Trong trườnghợp công ty thực phẩm Jordano, Sue purdum cần phải hiểu các mối quan hệ logistics trước khi cô có thể đồng bộ hóa với toàn bộ chuỗi cung ứng SAB.Trọng tâm của chương này là p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘIVIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI TẬP NHÓM Môn học:
QUẢN LÝ CHUỖI CUNG CẤP TOÀN CẦU CHƯƠNG
II NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA LOGISTICS
Giáo viên giảng dạy : TS Nguyễn Văn NghiếnHọc viên thực hiện : Trần Ngọc Anh
Lê Thị Mai Anh Nguyễn Hồng Anh Nguyễn Ngọc Ánh
Hà Vân Ánh
Lớp: 2014B QTKD2
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
CHƯƠNG II
Trang 2NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA LOGISTICS
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Sau khi đọc chương này , bạn sẽ có thể nắm được các kiến thức như sau :
nhân và công cộng
- Thảo luận về tác động của logistic cho nền kinh tế và hiệu quả của quản lýlogistics góp phần vào sức sống của nền kinh tế
- Hiểu được vai trò giá trị gia tăng của logistíc trên cả tầm vĩ mô và vi mô
- Giải thích hệ thống logistics từ một số quan điểm
- Hiểu được mối quan hệ giữa logistics và các các lĩnh vực chức năng quantrọng khác trong một công ty , bao gồm sản xuất , tiếp thị và tài chính
- Thảo luận về các hoạt động quản lý quan trọng trong chức năng logistics
- Phân tích hệ thống logistics từ những quan điểm khác nhau để đáp ứng cácmục tiêu khác nhau
thống logistics từ quan điểm tĩnh và động
1-TÌNH HUỐNG CÔNG TY JORDANO
Susan Weber, phó TGĐ về logistíc cho công ty thực phẩm Jordano, vừahoàn thành Tin nhắn e-mail cho các thành viên khác trong Ban điều hành của côngty
THÔNG ĐIỆP E-MAIL
Tôi vừa trở về từ một cuộc họp dài với Sue Pur-dum, Giám đốc điều hànhcủa SAB Distribution Sue đang chịu sức ép rất lớn từ ban giám đốc của mình đểnâng cao lợi nhuận của SAB SAB đã nhận được một đề nghị từ nhà phân phốikhác mua lại công ty, và một số thành viên của hội đồng quản trị SAB đã khuyếncáo rằng các đề nghị có thể được chấp nhận Sue Purdum cảm nhận mạnh mẽ rằngSAB có thể "quay trở lại", có nghĩa là, lợi nhuận và tăng trưởng có thể được cảithiện Cô gặp gỡ tất cả các nhà cung cấp lớn và các khách hàng của SAB để đềnghị thêm cách tiếp cận chuỗi cung ứng tương tác nhiều hơn trong hoạt động cungứng của họ
Tôi không chắc rằng tôi hiểu rõ tất cả các phương diện của việc quản lýchuỗi cung ứng, nhưng ý tưởng của Sue Purdum có ý nghĩa với tôi Cô cảm thấyrằng nếu cô ấy có thể làm việc gắn bó hơn với các nhà cung cấp lớn của SAB(chúng tôi là nhà cung cấp lớn thứ 6 của họ) và những khách hàng lớn ( trong số
Trang 315-20 khách hàng đứng đầu), thì sẽ giảm được chi phí một cách đáng kể Cô ấycũng bị thuyết phục rằng những tiết kiệm về chi phí này không phải là phí dịch
vụ Trong thực tế, cô ấy đã cho ví dụ về vị trí các công ty trong một chuỗi cungứng đã giảm chi phí và cải thiện dịch vụ Tôi quan tâm về việc làm thế nào tiếtkiệm được chi phí Sue Purdum bảo đảm với tôi rằng đó là sự tiếp cận đôi bêncùng có lợi Cô ấy cảm thấy chắc chắn rằng hầu hết các khoản tiết kiệm nên theohướng giảm giá để làm cho chuỗi cung ứng của chúng ta cạnh tranh hơn Năng lựccạnh tranh được cải thiện sẽ dẫn đến doanh số bán hàng tăng lên đối với tất cả cácthành viên của chuỗi cung ứng, từ đó sẽ cải thiện lợi nhuận của chúng ta
