Điều đó cho thấy, việc nghiên cứu về ngoại giao văn hoá và sự gia tăng sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯƠNG THỊ NGUYỆT
HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HOÁ CỦA
TRUNG QUỐC Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á (2000 – 2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGHỆ AN, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯƠNG THỊ NGUYỆT
HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HOÁ CỦA
TRUNG QUỐC Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á (2000 – 2014)
Trang 3Lời cảm ơn
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và tìm tòi bản thân tôi đã có được thêm sự trưởng thành cũng như kiến thức nhất định để giúp tôi trong quá trình viết luận văn cũng như phục vụ cho quá trình công tác sau này
Để có thể hoàn thành Luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo TS Tăng Thị Thanh Sang - người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi kể
từ khi nhận đề tài cho đến khi Luận văn này được hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Lịch sử, đặc biệt là các Thầy, Cô giáo tổ bộ môn Lịch sử Thế giới - Khoa Lịch sử, Trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm Luận văn Xin chân thành cảm ơn Thư Viện Quốc gia, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Thư viện Trường Đại học Vinh đã giúp đỡ trong quá trình tìm tài liệu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình, bạn
bè và những người thân đã luôn động viên giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập vừa qua
Vinh, tháng 10 năm 2015
Học viên Lương Thị Nguyệt
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Bố cục của luận văn 12
Chương 1.CƠ SỞ HÌNH THÀNH HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 13
1.1 Khái niệm ngoại giao văn hoá 13
1.2 Thế mạnh của văn hóa Trung Quốc trong việc thực thi chính sách ngoại giao văn hóa ở Đông Nam Á 16
1.3 Khu vực Đông Nam Á 23
Chương 2 MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 2000 ĐẾN 2014 31
2.1 Cộng đồng người Hoa trong chiến lược truyền bá, xâm nhập văn hóa Trung Hoa vào khu vực Đông Nam Á 31
2.2 Sức mạnh kinh tế - cầu nối cho làn sóng văn hóa Trung Quốc tràn vào Đông Nam Á 35
2.3 Hợp tác truyền thông nhằm nâng cao sức hấp dẫn của hình ảnh Trung Quốc 43
2.4 Nhân rộng Học viện Khổng Tử và tăng cường hợp tác giáo dục nhằm quảng bá hình ảnh, ngôn ngữ và văn hóa Hán 47
Trang 5Chương 3.53 TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA
TRUNG QUỐC 53
3.1 Đối với các nước Đông Nam Á 53
3.1.1 Tác động tích cực 53
3.1.2 Tác động tiêu cực 56
3.2 Đối với Trung Quốc 59
3.2.1.Quảng bá nền văn hoá dân tộc 59
3.2.2 Ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc - sợi “lạt mềm buộc chặt” đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á 60
3.3 Việt Nam trước sức mạnh ngoại giao văn hoá của Trung Quốc 63
3.3.1 Sự kiên định của văn hoá dân tộc trước cơn bão văn hoá Trung Hoa 63
3.3.2 Thách thức từ cơn bão văn hoá Trung Hoa 65
3.3.3 Một số gợi mở đối với Việt Nam 67
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 78
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngoại giao Văn hóa từ lâu được coi là “sức mạnh mềm” hay “quyền lực mềm”, giữ một vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia, là một trong những phương tiện góp phần bảo vệ an ninh, nâng cao hình ảnh, tăng cường ảnh hưởng chính trị của quốc gia đối với quốc tế
Thành công của các nước lớn trong chính sách ngoại giao văn hoá đối với sự phát triển sức mạnh tổng hợp của đất nước đã được thể hiện rõ rệt
“Giá trị Mỹ”, “Văn hóa nhân văn Pháp”, “Bản lĩnh văn hóa con người Nhật Bản” là sức mạnh to lớn để các nước này phát huy tầm ảnh hưởng ra thế giới bên ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra một cách sâu rộng Chính tầm quan trọng của ngoại giao văn hoá, các nước này đã có nhiều chính sách sâu rộng, đa chiều đã tạo nên những thành công trong quá trình hội nhập nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, nỗ lực gắn kết bạn bè quốc tế, phát triển bền vững đất nước Nền văn hoá dân tộc cùng ngoại giao văn hóa đang trở thành một trong "ba trụ cột" trong chính sách đối ngoại của hầu hết các nước
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc và khả năng vận dụng linh hoạt sức mạnh mềm văn hoá và ngoại giao văn hoá trong mục tiêu phát triển sức mạnh tổng hợp của đất nước Trung Quốc Có thể thấy rằng, những thành tựu của Trung Quốc trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, ngoại giao văn hóa trong công cuộc mở cửa là nhân tố quan trọng nhất tác động sâu sắc đến cục diện chính trị thế giới và quan hệ quốc tế
Đất nước Trung Quốc ngày càng lớn mạnh, đi cùng với đó là những tham vọng ngày càng lớn trong chính sách bành trướng, mở rộng biên duyên chiến lược, khẳng định sức mạnh Trung Hoa trên phạm vi toàn cầu Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc càng thể hiện rõ hơn sức mạnh của mình, nỗ lực trong việc đưa văn hoá đi ra ngoài, lan toả văn hoá Trung Hoa
Trang 7đến với khu vực và thế giới Việc xây dựng Học viện Khổng tử ở nhiều nước,
mở rộng giao lưu truyền bá văn hoá Hán, xuất khẩu các sản phẩm văn hoá… Trung Quốc đã và đang nhanh chóng biến ngoại giao văn hoá thành con đường nhanh nhất tiếp cận với thế giới Vậy, ngoại giao văn hoá trong chiến lược phát triển sức mạnh mềm của Trung Quốc có được những thành công như thế nào? Tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa trong việc phát triển sức mạnh tổng hợp của đất nước Trung Quốc ra sao ? là lí do chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này
Trong quá trình hình thành và phát triển của các quốc gia Đông Nam Á, ảnh hưởng văn hoá Hán đóng một vai trò nhất định tới nền văn hoá khu vực Đông Nam Á nói chung và từng nước nói riêng Trải qua nhiều thế kỷ, bằng nhiều con đường từ cưỡng bức đến tự nguyện, giao thoa văn hóa, văn hoá truyền thống Trung Hoa mang những giá trị tinh thần to lớn, từ tôn giáo, tín ngưỡng đến lối sống và nhiều nghi lễ tết hay ngay đến trang phục…cũng có ảnh hưởng với cư dân Đông Nam Á, trong đó Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng từ văn hoá Hán rất sâu đậm Ngày nay, cùng với những người Hoa sinh sống trên khắp các nước Đông Nam Á, văn hoá Trung Hoa đang được phát huy tối đa sức mạnh của mình Đồng thời, chính phủ Trung Quốc không ngừng có những chính sách tích cực, hợp lí nhằm bảo tồn, phát triển những giá giá trị văn hoá truyền thống, cũng như xây dựng một nền văn hoá xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc trong thời kỳ hiện đại Chính những yếu tố đó,
đã khiến văn hoá Trung Hoa ngày một có sức lan toả lớn ở khu vực Đông Nam Á Trước thực tế ảnh hưởng từ ngoại giao văn hoá Trung Quốc, các nước trong khu vực Đông Nam Á đã có sự tiếp nhận và thích ứng như thế nào? Những hoạt động ngoại giao văn hoá của Trung Quốc đã tác động như thế nào đến khu vực Đông Nam Á? là những vấn đề cần có những nghiên cứu nghiêm túc và cẩn trọng
Trang 8Sức mạnh ngoại giao văn hoá của Trung Quốc đặt ra cho các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam những gợi mở và thách thức Trong xu thế hội nhập toàn cầu, trước nhiều luồng văn hoá đến từ các nước, trong đó ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa đưa đến sự tác động ở nhiều mặt của đời sống
xã hội, cũng như sự phát triển chung của đất nước Vậy Việt Nam học hỏi được điều gì từ nền văn hoá hơn 5000 năm lịch sử ấy, từ cách thức tiến hành chiến lược phát triển sức mạnh mềm văn hoá của các nhà lãnh đạo Trung Quốc; đồng thời, Việt Nam sẽ làm như thế nào vượt qua những thách thức đến từ văn hoá Trung Hoa
Để phần nào tìm lời giải cho những vấn đề trên, chúng tôi đã mạnh dạn
chọn “Hoạt động ngoại giao văn hoá của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á (2000 – 2014)” làm đề tài luận văn Tuy nhiên, với khả năng hạn hẹp
của bản thân, cùng nguồn tài liệu còn tương đối hạn chế, cũng như tính nhạy cảm của vấn đề, mà luận văn chỉ dừng lại nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự trỗi dậy của Trung Quốc với những thành tựu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong thập niên đầu thế kỷ XXI đang trở thành mối quan tâm của thế giới Tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á đang khiến nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước lớn luôn tìm cách gây ảnh hưởng tại khu vực này
