Sự hoàn chỉnh đó thể hiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa hai dấu chấmxuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép liên kết;mỗ
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO QUẢNG NGÃI
- Với những yêu cầu cụ thể của một đoạn văn về nội dung và hình thức: Sử
dụng một đoạn văn mẫu cho học sinh nhận diện, phân tích mô hình cấu trúc nhữngdạng cơ bản của đoạn văn
- Nắm được các bước tạo lập đoạn văn, những yêu cầu về nội dung, hình thức một đoạn văn
2 Kỹ năng
- Học sinh nắm được các kĩ năng xây dựng tạo lập đoạn văn theo yêu cầu tối thiểu, nâng cao
Tiết 1 HƯỚNG DẪN CHUNG
I Thế nào là đoạn văn?
Về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định nào đó
về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng Mỗi đoạn văntrong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sởchung là chủ đề của văn bản Mỗi đoạn trong văn bản có một vai trò chức năngriêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn mở đầu văn bản, các đoạnthân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủ đề của văn bản thành các khíacạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản Mỗi đoạn văn bản khi tách ra vẫn có tínhđộc lập tương đối của nó: nội dung của đoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức củađoạn có một kết cấu nhất định
Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh Sự hoàn chỉnh đó thể hiện
ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa hai dấu chấmxuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép liên kết;mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũng được viết hoa và viết lùivào so với các dòng chữ khác trong đoạn
Ví dụ về đoạn văn:
Đoạn văn 1
“ Vì ông lão yêu làng tha thiết nên vô cùng căm uất khi nghe tin dân làng theo giặc(1) Hai tình cảm tưởng chừng mâu thuẫn ấy đã dẫn đến một sự xung đột nội tâm dữ dội( 2) Ông Hai dứt khoát lựa chọn theo cách của ông: Làng thì yêu
Trang 2thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù( 3) Đây là một nét mới trong tình cảm của người nông dân thời kì đánh Pháp(4) Tình cảm yêu nước rộng lớn hơn đã bao trùm lên tình cảm đối với làng quê(5) Dù đã xác định như thế, nhưng ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình yêu đối với quê hương; vì thế mà ông xót xa cay đắng”(6).
Về nội dung:
- Chủ đề của đoạn văn trên là: tâm trạng mâu thuẫn của ông Hai khi nghe tin làngmình theo giặc Chủ đề này tập trung khái quát ở câu 1,2
- Đoạn văn trên có ba phần:
+ Câu 1,2 là phần mở đoạn Phần này chứa đựng ý khái quát của cả đoạnvăn, gọi là câu chủ đề Câu chủ đề có thể là một hoặc hai câu văn
+ Câu 3,4,5 là phần thân đoạn Phần này triển khai đoạn văn, mỗi câu văn đềcập tới một biểu hiện cụ thể của chủ đề, liên quan tới chủ đề của đoạn văn
+ Câu 6 là phần kết đoạn Phần này khắc sâu chủ đề của đoạn văn
- Đây là đoạn văn có kết cấu đầy đủ cả ba phần: mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn.Khi viết đoạn văn, không phải bao giờ cũng nhất thiết có đủ ba phần như vậy Vídụ: Đoạn quy nạp, câu mở đầu đoạn không chứa đựng ý khái quát mà là câu cuốicùng; đoạn diễn dịch, câu cuối cùng kết thúc đoạn không chưa đựng ý khái quát,chủ đề đã được nêu rõ ở câu mở đoạn
( “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”-Trần Văn Giàu)
Về nội dung:
- Chủ đề của đoạn văn trên là: Tình cảm và tư tưởng yêu nước Việt Nam Chủ đềnày tập trung khái quát ở câu 1
- Đoạn văn trên có ba phần:
+ Câu 1 là phần mở đoạn Phần này chứa đựng ý khái quát của cả đoạn văn,gọi là câu chủ đề Câu chủ đề có thể là một hoặc hai câu văn
Trang 3+ Câu 2,3,4,5,6 là phần thân đoạn Phần này triển khai đoạn văn, mỗi câu văn
đề cập tới một biểu hiện cụ thể của chủ đề, liên quan tới chủ đề của đoạn văn
+ Câu 7 là phần kết đoạn Phần này khắc sâu chủ đề của đoạn văn
- Đây là đoạn văn có kết cấu đầy đủ cả ba phần: mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn
II Kết cấu đoạn văn.
Trong văn bản, nhất là văn nghị luận, ta thường gặp những đoạn văn có kếtcấu phổ biến: quy nạp, diễn dịch, tổng phân hợp; bên cạnh đó là đoạn văn có kếtcấu so sánh, nhân quả, vấn đáp, đòn bẩy, nêu giả thiết, hỗn hợp,…
Ví dụ: Đoạn văn diễn dịch, nội dung nói về cá tính sáng tạo trong sáng tác
thơ:
“ Sáng tác thơ là một công việc rất đặc biệt, rất khó khăn, đòi hỏi người nghệ sĩ phải hình thành một cá tính sáng tạo(1).Tuy vậy, theo Xuân Diệu - tuyệt nhiên không nên thổi phồng cái cá biệt, cái độc đáo ấy lên một cách quá đáng(2) Điêù ấy không hợp với thơ và không phải phẩm chất của người làm thơ chân chính(3) Hãy sáng tác thơ một cách tự nhiên, bình dị, phải đấu tranh để cải thiện cái việc tự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa(4) Trong khi sáng tác nhà thơ không thể cứ chăm chăm: mình phải ghi dấu ấn của mình vào trong bài thơ này, tập thơ nọ(5) Chính trong quá trình lao động dồn toàn tâm toàn ý bằng sự xúc cảm tràn đầy, có thể nhà thơ sẽ tạo ra được bản sắc riêng biệt một cách tự nhiên, nhà thơ sẽ biểu hiện được cái cá biệt của mình trong những giây phút cầm bút”(6)
Mô hình đoạn văn: Câu 1 là câu mở đoạn, mang ý chính của đoạn gọi là câu chủ
đề Bốn câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề Đây là đoạnvăn giải thích có kết cấu diễn dịch
2 Đoạn quy nạp.
Đoạn văn quy nạp là đoạn văn được trình bày đi từ các ý chi tiết, cụ thểnhằm hướng tới ý khái quát nằm ở cuối đoạn Các câu trên được trình bày bằngthao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung
Ví dụ1:
Nếu con người không ngăn chặn những hành động phá hoại thiên nhiên và môi trường thì rất nguy hại(1) Đến một lúc nào đó con người không còn có thể
Trang 4khai thác từ thiên nhiên để lấy của cải vật chất nuôi sống chính bản thân mình(2) Môi trường sống của con người đang bị đe doạ: chất thải công nghiệp làm vẩn đục các dòng sông, tai nạn của các con tàu chở dầu làm ô nhiễm hàng vạn cây số
bờ biển các nước(3) Bầu khí quyển ngày càng bị các hợp chất các-bon làm ô nhiễm, tầng ô-dôn bao bọc trái đất bị chọc thủng, các tia tử ngoại xâm nhập vào các dòng khí quyển xuống mặt đất(4) Nhiệt độ khí quyển ngày càng tăng, lượng nước biển sẽ dâng do sự tan băng ở Bắc và Nam cực của trái đất Tất cả những điều đó là nguyên nhân phá hoại cân bằng sinh thái và đang là sự đe doạ khủng khiếp cho sự sống trên hành tinh của chúng ta(5).
( Theo giáo trình Việt- Anh, đại học Mở Hà Nội)
Mô hình đoạn văn: Bốn câu đầu triển khai phân tích nguyên nhân làm hủy hoại
môi trường, từ đó khái quát vấn đề trong câu cuối – câu chủ đề, thể hiện ý chínhcủa đoạn: nguy cơ đe dọa hành tinh của chúng ta Đây là đoạn văn phân tích có kếtcấu quy nạp
Ví dụ2: Đoạn văn quy nạp, nội dung nói về nhân vật tôi trong tác phẩm “Lão Hạc”
của Nam Cao
Con người tự trọng ấy, cho cả đến lúc cùng cực nhất cũng chưa một lần than vãn về số phận của mình(1) Lão tự dành tiền cho đám ma của chính mình để không làm phiền đến hàng xóm láng giềng(2) Lão không nhận bất kỳ sự giúp đỡ của bất kỳ ai Lão sống qua bằng củ sắn, củ đậu để rồi cuối cùng khi mà người đọc tưởng như lão sẽ "tiếp bước" như những con người khác do quá cùng cực mà đánh mất chính bản thân mình, làm những chuyện xấu xa(3) Nhưng lão không phải và cũng không thể là một người như vậỵ(4) Lão đã chọn một cái chết bằng bả chó, một cái chết dữ dội và đau đớn, hiu quạnh và cô đơn(6) Lão làm thế là để trừng phạt bản thân mình đã làm cái việc dằn vặt, tội lỗi ấy và có thể lão đã được giải thoát sau bao tháng ngày cùng cực, đau khổ, một cái chết thanh thản về tâm hồn(7) Đó cũng là tình tiết đỉnh điểm bộc lộ những phẩm chất của Lão Hạc một cách sâu sắc nhất(8) Truyện được thể hiện qua lời kể của nhân vật tôi - một ông giáo và dường như đâu đó trong nhân vật này ta thấy hiện lời giọng kể của tác giả(9) .
quát vấn đề trong câu cuối – câu chủ đề, thể hiện ý chính của đoạn: đánh giá vềngười kể câu chuyện Đây là đoạn văn phân tích có kết cấu quy nạp
3 Đoạn tổng phân hợp.
Đoạn văn tổng phân hợp là đoạn văn phối hợp diễn dịch với quy nạp Câu
mở đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kếtđoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng Những câu khai triểnđược thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xéthoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp lại, khẳngđịnh thêm giá trị của vấn đề
Ví dụ 1: Đoạn văn tổng phân hợp, nội dung nói về đạo lí uống nước nhớ nguồn:
“ Lòng biết ơn là cơ sở của đạo làm người(1) Hiện nay trên khắp đất nước
ta đang dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ, những bà
Trang 5mẹ anh hùng, những gia đình có công với cách mạng(2) Đảng và Nhà nước cùng toàn dân thực sự quan tâm, chăm sóc các đối tượng chính sách(3) Thương binh được học nghề, được trợ vốn làm ăn; các gia đình liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng được tặng nhà tình nghĩa, được các cơ quan đoàn thể phụng dưỡng, săn sóc tận tình(4) Rồi những cuộc hành quân về chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội, những nghĩa trang liệt sĩ đẹp đẽ với đài Tổ quốc ghi công sừng sững, uy nghiêm, luôn nhắc nhở mọi người, mọi thế hệ hãy nhớ ơn các liệt sĩ đã hi sinh anh dũng vì độc lập, tự do…(5)Không thể nào kể hết những biểu hiện sinh động, phong phú của
đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta(6) Đạo lí này là nền tảng vững vàng
để xây dựng một xã hội thực sự tốt đẹp(7)
Mô hình đoạn văn: Đoạn văn gốm bảy câu:
-Câu đầu (tổng): Nêu lên nhận định khái quát về đạo làm người, đó là lòngbiết ơn
- Năm câu tiếp ( phân): Phân tích để chứng minh biểu hiện của đạo lí uốngnước nhớ nguồn
- Câu cuối (hợp): Khẳng định vai trò của đạo lí uống nước nhớ nguồn đối vớiviệc xây dựng xã hội
Đây là đoạn văn chứng minh có kết cấu tổng – phân - hợp
Ví dụ 2:
Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu béHồng khi sợ mình nhận nhầm mẹ Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã khôngđánh lừa cậu, để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ - cảm giácđược chở che, bảo bọc, được thương yêu, an ủi Hình ảnh mẹ qua những trang viếtcủa nhà văn thật tươi tắn sinh động, là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cayđắng của những ngày xa mẹ Mỗi khi đứng trước mẹ, có lẽ mỗi một người trongchúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéotay tôi, xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở” Không khóc saođược, khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát, khi cậu bé có được cảm giác antoàn và được chở che trong vòng tay mẹ Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn,tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vàobầu sữa nóng của người mẹ, để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ởsống lưng cho, mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng” Mẹ đã trở về cùng đứa conthân yêu, để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình Có lẽkhông cần phải bình luận thêm nhiều, khi tất cả tình yêu với mẹ đã được nhà văngiãi bày trên trang giấy
Trang 6Ví dụ 1: Đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về câu thơ kết trong bài
“ Nghe tiếng giã gạo” của Hồ Chí Minh:
Ngày trước tổ tiên ta có câu: “ Có công mài sắt có ngày nên kim”(1) Cụ Nguyễn
Bá Học, một nho sĩ đầu thế kỉ XX cũng viết: “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”(2) Sau này, vào đầu những năm
40, giữa bóng tối ngục tù của Tưởng Giới Thạch, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng đã đề cập tới tính kiên nhẫn, chấp nhận gian lao qua bài thơ “ Nghe tiếng giã gạo”, trong đó có câu: “ Gian nan rèn luyện mới thành công”(3) Câu thơ thể hiện phẩm chất tốt đẹp, ý chí của Hồ Chí Minh đồng thời còn là châm ngôn rèn luyện cho mỗi chúng ta(4).