Một cách tiếp cận khác Sue Purdum đề cập trong thông điệp là các thànhviên trong chuỗi cung ứng lớn không chỉ phải cải thiện hệ thống logistics nội bộ
mà còn phải cố gắng phối hợp các hoạt động logistics của họ bằng cách hợp tác vàchia sẻ thông tin thích hợp
Tôi sẽ yêu cầu Paul Durkin, quản lý kho, Tracie Shannon, quản lý hàng tồnkho, Sue Kolbe, quản lý vận chuyển, và Jean Beierlein, phó giám đốc dịch vụchăm sóc khách hàng, để tạo thành một nhóm làm việc Chúng ta sẽ tổ chức cuộchọp hàng tuần và sẽ cập nhật tất cả các giám đốc và quản lý trên cơ sở hàngtháng Thông tin đầu vào của mỗi người sẽ là một phần quan trọng của chươngtrình này
2- BỐI CẢNH CÔNG TY THỰC PHẨM JORDANO
Công ty thực phẩm Jordano được thành lập vào năm 1950 tại Lewistown,Pennsylvania, bởi hai anh em, Luigi và Mario Jordano Cha mẹ của 2 anh em điềuhành một nhà hàng ở Burnham, Pennsylvania, về ẩm thực Ý Marie Jordano nổitiếng về kỹ năng nấu nướng Bà phát triển các công thức về nấu nước sốt mì ốngcủa riêng mình, thịt viên, mì ống tươi và khô, Luigi và Mario đã làm việc trongnhà hàng trước khi thành lập Công ty thực phẩm Jordano Họ thấy rằng họ có thểtận dụng trên công thức nấu ăn của gia đình bằng cách bán mì ống, nước sốt, vàmột số sản phẩm liên quan đến thức ăn Ý tới các nhà hàng khác trong các thịtrường lân cận ở trung tâm Pennsylvania
Liên doanh ban đầu của họ đã thành công đến nỗi họ mở rộng dây chuyềnsản phẩm và bắt đầu bán sản phẩm của họ cho các nhà bán buôn nhỏ và vừa và cácnhà phân phối trên khắp Pennsylvania Họ xây dựng một nhà máy ở Lewistown,Pennsylvania, để sản xuất các sản phẩm thực phẩm và sau đó xây dựng một nhàmáy khác ở Elizabethtown, Pennsylvania và một nhà kho ở Mechanicsburg,Pennsylvania
Trang 43- THỰC TRẠNG
Những năm 1980 và 1990 là thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ đối với công tythực phẩm Jordano Mario và Luigi vẫn còn làm việc trong công ty với vai trò làchủ tịch/giám đốc điều hành và kiêm chủ tịch hội đồng quản trị Doanh số bánhàng hiện tại đã vượt trên 300 triệu USD mỗi năm và đã xây dựng nhà máy thứ ba
ở phía tây Pennsylvania gần Uniontown Công ty đã đào tạo một nhóm chuyênnghiệp để phụ trách các bộ phận chức năng chính Susan Weber đã được tuyểndụng vào năm 1995 để phụ trách về lĩnh vực logistics, trước đó bộ phận này khôngđược chú ý nhiều cho tới khi Susan được tuyển dụng Sự nghiệp của cô ấy tại P&G
đã đem lại cho cô ấy nhiều kinh nghiệm tại tất cả các giai đoạn của logsticss Đó làkinh nghiệm của cô ấy với hệ thống lập kế hoạch, điều đó đã đặc biệt thu hútMario Jordano khi phỏng vấn
Việc thay đổi cho một công ty tương đối nhỏ là thách thức đầu tiên đối vớiSusan nhưng tới thời điểm này cô ấy vẫn rất hài lòng với vai trò của mình Dưới sựlãnh đạo của cô, một số sáng kiến về quản lý kênh phân phối và hàng tồn kho đãđược thực hiện Cô đã rất ủng hộ cách tiếp cận hợp tác của Sue Purdum Cô ấy dồntâm sức vào nỗ lực hợp tác bước đầu của P&G với các bên cung cấp Cô muốnnhóm làm việc của mình phân tích làm thế nào họ có thể cải thiện hệ thốnglogistics đầu vào và logistic đầu ra của họ không chỉ để hoạt động hiệu quả hơn màcòn cung cấp dịch vụ tốt hơn cho các nhà máy của họ (đầu vào) và khách hàng của
họ, chẳng hạn như nhà phân phối SAB (đầu ra)