Tháng 7 năm 1991, Trung Quốc chính thức đặt quan hệ ngoại giao với ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á) Cũng từ đây, mối quan tâm của Trung Quốc với khu vực này ngày càng được thể hiện rõ Đặc biệt là trong thập niên đầu thế kỉ XXI, Trung Quốc đã có những hoạt động ngoại giao mạnh mẽ, đặc biệt là ngoại giao văn hoá Với nỗ lực tăng cường sức mạnh mềm của mình ra thế giới, trong đó khu vực Đông Nam Á cũng là một trong những điểm đến của Trung Quốc Đây là một vấn đề mang tính thời sự, đã thu
Trang 9hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước Điều đó cho thấy, việc nghiên cứu về ngoại giao văn hoá và sự gia tăng sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Trên cơ sở điểm luận 60 tài liệu, bao gồm hơn 40 tài liệu tiếng Việt, 5 tài liệu tiếng Anh và hơn 10 tài liệu tiếng Trung; chúng tôi xin tổng quan tình hình nghiên cứu như sau:
2.1 Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài
Nghiên cứu tại các nước phương Tây
Có rất nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề ngoại giao văn hoá cũng như sức mạnh mềm văn hoá và sức mạnh mềm Trung Quốc Mỗi học giả đều có những cách tiếp cận vấn đề riêng của mình, nhưng về cơ bản thì có hai cách tiếp cận
- Hướng nghiên cứu thứ nhất chủ yếu tập trung vào tìm hiểu các vấn đề liên quan tới lý thuyết
Học giả đầu tiên đưa ra khái niệm sức mạnh mềm vào năm 1990 là một Giáo sư người Mỹ mang tên Joseph S.Nye Ông nổi tiếng với công trình
nghiên cứu : “Liên kết để dẫn đầu: Bản chất đang thay đổi của sức mạnh Mỹ ( Bound to Lead: The Changing Nature of American Power, 1990)” Chúng
tôi thấy, cái mà ông đã làm được đó là: ông đã định nghĩa được thế nào là sức mạnh mềm từ sức hấp dẫn bên trong của một đất nước Theo đó, ông đã đưa
ra những tiêu chí để phân biệt sự khác nhau giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm
Trên cơ sở đó, nhiều học giả đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu phong phú và đa dạng với các góc độ, quan điểm khác nhau Các học giả đã hướng ngòi bút của mình xoay quanh bản chất sức mạnh mềm Trung Quốc và
sự thắng thế của quan niệm văn hóa và ngoại giao văn hoá là cốt lõi của sức mạnh mềm Trung Quốc Thế giới đang chứng kiến Trung Quốc đã và đang
Trang 10trỗi dậy mạnh mẽ, bởi thế nó đã tạo nên cái gọi là “mối đe dọa Trung Quốc”
Do đó, Trung Quốc đã nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều học
giả trên thế giới Trong công trình “Sự trỗi dậy của sức mạnh mềm Trung Quốc (The Rise of China's Soft Power, 2005)”, cũng chính do Joseph S Nye
biên soạn, chính ông là người đầu tiên phát hiện ra rằng, hiện nay, Trung Quốc chứ không phải Mỹ, mới là người chơi chính trong sân chơi sức mạnh mềm Cũng xuất phát từ quan điểm này đã có hàng loạt ý kiến tranh cãi về bản chất sức mạnh mềm Trung Quốc Trong đó có hai trường phái chính: Trường phái thứ nhất chiếm đa số cho rằng cốt lõi của sức mạnh mềm Trung Quốc là văn hóa Trung Quốc, còn trường phái thứ hai lại cho rằng văn hóa là phương tiện bổ trợ cho cạnh tranh và hợp tác kinh tế của Trung Quốc
Tóm lại, chúng tôi nhận thấy rằng: hạn chế lớn nhất của các công trình nghiên cứu trên là: chỉ đề cập đến nội dung gia tăng sức mạnh mềm của Trung Quốc, mà chưa hề có một công trình nghiên cứu cụ thể nào dành riêng cho các phương thức gia tăng sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á và những tác động của nó tại khu vực này; trong khi đó Đông Nam Á là một khu vực hết sức quan trọng đối với Trung Quốc trong việc gia tăng sức mạnh mềm và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế
Nghiên cứu tại châu Á
Xuất phát ở phương Tây từ rất sớm vào những năm 1990, khái niệm “sức mạnh mềm” ở Trung Quốc chưa nhận được sự chào đón nồng nhiệt của các
nhà nghiên cứu Trong những năm gần đây các học giả Trung Quốc đã và đang rất quan tâm đến sức mạnh mềm So với các học giả phương Tây thì các học giả Trung Quốc là những người đến sau nhưng không đến muộn, họ cũng
đã đạt được những thành công nhất định trong những công trình nghiên cứu
về sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc Cách tiếp cận vấn đề này của các học giả Trung Quốc rất đa dạng và phong phú, nhưng tập trung chủ yếu theo các hướng sau:
Trang 11Trong hướng nghiên cứu thứ nhất, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đưa
ra một cái nhìn hệ thống về lí luận sức mạnh mềm và sức mạnh mềm Trung Quốc mà ở đó nhấn mạnh vai trò của văn hóa Các công trình tiêu biểu là:
“Sức mạnh mềm Trung Quốc” (中国软实力, 2010) của tác giả Trịnh Biểu;
“Chính sách nước lớn: Sức mạnh mềm con đường trở thành nước lớn” (大国策:通向大国之路的软实力, 2009) của tác giả Mạnh Lượng; “Ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm Trung Quốc: một cái nhìn toàn cầu hóa”
(文化外交与中国软实力:一种全球化视角, 2008) của học giả Bành Tân Lương Trong những tác phẩm này, văn hóa và ngoại giao văn hoá vẫn được coi là chìa khóa để Trung Quốc mở tất cả các cánh cửa còn lại và giúp họ mang đến cho thế giới một hình ảnh mới về đất nước rộng lớn này, đó là một đất nước Trung Quốc yêu chuộng hòa bình, đáng tin cậy và có trách nhiệm Trong hướng nghiên cứu thứ hai, các học giả tập trung nghiên cứu sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc và chỉ ra vai trò của sức mạnh mềm văn hóa trong sức mạnh tổng hợp quốc gia, sức cạnh tranh quốc tế Các tác giả còn chú trọng nghiên cứu sức mạnh mềm văn hóa mang đặc sắc Trung Hoa Các giá trị văn hóa truyền thống cùng với việc xuất khẩu các sản phẩm văn hóa đã giúp cho sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc lan tỏa khắp các châu lục Các
công trình nghiên cứu tiêu biểu mà chúng ta có thế nhắc đến là: “Sức mạnh mềm văn hóa” (文化软实力, 2008) tác giả Đồng Thế Tuấn; “Chú trọng đề cao sức mạnh mềm văn hóa” (大力提高我国文化软实力, 2009) tác giả Vương
Xuân Phong… Nhìn chung, các công trình này đã từng bước xây dựng và hoàn thiện được những lí luận về sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc mà ở đó phải mang những đặc trưng Trung Hoa nổi bật Xây dựng sức mạnh mềm văn hoá trên cơ sở tiến hành ngoại giao văn hoá – đưa văn hoá ra với thế giới
Trang 12Trong hướng nghiên cứu thứ ba, các nhà nghiên cứu hướng ngòi bút vào chính sách của sức mạnh mềm Chính sách này được thể hiện rõ trong văn kiện đại hội 17 (năm 2007), Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhấn mạnh vị trí vai trò của sức mạnh mềm trong sức mạnh tổng hợp quốc gia và sức cạnh tranh quốc tế của đất nước Và họ cũng cho rằng văn hóa là cốt lõi Theo đó, việc triển khai gia tăng sức mạnh mềm văn hóa ra thế trong đó có khu vực Đông Nam Á của Trung Quốc được thực hiện trên các phương thức chính, bao gồm: thành lập học viện Khổng Tử; thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hóa giữa các nước; xuất khẩu các sản phẩm văn hóa như truyền hình, phim ảnh, âm nhạc…ra toàn thế giới
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia núi liền núi sông liền sông, bởi vậy nền văn hóa giữa hai nước này có khá nhiều nét tương đồng Đây cũng là một lợi thế để Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng sức mạnh mềm văn hóa của mình vào Việt Nam dễ dàng hơn
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề này,
số công trình ít ỏi mà có thể kể đến ở đây như: “Trung Quốc gia tăng sức mạnh mềm tại châu Á”, “Trung Quốc gia tăng sức mạnh mềm văn hóa ở khu vực Đông Nam Á” của tác giả Nguyễn Thị Thu Phương, “Trung Quốc đang xây dựng nền móng tại châu Phi” của tác giả Bích Thu, “Sức mạnh mềm Trung Quốc đang vươn tới sân sau của Mỹ” của tác giả Hồng Yến, “Học viện Khổng Tử - Biểu tượng của sức mạnh mềm văn hóa Trung Hoa” của tác giả
Nguyễn Thị Thu Phương và Phạm Hồng Yến… Các công trình này cũng đã phần nào cho thấy “diện mạo” của ngoại giao văn hoá, cũng như những nỗ lực xây dựng sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc ở một số cách thức gia tăng sức hấp dẫn của nó trên quy mô toàn cầu, phạm vi khu vực, quốc gia Nhưng nhìn chung các công trình này mới dừng lại ở các thông tin sơ lược nên thiếu cái nhìn chuyên sâu và có hệ thống
Trang 13Trong đó có những công trình hướng chủ đề nghiên cứu vào những tác động, ảnh hưởng khác nhau của sức mạnh mềm và sức mạnh mềm văn hóa
Trung Quốc đối với Việt Nam và khu vực Đông Nam Á như: “Trung Quốc gia tăng sức mạnh mềm văn hóa ở khu vực Đông Nam Á” của tác giả Nguyễn
