu từ Ấn Độ” (Phan Anh Tú, 2013, tr 51), cho thấy rằng có sự xuất hiện thương mại song phương và cư dân Đông Nam Á cũng cần mua những mặt hàng mà họ không thể sản xuất được như: muối, trang

sức, lụa, nhạc khí,…Mặt khác, Mai Ngọc Chừ (2008) khẳng định rằng: “Trước khi

tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ thì cư đân Đông Nam Á đã có một nền văn hóa bản địa khá phát triển Đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nước, một nền văn hóa Đông Sơn phát huy hết sức rực rở mà biểu tượng là những chiếc trống đồng rất nổi tiếng được tìm thấy ở khắp Đông Nam Á” (Mai Ngọc Chừ (chủ biên),

2008, tr 500 – 501) Điều này chứng minh rằng Đông Nam Á đã có khoảng thời gian dài xây dựng các giá trị văn hóa bản địa trước khi bị sự ảnh hưởng của các quốc gia khác đặc biệt là Ấn Độ Mối quan hệ giữa Ấn Độ và Đông Nam Á chỉ là

hệ quả của sự giao lưu tiếp biến văn hóa, do đó, các giá trị văn hóa bị tác động và thay đổi là điều tất yếu nhưng vốn không làm mất đi bản sắc văn hóa vốn có của khu vực

Do sự thuận lợi về mặt địa lý cùng nguồn sản vật phong phú đa dạng và phù hợp với nhu cầu kinh tế nên người Ấn đã xác định Đông Nam Á chính là khu vực

ưu tiên để thiết lập mối quan hệ thông thương Khoảng cách giữa hai khu vực tương đối thuận lợi, đặc biệt trên cả hai con đường đó là đường bộ và đường biển Đây là lợi thế giúp văn hóa Ấn Độ khi có sự tiếp xúc sẽ dễ dàng lan tỏa ở cả Đông Nam Á lục địa và hải đảo

Đầu tiên, thương nhân Ấn Độ tiếp xúc Đông Nam Á bằng đường biển, từ thế

kỷ thứ I TCN đã có sự xuất hiện các khu định cư, thương mại và cảng biển quan trọng ở khu vực ngày nay là miền nam Việt Nam Sự xuất hiện hai

Trang 39

32

vương quốc Phù Nam và Chân Lạp, từng phát triển mạnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long là minh chứng tiêu biểu cho sự cực thịnh về kinh tế ở những khu vực gần cảng biển Những cảng biển rất quan trọng đối với thương thuyền có lộ trình xuất phát từ vịnh Bengal đến các tỉnh phía nam Trung Quốc Điều này đối với nền kinh tế Đông Nam Á lúc bấy giờ và cho đến tận ngày nay những cảng biển này vẫn có vai trò chủ lực và là cầu nối kinh tế quan trọng trên biển của thế giới Cũng trong thời gian này, các thương nhân Trung Quốc bắt đầu viết các thư tịch, ký về các nhà nước, đế chế chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ trên nhiều lĩnh vực như: bảng chữ cái, hình thức nghệ thuật, phong cách kiến trúc, tôn giáo và đặc biệt là hệ thống cai trị Đây được xem là điều kiện thuận lợi để văn hóa Ấn Độ lan tỏa sâu rộng đến Đông Nam Á hơn so với người Trung Quốc vốn cách trở về mặt đường biển và chỉ ảnh hưởng chủ yếu đến phía bắc Việt Nam (Jeffrey Hays, 2008)

Về thương mại đường bộ, có những mối liên hệ đầu tiên giữa người Đông Nam Á, Ấn Độ và Trung Quốc được cho là đã diễn ra giữa năm 50 TCN – 100 SCN

Theo thư tịch của người Trung Quốc cho biết vào thế kỷ thứ II TCN có một con đường thương mại trên bộ từ Bengal vào Trung Quốc thông qua vùng thượng của Myanmar đến Vân Nam Dựa vào con đường này, các thương nhân Ấn Độ có thể mang hàng hóa từ Trung Quốc, băng qua Đông Nam Á và cuối cùng đến Bắc Ấn Lợi thế của trục đường bộ này cũng cho phép các thương nhân Ấn Độ dễ dàng đi vào vùng hạ của Myanmar rồi từ đây tỏa ra nhiều khu vực khác như: Thái Lan, Lào, Chân Lạp và Champa ở bán đảo Đông Dương hoặc xuống tận vùng bán đảo Mã Lai, từ đây họ dùng thuyền vượt biển để sang các hải đảo như Sumatra, Java, Borneo và Bali (Jeffrey Hays, 2008)