Weber nhận ra những nhóm chức năng được cô bổ nhiệm cần phải hoạt độngtrên một quan điểm hệ thống, thêm vào đó cả nhóm phải phối hợp với bộ phận sảnxuất/chế biến và bộ phận marketing Cô ấy quan tâm tới việc phối hợp giữa sảnxuất và marketing bởi vì theo cách truyền thống những bộ phận này hoạt động rấtđộc lập và dường như họ miễn cưỡng khi xem xét lời đề nghị mà cô đã đưa ra vềviệc thắt chặt hơn mối quan hệ và thảo luận về sự cân bằng các bộ phận
Weber đã cố gắng giữ một thái độ cởi mở Cô nhận thấy rằng anh emJordano đã quản lý và phát triển bộ phận sản xuất và marketing trong suốt nhữngnăm đầu thành lập và cả hai bộ phận này được coi là cơ sở cho sự thành công củacông ty Logistics là một bộ phận mới đối với công ty JorDano Foods Trong công
ty có những người hoài nghi về giá trị gia tăng của logistics mang lại lợi nhuận và
vị thế cạnh tranh cho công ty thực phẩm Jordano
“Minh chứng” của Susan Weber đã thực sự "đầy đủ" với cả những tháchthức nội bộ và bên ngoài và áp lực để chứng minh tầm quan trọng của các chứcnăng logistics Trong suốt chương này sẽ xác định các bộ phận đối với công tyJordano food để cải thiện quá trình Logistics của mình và mối quan hệ chuỗi cungứng với hệ thống phân phối SAB
Trang 5GIỚI THIỆU
Như đã chỉ ra ở phần trước, quản lý chuỗi cung ứng đã thu hút sự chú ý
và quan tâm của nhiều giám đốc điều hành cấp cao Logistics chưa được hiểu đúng
và thường bị bỏ qua sự hào hứng xung quanh quản lý chuỗi cung ứng và tất cảcông nghệ liên quan đã được phát triển để hỗ trợ chuỗi cung ứng “Glitter andglitz” kết hợp với chuỗi cung ứng điện tử, bán lẻ điện tử, và thương mại điện tử,dường như đã làm lu mờ tầm quan trọng của logistics trong công ty và sự cần thiếtphải hỗ trợ logistics hiệu quả trong chuỗi cung ứng Logistics có thể được xem nhưbình thường bởi một vài cá nhân và khi so với chuỗi cung ứng như là áp lực và trìhoãn
Những chuyên gia logistics và những nhà quản lý hiểu biết khác cũng nhận rađược điều đó, mặc dù tất cả sự cường điệu về Internet, những công ty thành côngcũng phải quản lý thực hiện đơn hàng cho khách hàng của họ một cách hiệu quả đểxây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh và lợi nhuận Nhiều câu chuyện về sự thấtbại của kênh bán lẻ điện tử trong mùa Giáng Sinh năm 1999 đã cung cấp bằngchứng về sự cần thiết của hệ thống logistics cơ bản cho dịch vụ tốt Sự tinh vi vàquyến rũ của hệ thống front-end không thể đứng một mình trong thị trường cạnhtranh toàn cầu của ngày nay-công việc back office (hậu cần) lại là rất quan trọngđem đến sự hài lòng của khách hàng Thực tế, tốc độ đặt hàng thông qua Internet
và các công nghệ khác làm tăng thêm sự cần thiết đối với một hệ thống logisticshiệu quả và điều đó có thể có thể triển khai phù hợp với mức độ hàng tồn kho, tốc
độ hoàn thành đơn đặt hàng tới khách hàng, và quản lý bất kỳ hàng hoá trả lại Câukhẩu hiệu thường được trích dẫn "Logistics tốt là sức mạnh kinh doanh " là rấtđúng đắn vì nó giúp xây dựng lợi thế cạnh tranh Vì vào cuối ngày,nếu bạn khônggiao được sản phẩm cho khách hàng của bạn, bạn sẽ không thể tồn tại lâuđược Điều này không phải là để nói rằng bạn không cần sản phẩm có chất lượng
và marketing hiệu quả Cả hai rõ ràng là rất quan trọng, nhưng chúng phải được kếthợp hệ thống logistics một cách hiệu quả cho thành công lâu dài và khả năng tàichính của mình