Thị Thu Phương Trong bài viết này, tác giả đã trình bày một bức tranh tổng quan về việc gia tăng sức mạnh mềm văn hóa đầy tinh vi của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á và Việt Nam Điểm đáng lưu ý là tác giả đã chỉ ra được các phương thức triển khai sức mạnh mềm của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á, đó là: hợp tác toàn diện và phối hợp linh hoạt giữa sức mạnh kinh tế với sức mạnh ngoại giao, giữa viện trợ nước ngoài với giao lưu văn hóa, giáo dục Trung Quốc đã từng bước duy trì được vai trò chủ đạo trong việc giúp cộng đồng ASEAN hội nhập kinh tế Qua đó củng cố thêm tầm quan trọng của nước này trong khu vực Đặc biệt, chính sách xúc tiến thành lập các Học viện Khổng Tử đang ngày càng làm tăng thêm sức hấp dẫn và thuyết phục của sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc trên toàn thế giới Đó là những đóng góp của tác giả Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, đây chỉ mới là những “viên gạch” đầu tiên được xây lên để làm tiền đề nghiên cứu cho những công trình có quy mô lớn hơn
Từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước chúng tôi tiếp cận được, rút ra một số nhận xét sau:
- Thứ nhất, các học giả quốc tế và trong nước đã có sự quan tâm đến chính sách ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm của Trung Quốc ở nhiều góc
độ khác nhau Dù xuất phát từ nhiều hướng tiếp cận ở cả góc độ tích cực hay tiêu cực, hầu hết các tác phẩm đều khẳng định: Sức mạnh mềm nói chung và sức mạnh mềm văn hoá nói riêng của Trung Quốc là một trong những phương thức để Trung Quốc phát huy ảnh hưởng của mình ra thế giới
- Thứ hai, các công trình chủ yếu đi sâu vào phân tích bản chất chính sách gia tăng sức ảnh hưởng văn hóa của Trung Quốc, thực trạng và khó khăn
Trang 14của việc thực hiện truyền bá văn hoá ra bên ngoài, cũng như những mưu đồ quốc tế của Trung Quốc Nghiên cứu về các phương thức mà Trung Quốc sử dụng để gia tăng ảnh hưởng sức mạnh mềm văn hoá của quốc gia này đối với khu vực Đông Nam Á chưa đúng với tầm quan trọng của khu vực này đối với Trung Quốc
Trên đây là tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, đồng thời cũng là quá trình chúng tôi tìm hiểu và thu thập nguồn tài liệu phục vụ cho việc viết luận văn Nguồn tài liệu còn tương đối hạn chế, nên trong quá trình hoàn thành luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Hiểu thêm về những giá trị văn hoá truyền thống lấu đời của Trung Quốc; về tầm quan trọng của văn hoá trong chiến lược sức mạnh mềm của Trung Quốc; vai trò của văn hoá trong quá trình xây dựng sức mạnh tổng hợp đất nước Trung Quốc
- Nhìn nhận một cách sâu sắc hơn, toàn diện các phương thức tác động
và ảnh hưởng của ngoại giao văn hóa Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á
- Khẳng định tầm quan trọng và tính cần thiết của việc phát huy tối đa
sức mạnh văn hoá dân tộc trong thời kỳ hội nhập Đồng thời, nhận thức rõ vai trò của ngoại giao văn hoá, tầm ảnh hưởng của nền văn hoá trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc Từ đó cho thấy, việc bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đang trở thành vấn đề cấp thiết
3.2 Nhiệm vụ
Tìm hiều về nền văn hoá truyền thống, cũng như quá trình bảo tồn, phát huy tối đa những giá trị văn hoá truyền thống của Trung Quốc Đồng thời bước đầu tìm hiểu ngoại giao văn hoá Trung Quốc – cách thức, những nỗ
Trang 15lực nhằm lan toả văn hoá ra thế giới nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng
Hoạt động ngoại giao văn hoá Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á, những tác động tích cực cũng như tiêu cực Đồng thời, tìm hiểu những tác động của ngoại giao văn hoá Trung Quốc đối với Việt Nam nói riêng; những thách thức và gợi mở cho Việt Nam trong việc phát triển sức mạnh mềm văn hoá, nhằm phát triển sức mạnh tổng hợp đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Hoạt động ngoại giao văn hoá của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á (2000 – 2014), trong đó trọng tâm nghiên cứu một số vấn đề: Những giá trị văn hoá truyền thống, cũng như sự phát triển nền văn hoá Trung Quốc hiện nay; ngoại giao văn hoá và các phương thức tiến hành ngoại giao văn hoá của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á; những tác động đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á Từ thực tiễn thành công của Trung Quốc, mà các nước rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình xúc tiến ngoại giao văn hoá ở mỗi nước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về văn hoá Trung Quốc và ngoại giao văn hoá Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á (ASEAN) Trong đó, bao gồm: ngoại giao văn hoá và các phương thức tiến hành ngoại giao văn hoá của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á; những tác động đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về ngoại giao văn hoá của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á, giới hạn trong khoảng thời gian
2000 đến năm 2014
Trang 165 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Trong giới hạn khả năng cho phép, chúng tôi cố gắng tiếp xúc với các nguồn tài liệu sau đây:
- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Trung Quốc và các bài phát biểu, các hồi ký của các lãnh đạo Trung Quốc và Đông Nam Á;
- Nguồn tư liệu là những sách chuyên khảo, tạp chí, luận văn nghiên cứu có liên quan như những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như: Joseph S Nye, Bates Gill và Yanzhong Huang, Mingjiang
Li, Bành Tân Lương, Nguyễn Minh, Nguyễn Thị Thu Phương, Nguyễn Thu
Mỹ, Chử Bích Thu, PGS.TS Đỗ Tiến Sâm, TS Lê Văn Mỹ,…
- Các bài báo của các tạp chí, chủ yếu tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, các nguồn tin của Thông tấn xã, phát thanh, truyền hình, thông tin mạng…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Mác – Lênin và các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic và các phương pháp bộ môn nhằm tái hiện một cách khách quan, khoa học về hoạt động ngoại giao văn hóa của Trung Quốc ở Đông Nam Á
Bên cạnh đó, các phương pháp liên ngành khác như: tổng hợp, thống
kê, phân tích, đối chiếu, so sánh và dự báo… cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề khoa học đặt ra
6 Đóng góp của luận văn
Với năng lực có hạn của bản thân, chúng tôi đã thực sự nỗ lực để luận văn “Hoạt động ngoại giao hoá văn của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á (2000 - 2014)” đạt được những đóng góp nhất định sau đây:
Trang 17Luận văn có điểm qua những thành tựu cơ bản của văn hoá truyền thống Trung Quốc, từ đó cho thấy những giá trị mang tính lịch sử cũng như mang giá trị tinh thần to lớn của nền văn hoá này; thấy được sự kết tinh trí tuệ của 56 dân tộc Trung Hoa trong hơn 5000 năm lịch sử, nền văn hoá Trung Quốc - một trong những cái nôi văn minh của nhân loại
Luận văn có tìm hiểu về sự trỗi dậy của Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI, đồng thời cho thấy vai trò của văn hoá và hoạt động ngoại giao văn hoá (sức mạnh mềm văn hoá) trong quá trình hình thành sức mạnh tổng hợp của đất nước Trung Quốc Từ đó, có cái nhìn toàn diện về những chiến lược phát triển cũng như phần nào hiểu được tham vọng cố hữu của Trung Quốc
Luận văn bước đầu có những nhận định về mức độ tác động từ hoạt động ngoại giao văn hoá của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á Góp phần đưa ra cái nhìn khách quan, sâu sắc về tham vọng của Trung Quốc khi tiến hành những hoạt động ngoại giao văn hoá ở khu vực Đông Nam Á Từ
đó, chỉ rõ Đông Nam Á đang đứng trước nguy cơ từ sức mạnh mềm văn hoá Trung Quốc
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sơ hình thành hoạt động ngoại giao văn hóa của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á
Chương 2 Một số hoạt động ngoại giao hoá văn của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á từ năm 2000 đến năm 2014
Chương 3 Tác động của hoạt động ngoại giao văn hóa Trung Quốc
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
1.1 Khái niệm ngoại giao văn hoá
Văn hoá là một từ tiếng Hán, do Lưu Hướng người thời Tây Hán nêu ra đầu tiên Nhưng lúc bấy giờ hai chữ văn hoá có nghĩa là “dùng văn để hoá”, nói một cách khác, văn hoá tức là giáo hoá Đến thời cận đại nghĩa của chữ văn hoá có phần khác trước