Mô hình đoạn văn: Câu nói của tổ tiên, câu nói của Nguyễn Bá Học (câu
1,2) có nội dung tương đương với nội dung câu thơ của Hồ Chí Minh (4) Đây là
đoạn văn mở bài của đề bài giải thích câu thơ trích trong bài “ Nghe tiếng giã gạo”
của Hồ Chí Minh có kết cấu so sánh tương đồng
Ví dụ 2: Đoạn văn nói về các biểu hiện của bệnh nói dối:
“Cha ông ta đã cảnh tỉnh rằng: trong xã hội không thiếu những kẻ : “Bề ngoài thơn thớt nói cười - Bề trong nham hiểm giết người không dao”; rồi những hạng người “ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa” cũng không phải ít trong cuộc đời này…Có người chủ động nói dối (Tô vẽ bịa đặt theo tính toán có lợi cho bản thân mình, chọn lựa sắp đặt rất kĩ lời nói) để mang
lại lộc cho mình nhiều nhất Thụ động nói dối khi mà cấp trên hoặc người đốithoại không muốn nghe những điều nghịch lí, ví dụ trong bụng thì ghét nhưngngoài mặt thì vẫn nói rằng yêu…Bực thật! sợ rằng lâu dần thành thói quen, nóinăng không cảm thấy ngượng mồm và xấu hổ Nói dối mãi trở thành căn bệnh lừabịp cấp trên, lừa bịp người khác Báo cáo, bệnh thành tích lan tràn và đã trở thànhcăn bệnh trầm kha và trở thành căn bệnh khó sửa chữa trong đời sống của chúng
ta hiện nay.”
4.2 So sánh tương phản.
Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau về nộidung ý tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộc sống,…tương phản nhau
Ví dụ 1: Đoạn văn so sánh tương phản, nội dung nói về việc học hành :
“Trong cuộc sống, không thiếu những người cho rằng cần học tập để trở thành kẻ có tài, có tri thức giỏi hơn người trước mà không hề nghĩ tới việc rèn luyện đạo đức, lễ nghĩa vốn là giá trị cao quý nhất trong các giá trị của con người(
Trang 71) Những người ý luôn hợm mình, không chút khiêm tốn, đôi khi trở thành người
vô lễ, có hại cho xã hội(2) Đối với những người ấy, chúng ta cần giúp họ hiểu rõ lời dạy của cổ nhân: “ Tiên học lễ, hậu học văn”( 3).
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là nói về quan niệm của việc học: học để
làm người Câu 1,2 nêu nội dung trái ngược với ý tưởng; câu 3 nêu ý tưởng Nộidung tương phản với ý tưởng bao giờ cũng được đề cập trước, sau đó dẫn đến nộidung chính của ý tưởng Đây là đoạn văn mở bài, giải thích câu nói của Khổng Tử “Tiên học lễ, hậu học văn”
Ví dụ 2: Đoạn văn so sánh tương phản, nội dung kể về một câu chuyện “giữa việc làm và suy nghĩ”.
“Có một câu chuyện đàm tiếu rằng: Một ông cấp phó vào thăm ông cấp
trưởng trong bệnh viện, miệng nói dối rít “ Anh cố gắng khỏi bệnh để về với chúng em Anh mà nằm bẹp lâu quá thì lấy ai chèo chống con thuyền sự nghiệp của cơ quan đây? anh em trong cơ quan mong anh từng giờ…” Chao ôi! toàn những lời có cánh được đưa ra đúng lúc, đúng “cơ hội”…thế nhưng vừa
ra khỏi cổng bệnh viện, chính trị cấp phó kia lại đã thốt lên “những lời gan ruột
của mình: “Trời! ông ấy còn tỉnh táo lắm! còn lâu mới chết! Mình còn lẽo đẽo “ phó” đến bao giờ đây???.”
5 Đoạn nhân quả.
a.Trình bày nguyên nhân trước, chỉ ra kết quả sau.
Đoạn văn có kết cấu hai phần, phần trước trình bày nguyên nhân, phần sautrình bày kết quả của sự việc, hiện tượng, vấn đề,…
Ví dụ 1: Đoạn văn nhân quả, nội dung nói về tác hại của nịnh hót.
Xung quanh chúng ta có rất nhiều người thích được nịnh, thích đợc ve vuốt,
được ru ngủ, đợc tung hô thì ắt có kẻ “lợi khẩu” uốn éo và khi ấy nói dối sẽ trở thành một “nghệ thuật” luồn lách của những kẻ vụ lợi, háo danh Khi đã quen
nói dối và quen nghe nói dối rồi thì ngời ta sẽ dửng dưng với tất cả, coi thờng tất
cả Cái đáng no là âm hưởng ngọt ngào của nói dối đã trở thành “lá bùa hộ
mạng” có hiệu quả cho những kẻ bất tài luôn hành sử theo phương châm “Công thì của tôi”, còn “tội thì của chúng ta”! Do vậy họ cố tình khai khống, kê khống
thành tích, bàng cấp để tô son, trát phấn cho mình, để ra oai với người khác Báo cáo không trung thực- căn bệnh này cũng chính là nói dối vậy Quả là một đại hoạ đối với xã hội
Ví dụ 2: Đoạn văn nhân quả, nội dung nói tới lời khuyên về lòng biết ơn của
con cái với cha mẹ trong một bài ca dao:
Núi Thái Sơn là núi cao nhất, đồ sộ nhất, vững chãi nhất ở Trung Quốc, cũng như tình cha mạnh mẽ, vững chắc(1) Chính người đã dạy dỗ hướng cho ta về
lẽ phải và truyền thêm cho ta sức mạnh để bay vào cuộc sống(2) Và thông qua hình tượng nước trong nguồn, dòng nước tinh khiết nhất, mát lành nhất, dạt dào mãi chẳng bao giờ cạn, ta cảm nhận ró được tình yêu của mẹ mới thật ngọt ngào,
vô tận và trong lành biết bao nhiêu(3) Từ những hình ảnh cụ thể ấy mà ta có thể thấy được ý nghĩa trừu tượng về công cha nghĩa mẹ(4) Công ơn đó, ân nghĩa đó to lớn sâu nặng xiết bao; chính vì vậy mà chỉ có những hình tượng to lớn bất diệt của
Trang 8thiên nhiên kì vĩ mới sánh bằng(5).Vì thế mà người xưa mới khuyên nhủ chúng ta phải làm tròn chữ hiếu, để bù đắp phần nào nỗi cực nhọc, cay đắng của cha mẹ đã phải trải qua vì ta”(6).
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là giải thích ý nghĩa câu ca dao.
Sáu câu trên giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng của hình ảnh trong câu ca dao, nêunguyên nhân Câu 6 là kết luận về lời khuyên, nêu kết quả
b Chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên nhân sau.
Đoạn văn có kết cấu hai phần Phần đầu nêu kết quả, phần sau nêu nguyênnhân
Ví dụ: Đoạn văn nhân quả, nội dung nói về đoạn trích trong lòng mẹ của bé
Hồng:
“Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn Cậu bé Hồng sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn, chết rục bên bàn đèn thuốc phiện, người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực, cậu bé đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng; phải đối mặt với bà cô cay nghiệt, luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao” Đáng sợ hơn, sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ Kỳ diệu thay, những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời, tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được.”
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào
của chính nhà văn Câu 1 nêu kết quả, các câu còn lại nêu nguyên nhân
6 Đoạn vấn đáp.
Đoạn văn vấn đáp là đoạn văn có kết cấu hai phần, phần đầu nêu câu hỏi,phần sau trả lời câu hỏi Nội dung hỏi đáp chính là chủ đề của đoạn văn Trong kiểukết cấu này, phần sau có thể để người đọc tự trả lời
Ví dụ: Đoạn văn vấn đáp, nội dung nói về cái hồn dân tộc trong bài “Ông
đồ” của Vũ Đình Liên:
Cứ đọc kĩ mà xem, sẽ thấy cái xót xa thấm đậm quay cuồng trong câu hỏi cuối: “ Những người muôn năm cũ”, những người ấy là những tâm hồn đẹp thanh cao bên câu đối đỏ của ông đồ, hay những ông đồ trên phố phường Hà Nội xưa(1)? Tôi nghĩ là cả hai(2) Thắc mắc của tác giả rất có lí, và chính vì có lí nên
nó thật tàn nhẫn và đau lòng(3) Những cái đẹp cao quý sâu kín, cái đẹp của hồn người Hà Nội, cái đẹp của hồn Việt Nam cứ ngày càng mai một, càng bị cuộc sống với những quy tắc rất thực tế lấn át, chà đạp và xô đẩy sang lề đường để rồi biến mất như ông đồ già kia, và có lẽ sẽ mãi mãi không còn nếu như không có những Vũ Đình Liên đáng khâm phục(4) “Hồn ở đâu bây giờ”(5)? Câu hỏi ấy là tiếng chuông cảnh tỉnh người đọc ở mọi thế hệ mọi thời đại, thức dậy những gì sâu xa đã
bị lãng quên, chon vùi dưới cuộc sống ồn ào náo nhiệt(6) Làm sao để tìm lại cái
Trang 9hồn thanh cao cho mỗi con người Việt Nam, để khôi phục lại cái hồn cho cả dân tộc, đó là điều nhà thơ Vũ Đình Liên muốn nhắn gửi chúng ta(7).
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là giải thích và bình về hai câu thơ Phần
nêu câu hỏi là câu 1, phần trả lời là câu 2,3,4
7 Đoạn đòn bẩy.
Đoạn văn có kết cấu đòn bẩy là đoạn văn mở đầu nêu một nhận định, dẫnmột câu chuyện hoặc những đoạn thơ văn có nội dung gần giống hoặc trái với ýtưởng ( chủ đề của đoạn) tạo thành điểm tựa, làm cơ sở để phân tích sâu sắc ýtưởng đề ra
Ví dụ: Đoạn văn đòn bẩy, nội dung nói về dụng ý của tác giả Xét-van-tét khi
tạo ra tình huống truyện
Đôn Ki-hô-tê khẳng định: Khổng lồ ở kia kìa, song vấn đề là Xan-chô có nhìn thấy hay không? Dụng ý của Đôn Ki-hô-tê là Xan-chô chưa nhìn thấy nên chưa chịu thừa nhận bởi theo chàng sự thực đã quá hiển nhiên, “cánh tay chúng dài ngoẵng, có đứa, cánh tay dài tới hai dặm” Mục đích của việc đưa thêm bằng chứng (cánh tay) và khẳng định tính chất khổng lồ (dài tới hai dặm) của Đôn Ki- hô-tê cốt chỉ để nhấn mạnh thêm rằng đấy chính là bọn khổng lồ Đến đây tiếng cười từ phía người đọc được đẩy cao thêm bước nữa Người đọc đồng ý với Xan-chô, cùng cười sự điên rồ thái quá của Đôn Ki-hô-tê Tiếng cười được xây dựng theo lối tương phản giữa thực tế và tưởng tượng, giữa tỉnh và điên Người đọc bị lôi cuốn vào cuộc đối thoại nghịch lí của hai thầy trò khi mỗi bên đều
cố giữ cho mình một lô-gích nội tại riêng
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là nêu ra tình huống đặc sắc đặc sắc để
làm điểm tựa làm rõ được chủ đề đoạn ở câu cuối
8 Nêu giả thiết.
Đoạn văn nêu giả thiết là đoạn văn có kết cấu: mở đoạn nêu giả thiết, để từ
đó đề cập tới chủ đề đoạn
Ví dụ 1: Đoạn văn nêu giả thiết, nội dung nói về khổ thơ sau, trong bài thơ
“Quê hương” của Tế Hanh
“ Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớMàu nước xanh, các bạc, chiếc buồm vôi,Thoáng con thuyền rẽ song chạy ra khơi,Tôi thấy nhớ cai mùi nồng mặm quá”
Nếu không có mấy câu thơ này khó có thể biết bài thơ được viết trong xa cách, trong niềm tưởng nhớ khôn nguôi – bởi những cảnh tượng bên trên được miêu tả quá sống động, hệt như chúng đang diễn ra trước mắt nhà thơ Nỗi nhớ thiết tha trong xa cách bật thành lời nói giản dị, tự nhiên như một lời tự nói từ đáy lòng: “ Tôi thấy cái mùi nồng mặn quá” Cậu học trò xa quê Tế Hanh nhớ về làng quê mình với tất cả những thứ thật bình dị gần gũi: là màu nước xanh, cá bạc, cánh buồm trắng, với những con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, nhưng nhớ nhất là cái mùi nồng mặn quá dặc trưng của quê hương Với Tế Hanh cái hương vị đó là hương vị riêng đầy khuyến rũ của quê hương, là chất thơ bình dị mà khỏe khoắn
Trang 10toát lên từ bức tranh thiên nhiên tươi sang, thơ mộng và hùng tráng từ đời sống lao động thường ngáy của người dân.