Thách thức lớn được đặt ra ở đây làm thế nào để quản lý được toàn bộ hệthống logistic theo cách đáp ứng đầy đủ các yêu cầu và có lẽ vượt xa sự mong đợicủa khách hàng Đồng thời, thị trường cạnh tranh đòi hỏi tính hiệu quả của việckiểm soát vận chuyển và các chi phí khác liên quan đến logistics Như đã đượcthảo luận, chi phí và dịch vụ thương mại có thể được xem xét khi đánh giá mức độdịch vụ khách hàng và tổng chi phí liên quan đến logistics, nhưng cả hai mục tiêu:Hiệu quả và sự cần thiết của logistics là rất quan trọng trong môi trường cạnh tranhngày nay
Điều quan trọng là ngay từ đầu để phân biệt giữa quản lý logistics và quản
lý chuỗi cung ứng, hoặc thích hợp hơn, kết hợp hai khái niệm này với nhau Trong
Trang 6chương tiếp theo, quản lý chuỗi cung ứng được định nghĩa bằng cách sử dụngmột chuỗi tương tự với sự bắt đầu của chuỗi đại diện cho các nhà cung cấp banđầu và kết thúc của chuỗi là đại diện cho khách hàng cuối cùng (xem Hình 2-1).Nói cách khác, nó là một chuỗi mở rộng của các doanh nghiệp từ nhà cungcấp của nhà cung cấp đến khách hàng cuối cùng.
Một quan điểm khác về quản lý chuỗi cung ứng là nó là một mạnglưới của hệ thống logistics và các hoạt động liên quan của tất cả các công ty tổchức cá nhân mà là một phần của một chuỗi cung ứng cụ thể Hệthống logistics đơn lẻ rõ ràng đóng một vai trò trong sự thành công của cả chuỗicung ứng.Tổng thể sự phối hợp hay tích hợp của hệ thống logistics trong mộtchuỗi cung ứng là một thách thức Để đánh giá đầy đủ động lực của thách thứcnày, cần thiết để kiểm tra và khảo sát một hệ thống logistics riêng lẻ Trong trườnghợp công ty thực phẩm Jordano, Sue purdum cần phải hiểu các mối quan
hệ logistics trước khi cô có thể đồng bộ hóa với toàn bộ chuỗi cung ứng SAB.Trọng tâm của chương này là phương diện của hệ thống logistics riêng lẻ nhưngphải nhìn nhận rằng không có tổ chức logistics nào hoạt động xa rời các tổ chứckhác Ví dụ, phần đầu vào của hệ thống logistics của nhà sản xuất là đầu ra của hệthống logistics của nhà phân phối Đầu ra của hệ thống logistics của nhà sản xuất làđầu vào của hệ thống logistics của khách hàng
Hình 2-1 Sơ đồ chuỗi cung ứng hiện đại
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu chuỗi cung ứng, Đại học bang Penn.
Như đã đề cập trong các phiên bản trước, logistics đã đi một chặng đường dài
từ những năm 1960 Các đánh giá ngày càng cao về giá trị liên quan tới logisticstốt và sự quản lý cải tiến về hệ thống logistics đã dẫn đến thay đổi đáng kể và hiệuquả đã được cải thiện Để đạt được một số đánh giá cao về những tiến bộ đã đượcthực hiện, điều đó rất hữu ích để kiểm tra chi phí liên quan đến logistics trong nềnkinh tế
Logistics trong nền kinh tế: Một góc nhìn vĩ mô
Trang 7Có thể nói, chi phí tuyệt đối của logistics trên cơ sở vĩ mô sẽ tăng với sựtăng trưởng của nền kinh tế Nói cách khác, nếu chúng ta sản xuất và tiêu thụ hànghóa và dịch vụ nhiều hơn, thì tổng chi phí sẽ tăng liên quan đến tất cả hoạt độnglogistics của mỗi và mọi tổ chức Để xác định hiệu quả của hệ thống logistics,chúng ta cần phải đo lường tổng chi phí logistics về tổng sản phẩm quốc nội, chỉ sốđược chấp nhận rộng rãi và được sử dụng để đánh giá tỷ lệ tăng trưởng của nềnkinh tế.