Văn hoá trong tiếng Anh và tiếng Pháp là culture Chữ này có nguồn gốc từ chữ la tinh cultura, nghĩa là trồng trọt, cứ trú, luyện tập, lưu tâm… Đến giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của các khoa nhân loại học, xã hội học, dân tộc học…, khái niệm văn hoá đã thay đổi Người đầu tiên đưa ra định nghĩa
về văn hoá là Taylor, nhà nhân loại học đầu tiên của nước Anh Ông nói:
“Văn hoá là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã hội” [12;7] Sau đó các học giả đã đưa ra nhiều định nghĩa
về văn hoá
Như vậy, văn hoá cùng xuất hiện đồng thời với loài người, khi con người biết chế tạo ra công cụ đá cũng là khi họ bắt đầu sáng tạo ra văn hoá Đầu tiên là văn hoá vật chất, sau đó là sáng tạo ra văn hoá tinh thần…Vậy, văn hoá là toàn bộ những giá trị mà loài người sáng tạo ra từ khi loài người xuất hiện đến nay
Trên thế giới hiện nay có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá Văn hoá gắn liền với con người mà con người ở mỗi thời đại lịch sử lại khác nhau, mỗi dân tộc khác nhau có những cái nhìn khác nhau về văn hoá
Từ các quan điểm về văn hoá, chúng ta có thể hiểu bản chất của văn hoá bao gồm toàn bộ hoạt động sáng tạo của con người sản sinh ra các giá trị vật
Trang 19chất và giá trị tinh thần Và nói đến văn hoá phải nói đến dân tộc, một dân tộc tồn tại nhờ có văn hoá, mất văn hoá đồng nghĩa với dân tộc đó chấm dứt sự tồn tại độc lập của mình Ngoài ra, có thể thấy văn hoá mang tính nhân loại, vì văn hoá là sản phẩm sáng tạo của con người mà nhu cầu cơ bản của con người
là giống nhau, chính vì thế mà có sự giao lưu và tiếp nhận văn hoá giữa các dân tộc trên thế giới một cách tự nhiên
Thực tế lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy rằng, một trong những bản chất của văn hoá là có tính giao lưu tiếp xúc Các nền văn hoá dân tộc tiếp xúc, ảnh hưởng lẫn nhau làm phong phú cho nhau và có thể làm tổn hại cho nhau nếu như không có nội lực
Ngoại giao văn hóa xuất hiện chính thức và mang tính quốc tế từ thế kỷ
XV – XVII, khi các phát kiến địa lý với quy mô lớn được thực hiện, các con đường mới được khai thông cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây
Cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào những năm 80 thế kỷ XX, và cách mạng thông tin phát triển nhanh chóng, dẫn tới
sự ra đời của các phương tiện thông tin đại chúng, với sức truyền bá thông tin lan toả nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu…Giao lưu văn hoá xuyên quốc gia ngày càng sôi động và được thực hiện thông qua nhiều hình thức như: giao lưu văn hoá dân gian, giao lưu văn hoá giữa chính phủ Do đó, văn hoá trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong hoạt động ngoại giao của các quốc gia hiện đại Dưới tác động của toàn cầu hoá, giao lưu văn hoá ngày càng đóng vai trò nổi bật trong quan hệ quốc tế, các nước trên thế giới rất coi trọng việc sử dụng văn hoá tự thể hiện mình, tuyên truyền quan điểm giá trị của mình, nâng cao và mở rộng ảnh hưởng của quốc gia Văn hoá trở thành một hình thức ngoại giao mới, độc lập trong hoạt động đối ngoại của một quốc gia, đó là ngoại giao văn hoá
Trang 20Theo tác giả Bành Lương Tân, xét về ý nghĩa “ngoại giao” truyền thống,
“Ngoại giao văn hoá là một chủ đề mới nằm giao thoa giữa hai lĩnh vực văn hoá và ngoại giao…ngoại giao văn hoá là ngoại giao thông qua các nội dung truyền bá, giao lưu văn hoá, là một loại hoạt động ngoại giao trong đó quốc gia có chủ quyền lợi dụng phương thức văn hoá nhằm đạt được mục đích chính trị hoặc đạt được ý đồ chiến lược đối ngoại đặc biệt”[28;40]
Như vậy, có thể thấy rằng, ngoại giao văn hóa là một hoạt động đối ngoại, được nhà nước tổ chức, ủng hộ hoặc bảo trợ Hoạt động này được triển khai trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm đạt được những mục tiêu chính trị, đối ngoại được xác định, bằng các hình thức văn hóa như: nghệ thuật, lịch sử, tư tưởng, truyền thống, ẩm thực, phim, ấn phẩm, văn học Không nhằm lợi nhuận, ngoại giao văn hóa quảng bá hình ảnh và nâng cao vị thế của đất nước, dân tộc Mục tiêu của ngoại giao văn hóa là góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao vị thế, hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế Hầu hết các nước trên thế giới nhìn nhận vai trò hết sức quan trọng của ngoại giao văn hoá, vì nó vừa là nền tảng tinh thần, vừa là biện pháp và mục tiêu của chính sách đối ngoại, bộ trợ hữu hiệu cho các trụ cột ngoại giao Nội hàm của ngoại giao văn hoá rất rộng:
Các cường quốc triển khai ngoại giao văn hóa với mục tiêu hàng đầu là
mở rộng ảnh hưởng và thể hiện vị thế cường quốc của mình trên thế giới Ví
dụ, Mỹ mở rộng những giá trị về dân chủ và nhân quyền ra bên ngoài nhằm tạo lập sự thống trị và ảnh hưởng rộng khắp trên thế giới Trung Quốc xác định văn hóa là một cấu phần của sức mạnh quốc gia để vươn ra bên ngoài, thiết lập hàng trăm viện Khổng giáo giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa tại khắp các châu lục Pháp chủ trương mở rộng không gian văn hóa Pháp ra bên ngoài thông qua việc truyền bá văn hóa, ngôn ngữ Pháp Các nước bậc trung có xu hướng coi trọng như nhau mục tiêu tăng cường ảnh hưởng và phát triển thông qua ngoại giao văn hóa Ấn Độ thông qua văn hóa
Trang 21để vừa thể hiện giá trị văn hóa lâu đời vừa kết hợp với ngoại giao kinh tế Hàn Quốc coi thế kỉ XXI là thế kỷ của văn hóa, vừa sử dụng ngoại giao văn hóa để vươn ảnh hưởng lên tầm toàn cầu, vừa khai thác ngành công nghiệp văn hóa
và khai thông, thúc đẩy hợp tác chính trị kinh tế Các nước nhỏ lấy mục tiêu phát triển làm trọng tâm trong triển khai ngoại giao văn hóa Các nước này có
xu hướng gắn việc quảng bá văn hóa với phát triển du lịch, nổi bật là Singapo không ngừng tiếp thu văn hóa, văn minh bên ngoài để làm giàu bản sắc văn hóa bản địa Bản thân của hoạt động ngoại giao văn hoá không trực tiếp mang lại lợi nhuận, mà đó là chiếc cầu nối bền vững cho sự phát triển trên nhiều lĩnh vực, trong đó phải kể đến là kinh tế
1.2 Thế mạnh của văn hóa Trung Quốc trong việc thực thi chính sách ngoại giao văn hóa ở Đông Nam Á
Thứ nhất, các giá trị của văn hóa Trung Quốc là thế mạnh cốt lõi hình thành nên ngoại giao văn hóa hay chính sách sử dụng sức mạnh mềm của nước này
Nằm ở giao điểm các nền văn minh, sự đa dạng thậm chí tới mức phức tạp của văn hoá Trung Hoa chủ yếu được tạo nên từ sự tích hợp của ba vùng văn hoá: văn hoá lúa khô (miền Bắc), văn hoá du mục (miền Tây Nam), văn hoá lúa nước (miền Nam) Trên nền tảng của sự đa dạng và độc đáo này, một nền văn minh Trung Hoa lâu đời với nhiều thành tựu rực rỡ đã ra đời Đó là nền văn minh có sự dung hoà tinh tế giữa tinh thần nhập thế Nho gia, sự nghiêm luật của Pháp gia, khát vọng hoà hợp với tự nhiên của Đạo gia và triết
lí giải thoát của Phật giáo để hình thành nên những giá trị văn hoá tinh thần mang đậm bản sắc Trung Hoa Đây cũng là đất nước có cống hiến cho nhân loại nhiều thể loại và hiện tượng văn học độc đáo (Kinh thi, Sở từ, Tản văn tiên Tần, Đường Thi, Tống từ, tiểu thuyết Minh Thanh) Không chỉ đạt tới đỉnh cao của các lĩnh vực văn học nghệ thuật, Trung Quốc còn là nước nổi tiếng trong khoa học kỹ thuật với “tứ đại phát minh” (giấy, kỹ thuật in, thuốc
Trang 22súng, la bàn) Chính những thành tựu rực rỡ đó đã khiến cho văn hoá Trung Quốc trở nên đặc biệt hấp dẫn với các nước có chung nền văn hoá nông nghiệp ở khu vực Đông Á[14;30]
Trung Quốc là một quốc gia có nền văn minh cổ xưa phương Đông Dân tộc Trung Hoa trải qua mấy nghìn năm tôi luyện và hoà hợp, kết tụ và phát triển, đã trở thành một dân tộc vĩ đại tràn đầy sức sống trong cộng đồng các dân tộc thế giới “Dân tộc Trung Hoa đã thu hút được muôn phương mà lại có phong thái độc đáo, hình thành nên nền văn hoá Trung Hoa rực rỡ muôn màu mà lại đa nguyên nhất thể, rộng lớn sâu lắng mà lại mộc mạc tươi đẹp”[8; 5] Văn hoá Trung Quốc là nền văn minh độc lập sừng sững tại phía
Đông thế giới với một dáng vẻ riêng biệt của mình
Theo nhiều học giả thì các nước chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán đều