Trang 40

33

Văn hóa thương mại của Ấn Độ không thể tách rời với tôn giáo Sự phân chia đẳng cấp thành bốn (1) “Trí thức” (tầng lớp trên, đẳng cấp Bà-la-môn – các thầy tư tế); (2) “Võ sĩ” (đẳng cấp chiến binh); (3) “Trung lưu” (thứ ba, đẳng cấp thương mại), và (4) “Bình dân” (kém nhất, đẳng cấp công nhân lao động), qua đó thấy rằng thương nhân có một vị trí rất ảnh hưởng trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ Trong quá trình thông thương buôn bán với Đông Nam Á, họ duy trì nét tín ngưỡng thương mại riêng, thờ thần Ganesha là một ví dụ Nhu cầu về thực hành tôn giáo cùng với sự đi lại khá thường xuyên và ổn định diễn ra nên những thương nhân người Ấn đi đến đâu đều cố gắng xin chính quyền sở tại cho xây dựng những ngôi đền Ấn giáo Sau đó, họ mời những tu sĩ từ Ấn Độ đến để cai quản và làm lễ, từ đó dẫn đến truyền bá tôn giáo Những ngôi đền Ấn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt là đền Marianma là một điển hình, ngoài ra còn có một số ngôi đền Ấn giáo ở Malaysia vẫn đang tồn tại và hoạt động Theo như những tài liệu chỉ dẫn từ Ấn Độ, người dân Đông Nam Á bước vào giai đoạn lịch sử của Ấn Độ những bản bia ký đầu tiên vào khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ V Nền văn minh Ấn Độ khiến các quốc gia Đông Nam Á biến đổi, định hình cấu trúc xã hội và hình thành nhà nước Điều này được thể hiện qua các tổ chức bản địa nhỏ đã được chuyển đổi thành các vương quốc và đế chế lớn do một Maharaj lãnh đạo, cơ bản chúng giống với cấu trúc tổ chức nhà nước vương quyền và thần quyền ở Ấn Độ Sự thay đổi này đã sinh

ra nền văn minh Champa trước đây ở miền Trung Việt Nam, Phù Nam ở Campuchia, đế chế Khmer ở Đông Dương, Vương quốc Langkasuka và Old Kedah

ở bán đảo Mã Lai, vương quốc Sriwijayan trên Sumatra, vương quốc Medang, Singhasari và đế chế Majapahit có thủ phủ tại Java, Bali, và một phần của quần đảo Philipines Ở Thái Lan, có một khu vực được coi là nơi từng tồn tại một đế quốc vĩ đại trong lục địa Đông Nam Á, theo tuyên bố của chính phủ và bảo tàng quốc gia Thái Lan đã nhấn mạnh rằng Suvarnabhumi ở đâu đó trong khu vực ven biển của trung tâm đồng bằng Uông Thong Văn minh Ấn Độ ảnh hưởng đến ngôn ngữ, văn bản, truyền thống văn học, lịch sử, hệ thống tín ngưỡng và khía cạnh nghệ thuật của