Như đã chỉ ra trong hình 2-2, chi phí logistics như là tỷ lệ phần trăm trongtổng sản phẩm quốc nội (GDP) Nó đã giảm kể từ năm 1980 từ 16% xuống dưới10% Trong thực tế, chi phí logistics chiếm gần 20% GDP vào đầu tới giữa nhữngnăm 1970 Robert Delaney, phó chủ tịch của Cass logistics ở St Louis, đã pháttriển và công bố số liệu cấp độ vĩ mô logistics trong hơn mười năm Báo cáo hàngnăm của ông là một thước đo được công nhận rộng rãi cho các chi phí logistics
Hình 2-2 Logistics Chi phí Logistics trong phần trăm của GDP
Nguồn: Robert Delaney, Hệ thống thông tin Cass
Như có thể dễ dàng nhìn thấy từ hình 2-2, chi phí logistics trên cơ sở tươngđối ( so với GDP) đã giảm trong quá trình hơn hai mươi năm qua Đó là, đã có mộtcải tiến đáng kể trong hiệu quả của toàn hệ thống logistics của các công tykhác nhau hoạt động trong nền kinh tế Sự giảm về chi phí tương đối nàygiảm cho phép các công ty cạnh tranh hơn vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến chiphí sản xuất hàng hoá (COGS) Nó có thể được lập luận rằng thay đổi hoàntoàn đã xảy ra trong khả năng tồn tại kinh tế toàn cầu của Hoa Kỳ, là một phần
do sự cải thiện trong chi phí logistics Những năm 1990 là hoàn toàn trái ngược với
Trang 8những năm 1970 và đầu những năm 1980, khi sự cạnh tranh trong kinh tế quốc giacủa chúng ta được đặt câu hỏi nghiêm túc trong mối quan hệ với các nước ở Tây
Âu và trên bờ Thái Bình Dương
Một số hiểu biết thêm về logistics bằng cách kiểm tra ba loại chi phí chínhtrong phương pháp đo lường của Delaney về logistics hàng năm: chi phí lưutrữ, chi phí vận chuyển và chi phí quản lý Nói một cách đơn giản, chi phí lưu trữ
là tất cả chi phí phát sinh khi lưu trữ hàng trong kho Chi phí lưu trữ bao gồm chiphí lãi vay (hoặc chi phí cơ hội liên quan đến đầu tư và hàng hoá trong kho), khobãi, chi phí liên quan đến rủi ro (lỗi thời, hư hỏng, thiệt hại) và các chi phí liênquan đến dịch vụ (bảo hiểm, thuế) Chi phí vận chuyển là tổng số chi tiêu quốcgia cho sự di chuyển của hàng hóa trong nước Mỹ Chi phí thứ ba của logistics làchi phí quản lý quan đến việc quản lý các hoạt động logistics
Hình 2 -3 mô tả những loại chi phí logistics trong năm 1999
Nguồn: Robert Delaney, Hệ thống thông tin Cass
Tổng chi phí logistics được trình bày trong Hình 2-3 cho năm 1999 là921USD tỷ dường như đã không phản ánh đầy đủ chi phí thực
sự của logistics trong nền kinh tế bởi vì nó đã không thể hiện bao gồm một số hoạtđộng của logistics mà đã được thảo luận trong chương này Tuy nhiên, dựtoán chi phí được cung cấp bởi Delaney nắm bắt các loại chi phí lớn, nhưng, quantrọng hơn, xu hướng mười năm của chi phí logistics của nền kinh tế được thểhiện trong hình 2-3
Trang 9Xu hướng giảm chi phí logistics liên quan đến tổng sản phẩm quốc nội(GDP) chỉ ra trong hình 2-3 là rất quan trọng cần lưu ý Sự suy giảm bắt đầuvào đầu những năm 1980 và liên quan chặt chẽ đến bãi bỏ quy định vậnchuyển, cho phép sự linh hoạt nhiều hơn nữa cho các phương tiện để điều chỉnh tỷgiá và dịch vụ nhằm đáp ứng cạnh tranh.Tóm lại tỷ lệ giá vận chuyển suy giảm đểđáp ứng trong thời kỳ mới môi trường có ít quy định hơn