có những mối liên hệ “đồng văn” Ở đó, sự thống nhất quốc gia dựa trên cơ sở văn học chính trị chứ không phải bằng kinh tế thị trường Xã hội coi trọng văn hoá giáo dục, ham học hỏi, mê chữ nghĩa văn chương hơn là tài sản, gia thế, chức tước và hình thành một đạo lý sống có “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, một lối ứng xử mang tính cộng đồng bền chặt Khi bước vào hiện đại, các nước này đều chủ trương “Đông học vi thể, Tây học vi dụng”, tạo nên mô hình phát triển có hiệu quả trong việc kết hợp giữa khoa học kỹ thuật phương Tây với việc quản lý xã hội phương Đông Tuy nhiên quá trình hội tụ của văn hóa Trung Hoa diễn ra theo con đường “mưu đồ bá vương” với tính “hiếu đại, hỉ công, cùng binh, độc vũ” mang tính áp đặt, đồng hoá với tư tưởng dân tộc nước lớn, nên làm cho các quốc gia lân cận hết sức e ngại
Thứ hai, đồng hóa văn hóa là một trong những biện pháp mà Trung Quốc
đã sử dụng từ rất sớm trong lịch sử của quốc gia này đối với Đông Nam Á
Lịch sử phát triển của Trung Quốc từ cổ trung đại cho đến ngày nay đều thể hiện là một nước lớn trong khu vực cũng như thế giới Từ thời cổ đại Trung Quốc đã luôn tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược thôn tính các
Trang 23nước khác nhằm mở rộng lãnh thổ của mình Sau những cuộc chiến tranh, là những chính sách cai trị hà khắc như chia để trị, tô thuế nặng nề, cống nạp…và đặc biệt là chính sách đồng hoá văn hoá Có thể nói đây là chính sách thâm hiểm nhất của các triều đại phong kiến Trung Quốc thời bấy giờ Chúng đưa người Hán vào sinh sống cùng cư dân bản địa, bắt cư dân các nước này phải theo phong tục tập quán của người Hán, đồng thời phải kết hôn với người Hán Đây có thể xem như một hình thức truyền bá văn hoá Trung Hoa – giao lưu cưỡng bức văn hoá Và nếu như một dân tộc không kiên cường, không có nền văn hoá sâu sắc được trưởng thành từ lịch sử của một dân tộc anh hùng, đầy khát vọng độc lập cũng như tự tôn dân tộc, thì có thể văn hoá dân tộc đó đã hoà tan cùng dòng chảy văn hoá Hán Một minh chứng lịch sử rõ ràng nhất, đó là nghìn năm Bắc thuộc của dân tộc Việt Nam Đây cũng chính là con đường chủ yếu để văn hoá Hán đến với các nước trong khu vực Đông Nam Á
Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước CHND Trung Hoa
“dò tìm” một cấu trúc văn hóa mới mang tính hiện đại Tuy nhiên, sau mười năm Đại cách mạng văn hoá, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã sai lầm trong việc điều chỉnh định hướng xây dựng văn hoá mới trên cở sở phủ nhận và phá huỷ nền văn hoá truyền thống Trong thời kỳ này, quá trình chuyển đổi sang
mô hình văn hoá hiện đại của Trung Quốc đã bị trói buộc và kìm hãm trong một thời gian dài Có thể thấy rằng, văn hóa Trung Quốc thời kỳ này gắn với khẩu hiệu “văn nghệ phục vụ chính trị” và trở thành hạt nhân của hệ thống lí luận, coi tiêu chuẩn chính trị, tính giai cấp, là tiêu chuẩn quan trọng định giá
sự phát triển của văn hoá Trung Quốc sau giải phóng Cụ thể, trong lĩnh vực văn hoá, việc lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh đã thường xuyên châm ngòi nổ cho những cuộc phê phán gay gắt đối với những người làm công tác văn hoá và những tác phẩm văn nghệ, phủ định những dòng chảy chính và thành tích của công tác văn hoá, dẫn đến hàng loạt các sự kiện phản văn hoá
Trang 24như: cuộc “Vận động tư tưởng” (1951), “Trấn áp phản cách mạng” (1953),
“Đại cách mạng văn hoá” (1966 – 1967)…Với lối tư duy “cách mạng hoá” văn hoá như vậy Đảng Cộng sản Trung Quốc, vô hình chung đã biến văn hoá thành công cụ phá huỷ hệ giá trị truyền thống, huỷ hoại di sản, “tẩy não” và đẩy hàng triệu trí thức vào kết cục bi thảm Từ một nền văn hoá có diện mạo phong phú, sức sống mãnh liệt, văn hoá Trung Quốc dần dần rơi vào khủng hoảng do bị bó hẹp phạm vi phát triển, trói buộc tư tưởng và kìm hãm sức sáng tạo[16;74]
Công cuộc cải cách mở cửa với tư duy xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc, thuyết Ba đại diện, Thuyết xã hội hài hòa đã thay đổi cơ bản diện mạo văn hóa xã hội Trung Quốc Từ đồng hóa văn hóa trong thời kỳ trước, sức mạnh mềm của văn hóa Trung Hoa được nhận thức rõ nét hơn, được xem như một công cụ để nước này khẳng định vị thế siêu cường thế giới
Thứ ba, Trung Quốc có cơ sở địa chiến lược, có nhân tố người Hoa đông đảo để thực hiện chính sách ngoại giao văn hóa, đặc biệt là đối với khu vực Đông Nam Á
Trung Quốc có một bộ phận người Hoa ở hải ngoại có vị trí quan trọng, đặc biệt ở các nước Đông Nam Á Theo thống kê có khoảng 60 triệu Hoa kiều sinh sống ở khắp nơi trên thế giới trong đó chủ yếu là ở khu vực Đông Nam Á [30] Nhiều thế kỷ nay, cộng đồng người Hoa nhập cư sinh sống tại các quốc gia ở Đông Nam Á là rất đông đảo Họ là tầng lớp người lao động, các doanh nhân, những người nhập cư vì lý do kinh tế, ở các trình độ khác nhau; đồng thời là những người chuyển tải và lưu thông kinh tế, văn hoá giữa Trung
Quốc và các nước trong khu vực
Trung Quốc có một phần hải đảo (Hồng Kông, Ma Cao, Hải Nam) có một vị trí hết sức quan trọng trong quan hệ giữa các nước Đông Nam Á và Trung Quốc Ngày nay Hồng Kông, Ma cao đã trở về với Trung Quốc nhưng
Trang 25người Trung Quốc vẫn tìm mọi biện pháp, mọi hình thức quản lý (một nước hai chế độ) để hai địa phương này vẫn giữ vị trí cầu nối giữa Trung Hoa và các nước khác trong đó có Đông Nam Á
Trong truyền thống quan hệ quốc tế, Trung Quốc có hai con đường thông thương ra thế giới: con đường tơ lụa trên đường bộ về phía Tây Nam và con đường tơ lụa trên biển đi về phía Đông Nam Đó là cửa ngõ của Trung Quốc đi qua biển Đông - nơi sinh sống của cư dân Đông Nam Á cả hải đảo lẫn lục địa Do đó mối quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á trên lục địa
đã quan trọng nhưng trên biển còn quan trọng hơn
Thứ tư, sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc tạo điều kiện mạnh mẽ cho Trung Quốc sử dụng sức mạnh của ngoại giao văn hóa như một công cụ của chính sách đối ngoại đối với khu vực Đông Nam Á
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, Trung Quốc đã thu được những thành tựu rất lớn trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội cũng như trong hoạt động ngoại giao Từ năm 2002 đến 2007, GDP tăng bình quân hàng năm 10,6%, năm 2007 GDP Trung Quốc đạt 24.660 tỉ NDT (tương đương trên
3400 tỉ USD), kim ngạch ngoại thương đạt 2.170 tỉ USD, dự trữ ngoại tệ trên 1.520 tỉ USD [27;56] Trung Quốc đã hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu sau 5 năm gia nhập WTO và mở rộng hoạt động đối ngoại ra phạm vi toàn thế giới Trong những năm qua ảnh hưởng và vị thế của Trung Quốc được nâng cao hơn bao giờ hết trên trường quốc tế Trung Quốc là một trong những nhân tố chính của ổn định thị trường tài chính – tiền tệ thế giới, đã từng mua chứng khoán của Mỹ với tổng giá trị hon 800 tỉ USD Đồng nhân dân tệ của trung Quốc đứng trước triển vọng trở thành ngoại tệ chung của Châu Á Trung Quốc biến thành “thỏi nam châm thu hút” nguồn vốn đầu tư nước ngoài là nguồn đảm bảo cho kinh tế và ngoại thương tăng trưởng nhanh Đến năm
2007, Trung Quốc đã sử dụng hơn 800 tỷ USD đầu tư nước ngoài, trong đó
Trang 26622 tỷ USD là đầu tư trực tiếp và 147 tỷ USD công trái đầu tư ra nước ngoài [27;31]
Trung Quốc đứng hàng đầu thế giới trong việc sản xuất sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, quan trọng nhất tính theo những tiêu chí tuyệt đối Trung Quốc trở thành “công xưởng thế giới” về tái sản xuất các hàng hoá thông dụng theo tiêu chuẩn Châu Âu, phân xưởng lắp ráp của thế giới
Trung Quốc đứng trong hàng ngũ các nước hàng đầu về sản xuất thép, than đá, xi măng, máy thu hình, máy tính cá nhân, điện thoại di động, xe đạp, đồng hồ đang tiến dần tới chỉ số tuyệt đối về sản xuất và lắp ráp ô tô Theo số liệu của WTO, sản phẩm mang nhãn hiệu “Made in China” chiếm 1/7 hàng hoá trên thị trường thế giới và đóng góp trên 15% tăng trưởng GDP của thế giới[27;31]
Trung Quốc, một đất nước chỉ chiếm 7% đất cấy trồng trên hành tinh, nhưng lại đem tới 20% sản lượng ngũ cốc toàn thế giới, đứng đầu thế giới về sản xuất bông, tơ tằm nguyên liệu, các cây cho dầu, thịt, sữa, trứng Chất lượng cuộc sống và tình trạng sức khoẻ của người dân được cải thiện Trung Quốc gia nhập hàng ngũ các quốc gia có tuổi thọ cao trên thế giới[27;32]
Như vậy, năm 2003 – 2006, nhịp độ tăng trưởng trung bình GDP của Trung Quốc là 10,4%, cao hơn 5,5% so với chỉ số trung bình thế giới; nhịp độ này không giảm đi thậm chí còn tăng hơn vào năm 2007 (11,4%) Điều này còn được phản ánh trong tỉ lệ GDP Trung Quốc chiếm trong GDP thế giới Tỷ