Mô hình đoạn văn: Đoạn văn có câu thứ nhất nêu giả thiết về chi tiết “nếu không
có những câu thơ này” Các câu tiếp theo khẳnh định giá trị của các câu thowdieenxtả
Ví dụ 2: Đoạn văn nêu giả thiết, nội dung nói về chi tiết “ cái bóng” trong “
Chuyện người con gái Nam Xương”:
Giáo sư Phan Trọng Luận không sai khi nói: “ Cái bóng đã quyết định số phận con người”, đây phải chăng là nét vô lí, li kì vẫn có trong các truyện cổ tích truyền kì(1)? Không chỉ dừng lại ở đó, “ cái bóng còn là tượng trưng cho oan trái khổ đau, cho bất hạnh của biết bao người phụ nữ sống dưới xã hội đương thời(2) Nỗi oan của họ rồi cũng chỉ là những cái bóng mờ ảo, không bao giờ được sáng tỏ(3) Hủ tục phong kiến hay nói đúng hơn là cái xã hội phong kiến đen tối đã vùi dập, phá đi biết bao tâm hồn, bao nhân cách đẹp, đẩy họ đến đường cùng không lối thoát(4) Để rồi chính những người phụ nữ ấy trở thành “ cái bóng” của chính mình , của gia đình, của xã hội(5) Chi tiết “ cái bóng” được tác giả dùng để phản ánh số phận, cuộc đời người phụ nữ đầy bất công ngang trái nhưng cũng như bao nhà văn khác ông vẫn dành một khoảng trống cho tiếng lòng của chính nhân vật được cất lên, được soi sáng bởi tâm hồn người đọc(5) “ Cái bóng” được đề cao như một hình tượng đẹp của văn học, là viên ngọc soi sáng nhân cách con người(6) Bạn đọc căm phẫn cái xã hội phong kiến bao nhiêu thì lại càng mở lòng yêu thương đồng cảm với Vũ Nương bấy nhiêu(7) “ Cái bóng” là sản phẩm tuyệt vời từ tài năng sáng tạo của Nguyễn Dữ góp phần nâng câu chuyện lên một tầm cao mới: chân thực hơn và yêu thương hơn(8).
Mô hình đoạn văn: Đoạn văn có câu thứ nhất nêu giả thiết về chi tiết “cái bóng”.
Các câu tiếp theo khẳnh định giá trị của chi tiết đó
9 Đoạn móc xích.
Đoạn văn có mô hình kết câu móc xích là đoạn văn mà ý các câu gối đầu lênnhau, đan xen nhau và được thể hiện cụ thể bằng việc lặp lại một vài từ ngữ ở câutrước trong câu sau
Ví dụ 1: Đoạn văn móc xích, nội dung nói về vấn đề trồng cây xanh để bảo
về môi trường sống:
Muốn làm nhà thì phải có gỗ Muốn có gỗ thì phải trồng cây gây rừng.
Trồng cây gây rừng thì phải coi trọng chăm sóc, bảo vệ để có nhiều cây xanh bóng mát Nhiều cây xanh bóng mát thì cảnh quan thiên nhiên đẹp, đất nước có hoa thơm
trái ngọt bốn mùa, có nhiều lâm thổ sản để xuất khẩu Nước sẽ mạnh, dân sẽ giàu,môi trường sống được bảo vệ
Mô hình đoạn văn: Các ý gối nhau để thể hiện chủ đề về môi trường sống Các từ
ngữ được lặp lại: gỗ, trồng cây gây rừng, cây xanh bóng mát.
Ví dụ 2: Đoạn văn móc xích, nội dung nói về sống có ích và sống đẹp
Đến với núi cao, sông dài, biển rộng là để biết cái hùng vĩ của vũ trụ vô cùng Đến với cỏ nội hoa ngàn, trăng thanh gió mát là muốn cảm được cái kì diệu của hoá công, do được cái trong của hồn mình, bày tỏ được cái chí khí của đời
Trang 11mình Khắc đá đề thơ vào vách động, lưu bút đến ngàn năm sau, phải là bậc danh
sĩ cao khiết ở đời Tựa như trăng sao vằng vặc vậy Còn như đúc chuông, tạc tượng, xây chùa, dựng am, trồng tháp là sự bày tỏ cái lòng thành của bậc chân nhân, vĩ nhân Lo cho dân cày thêm ruộng cấy, trâu cày, kẻ bần hàn có cơm no áo
ấm, được sống yên bình giữa bốn cõi, là cái tài, cái tâm của bậc đống lương, kinh bang tế thế xưa nay.
Trang 12Tiết 3 LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN
Phần I: Luyện viết đoạn văn theo nội dung đọc - hiểu văn bản nghệ thuật.
Để đọc hiểu một tác phẩm văn học, bạn đọc nói chung và bạn đọc trong nhàtrường là học sinh nói riêng thường đọc hiểu theo một quy trình chung:
- Đọc và tìm hiểu chung về tác phẩm: tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh ra đờicủa tác phẩm, tóm tắt tác phẩm (nếu là tác phẩm tự sự), tìm hiểu nhan đề tácphẩm…từ đó bước đầu xác định chủ đề của tác phẩm
- Đọc và tìm hiểu chi tiết: đọc phân tích từng phần như phân tích đoạn văn,đoạn thơ, phân tích nhân vật, phân tích hình tượng, hình ảnh, chi tiết, hiệu quả nghệthuật của biện pháp tu từ,…từ đó đọc ra tư tưởng, thái độ tình cảm của tác giả trướcvấn đề xã hội, trước hiện thực cuộc sống được gửi gắm trong tác phẩm Trên cơ sởkiến thức về đọc hiểu tác phẩm, để kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kĩnăng nói viết của bạn đọc học sinh về những kiến thức đọc hiểu cụ thể, cần cónhững bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn
Các loại đoạn văn cần luyện viết theo nội dung đọc - hiểu thường là:
1 Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
2 Đoạn văn tóm tắt tác phẩm
3 Đoạn văn giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm
4 Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng, từ ngữ đặc sắc của tác phẩm
5 Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật
6 Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thật của biện pháp tu từ
7 Đoạn văn phân tích, cảm nhận về một đoạn văn, đoạn thơ
Những bài tập luyện viết đoạn văn thường có yêu cầu phối hợp giữa yêu cầu
về nội dung, đề tài với yêu cầu về hình thức diễn đạt
Ví dụ: Viết một đoạn văn diễn dịch, kết thúc đoạn là một câu cảm thán, phân
tích nhân vật chị Dậu trong đoạn trích: “Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố
Thông thường, các thao tác viết đoạn được diễn ra như sau:
- Người viết đọc kĩ bài tập, xác định đúng những yêu cầu của bài tập về nội dung và hình thức Với bài tập trên, yêu cầu về nội dung là phân tích nhân vật chị
Dậu trong đoạn trích: “Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố; yêu cầu về hình thức làviết đoạn văn theo mô hình diễn dịch, kết thúc đoạn là một câu cảm than
- Người viết lập ý cho đoạn văn và định hình vị trí các câu trong đoạn, phương tiện liên kết đoạn; đặc biệt là các yêu cầu cụ thể về viết câu (câu cảm thán, câu hỏi tu
từ, câu ghép,…) trong đoạn.
+ Tìm ý cho đoạn văn Với bài tập trên: đây là đoạn văn phân tích đặc điểmnhân vật, đặc điểm nổi bật của chị Dậu là nhẫn nại, nhịn nhục nhưng không thểchịu đựng được nữa nên “tức nước thì vỡ bờ” Vậy muốn tìm ý cần trả lời các câu
hỏi: Lúc đầy chị Dậu xưng hô như thế nào với cai lệ và người nhà lí trưởng? Cách
Trang 13xưng hô đó có ý nghĩa như thề nào? Chị có những suy nghĩ gì hành động của Cai lệ? Em có nhận xét, đánh giá gì về suy nghĩ của Chị Dậu?
+ Xác định mô hình cấu trúc đoạn văn: Với đề bài trên là đoạn diễn dịnh: câu
mở đoạn là câu chủ đề, nội dung giới thiệu khái quát về tính cách của chị Dậu.Những câu khai triển tiếp theo nêu ra biểu hiện của chị Dậu, phân tích thái độ, nêunhận xét đánh giá của người viết về nhân vật,…
+ Xác định và định hình kiểu câu và vị trí kiểu câu đó trong đoạn văn cầnviết; hoặc phép liên kết cần viết trong đoạn văn đó Với bài tập trên, kết thúc đoạn
là câu cảm thán: câu cuối đoạn nhận xét và thể hiện thái độ tình cảm của người viếttheo hướng ngợi ca hành động của chị Dậu hoặc suy nghĩ của bản thân về hànhđộng đó
- Người viết dùng phương tiện ngôn ngữ (lời văn của mình) để viết đoạn văn.
Khi viết cần chú ý diễn đạt sao cho lưu loát, mạch lạc Giữa các câu trong đoạnkhông chỉ có sự liên kết về nội dung theo chủ đề của đoạn mà còn có sự liên kếthình thức bằng các phép liên kết; phối hợp nhiều kiểu câu để lời văn sinh động; từngữ dùng cần chính xác, chân thực, mang tính hình tượng và hợp phong cách; chữviết đúng chính tả
- Đọc lại và sửa chữa Viết xong, người viết cần đọc kiểm tra lại xem đoạn
văn đã đáp ứng được những yêu cầu của bài tập về nội dung và hình thức chưa; nếuthấy chỗ nào chưa ổn cần chỉnh sửa lại
Trang 14
Tiết 4
Sau đây là phần hướng dẫn viết một số loại đoạn văn theo nội dung đọc hiểu.
1 Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
Hướng dẫn viết.
Yêu cầu về nội dung:
- Nêu chính xác tên tác phẩm, tên tác giả của tác phẩm đó, năm sáng tác, in
trong tập sách nào, Ví dụ:
- Nêu hoàn cảnh rộng:
- Nêu hoàn cảnh hẹp: Hoàn cảnh cụ thể ra đời của tác phẩm
Đó có thể là hoàn cảnh gia đình rất đặc biệt: Bằng Việt chủ yếu sống với bàngoại nên khi đi xa nhớ về bà, hình ảnh bà ngoại gắn liền với “bếp lửa”
Đó có thể là hoàn cảnh của bản thân trước một sự kiện, hiện tượng, hình ảnh,
…trong cuộc sống, tác giả nảy sinh ý tưởng, cảm hứng muốn gửi gắm ý tưởng ,tình cảm, tư tưởng thái độ,… của mình qua sáng tác:
Đây là yêu cầu về nội dung của đoạn văn mang tính trọn vẹn, đầy đủ Khiviết đoạn văn giới thiệu về hoàn cảnh ra đời của một tác phẩm cụ thể, tuỳ theo sựhiểu biết của mình mà người viết có thể nêu đầy đủ hoặc lược bớt một vài ý, tuynhiên vẫn phải đảm bảo cho người đọc nắm được xuất xứ chung, chủ đề của tác
phẩm
Ví dụ 1: Đoạn văn giới thiệu về tác giả Vũ Đình Liên và bài thơ “Ông đồ”.
Vũ Đình Liên ( 1913 – 1996), quê ở Hà Nội là một trong những nhà thơ thuộc lớp đầu tiên trong phong trào Thơ mới 1932-1945 Thơ Ông thường mạng nặng lòng thương người và niềm hoài cổ Ngoài sáng tác thơ Ông còn tham gia dịch thuật, nghiên cứu và giảng dạy văn học Ông đồ của Vũ Đình Liên là bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ giàu thương cảm của Vũ Đình Liên Bài thơ đã thể hiện sâu sắc tình cảnh đáng thương của ông đồ, qua đó toát lên niềm thương cảm chân thành trước một lớp người đang tàn tạ và nỗi nhớ da diết của tác giả về cảnh cũ người xưa.
Ví dụ 2: Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của bài thơ “Khi con tu hú” của
Tố Hữu
“Khi con tu hú” được nhà thơ Tố Hữu sáng tác khi ông 19 tuổi ( tháng 7/1939) Lúc đó Tố Hữu là một thanh niên đang mê say hoạt động cách mạng thì bị thực dân Pháp bắt giam vào nhà lao Thừa Phủ Bài thơ ra đời trong nhữn ngày đầu tiên bị bắt giam, sau này được đưa vào phần “ Xiêng xích” trong tập thơ Từ ấy năm 1946.
Yêu cầu về hình thức:
- Đoạn văn bao gồm những câu văn gắn kết với nhau theo một cấu trúc nhấtđịnh, cùng hướng về giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, được liên kết bằngcác phương tiện liên kết, phối hợp các kiểu câu Đoạn văn phải được diễn đạt mạchlạc, từ ngữ dùng chính xác, chân thực, có tính hình tượng
Trang 15- Luyện viết đoạn văn theo yêu cầu cụ thể: viết đoạn văn có câu ghép vàphương tiện liên kết; đoạn văn có câu hỏi tu từ, đoạn văn kết bằng câu cảm thán,…
Để viết đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời cầu tác phẩm theo yêu cầu cụthể như có sử dụng câu ghép, một hoặc hai phương tiện liên kết, người viết trướchết phải có ý, nghĩa là đã có nội dung để viết, sau đó xác định câu ghép (ghép ý nàovới ý nào trong các ý đã xác định), tiếp theo là xác định phép liên kết sẽ sử dụng là
gì Sau khi đã xác định yêu cầu về nội dung, yêu cầu về hình thức của đoạn văn cầnviết, người viết bắt tay vào viết Cuối cùng, cần kiểm tra lại đoạn văn vừa viết xem
đã hoàn chỉnh chưa, đã đáp ứng những yêu cầu đề ra chưa
2 Đoạn văn tóm tắt tác phẩm.