Một yếu tố thứ hai góp phần vào xu hướng này là việc quản lý hàng tồn kho
đã được cải thiện Đây là kết quả của việc tập trung đầu tư vào hàng tồn kho và cáccông cụ quản lý tốt hơn về kỹ thuật để có quyết định hiệu quả hơn (Chương 7
và Chương 8 thảo luận về những công cụ này chi tiết hơn)
Trên cơ sở vĩ mô, Cục Dự trữ Liên bang công bố dữ liệu về tỷ lệ hàng tồnkho phục vụ bán hàng (xem Hình 2-4) Nói cách khác, có bao nhiêu hàng tồnkho công ty thực hiện để hỗ trợ doanh số bán hàng? Điển hình, người ta cóthể mong đợi lượng hàng tồn kho tăng cùng với doanh số bán hàng tăng Hình 2-
4 cho thấy một xu hướng rất thú vị của hàng tồn kho giảm tương đối để bánhàng Đây là một biện pháp hiệu quả và rõ ràng chỉ ra rằng các công
ty đang cải thiện việc quản lý hàng tồn kho của họ Nhìn chung, các công ty hỗtrợ để tăng trưởng doanh số bán hàng với một mức độ hàng tồn kho thấp hơn nhiềutrên cơ sở tương đối
Hình 2-4 Tỷ lệ hàng tồn kho-Kinh doanh
Nguồn: Ngân hàng Dự trữ Liên bang St Louis
Ngoài ra để tập trung quản lý hàng tồn kho và vận chuyển hiệu quả hơn, toàn
bộ hệ thống logistics cần nhận được nhiều sự quan tâm hơn nữa Điều này chắcchắn xảy ra khi các nhà quản lý Mỹ đã nhận ra sức mạnh của thôngđiệp được gửi bởi Peter Drucker trong một bài báo viết cho tạp chí Fortune 1962:1
Phân phối là một trong những lĩnh vực bị lãng quên thật đáng buồnnhất nhưng là lĩnh vực hứa hẹn nhất của doanh nghiệp Mỹ Hiện nay chúng ta biếtrất ít về phân phối như hiểu biết của những người cùng thời Napoleon về Châu
Trang 10Phi Chúng ta biết mấu chốt vấn đề nằm ở đó, và chúng ta biết đó là vấn đề lớn,
và đó là tất cả Hầu hết các khái niệm hiện nay của chúng ta tập trung vào sảnxuất hoặc trên các dòng tiền và tín dụng, chứ không phải là dòng chảycủa hàng hóa vật chất và đặc điểm kinh tế của nó Để có được kiểm soát phânphối đòi hỏi phải nhìn nhận và quản lý nó như là một chiều hướng khác biệt củadoanh nghiệp và là một tài sản của sản phẩm và quá trình chứ không phải là tậphợp các công việc kỹ thuật
Nhân viên thu mua công nghiệp phải biết tình hình kinh doanh củamình .Anh ấy phải biết những sản phẩm hoặc sự cung cấp mà anh ta mua đónggóp vào kết quả kinh doanh cuối cùng của công ty là gì Mục đích của tôi chỉ racông việc phân phối như là một lĩnh vực nơi mà đòi hỏi sự thông minh và chăm chỉ
để có thể tạo ra kết quả đáng kể cho doanh nghiệp Mỹ Trên tất cả, có nhu cầu chomột định hướng mới đề cao tầm quan trọng của hoạt động phân phối trong thiết
kế kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, và chính sách kinh doanh với chi phí đảm bảocủa nó
Hai loại chi phí lớn nhất trong bất kỳ hệ thống logistics trong bất kỳ công
ty nào là chi phí vận tải và chi phí hàng tồn kho Như đã chỉ ra, chi phí vận chuyểnthường là chi phí lớn nhất trong bất kỳ hệ thống logistics nào
Vận tải hàng hóa với tổng chi phí là 450 tỷ USD so với 99 tỷ USD cho tất