lệ này tăng từ 3,9% năm 2003 lên 6,1% năm 2007 Những thành công này đã tạo cơ hội tốt thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc tiến lên phía trước Trung Quốc dần dần chiếm lại vị thế hàng đầu không chỉ là cường quốc kinh
tế khu vực mà còn là cường quốc kinh tế thế giới Nhiều nhà phân tích và các công ty tài chính ngân hàng lớn trên thế giới đều dự kiến rằng, với nhịp độ tăng trưởng nhanh như thế, cho dù 20 hoặc 30 năm không phải với tốc độ cao
Trang 27như hiện nay, thì Trung Quốc vẫn sẽ chiếm vị thế là nước có nền kinh tế hàng đầu thế giới
Từ địa vị kinh tế đó, Trung Quốc mong muốn sử dụng sức mạnh hòa bình của ngoại giao văn hóa để đạt được những tham vọng siêu cường của mình trên bàn cờ chiến lược quốc tế Đông Nam Á là địa bàn Trung Quốc đặc biệt quan tâm Từ hơn một thập kỷ trở lại đây, Trung Quốc tích cực tranh thủ
và lôi kéo các nước trong khu vực này thông qua các biện pháp ngoại giao, kinh tế, văn hoá và kể cả quân sự nữa Ngoại giao văn hoá là lĩnh vực mà Trung Quốc đặc biệt quan tâm sử dụng để tăng cường ảnh hưởng của mình ở khu vực Một số ví dụ cụ thể cho thấy như, thống kê trong những năm gần đây, Trung Quốc gia tăng mạnh việc trao đổi sinh viên với các nước trong khu vực, nhận và tài trợ cho một số lượng đông đảo sinh viên từ các nước này sang học ở Trung Quốc, tích cực tham gia các hoạt động giao lưu văn hoá nghệ thuật trong khu vực Trung Quốc triển khai mạnh chủ trương thành lập các viện Khổng tử học tại các nước Theo Tân Hoa xã, tính tới tháng 11.2009, Trung Quốc có cả thảy 282 viện Khổng Tử học và khoảng 272 trường dạy Hán ngữ ở 88 quốc gia và vùng lãnh thổ Theo kế hoạch đến cuối năm 2010, Trung Quốc sẽ mở tổng cộng 500 viện Khổng Tử học, và đến năm 2020 con
số đó sẽ là 1.000 Các viện Khổng Tử học thực chất là các trung tâm giới thiệu và quảng bá văn hoá và các giá trị của Trung Quốc
Trung Quốc đang từng bước hình thành cơ sở hạ tầng văn hoá và phát triển công nghiệp văn hoá Sau khi tiến hành cải cách mở cửa, ĐCS Trung Quốc đã đi đến xác định “phải khôi phục lại cội nguồn văn hoá”, “nâng cao đời sống văn hoá toàn dân” , “giải phóng và phát triển sức sản xuất văn hoá” [14;33] Trong 30 năm qua, quốc gia này đã thể hiện quyết tâm bắt kịp với trình độ phát triển văn hoá thế giới thông qua việc cởi trói cơ chế, cải cách thể chế, điều chỉnh chính sách nhằm nâng cao hạ tầng văn hoá, cải thiện đời sống
Trang 28văn hoá toàn dân, bảo tồn các giá trị truyền thống và thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề văn hoá Bước sang giai đoạn hiện đại, những tác động tiếp biến và hội nhập văn hoá đang từng bước biến tư tưởng Đại Hán thành chủ nghĩa nước lớn mang đặc sắc Trung Hoa
1.3 Khu vực Đông Nam Á
Thứ nhất, tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á thể hiện ở vị trí địa
lý - chính trị và quân sự
Đông Nam Á là một khu vực khá rộng – diện tích khoảng trên 4 triệu
km2 trải dài trên một phần trái đất từ khoảng 92o đến 140o kinh đông và từ khoảng 28o vĩ Bắc chạy qua xích đạo đến 15o
vĩ Nam Về mặt địa lí - hành chính, Đông Nam Á Hiện nay gồm có 11 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Malaixia, Xingapo, Inđônêxia, Philippin, Brunây, Đôngtimor Đông Nam Á được biết đến từ rất lâu, nhưng phải đến sau chiến tranh thế giới thứ hai, từ Đồng Nam Á mới xuất hiện trên bản đồ chính trị thế giới như một khu vực riêng biệt và có tầm quan trọng đặc biệt Song nếu như trước đây, người ta mới chỉ nhìn thấy khu vực Đông Nam Á thể hiện ở vị trí địa lí – chính trị và quân sự của nó thì đến nay người ta đã khẳng định rằng, ít nhất cho đến thế kỉ XVI, Đông Nam Á đã nổi lên như một trong những trung tâm văn minh, một khu vực địa lí – lịch sử - văn hoá trước khi trở thành một khu vực địa lí – chính trị.[13; 152]
Trong quá trình phát triển Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá (văn hoá Hán, văn hoá Ấn Độ) Tuy nhiên đó là sự tiếp nhận thông minh với những lựa chọn phù hợp đã tạo nên một nền văn hoá Đông Nam Á bản địa
đa dạng và phong phú
Đông Nam Á nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là hành lang là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải
Trang 29Thậm chí cho đến gần đây một số nhà nghiên cứu vẫn gọi khu vực này là
“ống thông gió” hay “ngã tư đường” [13;154]
Tháng 8 năm 1967, tại Băng Cốc (Thái Lan) Hiệp hội các nước Đông Nam Á( viết tắt là ASEAN) được thành lập, gồm 5 nước thành viên: Thái Lan, Inđônêxia, Philippin, Malaixia, Xingapo Qua quá trình phát triển, ASEAN đã kết nạp thêm 6 nước thành viên trong khu vực ( Việt Nam, Lào, Mianma, Campuchia…) Có thể nói sau EU, ASEAN là một tổ chức khu vực
có hiệu quả và thành công nhất trên thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
Khu vực Đông Nam Á, là khu vực có nền kinh tế phát triển tương đối năng động và là khu vực được thế gới quan tâm đến nhiều bới tầm quan trọng của vùng Bển Đông, một vùng biển giàu có và đầy tiềm năng Đồng thời là một trong những con đường giao thông huyết mạch trên thế giới
Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2
Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km vuông, trải rộng
từ vĩ độ 3o
lên đến vĩ độ 26o Bắc và từ kinh độ 100o đến 121o Đông Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia
Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt
là nguồn tài nguyên sinh vật (thuỷ sản), khoáng sản (dầu khí), du lịch và là khu vực đang chịu sức ép lớn về bảo vệ môi trường sinh thái biển
Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á
Trang 30đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi
Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới [32]
Vùng biển này hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực
về địa - chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế, nhất là đối với
Mỹ và Nhật Bản Biển Đông còn có liên hệ và ảnh hưởng đến khu vực khác, nhất là Trung Đông Vì vậy, việc Biển Đông bị một nước hoặc một nhóm nước liên minh nào khống chế sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích an ninh, chính trị, kinh tế của các nước khu vực
Bên cạnh đó, các đảo và quần đảo trong Biển Đông có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nhiều nước Nằm ở trung tâm Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển nhất trên thế giới Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông
Chính tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á cùng với những lợi ích cũng như vị chí triến lược hàng đầu của Biển Đông mà khu vực Đông Nam Á đang ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn Là mối quan tâm hàng đầu của các cường quốc trên thế giới với mục đích bảo vệ vị thế quốc gia trong tương lai Trung Quốc là quốc gia láng giềng của khu vực ĐôngNam Á
và có những tham vọng lớn ở Biển Đông Đây cùng phần nào lí giải cho việc nước này đã có những động thái mạnh mẽ trong quá tiến hành các hoạt động ngoại giao đối với khu vực Đông Nam Á
Thứ hai, nền văn hóa Đông Nam Á tiếp xúc với văn hóa Trung Quốc trong lịch sử
Trang 31Đông Nam Á là một khu vực lịch sử văn hoá, có nền tảng chung từ thời tiền sử, được sản sinh và phát triển trong một môi trường sinh thái tự nhiên xã hội của khu vực Cùng sinh tụ trên một khu vực địa lý, cư dân Đông Nam Á
đã sáng tạo nên một nền văn hoá bản địa có cội nguồn chung từ thời tiền sử và
sơ sử trước khi tiếp xúc văn hoá Trong tính thống nhất khu vực, nền văn hoá
đó có nguồn gốc và bản sắc riêng của mỗi dân tộc được phát triển liên tục trong suốt chiều dài lịch sử Xét về cội nguồn, Đông Nam Á có những đặc điểm văn hoá chung, thống nhất về mặt văn hoá vì cư dân ở đây có chung một nền tảng văn hoá Đông Nam Á, lấy sản xuất nông nghiệp lúa nước làm phương thức hoạt động kinh tế là chính Là cộng đồng các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, Đông Nam Á không những bao chứa những nét tương đồng trong canh tác với hệ thống thuỷ lợi mà còn có đời sống văn hoá tinh thần hết sức phong phú, trong đó bao trùm tất cả là chu trình của đời sống nông nghiệp lúa nước
Nhờ nằm ở một vị trí giao thông đường biển trọng yếu nên ngay thế
kỷ III TCN các thuyền buôn của thương nhân từ nhiều nơi trên thế giới đã qua lại vùng này để buôn bán với các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là đến để mua hương liệu và gia vị Do đó, “mặc dù là giới hạn địa lý và vị trí của nó còn lờ mờ, Đông Nam Á đã được nhìn nhận là một vùng thần bí, nơi sản xuất hương liệu, gia vị và những sản phẩm kỳ lạ, còn sinh sống ở đây là những con người đi biển thành thạo và can đảm”