Yêu cầu về nội dung:
- Nêu được những sự việc chính theo trình tự của cốt truyện, sự việc mở đầu,các sự việc phát triển trong đó có sự việc đỉnh điểm của cốt truyện, sự việc kết thúc
- Đoạn văn tóm tắt tác phẩm phải đảm bảo giữ đúng cốt truyện, các nhân vậtchính và ý nghĩa xã hội của truyện (đảm bảo đúng chủ đề của truyện)
Viết đoạn văn ngắn, tóm tắt truyện “ Cô bé bán diêm” của An-đéc xen.
- Đoạn văn minh hoạ:
Cô bé bán diêm sống gia đình rất nghèo khổ, khó khăn mồ côi mẹ, bà mất sớm, tài sản tiêu tán nên cô phải bán diêm cho người bố rầt tàn nhẫn hay đánh
cô Vào một ngày cuối năm, cô không bán được que diêm nào Cô không dám về nhà vì sợ bố đánh Đêm giao thừa trời giá rét , cô ngồi nép vào gốc tường giữa hai ngôi nha Đêm càng lạnh giá, cô quẹt que diêm để sưởi ấm Mỗi lần quẹt que diêm cháy sáng là một mông tưởng đến với cô Lần thứ nhất, em thấy lò sưởi Lần thứ hai cô thấy bàn ăn và con ngỗng quay, lần thứ ba cô thấy cây thông Nô-en cùng những ngọn nến Lần thứ tư cô thấy bà hiện về Lần thứ năm cô thấy mình cùng bà bay lên trời đ1o cũng là lúc cô tìm thấy niềm hạnh phúc Buổi sáng đầu năm, người ta thấy một em bé ngồi giữa những bao diêm trong đó có một bao diêm đốt hết nhẵn Người ta bảo cô bé đã chết nhưng đôi má vẫn ửng hồng và đôi môi
cô đang mỉm cười
Ví dụ 2:
- Bài tập: Tóm tắt đoạn trích “ Lão Hạc” của Nam Cao bằng một đoạn văn ngắn.
- Đoạn văn minh hoạ:
Truyện kể về Lão Hạc, một người nông dân chất phác, hiền lành Lão vốn góa vợ và có một đứa con trai nhưng vì quá nghèo nên không thể lo cho người con trai một cuộc sống hạnh phúc Người con trai lão do quẫn trí đã đăng kí đi làm ở đồn điền cao su ở miền nam Lão luôn trăn trở, suy nghĩ về tương lai của đứa con.
Trang 16Lão sống bằng nghề làm vườn, mảnh vườn mà vợ lão đã mẫt bao công sức để mua
về và để lại cho con trai lão Nhưng do một trận bão mà cả một sào hoa màu đã mất trắng Lại bởi do một trận ốm nên bao nhiêu tiền bạc lão dành dụm đã mang
ra dùng gần hết và vì lão cũng đã "tàn sức" rồi, người ta làm tranh hết việc của lão Lão có một con chó tên là Vàng - một con chó mà lão vừa coi như con vừa coi như một người bạn trung thành Nhưng vì cần tiền để lo cho con trai nên lão đã quyết định bán con chó đi Lão đã rất dằn vặt bản thân mình khi mang một "tội lỗi" là đã
nỡ tâm "lừa một con chó".Lão tự dành tiền cho đám ma của chính mình để không làm phiền đến hàng xóm láng giềng Lão không nhận bất kỳ sự giúp đỡ của bất kỳ
ai Lão đã chọn một cái chết bằng bả chó, một cái chết dữ dội và đau đớn Lão làm thế là để trừng phạt bản thân mình đã làm cái việc dằn vặt, tội lỗi ấy và có thể lão
đã được giải thoát sau bao tháng ngày cùng cực, đau khổ.Truyện được thể hiện qua lời kể của nhân vật tôi - một ông giáo và dường như đâu đó trong nhân vật này
ta thấy hiện lời giọng kể của tác giả.
3 Đoạn văn giải thích về ý nghĩa nhan đề tác phẩm.
Hướng dẫn viết đoạn.
Nhan đề của tác phẩm thường được tác giả đặt bằng một từ, một cụm từ.Nhan đề tác phẩm thường chứa đựng đề tài, nội dung hoặc chủ đề của tác phẩm màtác giả muốn gửi gắm vào đó Đôi khi nhan đề tác phẩm đồng thời cũng là mộtđiểm sáng thẩm mĩ, là tín hiệu nghệ thuật cần khai thác để làm sáng tỏ chủ đề tácphẩm Có nhan đề nêu lên đề tài của tác phẩm ( “Lão Hạc” – Nam cao), có nhan đề
hướng vào tư tưởng chủ đề của tác phẩm ( “ Hai cây phong ” – Ai-ma-tốp ), có
nhân đề gửi gắm một thông điệp sâu sắc nào đó,…Bởi vậy, để hiểu được nhan đềcủa tác phẩm, cần phải đọc kĩ tác phẩm, tìm hiểu nội dung, tìm hiểu các tầng nghĩacủa hình tượng, xâu chuỗi những hiểu biết về chi tiết, hình ảnh, hình tượng trongtác phẩm để xác định đúng chủ đề tác phẩm Từ đó quay lại tìm hiểu về ý nghĩanhan đề tác phẩm, đọc ra dụng ý mà tác giả gửi gắm trong đó
- Yêu cầu về nội dung:
- Nêu được chính xác tên tác phẩm, tên tác giả
- Xác định ý nghĩa nhan đề tác phẩm thể hiện về phương diện gì: đề tài, nội dung,tên nhân vật chính, chủ đề, …mối quan hệ giữa tên tác phẩm và chủ đề tác phẩm
- Khẳng định giá trị của nhan đề tác phẩm Cũng có thể kết hợp đánh giá về tác giả,tác phẩm
Yêu cầu về hình thức:
- Viết đoạn văn ngắn từ 5 – 7 câu, các câu văn được liên kết với nhau theo mô hìnhkết cấu nhất định, sử dụng các phép liên kết nội dung và hình thức
- Sử dụng linh hoạt các kiểu câu để viết đoạn văn
4 Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng hoặc một từ ngữ, hình ảnh đặc sắc trong tác phẩm.
Hướng dẫn viết đoạn:
Yêu cầu về nội dung:
- Giới thiệu chi tiết quan trọng hoặc từ ngữ, hình ảnh đặc sắc trong tác phẩm cầnphân tích
Trang 17- Phân tích chi tiết (từ ngữ, hình ảnh) đó hay, đặc sắc như thế nào về nội dung, hìnhthức.
- Nó có ý nghĩa gì trong việc thể hiện nội dung chủ đề của tác phẩm
Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu chung về hình thức của đoạn văn.
Ví dụ :
- Bài tập:
Hai câu thơ: “Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu” trong Ông Đồ của Vũ Đình Liên.Viết một đoạn văn ngắn nói rõ cái hay của hai câu thơ trên
Đoạn văn minh họa:
Cái hay của hai câu thơ “Giấy đỏ buồn không thắm- mực đọng trong nghiên sầu” là khi mới đọc qua ta ngỡ đó là những câu thơ tả cảnh nhưng thực ra câu thơ đã mượn đồ vật để bộc lộ tâm trạng con người ( tả cảnh ngụ tình) Tác giả đã nhân hóa giấy, mực, nghiên những vật liệu gắn bó thân thiết, là máu thịt là linh hồn của cuộc đời ông đồ, để nói lên tình cảm của ông lúc bấy giờ và tâm trạng sâù buồn của một lớp người đang tàn tạ và bị lãng quên Những tờ giấy đỏ bầy ra không còn ai để ý đến, nghiên mực không được chiếc bút lông động vào, nỗi buồn tủi sầu não như đã thấm cả vào những vật vô tri vô giác Hay nói một cách khác nỗi buồn, nỗi tủi từ lòng ông đồ làm cho mực khô và đọng lại trong nghiên sầu , như làm cho giấy đỏ buồn nhạt nhòa buông không thắm Cách nói như vậy vừa cụ thể, vừa sâu lắng, làm nên cái hay của câu thơ, có sức lay động mạnh mẽ người đọc.
5 Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ.
Hướng dẫn viết đoạn:
Yêu cầu về nội dung:
- Xác định chính xác câu thơ, câu văn trích trong tác phẩm nào, của tác giả nào, nộidung phản ánh là gì; biện pháp tu từ được sử dụng trong câu đó là biện pháp gì
- Phân tích hiệu quả tu từ của biện pháp tu từ trong việc thể hiện nội dung
- Đánh giá câu thơ, câu văn đó
Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu về hình thức chung của đoạn văn.
- Đoạn văn minh hoạ:
Đây là hai câu thơ mở đầu bài thơ “ Bếp lửa”, khơi nguồn cho kí ức Bằng Việt từ nơi xa nhớ về quê hương, nhớ về người bà kính yêu của mình:
“ Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”.
Trang 18Nhà thơ nhớ về những kỉ niệm gắn với hình ảnh “ bếp lửa”: “ Một bếp lửa chờn
vờn trong sương sớm” Từ láy tượng hình “ chờn vờn” gợi ánh lửa cháy bập bùng
được nhìn qua làn sương mỏng giăng giăng buổi sớm Đó là một hình ảnh thực indấu trong tâm khảm, được nhà thơ nhớ lại nó thành một hình ảnh huyền ảo trongánh hồi quang, mang đầy kỉ niệm đẹp về bếp lửa quê hương Từ hình ảnh ấy nhàthơ cảm nhận được một sức ấm nóng toả ra không chỉ từ bếp lửa hồng sớm mai: “
Một bếp lử ấp iu nồng đượm” Từ láy tượng hình “ ấp iu” trong câu thơ có giá trị
biểu cảm cao, gợi đôi bàn tay nhóm lửa khéo léo, tần tảo, chịu thương, chịu khó của
bà “ mỗi sớm, mỗi chiều lại bếp lửa bà nhen” Đồng thời từ “ấp iu” còn gợi tấm
lòng chăm chút yêu thương của tình bà dành cho cháu trong suốt những năm thángtuổi thơ sống bên bà Tình cảm bà cháu lớn lên cùng hình ảnh bếp lửa ngày càng
“nồng đượm” Với sự góp mặt của hai từ láy “ chờn vờn”, “ấp iu” khiến cho câu
thơ mang nặng kỉ niệm về kí ức ân tình, về bếp lửa, về tấm lòng bà, về tình bà cháuthiêng liêng
Tiết 5
Thực hành viết đoạn văn theo nội dung đã học:
1 Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
2 Đoạn văn tóm tắt tác phẩm
3 Đoạn văn giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm
4 Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng, từ ngữ đặc sắc của tác phẩm
5 Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật
6 Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thật của biện pháp tu từ
7 Đoạn văn phân tích, cảm nhận về một đoạn văn, đoạn thơ
Trang 19LUYỆN TẬP VIẾT BÀI VĂN
(4 TIẾT)
VĂN NGHỊ LUẬN A/ MỤC TIÊU BÀI HỌC:
I Nhu cầu nghị luận
Trong đời sống, con người gặp nhiều tình huống giao tiếp khác nhau, đòi hỏiphải sử dụng những phương thức biểu đật tương ứng khác nhau Khi cần kể về mộtcâu chuyện, người ta dùng phương thức tự sự Khi cần giới thiệu hình ảnh mộtngười, một sự vật, một con vật, một cảnh sinh hoạt hoặc cảnh thiên nhiên, người tathường dùng phương thức miêu tả, khi cần bộc lộ cảm xúc người ta dùng phươngthức biểu cảm Và có lúc, trong giao tiếp, con người cần phải bộc lộ, phải phátbiểu thành lời những nhận định, suy nghĩ, quan niệm, tư tưởng của mình trước mộtvấn đề nào đó của cuộc sống Tình huống này bắt buộc phải dùng phương thứcnghị luận
Như vậy có nghĩa là văn bản nghị luận đóng một vai trò rất quan trọng trongđời sống con người Dù dưới hình thức đơn giản hay phức tạp, dù ở dạng nói hay
viết (Một câu trả lời, một ý kiến phát biểu trong cuộc họp, một bài xã luận, bình luận trên báo chí, đài phát thanh ), phương thức nghị luận đều có vai trò rèn
luyện tư duy và năng lực biểu đạt cho con người, hiúp con người hình thành những
tư tưởng sâu sắc trỏng đời sống
II.Thế nào là văn bản nghị luận?