cả các chi phí vận chuyển khác Mức chi phí này phản ánh giá trị cho người gửihàng/người được sử dụng dịch vụ Vấn đề này sẽ được thảo luận trong chương vềvận chuyển hàng hóa, nhưng cần được chú ý trong nội dung này vì quản lýlogistcis cần nhìn vào tổng chi phí của các hoạt động logistics, chứ không chỉ làmột chi phí như vận chuyển hàng hóa
Cũng đáng chú ý là một trong những vẫn đề đánh đổi thườngxuyên nhất trong các hệ thống logistics trong một công ty là giữa chi phí vậnchuyển hàng hóa và chi phí hàng tồn kho Ví dụ, một công ty có thể sẵn sàngtrả mức giá cao hơn nhiều cho dịch vụ vận tải hàng không bởi vì các khoản tiếtkiệm trong các chi phí liên quan đến hàng tồn kho Trong việc đánh giá sự đánhđổi này, nhiều công ty đang sử dụng một cách tiếp cận hệ thống (sẽ được đềcập chi tiết hơn trong những phần sau) để đi đến tổng chi phí thấp nhất
Logistics là gì?
Thuật ngữ logistics đã được biết đến rộng rãi hơn bởi những ngành dịch vụcông cộng trong hai mươi năm qua Ví dụ như quảng cáo truyền hình để nângcao tầm quan trọng của logistics Công ty vận tải, đặc biệt là các công ty vận tảiđường bộ, thường xuyên dựa vào các tổ chức như các công ty logistics và in quảngcáo bên hông các phương tiện vận tải của họ Chiến tranh vùng Vịnh Ba
Trang 11Tư có thể đóng góp vào thúc đẩy việc công nhận logistic vì các nhà bình luận tintức thường xuyên đề đến những thách thức của logistics với cái gọi là 7.000 dặm
“đường ống cấp" để hỗ trợ các nỗ lực chiến tranh ở các nước vùng Vịnh Ba Tư Một yếu tố khác góp phần công nhận tầm quan trọng của logistics đó là sựnhạy cảm của chúng ta về cả chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ liên quanđang tăng lên Ví dụ, thất bại được đề cập đến trong suốt mùa Giáng sinh năm
1999 việc liên kết với các nhà bán lẻ trên mạng đã được công bố rộngrãi và thường bị nhắc đến như là sự thất bại của hệ thống logistics Nhưng ngay
cả trước khi thời gian đó, khi những cửa hàng không dự trữ một số mặt hàng chúng
ta muốn mua hay khi chúng ta đã không nhận được hàng vào khoảng thời gianchúng ta mong đợi, chúng ta vẫn sẽ đổ lỗi cho hệ thống logistics
Ngay cả việc công nhận thuật ngữ logistics được tăng lên thì vẫn còn sựnhầm lẫn về định nghĩa của logistics hay thực sự ý nghĩa của logistics là gì Một sốnhầm lẫn có thể hiểu được nguồn từ thực tế là có một số từ ngữ được sửdụng bởi các cá nhân khi họ đề cập đến những gì đã được mô tả trong chương này
Ví dụ, xem xét danh sách sau đây:
Một phần của vấn đề định nghĩa là thực tế logistics đã được mô
tả bởi nhiều nguồn có quan điểm hơi khác nhau Bảng 2-1 minh họa một số địnhnghĩa này cùng quan điểm
Đối với các mục đích của văn bản này, định nghĩa của Hội đồng Quản lýlogistics được sử dụng Tuy nhiên, điều quan là logistics khi còn chưa rõ nguồngốc đã được sử dụng trong quân đội và nó là hoạt động quan trọng trong quốcphòng
Theo quân sự, định nghĩa logistics bao gồm việc cung ứng vật tư cũng nhưcon người Có báo cáo rằng thuật ngữ logistics trở thành một phần của từ vựng
Trang 12trong quân sự vào thế kỷ 18 ở châu Âu Nhân viên logistics chịu trách nhiệmcho việc dựng trại và đóng quân cũng như lưu trữ cung cấp vật tư.