Trên cơ sở tầng văn hoá chung đó qua tiếp biến với những nền văn hoá khác, đặc biệt là tiếp xúc với văn hoá Ấn Độ và Trung Quốc đã tạo thành những nền văn hoá quốc gia khác nhau Tất cả đã tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng của văn hoá khu vực Ngày nay, Đông Nam Á là một khu vực bao gồm 11 quốc gia độc lập, có thể chế chính trị xã hội khác nhau: Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar, Malaysia, Philippines, Indonesia, Brunei, Thái lan, Singapo, Đôngtimo Đương nhiên trong quá trình phát triển lịch sử,
Trang 32Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của các nền văn minh bên ngoài, song sự tác động ấy không vì thế mà biến khu vực này thành khu vực “Hán hoá” hay “Ấn
Độ hoá” mà nó đã lựa chọn những gì thích hợp, đồng thời phục tùng các đặc điểm của mình chứ không phải tiếp thu tất cả những gì xa lạ [13;152] Hay nói cách khác, văn hoá Đông Nam Á tiếp nhận bằng sự khúc xạ
Nếu như nền văn minh nông nghiệp lúa nước của cư dân Đông Nam Á thời tiền sử và sơ sử đã có những đóng góp vào cơ tầng của các nền văn minh
cổ Trung Hoa (vùng Hoa Nam), thì đến những thế kỷ trước và sau Công nguyên, nền văn minh này đã có những ảnh hưởng dù rất khác nhau, đến quá trình hình thành các nền văn hoá của các quốc gia cổ đại Đông Nam Á
Từ bao đời nay, dưới con mắt của người Đông Nam Á, Trung Quốc bao giờ cũng là một người láng giềng vĩ đại mà các quốc gia xung quanh đều phải đặc biệt quan tâm Điều này dễ hiểu vì Trung Quốc là một nước đông dân, là nhân tố quan trọng ở khu vực mà những thay đổi trong chính sách đối nội đối ngoại đều trực tiếp tác động đến Đông nam Á Từ tiền sử cho đến ngày nay, Đông Nam Á được xem là khu vực ảnh hưởng truyền thống của Trung Hoa vì
nó gắn liền lợi ích và xu hướng phát triển của nước này với nhiều nhân tố Bản thân nền văn hoá Trung Hoa đã hội nhập trong nó một phần máu thịt quan trọng của Đông Nam Á tiền sử Đó là những yếu tố văn minh nông nghiệp lúa nước phương Nam Ngày nay nhiều nhà khoa học thế giới đã thừa nhận từ Nam sông Trường Giang trở xuống thuộc vùng phân bố văn hoá lúa nước của cư dân Đông Nam Á, nơi mà Trung Quốc khu biệt phương Bắc với phương Nam với cái tên Bách Việt
Đông Nam Á là nơi hội tụ các nền văn minh lớn của Châu Á Do đó, các dân tộc Đông Nam Á dù lớn hay nhỏ đều tỏ ra có bản lĩnh và có kinh nghiệm trong tiếp xúc văn hoá dù dưới hình thức cưỡng bức hay tự nguyện Đông Nam Á vốn nằm ở ngã tư đường giao lưu quốc tế, cư dân ở đây có truyền
Trang 33thống khoan dung văn hoá Tôn trọng sự khác biệt của người khác để người khác tôn trọng sự khác biệt của mình
Hơn nữa, cộng sinh văn hoá vốn là truyền thống của một khu vực mà ở
đó tất cả các quốc gia đều là các quốc gia đa dân tộc không có ngoại lệ
“Thống nhất trong đa dạng” là nội lực của văn hoá Đông Nam Á và do vậy họ
có đủ bản lĩnh để sẵn sàng cộng sinh hoà bình với các văn hoá ngoại lai, tránh được những bi kịch của các cuộc đụng độ giữa các nền văn minh Văn hoá Đông Nam Á vốn là một chỉnh thể văn hoá từ thời cổ đại, những sợi dây bền chắc của bề dầy văn hoá hàng ngàn năm giữa các dân tộc ở Đông Nam Á là nền tảng sâu sắc và vữn chắc cho sự liên kết thành công của khu vực
Trên cơ tầng văn hoá Đông Nam Á thời tiền sử, các dân tộc ở đây đã tiếp nhận văn hoá Trung Hoa ở những mức độ đậm nhạt khác nhau, trong những điều kiện lịch sử cụ thể, với cách cư xử không giống nhau Trước tiên, thương nghiệp đóng vai trò chuyển tải văn hoá theo con đường mà ta thường gọi là con đường dân gian Tiếp theo là vai trò của các quan đô hộ mà ta gọi con đường này là con đường triều đình Thương nghiệp bao giờ cũng đi trước
Khi các quốc gia Đông Nam Á xuất hiện trên vũ đài lịch sử thì nó không những đủ khả năng chống lại sự xâm lược từ bên ngoài, đủ khả năng bảo vệ nền văn hoá truyền thống mà còn có đủ nội lực để tiếp thu những tinh hoa của một nền văn hoá lớn như Trung Hoa, với tất cả khả năng “bản địa hoá”, sức mạnh hội tụ và truyền thống không kì thị dân tộc vốn có của mình
Sự hiện hữu ảnh hưởng của Trung Hoa cũng tạo nên sự cân bằng, sự mềm mại trong quá trình phát triển và góp phần tạo nên sự ổn định của khu vực, dù
sự ổn định đó có làm cho xã hội nông nghiệp Đông Nam Á có phần bị ngưng trệ Các ảnh hưởng văn hoá đó đã trở thành một trong những sợi dây liên kết khu vực và được xem là mối quan hệ truyền thống Qua tiếp xúc với nền văn hoá lớn, tiên tiến của thời đại lúc bấy giờ mà người dân Đông Nam Á đã
Trang 34khẳng định được tính đồng nhất trong cơ tầng và bản sắc của mỗi dân tộc cũng như năng lực sáng tạo của mình
Dù sự tiếp xúc đã diễn ra gần hai thiên niên kỷ, các yếu tố văn hoá Trung Hoa vẫn không phá vỡ được cơ tầng văn hoá Đông Nam Á trong nền văn hoá của mỗi nước mà lại hình thành một nền văn hoá dân tộc được với hai dòng chính: văn hoá cung đình và văn hoá dân gian Giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại thúc đẩy sự phát triển văn hoá đất nước, trong đó ý thức dân tộc được hình thành sớm đã đóng vai trò điều chỉnh trong suốt quá trình tiếp xúc, quán triệt trong mọi tầng lớp xã hội
Sự phân bố theo địa hình tương ứng với các thành phần tộc người cùng với cơ cấu tổ chức xã hội – văn hoá của họ, cũng là một nét đồng nhất ở Đông Nam Á lục địa Các dân tộc đóng vai trò chủ thể trong quá trình tiếp xúc với văn hoá Trung Hoa, đã sao phỏng mô hình của nền văn hoá này với ý thức xây dựng quốc gia độc lập do họ đóng vai trò chủ đạo Vì vậy họ dựa vào cơ tầng văn hoá Đông Nam Á vốn là của chung của các dân tộc, là cái nền liên kết của các quốc gia đa dân tộc mà sao phỏng mô hình tổ chức nhà nước và kiến trúc thượng tầng của nền văn hoá Trung Hoa Do đó, trong thực tế, chỉ
có các dân tộc chủ thể mới chịu ảnh hưởng đậm của nền văn hoá này, còn các dân tộc ít người thì ít nhiều chịu ảnh hưởng qua các dân tộc chủ thể mà thôi
Có thể nói, trải qua những biến thiên của lịch sử, các nước Đông Nam
Á đã hình thành nên một cơ tầng văn hóa vững chắc Trên nền tảng ấy, văn hóa Đông Nam Á đã chống lại chính sách đồng hóa văn hóa của Trung Hoa, đồng thời tiếp biến những giá trị văn hóa đặc sắc của nó để hình thành nên nền văn hóa thống nhất trong đa dạng Đây là cơ sở để các nước này tiếp tục
có những biện pháp phù hợp trước chính sách ngoại giao văn hóa của Trung
Quốc
Trang 35Tiểu kết:
Mỗi một dân tộc đều có một nền văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc, nền văn hoá đó được hình thành qua quá trình dựng nước, giữ nước và luôn phát huy những giá trị to lớn trong từng thời điểm phát triển của đất nước Hầu hết các nước trên thế giới nhìn nhận vai trò hết sức quan trọng của ngoại giao văn hoá, vì nó vừa là nền tảng tinh thần, vừa là biện pháp và mục tiêu của chính sách đối ngoại, bộ trợ hữu hiệu cho các trụ cột ngoại giao Ngoại giao văn hóa góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao vị thế, hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế
Văn hoá Trung Quốc là một nền văn hoá có quá trình phát triển hơn
5000 lịch sử với những thành tựu hết sức rực rỡ Bước vào những năm đầu thế kỉ XXI cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, nền văn hoá Trung Hoa đã
và đang phát huy tối đa những giá trị to lớn của mình nhằm vươn ảnh hưởng
ra khu vực và thế giới
Có thể nói, trải qua những biến thiên của lịch sử, các nước Đông Nam
Á đã hình thành nên một cơ tầng văn hóa vững chắc Trên nền tảng ấy, văn hóa Đông Nam Á đã chống lại chính sách đồng hóa văn hóa của Trung Hoa, đồng thời tiếp biến những giá trị văn hóa đặc sắc của nó để hình thành nên nền văn hóa thống nhất trong đa dạng Đây là cơ sở để các nước này tiếp tục
có những biện pháp phù hợp trước chính sách ngoại giao văn hóa của Trung Quốc
Trang 36Chương 2
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG
QUỐC ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
Theo thống kê có khoảng 60 triệu Hoa kiều sinh sống ở khắp nơi trên thế giới trong đó chủ yếu là ở khu vực Đông Nam Á [30] Nhiều thế kỷ nay, cộng đồng người Hoa nhập cư sinh sống tại các quốc gia ở Đông Nam Á là rất đông đảo Họ là tầng lớp người lao động, các doanh nhân, những người nhập