Nếu như văn tự sự, miêu tả hay biểu cảm nhằm kích thích strí tưởng tượng ,xây dựng óc quan sát tinh tế, với những tình cảm chân thực thì văn nghị luận lạigiúp cho con người hình thànhvà phát triển khả năng lập luận chặt chẽ, trình bàynhững lí lẽ và dẫn chứngmột cách rõ ràng, diễn tả những suy nghĩ và nêu những ýkiến rỉêng của mìnhvề một vấn đề nào đó liên quan đến cuộc sống xã hội hoặc văn
học ngjệ thuật Nói một cách khác, văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, một quan điểm nào đó Muốn hoàn
thành một văn bản ngjhị luận, người ta phải có một ngôn ngữ lí luận phong phúvới nhiều khái niệm, có quan điểm, chủ kiên, biết vận dụng những khái niệm, biết
tư duy lô gíc, biết vận dụng các thao tác phận tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so
Trang 20sánh, suy lí tức là phải biết tư duy trừu tượng và phải có khả năng lập luận để giảiquyết một vấn đề.
Một số loại văn bản nghị luận thường được sử dụng trong đời sống cũng như
trên các phương tiện thông tin (báo chí, đài phát thanh, truyền hình ) là văn giải thích, văn chúng minh, văn phân tích, văn bình luận )Vd: văn bản: “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” của Hồ Chí Minh là văn bản nghị luận chứng minh.
*Bài tập vận dụng:
1.Trong các trường hợp sau đây, trường hợp nào cần dùng văn nghị luận để biểu đạt, vì sao?
a Nhắc lại một kỉ niệm về tình bạn.
b Giới thiệu về người bạn của mình.
c Trình bày quan điểm về tình bạn.
2 Để chuẩn bị tham dự cuộc thi “Tìm hiểu về môi trường thiên nhiên” do nhà trường tổ chức, An được cô giáo phân công phần hùng biện An dự định một trong hai cách:
Cách 1:Dùng kiể văn tự sự , kể một câu chuyện có nội cung nói về quan hệ
giữa con người với môi trường thiên nhiên
Cách 2:Dùng kiểu văn bản biểu cảm, làm một bài thơ ca ngợi vẻ đẹp cũng
như tầm quan trọng của môi trường thiên nhiên đối với con người
*Khi nghe An trình bày dự định ấy, cô giáo đã nhận xét: “Cả hai cách ấy đều không đạt”
Theo em vì sao cô giáo nhận xét như vậy? Muốn thành công An phải chuẩn bị bàivăn hùng biện theo kiểu văn bản nào?
Hãy giúp An xác định những ý chính trong bài hùng biện.
III Đặc điểm của văn bản nghị luận.
Văn nghị luận bao giờ cũng nhằm mục đích hướng tới giải quyết một vấn đề
cụ thể mà thực tế cuộc sống đặt ra, đồng thời cũng là xác lập cho người đọc, ngườinghe một tư tưởng, tình cảm, quan điểm nào đó, chẳng hạn như lòng yêu nước;tình đoàn kết, tương thân, tương ái; đức tính kiên trì, nhẫn nại; ý thức về lẽ sống,
về đạo lí, về cách cư xử trong cuộc sống Vì hướng tới mục đích sấy, mỗi văn bản
nghị luận bao giờ cũng phải có luận điểm, luận cứ và lập luận.
A LUẬN ĐIỂM.
1.Khái niệm: là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài nghị luận.Về
hình thức, luận điểm thường nêu khái quát bằng một câu văn ở dạng khẳng định(
hay phủ định); có cấu trúc chặt chẽ, ngắn gọn; được diễn tả rõ ràng, dễ hiểu, nhất
quán.Câu văn này có thể đặt ở đầu đoạn văn hoặc cuối đoạn văn Về ý nghĩa, luậnđiểm là linh hồn của bài văn, đóng vai trò liên kết, thống nhất các đoạn văn thànhmột khối Trong thực tế một luận điểm có thể được triển khai trong một đoạn vănhoặc nhiều đoạn văn
Muốn bài văn có sức thuyết phục, luận điểm được nêu phải đảm bảo tính chânthực, đúng đắn, đáp ứng nhu cầu thực tế Việc xác định hệ thống luận điểm có tínhchất quan trọng đối với quá trình thể hiện chủ đề văn bản Vì vậy luận điểm khôngnên quá chung chung, hay quá chi tiết, vụn vặt.Làm thế nào để thông qua hệ thống
Trang 21luận điểm, người đọc, người nghe có thể nắm bắt được ý đồ của người tạo lập vănbản.
2.Trình bày luận điểm
1.Trình bày luận điểm chính là lập luận, là cách trình bày lí lẽ, trình bày luậnchứng Có nhiều cách trình bày luận điểm
a.Trình bày luận điểm theo phương pháp diễn dịch Luận điểm chính là câu chủ
đề, đứng đầu đoạn văn.
VD: “ Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay Nói thế có nghĩa là nói rằng: Tiếng Việt là một thứ tiếng hài hoà về mặt âm
hưởng, thanh điệu, mà cũng rất tế nhị uyển chuyển trong cách đặt câu Nói thếcũng có nghĩa là nói rằng: Tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tưtưởng của người Việt Namvà để thoả mãn cho nhu cầu đời sống văn hoánước nhàqua các thời kì lịch sử”
( “Sự giàu đẹp của Tiếng Việt”- Đặng Thai Mai)
“Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của toàn dân Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa”
( “ Gửi đồng bào Nam Bộ”-Hồ Chí Minh)
“Phải biết hỏi trong khi học thì mới tích cực và sâu sắc Hỏi để hiểu sâu, hiểu
rộng nội dung đang học, để đi tới cùng chân lí Kiến thức về xã hội, nhân văn, về
tự nhiên về khoa học kĩ thuật là vô cùng rộng lớn, bao la nhờ biết hỏi mà ta vươn
lên không ngừng,mở rộng tầm mắt, tích luỹ được nhiều tri thức mới mẻ Không thể
học một cách thụ động, chỉ biết thầy đọc, trò chép, mà phải biết hỏi, đào sâu suy
nghĩ về mọi ngóc ngách của mọi vấn đề đang học Học đâu chỉ giới hạn ở trường,
ở lớp, trong mấy quyển sách giáo khoa? Hỏi để học ở thầy, ở bạn, ở trong cuộc sống Biết hỏi mới tiến bộ, tránh giấu dốt!”.
( “ Học và hỏi”-Lê Phan Quỳnh)
b.Trình bày luận điểm theo phương pháp quy nạp - Luận điểm là câu chủ
đề đặt ở cuối đoạn văn:
VD:
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân
tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”
( “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh)
ở Việt Nam ta có câu tục ngữ “Có thực mới vực được đạo” Trung Quốc cũng có câu tục ngữ “ Dân dĩ cực vi thiên” Hai câu ấy tuy đơn giản nhưng rất
đúng lẽ
Muốn nâng cao đời sống của nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề ăn ( rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác ).Muốn giải quyết vấn đề ăn thì phải làm
thế nào có đầy đủ lương thực Mà lương thực là do nông nghiệp sản xuất ra Vì
vậy, phát triển nông nghiệp là việc cực kì quan trọng”
Trang 22( Hồ Chí Minh – Tháng 4 năm 1962)
c.Các luận điểm, luận cứ trong một bài văn nghị luận phải được trình bày theo một trật tự, trình tự hợp lí; liên kết với nhau, hô ứng nhau một cách chặt chẽ.
Cách diến đạt cần trong sáng, mạch lạc Câu văn cần ngắn gọn, tránh dài dòng lêthê Giọng văn là điều quan tâm đặc biệt Hoa hoè, hoa sói, nguỵ biện, suydiễnmột chiều, công thức cứng nhắc sẽ làm cho bài nghị luận nhạt nhẽo Hiệntượng nói nhiều , nóidai, nói nhảm, nói trống rỗng ta luôn bắt gặp đó đây Tínhthuyết phục của văn nghị luận cần ghi nhớ và coi trọng
VD “Về kinh tế , chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Chúng cướp ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta nhất là dân cày và dân buôn trở lên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột dân ta vô cùng tàn nhẫn”
( “Tuyên ngôn độc lập”- Hồ Chí Minh) Tội ác lớn về kinh tế của thực dân Pháp đối với đất nước ta trong suốt 80 năm trời là luận điểm mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên.
luận điểm này được trình bày bằng 5 luận cứ ( Mỗi tội ác là một luận cứ) theo một hệ thống, một trật tự rất chặt chẽ Lí lẽ đanh thép, giọng văn hùng hồn, gây
ấn tương mạnh mẽ, đầy sức thuyết phục.
VD:
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnhvà thịnh;nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy Vậy nên các đấng thánh
đế, minh vương không ai không coi trọng việc bồi dưỡng nhân tài, tin dùng kẻ
sĩ, vun đắp nguyên khí à việc làm trước tiên ”
Trích “ Bia Tiến sĩ”-Văn miếu Thăng Long)
“Khi sống sung túc, phẩm hạnh lớn nhất là sự điều độ, còn khi gặp tai hoạ, phẩm hạnh lớn nhất là sự kiên cường.
Có ba điều đạt tới hạnh phúc : Thân xác khoẻ mạnh, tinh thần thoải mái, và trái tim trong sạch”
(Đô –mát)
B LUẬN CỨ: Là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm Một luận điểm
có thể có một hoặc nhiều luận cứ
-Lí lẽ phải đầy đủ, chặt chẽ, có tình, có lí
-Dẫn chứng phải phong phú, tiêu biểu, chính xác hoặc lấy từ thực tế(Nếu vấn đề được nghị luận thuộc vắn đề chính trị- xã hội), hoặc lấy từ các tác phẩm văn học(nếu vấn đề được nghị luận thuộc lĩnh vực văn học).
C LẬP LUẬN.
Trang 23Văn nghị luận không cần phải có ý mà cần phải có lí Sự kết hợp chặt chẽgiữa ý và lí là đặc trưng nổi bật của văn nghị luận nhằm tạo nên sức thuyết phục.Muốn đảm bảo sự kết hợp giữa ý và lí thì cần thiết phải lập luận tốt.
1.Khái niệm.
Lập luận là cách lựa chon, sắp xếp, trình bày luận cứ sao cho luận cứ trởthành những căn cứ chắc chắn để làm rõ luận điểm, hướng người nghe đếnh kếtluận hay quan điểm mà người viết, người nói muốn đạt tới.Lập luận càng chặt chẽ,hợp lí thì sức thuyết phục của văn bản càng cao
Muốn lập luận, người viết phải thực hiện các bước sau:
-Xác định kết luận cho lập luận: Có thể là luận đề hoặc luận điểm.-Xây dựng luận cứ cho lâp luận: Tức là tìm các lí lẽ và đưa ra các dẫnchứng (dẫn chứng thực tế, các con số thống kê;lí lẽ gồm các nguyên lí, chân
lí, ý kiến được công nhận )
-.>để lập luận có sức thuyết phục, cần chú sử dụng các phương tiện liên kết lập
luận (Gồm các từ ngữ có ý nghĩa chuyển tiếp)
2 Bố cục trong bài văn nghị luận.
Trong khuôn khổ của một bài văn nghị luận, bố cục thường chính là dàn ýcủa bài đây là khâu quan trọng trong quá trình tạo lạp văn bản Đot-tôi-ép-xki, nhà
văn Nga nổi tiiếng thế kỉ XI X đã nói: “Nếu tìm được một bố cục thoả đáng thì công việc sẽ trôi chảy như trượt trên băng”
Đối với văn nghị luận , việc xác định bố cục đóng một vai trò quuan trọng.Vấn đề nghị luận càng phang phú, phức tạp thì càng cần phẩi có một bố cục chitiết, giúp cho người viết hình dung được trên những nết lớn các phần, các đoạn, các
ý lớn, ý nhỏ, trọng tâm của bài viết; đồng thời chủ động phân phối thời gian, phânlượng và thoả đáng giữa các phần, các ý
Bố cục trong bài văn nghị luận cũng giống như bố cục phổ biến của một vănbản nopí chung, nghĩa là gồm có ba phần lớn: Mở bài, thân bài và kết bài Có thểhình dung một cách khái quát như sau:
a, Mở bài: nêu luận điểm tổng quát của bài viết.
Cấu tạo của phần mở bài ở dạng đầy đủ thường gồm có những bộ phận nhỏsauđây:
-Lời dẫn vào đề (nêu xuất sứ của đề, xuất xứ một ý kiến, một nhận định hoặcdẫn nguyên văn đoạn trích tác phẩm
-Nêu vấn đề (Đây là phần trọng tâm, xác điịnh rõ vấn đề nghị luận và yêu cầu cần giải quyết)
-Giới hạn vấn đề (Xác định phương hướng, phạm vi, mức độ, giưới hạn của vấn đề cần giải quyết)
-Có nhiều cách mở bài: Mở bằng cách khẳng định, mở bằng cách nêu câuhỏi, mở bằng cách phân tích
b,Thân bài:Có nhiệm vụ triển khai hệ thống ý lớn, ý nhỏ để làm sáng tỏ luận điểm.