Ngày đăng: 01/07/2023, 20:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Huy Đỉnh. (2003). Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ (tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh). Hà Nội: Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ (tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh)
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Hà Nội: Khoa Học Xã Hội
Năm: 2003
2. Clifford Geertz. (2006). Tôn giáo nhƣ một hệ thống văn hóa, in trong Hội khoa học lịch sử Việt Nam (2006), Những vấn đề nhân học tôn giáo. Tạp chí Xƣa & Nay: Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề nhân học tôn giáo
Tác giả: Clifford Geertz
Nhà XB: Tạp chí Xưa & Nay
Năm: 2006
3. Đinh Hồng Hải. (2016). Cấu trúc luận trong nghiên cứu biểu tượng: Từ ký hiệu học đến nhân học biểu tượng. – Website Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Truy xuất từ http://nguvan.hnue.edu.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc luận trong nghiên cứu biểu tượng: Từ ký hiệu học đến nhân học biểu tượng
Tác giả: Đinh Hồng Hải
Nhà XB: Website Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Năm: 2016
4. Đinh Hồng Hải. (2016) Những Biểu Tượng Đặc Trưng Trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam (Tập 3) - Các Con Vật Linh. Hà Nội: Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Biểu Tượng Đặc Trưng Trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam (Tập 3) - Các Con Vật Linh
Tác giả: Đinh Hồng Hải
Nhà XB: Thế giới
Năm: 2016
5. E. B. Tylor. (2000). Văn hóa nguyên thủy. – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nguyên thủy
Tác giả: E. B. Tylor
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Năm: 2000
6. Hoàng Phê. (chủ biên). (1998) Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng; tái bản có sửa chữa bổ sung từ Từ điển tiếng Việt, 1988. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Khoa học xã hội
Năm: 1998
7. Hoàng Thị Lan. (2017). Vai trò của tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng sông Hồng. Hồ Chí Minh: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 (111) – 2017, 74 – 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Hoàng Thị Lan
Nhà XB: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 2017
8. Huình Tịnh Của. (1895). Đại Nam Quấc Âm Tự Vị. – Saigon Imprimerie REY CURIOL and Cie Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam Quấc Âm Tự Vị
Tác giả: Huình Tịnh Của
Nhà XB: Saigon Imprimerie REY CURIOL and Cie
Năm: 1895
10. Huỳnh Thanh Bình. (2013). Garuda – Chim cánh vàng (Kim Sí Điểu Tp. Hồ Chí Minh: Nguyệt san Giác Ngộ. Số 207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Garuda – Chim cánh vàng
Tác giả: Huỳnh Thanh Bình
Nhà XB: Nguyệt san Giác Ngộ
Năm: 2013
11. Huỳnh Thanh Bình. (2018). Biểu Tượng Thần Thoại Về Chư Thiên Chư Vật Phật Giáo. ). Tp. Hồ Chí Minh: Tổng Hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu Tượng Thần Thoại Về Chư Thiên Chư Vật Phật Giáo
Tác giả: Huỳnh Thanh Bình
Nhà XB: Tổng Hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2018
13. Mai Ngọc Chừ. (chủ biên). (2008). Giới thiệu về văn hóa phương Đông Hà Nội: Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu về văn hóa phương Đông
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
14. Nguyễn Tấn Đắc. (2005). Văn Hoá Đông Nam Á. Tp. Hồ Chí Minh: Đại Học Quốc Gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Hoá Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Đại Học Quốc Gia TP.HCM
Năm: 2005
15. Phan Anh Tú. (2005): Văn hóa rắn trên vùng đất nay là Thái Lan. Tp. Hồ Chí Minh: Trường ĐH Khoa Học Xã Hội và Nhân văn – Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa rắn trên vùng đất nay là Thái Lan
Tác giả: Phan Anh Tú
Nhà XB: Trường ĐH Khoa Học Xã Hội và Nhân văn
Năm: 2005
16. Phan Anh Tú. (2013): Hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông Nam Á. Tp. Hồ Chí Minh: Trường ĐH Khoa Học Xã Hội và Nhân văn – Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông Nam Á
Tác giả: Phan Anh Tú
Nhà XB: Trường ĐH Khoa Học Xã Hội và Nhân văn
Năm: 2013
17. Reid Anthony. (Ngô Bắc dịch). (2008) Các vùng đất bên dưới luồng gi thổi. – Website: gio-o.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vùng đất bên dưới luồng gi thổi
Tác giả: Reid Anthony, Ngô Bắc
Nhà XB: gio-o.com
Năm: 2008
18. Thích Minh Cảnh. (2003). Từ điển Phật học huệ quang. Tp. Hồ Chí Minh: Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Phật học huệ quang
Tác giả: Thích Minh Cảnh
Nhà XB: Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2003
19. Thích Minh Tông. (2010). Phương pháp thờ thần tài Mật tông. Hà Nội: Tôn Giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thờ thần tài Mật tông
Tác giả: Thích Minh Tông
Nhà XB: Tôn Giáo
Năm: 2010
20. Trần Ngọc Thêm. (2001). Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam. Tp. Hồ Chí Minh: Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
21. Trần Quốc Vƣợng. (chủ biên). (1998). Cơ sở văn hóa Việt Nam. Tp. Hồ Chí Minh: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vƣợng
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 1998
22. Trịnh Bá Dĩnh. (2011). Chủ nghĩa cấu trúc trong Văn học. Tp. Hồ Chí Minh: Hội nhà văn liên kết với Công ty Truyền thông Hà Thế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc trong Văn học
Tác giả: Trịnh Bá Dĩnh
Nhà XB: Hội nhà văn liên kết với Công ty Truyền thông Hà Thế
Năm: 2011

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w