cư vì lý do kinh tế, ở các trình độ khác nhau Trong lịch sử, đa số người Hoa mới bắt đầu nhập cư đến khu vực này là con cháu của dân tộc Hán, thành phần chủ thể của đất nước Trung Hoa Bởi vậy, họ mang trong lòng cộng đồng bản sắc văn hóa Trung Hoa Ở một số đất nước người Hoa thậm chí còn
là một trong những dân tộc chủ thể như Malaysia hay Indonesia Tuy nhiên trong một số nước khác lượng người Hoa chỉ chiếm thiểu số Trong quá trình sinh sống cùng dân cư của nước sở tại, dù ở bất kì quốc gia nào, bên cạnh việc gìn giữ bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình, cộng đồng người Hoa cũng không ngừng lan tỏa ảnh hưởng văn hóa ấy
Với một cộng đồng người Hoa đông đảo tương đương với dân số của một quốc gia, sinh sống tại các nước Đông Nam Á, rõ ràng Trung Quốc đang
có một lợi thế rất lớn để thổi luồng văn hóa Trung Hoa vào khu vực Những
Trang 37phố người Hoa có ở khắp các thành phố lớn, với bản sắc và truyền thống văn hóa được giữ gìn và phát huy rất tốt ở đó Người Hoa đã “âm thầm” gieo mầm văn hóa của mình Hệ quả là văn hóa Trung Quốc được phổ biến nhanh và hiệu quả hơn bao giờ hết, thông qua Hoa kiều sinh sống ở các nước
Người ta biết đến phố người Hoa như một xã hội Trung Quốc thu nhỏ, nơi mà đời sống, phong tục các lễ hội truyền thống của người dân Trung Quốc vẫn được lưu truyền và luôn là niềm tự hào của quốc gia này Tính cố kết cộng đồng và chủ nghĩa dân tộc trong trường hợp này lại là nền tảng và động lực để văn hóa Trung Hoa tại các phố người Hoa không những không bị hòa tan vào nền văn hóa các nước sở tại mà ngược lại càng nổi trội và tỏa sáng với những giá trị của mình
Một số phố người Hoa có lịch sử lâu đời, như đường Yaowarat (Bangkok, Thái Lan) đã được thành lập cách nay hơn 200 năm Ở Việt Nam
ta biết đến phố thuộc Quận 5 thành phố Hồ Chí Minh (Mặc dù dân số người Hoa chỉ chiếm khoảng 38% dân số quận nhưng từ lâu, quận 5 đã được xem là
“thủ phủ” của người Hoa ở đất Sài Thành, bởi đây là trung tâm thương mại lớn nhất của người Hoa tại Việt Nam) Với cộng đồng người Hoa, hầu hết các hội quán, chùa, miếu quan trọng và các hoạt động văn hóa lớn đều tập trung ở quận 5 Tính đến nay, tuy dân số chưa đến 5% dân số toàn thành phố nhưng cộng đồng người Việt gốc Hoa đã chiếm gần 30% số doanh nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh Họ thường tập trung buôn bán vừa và nhỏ, chủ yếu kinh doanh các lĩnh vực về hàng tiêu dùng, kim khí điện máy, vàng, vải và đặc biệt là lĩnh vực ăn uống Ngoài ra, đây cũng là đầu mối quan trọng trong việc hợp tác, đầu tư và phát triển kinh tế giữa thành phố Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Đài Loan và các quốc gia, lãnh thổ có nhiều người Hoa sinh sống khác còn có như Singapore (hơn 80%); Malaysia (34%), Thái Lan (14%)[31]
Do quá trình cộng cư lâu dài của cộng đồng người Hoa với cư dân bản địa Đông Nam Á mà sự tiếp xúc để lại những dấu ấn trong văn hóa các quốc
Trang 38gia nơi đây Tất nhiên, ở Đông Nam Á, văn hóa Trung Quốc không ảnh hưởng đậm nét như văn hóa Ấn Độ (ngoại trừ ở Việt Nam, nước nằm trong vành đai triều cống truyền thống của Trung Quốc) nhưng những gì cộng đồng người Hoa hoạt động đã góp phần tạo nên bản sắc đa sắc tộc đa văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á Dẫu rằng trước tiên, đây chỉ là những sinh hoạt mang tính cộng đồng bó hẹp, nhỏ bé nhưng trong mối quan hệ giao lưu, tiếp xúc và hỗn dung văn hóa, chúng dần trở thành một phần không thể thiếu của văn hóa các quốc gia Đông Nam Á
Về văn hóa vật chất với ba bình diện cơ bản ăn - mặc - ở, cộng đồng người Hoa đã để lại ảnh hưởng không nhỏ tới văn hóa ẩm thực của các quốc gia Đông Nam Á Lấy đơn cử ở Philippin, ảnh hưởng từ Trung Quốc đối với văn hoá Philippin có thể thấy rõ nhất trong ẩm thực tại nước này, ảnh hưởng này rất toàn diện Sự phổ biến của các loại mì, được gọi theo tiếng địa phương
là mami, cũng như các loại thực phẩm khác như các món ăn từ thịt là một bằng chứng rõ ràng về nguồn gốc Trung Quốc
Về văn hóa tinh thần, những ảnh hưởng từ cộng đồng người Hoa cũng thể hiện ở nhiều mặt đặc biệt ở tôn giáo tín ngưỡng và các lễ hội Người Hoa
ở các nước Đông Nam Á chủ yếu theo đạo Phật Đại thừa, một sự khác biệt hoàn toàn với đạo Phật Tiểu thừa của cư dân bản địa Đông Nam Á ảnh hưởng
từ Phật giáo Ấn Độ Nhưng nổi bật hơn cả là những đạo quán của Đạo giáo Đạo giáo là một tôn giáo có nguồn gốc từ Trung Quốc và gắn chặt với tín ngưỡng dân gian Có thể kể tới một vị thánh mà số đền quán ở Đông Nam Á phụng thờ không ngừng nghi ngút khói hương: Quan thánh đế quân – Quan
Vũ Khởi thủy, việc thờ phụng Quan đế như một vị thánh của đạo lão chỉ là của cộng đồng người Hoa bảo lưu những tín ngưỡng từ cố quốc, song ngày nay, chính cư dân bản địa Đông Nam Á cũng rất thành kính và ngưỡng vọng
vị thánh này cũng như Đạo giáo Trung Hoa
Trang 39Thêm vào đó, các lễ hội của cộng đồng người Hoa cũng được tổ chức rất quy mô với sự hưởng ứng của cộng đồng bản địa Người Trung Quốc tại Đông Nam Á cũng tổ chức những ngày lễ hội theo như tất cả những người Trung Hoa khác trên thế giới Năm mới Âm lịch là ngày lễ quan trọng nhất, ngoài ra còn có các lễ như Thanh Minh hay Trung Thu Bên cạnh đó những sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Hoa như múa lân – sư – rồng, thư pháp, ca kịch truyền thống… cũng dần trở thành những sinh hoạt chung cho toàn thể dân cư không chỉ là người Hoa
Ngoài ra, chúng ta cũng cần chú ý tới một bình diện tương đối quan trọng thể hiện sự ảnh hưởng và lan tỏa của cộng đồng người Hoa tới Đông Nam Á Đó là ngôn ngữ Người Hoa ở nước ngoài không chỉ gắn kết với nhau bằng kinh doanh, bằng huyết thống dòng tộc mà còn bằng cả ngôn ngữ Ngôn ngữ không những là tiêu chí chủ yếu định hình bản sắc văn hoá dân tộc mà còn là một trong những phương tiện cơ bản để truyền tải và tiếp nhận văn hoá giữa các dân tộc khác nhau Đối với bất cứ một dân tộc nào nếu đánh mất ngôn ngữ thì không những đánh mất bản sắc văn hoá mà còn đánh mất luôn bản thể của dân tộc mình Trong ý thức giữ gìn các giá trị văn hoá Trung Hoa truyền thống thì việc giữ gìn ngôn ngữ và văn tự đối với người Trung Hoa có
ý nghĩa sống còn Tiếng Trung và chữ Hán được truyền bá đến các quốc gia
có người Hoa sinh sống thông qua cộng đồng người Hoa Ví dụ ở Malaysia có 30% dân số là người Hoa vì vậy tiếng Trung trở thành một ngôn ngữ phổ biến tuy rằng không chính thức Chữ Hán cũng là một yếu tố ngôn ngữ được người Hoa chú ý lưu giữ và phát huy ảnh hưởng Cùng với các đền chùa đình quán
là những hoành phi, câu đối bằng chữ Hán Tuyệt nhiên không thể thay chữ Hán bằng chữ Mã Lai hay chữ Thái bởi như vậy sẽ không còn là một ngôi chùa của Phật giáo Đại thừa hay một ngôi quán của Đạo giáo nữa Song hành tồn tại cùng với những công trình văn hóa vật thể ấy, chữ Hán trở thành quen thuộc với cộng đồng cư dân Đông Nam Á như một sự tất yếu
Trang 40Trung Quốc đã nhận thức đầy đủ vai trò của truyền bá văn hóa Trung Hoa đối với việc mở rộng ảnh hưởng và nâng cao sức mạnh của mình Do vậy Trung Quốc không chỉ nhiều lần nhấn mạnh phải thúc đẩy tăng cường văn hóa, mà trên thực tế họ đã triển khai rất thành công các hoạt động văn hóa với các nước Đông Nam Á Trung Hoa không ngừng mở các hoạt động hỗ trợ nhằm quảng bá văn hóa như tổ chức “năm văn hóa Trung Quốc” tại các nước,
tổ chức các buổi giao lưu qui mô cấp tỉnh, thành phố để các địa phương ở Trung Quốc có điều kiện giới thiệu sâu hơn về đặc trưng văn hóa của họ Một minh chứng ở Việt Nam là Trung Quốc đã tổ chức triển lãm sách, tranh ảnh, thư pháp triển lãm tác phẩm Nhật ký trong tù của chủ tịch Hồ Chí Minh bằng thư pháp, tặng 150 triệu NDT để xây dựng cung văn hóa Việt – Trung tại thủ
2.2 Sức mạnh kinh tế - cầu nối cho làn sóng văn hóa Trung Quốc tràn vào Đông Nam Á
Trung Quốc nhận thấy rằng, không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu thoát ly khỏi thế giới và tất nhiên là trong một thế giới hoà bình Trung Quốc lại càng không muốn trở thành thảm hoạ của các quốc gia khác Trong quan hệ với các nước, Trung Quốc cũng gặp phải một số trở ngại Kinh
tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây đã từng bị các quốc gia gọi đó là thảm hoạ Hay trong vấn đề biển Đông, Phillipin đã từng gọi quốc gia này là mối đe doạ trên biển Đông Để không trở thành thảm hoạ hay mối đe doạ của các quốc gia khác nhất là các nước trong khu vực