Cấu tạo thường gặp ở phần thân bài trong văn nghị luận là:
Luận điểm 1: Luận cứ 1- Luận cứ 2
Luận điểm 2:Luận cứ 1, luận cứ 2
Trang 24Luận điểm 3: Luận cứ 1, luận cứ 2
việc sắp xếp các luận điểm hoàn toàn tuỳ htuộc vào loại vấn đề được trình bày vàoloại văn bản, vào đối tượng mà văn bản hướngd tới,hoặc có trường hợp lại phụthuộc vào thói quen và sở trường của người viết Tựu trung lại, có thể nêu một sốcách trình bày chính sau đây:
-Trình bày theo trình tự thời gian: Phương thức này khá đơn giản mà thông
dụng, nhất là đối với kiểu nghị luận chứng minh Sự kiện nào sảy ra trước trình bày
trước, sự kiện nào sảy ra sqau trình bày sau (Bài “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” là một ví dụ)
-Trình bày theo quan hệ chỉnh thể- bộ phận: Phương thức này có thể trình
bày cho kiểu nghị luận chứng minh, nghị luận phân tích,,, Theo phương thức này,người viết sẽ sắp xếp các ý theo tầng bậc, từ chỉnh thể đến các yếu tố tạo nên chỉnhthể ấy
VD: Nghị luận về văn học dân gian Việt Nam, ta có thể xuất phát từ những
đánh giá, nhận định chung ( chỉnh thể) trên cở sở lần lượt đi vào các thể loại (Bộ phận): Truyện kể dân gian- thơ ca dân gian- sân khấu dân gian
-Trình bày theo quan hệ nhân quả: Phương thức này có thể dùng cho kiểu
nghị luận giải thích, có tác dụng tạo nên tính chặt chẽ cho bố cục và tăng thêm sứcthuyết phục cho bài viết
Ngoài ra có thể trình bày theo quan hệ tương đồng hoặc tương phản; trìnhbày theo sự đánh giá chủ quan của người viết
c,Kết bài: Có nhiệm vụ tổng kết và nêu hướngmở rộng luận điểm, tức là vừa tóm
lược, vừa nhấn mạnh một số ý cơ bản của phần triể khai, đồng thời có sthể nêu nênnhững nhận định, bình luận nhằm gợi cho người đọc tiếp tục suy nghĩ về vấn đềđược bàn bạc trong bài
3.Phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận
a,Phương pháp suy luận nhân quả: Là phương pháp lập luận theo hướng ý
trước nêu nguyên nhân, ý sau nêu hệ quả Các trường hợp được sắp xếp liền kềtheo trình tự nhân trước, quả sau.Tuy nhiên trong thực tế, trình tự ấy có thể thay
đổi:hệ quả nêu trước, nguyên nhân nêu sau(nhằm lí giải vấn đề)
b,Phương pháp suy luận –tổng- phân –hợp : Là phương pháp lập luận theo
quy trình đi từ khái quát đến cụ thể, sau đó tổng hợp lại vấn đề
c,Phương pháp suy luận tương đồng: Là phương pháp suy luận trên cơ sở
tìm ra những nét tương đồng nào đó giữa các sự vật, sự việc, hiện tượng.cẳng hạnnhư suy luận tương đồng theo dòng thời gian, suy luận tương đồng trên trục khônggian
d,Phương pháp suy luận tương phản: Là phương pháp suy luận dựa trên cơ
sở tìm ra những nét trái ngược nhau gữa các đối tượng, ssự vật, sự việc, hiện tượng
(So sánh tương phản bằng cách dùng cặp từ trái nghĩa, hoặc dùng các hình ảnh, các cụm từ có ý nghĩa trái ngược nhau)
*Bài tập.
1.Chỉ rõ luận điểm và phương pháp lập luận trong các ví dụ sau:
Trang 25a,dân số ngày càng tăng đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc cũng như toàn thể cộng đồng Những ảnh hưởng đó là: không có đủ lương thực, thực phẩm cung cấp cho bữa ăn hàng ngày, từ đó dẫn đến cảnh đói nghèo, tình trạng thiếu dinh dưỡng dẫn đến suy thoái sức khoẻ, giống nòi không những không phát triển mà còn bị thoái hoá.Dân số tăng trong khi cơ sở sản xuất có hạn dẫn đến thiếu việc làm, thất nghiệp ngày càng tăng Dân số tăng càng nhanh thì chất lượng cuộc sống của cộng đồng, gia đình và
cá nhân sẽ càng giảm sút.
(Theo giáo trình Việt –Anh, đại học Mở Hà Nội)
b,Nếu con ngưòi không ngăn chặn những hành động phá hoại thiên nhiên và môi trường thì rất nguy hại.đến một lúc nào đó con ngườ không còn có thể khai thác từ thiên nhiênđể lấy của cải vật chất nuôi sống chính bản thân mình Môi trường sống của con người đang bị đe doạ: chất thải công nghiệp làm vẩn đục các dòng sông, tai nạn của các con tàu chở dầu làm ô nhiễm hàng vạn cây số bờ biển các nước.Bầu khí quyển ngày càng bị các hợp chất các-bon làm ô nhiễm, tầng ô-dôn bao bọc trí sđất bị chọc thủng, các tia tử ngoại xâm nhập vào các dòng khí quyển xuống mặt đất Nhiệt độ khí quyển ngày càng tăng, lượng nước biển sẽ dâng do sự tan băng ở Bắc và Nam cực của trái đất Tất cả những điều đó là nguyên nhân phá hoại cân bằng sinh thái và đang là sự
đe doạ khủng khiếp cho sự sống trên hành tinh của chúng ta.
( Theo giáo trình Việt- Anh ,đại học Mở Hà Nội)
c,Sách là báu vật không thể thiếu được đối vớ mỗi người Phải biết chọn sách mà đọc và trân trọng, nâng niu những cuốn sách
(Theo Thành Mĩ)
d,Chị Dậu rất mực hiền dịu nhưng không yếu đuối Khi cần chị đã phản kháng dũng cảm, thể hiện một sức sống kiên cường bất khuật của người phụ nữ nông dân Việt Nam
(Theo Nguyễn Hoành Khung)
đ,Mỗi người trong đời, nếu không có một gnười thầy hiểu biếta, giàu kinh nghiệm truyền thụ, dìu dắt thì khó mà làm nên một việc gì xứng đáng, dù đó là nghề nông, nghề rèn, nghề khắc chạm, hoặc nghề nghiên cứu khoa học Do đó trong cuộc đời mỗi người , học ở thầy là quan trọng nhất.
(Nguyễn Thanh Tú, Văn biểu cảm-Nghị luận)
e,Khi xưa Pháp cai trị nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân Chúng hạn chế mở trường học, chúng không muốn cho dấn ta biết chữ để dễ lllừa dối dân ta và bóc lột dân ta.
(Hồ Chí Minh)
Trang 26g,Bác Hồ là người cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam Dù Người không có một gia đình riêng cho mình , nhưng cả đất nước này, cả non sông này là gia đình của Người đúng như nhà thơ Tố Hữu đã từng ca ngợi: “Người không con mà có triệu con” Từ Miền Bắc cho đến Miền Nam, Từ miền xuôi đên Miền Ngược, từ già đến trẻ, ai cũng dành cho Bác những tình cảm thật là cao đẹp đó là niềm tôn kính Đó là sự biết ơn Và khi Bác đi xa thì tình cảm ấy biến thành nỗi tiếc thương vô hạn Dù năm tháng có trôi qua, nhưng hình ảnh của Bác, của người cha già kính yêu ấy vẫn còn sống mãi trong trái tim một người Việt Nam
(Bài làm của một học sinh)
2, Cho luận điểm sau: “Ô nhiễm môi trường là một hiểm hoạ” Tìm những dẫn
chứng cần thiết để triển khai luận điểm trên thành một đoạn văn
Trang 27“Các em là đội cảm tử Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh Các
em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã có qua hai Bà Trưng, Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời mai sau”
Hà Nội, ngày 27-1-1947
( “Thư gửi các chiến sĩ quyết tử quân thủ đô”- Hồ Chí Minh)
3 Viết một đoạn văn nghị luận có yếu tố biểu cảm
B.CÁC YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN.
1.ý nghĩa:
Lí lẽ và dẫn chứng là phần chính, phần cốt tuỷ, chủ yếu của văn nghị luận.Các yếu tố tự sự, miêu tả có thể không có Khi sử dụng các yếu tố miêu tả, tự sựmột cách đích đáng thì sẽ giúp cho cách lập luận, cách nêu dẫn chứng hấp dẫn hơn,sinh động hơn Nên nhớ, không thể tuỳ tiện, lạm dụng
2.Ví dụ:
“Huống gì thành đại la, kinh đô cũ của Cao Vương ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng được rất mực phong phí tốt tươi Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương dất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”
( “Chiếu dời đô”_ Lí Công Uẩn )
Trang 283.Xác định yếu tố tự sự và miêu tả trong các đoạn văn sau
* “Đảng ta vĩ đại thật Từ ngày bị đế quốc Pháp xâm chiếm, nước ta là một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của
kẻ thù hung ác trong máy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra
Từ ngày mới ra đời, Đảng ta giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tọc, giải phóng giai cấp Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan màu đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân at vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong.
ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây Trong cuộc tưng bừng, vui vẻ hôm nay, chúng
ta phải nhớ đến những anh hùng liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta.
( )Máu đào của các liệt sĩđã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói.Sự hi sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”
( Ngày 5-1-1960 Hồ Chí Minh)
* Sống có ích và sống đẹp
Đến với núi cao, sông dài, biển rộng là để biết cái hùng vĩ của vũ trụ vô cùng Đến với cỏ nội hoa ngàn, trăng thanh gió mát là muốn cảm được cái kì diệu của hoá công, do được cái trong của hồn mình, bày tỏ được cái chí khí của đời mình Khắc đá đề thơ vào vách động, lưu bút đến ngàn năm sau, phải là bậc danh
sĩ cao khiết ở đời Tựa như trăng sao vằng vặc vậy Còn như đúc chuông, tạc tượng, xây chùa, dựng am, trồng tháp là sự bày tỏ cái lòng thành của bậc chân nhân, vĩ nhân Lo cho dân cày thêm ruộng cấy, trâu cày, kẻ bần hàn có cơm no áo
ấm, được sống yên bình giữa bốn cõi, là cái tài, cái tâm của bậc đống lương, kinh bang tế thế xưa nay.
Lòng vui khi nghe suối reo, chim hót Rơi lệ trước nỗi đau của kẻ nghèo hèn, thao thức vì tiếng khóc của cô nhi quả phụ, hân hoan khi nghe trẻ thơ ca hát vui cười Đau cái đau của người, vui cái vui của thiên hạ Ăn một miếng ngon, mặc một cái áo đẹp, nơi ở là lâu dài, du ngoạn có xe tứ mã, thế là sang Nếu thiếu đi một tâm hồn trong sáng, một đời sống tinh thần phong phú thì chưa hẳn đã hạnh phúc ?
Đến với một chân trời xa lạ, một ngọn núi dòng sông, một đảo xa biển biếc là được sống thêm một phần đời sống tốt đẹp Gạp gỡ thêm một người bạn hiền tựa như sông suối thêm nguồn, như đứng trên núi cao ngắm trăng, không chỉ
ca mà được “Thanh phong minh nguyệt” mà còn thấy được cái sáng của lòng mình, cái trong của hồn mình, cái thành thực của tình bằng hữu, Tình bốn phương cao nhã là vậy.
( “Tạp hứng ngẫu đàm”-Lê Phan Quỳnh)
Tình cảm và tư tưởng yêu nước Việt Nam
Yêu nước là một tư tưởng và tình cảm phổ biến, dân tộc nào cũng có, riêng
gì Việt Nam (1) Quả thực yêu nước là tình cảm và tư tưởng tự nhiên và phổ biến
Trang 29(2) Chim luyến tổ, cá quen đồng, người sao không yêu quê hương?(2) Quê hương
là bản làng, ở đó có cha mẹ, anh chị em, có mồ mả ông bà, có bờ ao, bến đò quen thuộc (3) Quê hương lớn là nước nhà, ở đó có tất cả đồng bào cùng tiếng nói, phong tục, có toàn bộ lịch sử dân tộc gồm những lúc vinh, lúc nhục, lúc vui, lúc buồn đều có nhau, có vầng sao những anh hùng liệt sĩ với những chiến công hiển hách, đạo đức sáng ngời, lòng hi sinh vô hạn; có đền đài, miếu mạo, có núi cao, đồng rộng, sông dài, đủ làm nơi sinh tụ cho giống nòi ta (4) Quê hương cũng gọi
là Tổ quốc(5) Người Việt Nam yêu nước Việt Nam (6).
( ) Tình cảm và tư tưởng yêu nước đều tồn tại ở tất cả các dân tộc trên đời, nhưng tuỳ nước, tư tưởng ấy sớm hay muộn, đậm hay nhạt khác nhau Và, xưa nay cuộc đời dâu bể, có dân tộc không còn nước mà yêu, có nước đến hiện đại mới hình thành Nội dung lịch sử ở mỗi nước không nơi nào giống nơi nào Tình cảm yêu nước Việt Nam đã sinh nở và phát triển trong những điều kiện cụ thể riêng của mình, mang đường nét, thực chất và tác dụng đặc sắc mà người Việt Nam cần tìm hiểu thấu đáo để biết được chính mình
( “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”-Trần Văn Giàu)
Hồ Chí Minh- hiện thân của tình thân ái
Hồ Chí Minh luôn luôn là hiện thân của tình thân ái, làm cho người ta dễ gần, dễ nói chuyện thân tình cởi mở, Hồ Chí Minh để l;ại cho người đối thoại niềm hân hoan vô hạn Trong nhiều năm gần Hồ Chí Minh, không một trường hợp nào Bác bực tức ra mặt, làm tổn thương dù một thoáng qua người đồng chí của mình Đay là điều đến bây giờ hồi tưởng lại tất cả, tôi lấy làm ngạc nhiên vô cùng.
Về cá nhân tôi,tôi thấy cần phải nói ra một câu chuyện
khiến cho đến bây giờ, sau nhiều thập kỉ tôi thấy vẫn còn xúc động Đay là một lầm nỗi của tôi có ảnh hưởng không hay lắm đến một việc Bác dự định làm Mặc dầu vậy, Bác chỉ nói với tôi vẻn vẹn có một câu “ Chú làm hỏng việc” Phải là một con người giàu lòng khoan dung, độ lượng mới có thể xử sự một cách nhân ái như vậy Chính thái độ này là một bài học mãi mãi ghi sâu trong kí ức tôi
Phạm Văn Đồng
( “Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc
một thời đại, một sự nghiệp”)
VI Các kiểu bài nghị luận lớp 8
A NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG.
I Thế nào là nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống ?
a Khái niệm : Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội là
bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa với xã hội, đáng khen, đáng chê hay cóvấn đề đáng suy nghĩ
b Yêu cầu về nội dung của bài nghị luận là phải nêu rõ đợc sự việc, hiện
tượng có vấn đề ; phân tích mắt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hại của nó ; chỉ ranguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết
c Về hình thức , bài viết phải có bố cục mạch lạc ; có luận điểm rõ ràng,
luận cứ xác thực, phép lập luận phù hợp ; lời văn chính xác, sống động
II Cách làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng, đời sống.
Trang 30* Mở bài: Giới thiệu sự việc, hiện tượng có vấn đề
* Thân bài: Liên hệ thực tế, phân tích các mặt, đánh giá, nhận định
* Kết bài :Kết luận , khẳng định phủ định, lời khuyên.
III,Luyện tập.
* Đề 1.Thói ăn chơi đua đòi.
1 Mở bài:
ăn chơi đua đòi là hiện tượng ta thường bắt gặp trong đời sống; nó đã và đang diễn
ra quanh ta, nhất là lớp trẻ Nó đã trở thành “thói” rất đáng chê trách.
2 Thân bài.
-Giải thích khái niệm: “Thói” Nghĩa là Lối, cách sống hay hoạt động ờng không tốt đợc lặp đi lặp lại lâu ngày thành quen.Ta thờng nói: “Thói hư , tật xấu; dở thói du côn, đầu bò; mãi mới bỏ đợc thói hút xách, nghiện ngập; thói
thư-ăn chơi đua đòi” Tục ngữ có câu : “ đất có lề quê có thói”, hoặc “Thói đời trâu buộc ghét trâu ăn”
Thói ăn chơi đua đòi là cách sống của một số ngời bắt chước nhau, đua đòi
nhau về cách sống, cách xài sang, thích trng diện, chạy theo “ Mốt” Có kẻ thì khoe sang, khoe giàu, ăn tiêu như phá Xe máy, ô tô thích dùng loại “xịn” Từ bộ
váy, bộ vét, chiếc áo khoác đến đôi giày, đồng hồ, túi xách phải là hàng Nhật,hàng ý, hàng Mĩ mua bằng đô- la trong siêu thị mới oách !
-Các biểu hiện của vấn đề : ăn thì đặc sản, uống thì rượu Tây, mỗi cuộc nhậu phải chi vài “vé” Chơi thì quán nhảy, vũ trường, ka ra ô kê thâu canh suốt
sáng, dập dìu gái đẹp trước sau Họ vênh váo, vênh vang lắm!
Hiện tương mắt xanh, môi đỏ, nhuộm tóc vàng, móng tay, móng chânnhuộm đỏ, trai đeo khuyên tai ta thường thấy trong một số học sinh hư
Là quý tử, tiểu thư, con ông này, bà nọ, chức trọng, quyền cao, vàng bạc đây két…
đua đòi, ăn chơi còn có nhẽ Ta thường nghe họ nói “Chết cũng chẳng mang được của sang thế giới bên kia! Có tiền thì ăn chơi, mua sắm cho sướng!”.
Nghe họ nói mà buồn cười
-Bàn về nguyên nhân, hậu quả :Có một số kẻ tiền bạc chẳng có nhiều thế
mà cũng ăn chơi, đua đòi, lời lao đông, trốn bỏ học Có kẻ vì ăn chơi, đua đòi mà
sa ngã như, trộm cắp, hút chích, cờ bạc, mại dâm…Có nhiều gia đình con cái ăn
Trang 31chơi, đua đòi rồi nghiện ngập, trộm cắp, tù tội…mà bố mẹ mang tiếng xấu xa êchề!
-Bài học: Nhân dân ta vốn cần cù, giản dị, tiết kiêm trong làm ăn, sinh sống Thói
ăn chơi đua đòi là một hiện tượng tiêu cực, trái hẳn với nếp sống, đạo lí của nhândân
Học được một điều hay, rèn được một đức tính tốt thì rất khó, nhưng đua
đòi, ăn chơi, nhất định sẽ bị sa ngã Câu tục ngữ “ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”và lời nhắc nhở của ông bà cha mẹ “Chọn bạn mà chơi” là một bài học rất
bổ ích để mỗi chúng ta tu dưỡng đạo đức, tính tình
3, Kết luận: Tóm lại, ăn chơi, đua đòi, là một thói xấu Ăn ngon mặc đẹp ai
cũng muốn, nhưng phải hợp lí, hợp thời, hợp cảnh Xung quanh chúng ta có biếtbao tấm gương sáng và đẹp về con người mới và đẹp Hình ảnh những học sinhgiỏi ở trường ta, quê hương ta đã nêu lên cho ta bao bài học quý báu để noi theo
Đề 2: Bệnh “nói dối”
1 Mở bài:
Nói dối là một cách nói khác đi, không đúng với sự thật, không đúng vớitâm trạng, suy nghĩ của mình, cố ý che giấu một cái gì đó; thậm chí xuyên tạc, nóchệch đi khiến người nghe phải tin để đạt được mục đích của mình
2 Thân bài:
+ Những biểu hiện :
Cha ông ta đã cảnh tỉnh rằng : trong xã hội không thiếu những kẻ : “Bề ngoài thơn thớt nói cười - Bề trong nham hiểm giết người không dao”; rồi những hạng người “ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa”
cũng không phải ít trong cuộc đời này…
Có người chủ động nói dối( Tô vẽ bịa đặt theo tính toán có lợi cho bản thân mình, chọn lựa sắp đặt rất kĩ lời nói) để mang lại lộc cho mình nhiều nhất.
Thụ động nói dối khi mà cấp trên hoặc người đối thoại không muốn nghenhững điều nghịch lí, ví dụ trong bụng thì ghét nhưng ngoài mặt thì vẫn nói rằngyêu…Bực thật! sợ rằng lâu dần thành thói quen, nói năng không cảm thấy ngượngmồm và xấu hổ Nói dối mãi trở thành căn bệnh lừa bịp cấp trên, lừa bịp ngườikhác Báo cáo, bệnh thành tích lan tràn và đã trở thành căn bệnh trầm kha và trởthành căn bệnh khó sửa chữa trong đời sống của chúng ta hiện nay
Người ta thi nhau tâng bốc, khi cấp trên đến chỉ đạo hội nghị, dự tổng kếtvới những mĩ từ bóng bẩy, đại loại : Những lời vàng ngọc của anh đã giúp chúng
em “sáng mắt, sáng lòng” khiến chúng em vô cùng “thấm thía và cảm kích”…
Thú thật, chỉ thoáng nghe những “sáo ngữ vô hồn” đợc phát ra liến thoắng nhưcon vẹt này, những ai có lòng tự trọng cũng cảm thấy phải đỏ mặt xấu hổ bẽ bàng
vì nó trơ trẽn quá, thậm chí vô liêm sỉ quá! đúng là không có sợi dây thần kinh xấu
hổ nào trong bộ óc con người có thể chịu đựng nổi những kiểu “uốn lỡi cú diều này”!
Có một câu chuyện đàm tiếu rằng: Một ông cấp phó vào thăm ông cấp
tr-ưởng trong bệnh viện, miệng nói dối rít “ Anh cố gắng khỏi bệnh để về với
Trang 32chúng em Anh mà nằm bẹp lâu quá thì lấy ai chèo chống con thuyền sự nghiệp của cơ quan đây? anh em trong cơ quan mong anh từng giờ…” Chao ôi! toàn những lời có cánh được đưa ra đúng lúc, đúng “cơ hội”…thế nhưng vừa
ra khỏi cổng bệnh viện, chính trị cấp phó kia lại đã thốt lên “những lời gan ruột
của mình: “Trời! ông ấy còn tỉnh táo lắm! còn lâu mới chết! Mình còn lẽo đẽo “ phó” đến bao giờ đây???.”
+Nguyên nhân:
Thử đi tìm nguyên nhân của căn bệnh này thì thấy rằng:
-Do thiếu trung thực, xa thực tế , chỉ muốn cầu lợi, thích được khen, không
muốn bị nhắc nhở, phê bình (dù nhỏ), che giấu sự thật , thậm chí tìm cách tẩy
chay sự thậtđể làm lợi cho một số cá nhân của một số ngời mà thôi
- Xung quanh chúng ta có rất nhiều người thích được nịnh, thích đợc ve
vuốt, đợc ru ngủ, đợc tung hô thì ắt có kẻ “lợi khẩu” uốn éo và khi ấynói dối sẽ trở thành một “nghệ thuật” luồn lách của những kẻ vụ lợi, háo danh.
Khi đã quen nói dối và quen nghe nói dối rồi thì ngời ta sẽ dửng dưng với tất cả,
coi thờng tất cả Cái đáng no là âm hưởng ngọt ngào của nói dối đã trở thành “lá bùa hộ mạng” có hiệu quả cho những kẻ bất tài luôn hành sử theo phương châm
“Công thì của tôi”, còn “tội thì của chúng ta”! Do vậy họ cố tình khai khống, kê
khống thành tích, bàng cấp để tô son, trát phấn cho mình, để ra oai với người khácBáo cáo không trung thực- căn bệnh này cũng chính là nói dối vậy Và khi cấptrên lại quan liêu nữa thì quả là một đại hoạ đối với xã hội
+Phương hướng giải quyết :
Làm thế nào để ngăn chăn và đẩy lùi tình trạng này? Thiết nghĩ phải nângcao tinh thần phê và tự phê, đồng thời thực hiện dân chủ sinh hoạt trong cộngđồng Phê bình phải nh ngọn roi quất vào, gột rửa và hạn chế căn bệnh này Phảibiết tôn trọng sự thật, nói đúng sự thật
3 Kết luận: “Thuốc đẳng rã tật, sự thật mất lòng”
Trang 33Tiết 3
B NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ.
1,Thế nào là nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí?
+Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là bàn về vấn đề thuộc lĩnh vực
tư tưởng, đạo đức, lối sống… của con người
+Yêu cầu của bài nghị luận này là phải làm sáng tỏ vấn đề tư tưởng, đạo lí
bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích… để chỉ ra
chỗ đúng (hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó, nhằm khẳng định tư tưởng
của người viết
+Về hình thức, bài viết phải có bố cục ba phần; có luận điểm đúng đắn,
sáng tỏ; lời văn chính xác, sinh động
2,Đề bài nghị luận về một vấn đề t tởng, đạo lí.
-Đạo lí “Uống nớc nhớ nguồn
-Bàn về tranh giành và nhường nhịn
-Lòng biết ơn thầy , cô giáo
-Suy nghĩ từ câu ca dao “Công cha nh núi TháiSơn- Ngjĩa mẹ nh nớc trongnguồn chảy ra.”
3,Tìm hiểu đề- Tìm ý.(Ví dụ Suy nghĩ về đạo lí “Uống nớc nhớ nguồn”)
-Tính chất của đề Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
-Yêu cầu về nội dung :Nêu suy nghĩ về câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn.-Tri thức cần có
+Hiểu biết về vấn đề cần nghị luận
+Vận dụng các tri thức về đời sống
-Tìm ý :Tìm nghĩa câu tục ngữ bằng cách giải thích nghĩa đenvà nghĩa bóngcủa nó Nội dung của câu tục ngữ thể hiện truyền thống đạo lí gì của ngời Việt ?Ngày nay đạo lí ấy có nghĩa nh thế nào ?
4,Lập dàn ý(Dàn ý chung của bài nghị luận.).
Trang 345, Luyện tập.
*Bài 1.Suy nghĩ về đạo lí : Uống nớc nhớ nguồn
(1),Mở bài
+ Đi từ chung đến riêng : Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam có rất nhiều
câu tục ngữ sâu sắc thể hiện truyền thống đạo lí của người Việt Một trong nhữngcâu đó là câu : Uống nớc nhớ nguồn Câu tục ngữ này nói lên lòng biết ơn đối vớinhững ai đã làm nên thành quả cho con người hưởng thụ
+ Đi từ thực tế đến đạo lí : Đất nước Việt Nam có nhiều đền, chùa và lễ hội.
Một trong những đối tượng thờ cúng, suy tôn đó là anh hùng, có vị tổ tiên có côngvới dân, với làng, với nước Truyền thống đó được phản ánh vào một câu tục ngữrất hay và cô đọng : Uống nước nhớ nguồn
+Dẫn một câu danh ngôn : Có một câu danh ngôn nổi tiếng :kẻ nào bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào hắn bằng đại bác !.Thật
vậy, nếu nước có nguồn, cây có gốc thì con người có tổ tiên và lịch sử Không có
ai tự nhiên sinh ra ở trên đời này và tự nhiên làm ra mọi thứ để sống Tất cảnhững thành quả về vật chất và tinh thần mà chúng ta đợc thừa hởng ngày nay đề
do mồ hôi lao động và máu xương chiến đấu của cha ông ta tạo dựng Vì thế câutục ngữ Uống nước nhớ nguồn quả là một ý nghĩa đạo lí rất sâu sắc
(2),Thân bài.
a, Giải thích nội dung câu tục ngữ: Uống nớc nhớ nguồn.
+Nghĩa đen :
-Nớc là sự vật tự nhiên có vai trò đặc biệt trong đời sống
-Nguồn là nơi nước bắt đầu chảy
-Uông nớc là tận dung môi trường tự nhiên để tồn tại và phát triển
+Nghĩa bóng :
-Nước là thành quả vật chất và tinh thần mang tính lịch sử của cộng đồngdân tộc
-Uống nước: Hưởng thụ các thành quả của dân tộc
-Nguồn:Những người đi trước đã có công sáng tạo ra các giá trị vật chất vàtinh thần của dân tộc
-Nhớ nguồn: Lòng biết ơn cha ông, tổ tiên, các vị tiền bối của dân tộc
+Nhận định, đánh giá.
-Đối với đa só người đợc giáo dục chu đáo, có hiểu biết sâu sắc và có lòng
tự trọng thì luôn có ý thức tôn trong, giữ gìn, phát huy những thành quả đã có củacha ông đố với một số kẻ kém hiểu biết thì dễ nảy sinh tư tưởng sùng ngoại, thái
độ coi thờng, chê bai những thành quả của dân tộc
Ngày nay, khi đợc thừa hưởng những thành quả của dân tộc, mỗi chúng takhông chỉ khắc sâu lòng biết ơn, mà còn phải có trách nhiệm nỗ lực học tập và laođộng tốt hơn nữa để dóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào kho tàng
di sản của dân tộc
(3).Kết bài.
Trang 35+Đi từ nhận thức tới hành động: Câu tục ngữ đã nhắc nhở mọi ngời ghi
nhớ một đạo lí của dân tộc, đạo lí của ngời đợc hởng thụ Hãy sống và làm việctheo truyền thống tốt đẹp đó
+Đi từ sách vở sang đời sống thực tế: Hiểu đợc ý nghĩa sâu xa câu câu tục
ngữ, chúng ta hãy tự xem xét và điều chỉnh suy nghĩ và hành động của mình.Nghĩa là môi chúng ta không chỉ có quyền được hưởng thụ, mà còn phải có tráchnhiệm và nghĩ vụ đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triểnchung của dân tộc
*Bài 2.Tinh thần tự học.
(1) Mở bài
Trong thực tế tất cả những ai cắp sách tới trờng thì đề dược học một chươngtrình như nhau; nhưng trình độ của mỗi người rất khác nhau bởi kết quả học tậpcủa mỗi cá nhân còn phụ thuộc vào phương pháp và hiệu quả tự học của họ Nóicách khác, tự học là một trong những nhân tố quyết định kết quả học tập của mỗingười
+ Học dới sự hớng dẫn của thậy, cô giáo : Hoạt động này diễn ra trong những
không gian cụ thể , những điều kiện và quy tắc cụ thể
VD:
-Phòng học 8a hay lớp 8b
-Thời gian là 45 phút hay 90 phút
-Điều kiện về cơ sở vật chất, khí hậu
-Quy tắc ở trường phổ thông, trung cấp, đại học
Hình thức này là có giới hạn về thời gian
+Tự học: là dựa trên cơ sở kiến thức và kĩ năng đã đợc học tập ở nhà trường để
tiếp tục tích luỹ tri thức và rèn luyện kĩ năng
Hình thức này không có giới hạn về thời gian, nghĩa là học suốt đời
+ Là luôn khiêm tốn học hỏi ở bạn bè và những người khác
b, Dẫn chứng
+ Các tấm gương trong sách báo
+ Các tấm gương ở bạn bè xung quanh mình
(3) Kết bài.
Trang 36Khẳng định vai trò của tự học và tinh thần tự học trong việc phát triển vàhoàn thiện nhân cách của mỗi người.
C NGHỊ LUẬN VĂN HỌC.
Nghị luận văn học có ba loại:
+Nghị luận về nhân vật văn học
+Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)
+Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Ví dụ: Suy nghĩ của em về truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao
1 Mở bài:
a Mở bài trực tiếp :Truyện ngắn “Lão Hạc’’ của Nam Cao đã để lại cho em
những suy nghĩ sâu sắc về số phận của người nông dân trong xã hội cũ Lão Hạckhông chỉ là ngời nông dân bị bần cùng hoa lá vì đói nghèo , tối tăm như bao người
nông dân khác , mà có lẽ lão còn là một kiểu “nạn nhân”của bổn phận làm cha.
Đây chính là tấn bi kịch tinh thần đầy nước mắt của người nông dân nghèo, nhưnggiàu lòng tự trọng và luôn tự vấn lương tâm mình một cách nghiêm khắc
b Mở bài gián tiếp: Có một nhà văn đã nói: Xúc động trước một nhân vật nào
đó tức là đã sống thêm một cuộc đời mà ta cha từng sống và sẽ thương cảm xót xa
với tấn bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong chuyện ngắn “Đời thừa” , có thể
rơi nước mắt với tấn bi kịch hoàn lương của nhân vật Chí Phèo trong chuyện ngắn
“ Chí Phèo” và giờ đây, ta xúc động nghẹn ngào với tấn bi kịch làm cha của nhân
vật lão Hạc trong chuyện ngắn cùng tên của Nam Cao Với lão Hạc, có lẽ ấn tượngsâu sắc nhất đôí với người đọc chính là cái chết dữ dội của lão bởi đó là một cáichết có hình thức giống như cái chết của một con vật vô chủ; nhưng về bản chất,
đó là một sự hi sinh tuyệt đối của một người cha cho ngời con, mà cả hai cha conđều là những kẻ bất hạnh
Cách 2: Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luôn luân chuyển Con người chỉ
xuất hiện một lần trong đời và cũng chỉ một lần ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng.Nhưng những gì là thơ, là văn, là nghệ thuật đích thực thì vẫn còn mãi mãi với thời
gian Lão Hạc của Nam Cao là một tác phẩm nghệ thuật như thế, ……
2 Thân bài:
*Một đoạn cho cách mở bài gián tiếp:
Ngay ở phần đầu của chuyện ngắn, chúng ta thấy lão Hạc nhắc lại một câu
nói (- Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!) mà nhân vật “ tôi” cảm thấy: “ Thật
ra thì trong lòng tôi rất dửng dưng Tôi nghe câu ấy nhàm rồi Tôi lại biết rằng :lão nói là để đó đấy thôi , chẳng bao giờ lão bán đâu “ ; nhưng không ai có thể ngờ được rằng câu nói “nhàm chán’’ của lão Hạc lại chính là cái “ngòi nổ’’ bi
thảm cho một kiếp người !càng không ai có thể nghĩ rằng chó chết thì ngừơi cũngphải chết theo !tại sao vậy ?Chúng ta thử lần theo diễn biến của tân bi kịch này !
Trang 37VĂN THUYẾT MINH
(2 tiết)
LÍ THUYẾT(1 tiết)
A YÊU CẦU
1 Kiến thức:
- Giúp HS nắm được văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi
lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự việc trong tựnhiên, trong xã hội…
- Phân biệt văn bản thuyết minh với các văn bản tự sự, miêu tả, nghị luận, biểucảm
2 Kỹ năng:
- Rèn kỹ năng tạo dựng văn bản thuyết minh, biết thuyết minh về một vấn đề (nói
và viết)
B NỘI DUNG
1 Củng cố và nâng cao kiến thức:
1.1.Tìm hiểu chung về văn thuyết minh:
- Xem băng hình văn thuyết minh các ví dụ:
1.2 Yêu cầu và phương pháp thuyết minh:
- Để nắm được đặc điểm, yêu cầu của văn bản thuyết minh, cho học sinh đọc lại 2văn bản của 2 tác giả khác nhau cùng viết về một đối tượng cây dừa:
+ VB cây dừa Bình Định (những mẩu chuyện địa lý)
a) Ôn lại đặc điểm văn bản thuyết minh:
Trang 38+ Phải nắm được đặc trưng sự vật
+ Phải làm rõ tính mạch lạc trong thuyết minh
Sự mạch lạc thể hiện ở trình tự trình bày Sự vật khách quan muôn hìnhmuôn vẻ bởi vậy trình tự thuyết minh cũng hết sức linh hoạt Có thể thuyết minhtheo trình tự: Thời gian, không gian, bao quát - chi tiết, …miễn sao hợp lý, lôgic,
rõ ràng, dễ hiểu
+ Ngôn ngữ phải chuẩn xác trong sáng
c) Một số phương pháp thuyết minh thường gặp:
- Phương pháp nêu định nghĩa
- Phương pháp liệt kê
- Phương pháp nêu ví dụ cụ thể
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp dùng số liệu
- Phương pháp phân loại phân tích
Lưu ý: Không có phương pháp nào là tối ưu Tuỳ từng đối tượng mà lựa chọn
ph-ương pháp cho phù hợp đồng thời phải biết kết hợp nhiều phph-ương pháp trong mộtbài văn thì mới linh hoạt, sinh động
2 Luyện đề củng cố kiến thức chuyên đề
Các bài tập 1 đến 17 “Các dạng bài TLV và cảm thụ thơ văn 8) trang 34 – 46
C PHƯƠNG PHÁP:
1 Tài liệu tham khảo:
- Sách thiết kế giảng dậy ngữ văn 8 tập 1 trang 417 – 438
- Các dạng bài TLV và cảm thụ thơ văn 8 trang 32 - 46
- Kiến thức kỹ năng cơ bản tập làm văn THCS trang 73 – 145
- Tư liệu Ngữ văn 8 trang 139 – 145
2 GV ngoài viẹc cung cấp lý thuyết về kiểu bài thuyết minh, cần xây dựng những
đề bài để hướng dẫn HS tìm hiểu, thực hành: kết hợp với việc đặt ra những bài vănchuẩn mực để làm ví dụ Đặc biệt với kiểu văn bản này ngoài việc rèn kỹ năngviết, GV phải lưu ý tới kỹ năng nói cho HS
Trang 39(Thực hành – 1 tiết) CÁCH LÀM CÁC DẠNG BÀI VĂN THUYẾT MINH
A YÊU CẦU:
1 Kiến thức:
- HS biết tạo lập các dạng bài văn thuyết minh
- Củng cố và nâng cao kiến thức về tác giả Tản Đà và bài thơ "Muốnlàm thằng Cuội "
2 Kỹ năng:
- Rèn luyện cách làm các dạng bài văn thuyết minh
B TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Tản Đà về tác giả và tác phẩm - NXB GD
C NỘI DUNG:
I Cách làm các dạng bài văn thuyết minh
1 Thuyết minh về thể loại văn học ( truyện ngắn)
1.1 Lý thuyết: dàn bài thuyết minh về thể loại TN
a, Mở bài : Giới thiệu về thể loại truyện ngắn
b, Thân bài: Nêu các đặc điểm của truyện ngắn
- Là hình thức tự sự loại nhỏ tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống.Truyện ngắn thường ít nhân vật và sự kiện (có dẫn chứng minh họa)
- Cốt truyện thường diễn ra trong một không gian thời gian hạn chế, nókhông kể trọn vẹn một quá trình diễn biến… (có dẫn chứng minh họa)
- Kết cấu thường là sự sắp đặt đối chiếu, tương phản để làm nổi bật chủ đềtruyện ngắn thường ngắn (có dẫn chứng minh họa)
- Truyện ngắn đề cập đến những vấn đề lớn của cuộc đời (có dẫn chứngminh họa)
Đề 2: Viết baì thuyết minh về tác giả Nam Cao và đặc điểm của thể loại
truyện ngắn qua văn bản (Lão Hạc)
Đề 3: Viết bài thuyết minh về tác giả Thanh Tịnh và đặc điểm truyện ngắnqua văn bản " Tôi đi học"
2, Thuyết minh về tác giả và giá trị của tác phẩm
* Dàn bài:
a, Mở bài: giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm đó
Trang 40b, Thân bài thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp văn học của tác giả đó(dựa vào chú thích ở cuối mỗi bài văn)
- Tên quê, năm sinh, năm mất
3, Thuyết minh về dạng thơ tứ tuyệt
4, Thuyết minh về loài cây loài hoa