Khái niệm logistics bắt đầu xuất hiện trong các tài liệu liên quan đến kinhdoanh trong những năm 1960 dưới tên gọi phân phối hàng hóa vật chất, trong đótập trung vào hệ thống logistics bên ngoài (xem hình 2-7) Trong những năm 1960,logistics quân sự bắt đầu tập trung vào sự quan trọng kỹ thuật về độ tin cậy củalogistics, bảo trì, quản lý cấu hình, quản lý vòng đời, hỗ trợ cung cấp liêntục, và như vậy gia tăng tầm quan trọng bằng phân tích định lượng và mô hình.Ngược lại, những ứng dụng kinh doanh hoặc thương mại thường được tập trungvào khách hàng tiêu dùng hàng hóa không lâu bền liên quan đến marketing và phânphối sản phẩm hoàn chỉnh Logistics liên quan đến kỹ thuật, như là thực hiện trongquân đội, thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp
mà sản phẩm phải bảo dưỡng sửa chữa các bộ phận trong vòng đời của sản phẩmnhư máy phát điện, máy bay, thiết bị sản xuất, etc Trong thực
tế, các kỹ sư phát triển một tổ chức chuyên nghiệp riêng biệt được gọi là Hội kỹ
sư logistics (SOLE), đã tham gia tích cực tại cả các doanh nghiệp thương mại vàquân đội
BẢNG 2-1 Các định nghĩa Logistics Nội dung Định nghĩa
Hàng tồn kho Quản lý vật liệu trong chuyển động và đứng yên
Quý khách hàng
Chọn đúng sản phẩm, tới đúng khách hàng , trong đúng số lượng, đúng điều kiện , đúng nơi, đúng lúc, và với chi phí đúng (gọi là bảy Rs của Logistics)
Từ điển
Các chi nhánh của khoa học quân sự có thể thực hiện mua sắm, bảo quản và vận chuyển vật liệu, nhân sự và trang thiết bị
Hiệp hội Logistics quốc tế
Nghệ thuật và khoa học quản lý, thiết kế, và các hoạt động kỹ thuật đáp ứng yêu cầu thiết kế, cung cấp và duy trì nguồn lực để hỗ trợ các mục tiêu, kếhoạch và hoạt động
Lợi ích / giá trị
Đem lại thời gian và địa điểm tiện ích cho nguyênvật liệu và các sản phẩm hỗ trợ các mục tiêu tổ chức
Trang 13Hội đồng quản lý Logistics
Đó là một phần của quá trình chuỗi cung ứng gồm việc hoạch định và kiểm soát hiệu quả, dòng chảy
có hiệu quả và lưu trữ hàng hóa, dịch vụ, và các thông tin liên quan từ điểm cung ứng đến điểm tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng
Chức năng Quản lý
Xác định các yêu cầu vật liệu thu mua, vận chuyển, quản lý hàng tồn kho, nhập kho, nguyên vật liệu, bao bì công nghiệp, phân tích vị trí cơ sở, phân phối, xử lý hàng hóa bị trả lại, quản lý thông tin, dịch vụ khách hàng, và tất cả các hoạt động khác liên quan đến việc hỗ trợ các khách hàng nội
bộ (sản xuất) với các vật liệu và các khách hàng bên ngoài (các cửa hàng bán lẻ) với sản phẩm
Văn hóa chung Xử lý các chi tiết hoạt động
Nguồn: Trích từ Stephen H Russell, "Một lý thuyết chung về Thực hành Logistics," Tạp chí Air Force Logistics 24, no 4 (2000): 15.
Như đã nêu, kinh doanh hoặc thương mại tiếp cận để logistics phát triểnthành logistics đầu vào (quản lý vật tư để hỗ trợ con người sản xuất hoặc vậnhành) và logistics đẩu ra (phân phối hàng hóa thành phẩm để hỗtrợ marketing) trong những năm 1970 và 1980.Sau đó, trong những năm 1990, lĩnhvực kinh doanh hoặc thương mại bắt đầu xem xét logistic trong bối cảnh của mộtnguồn cung cấp hoặc nhu cầu chuỗi, nó liên kết tất cả các tổ chức từ nhà cungcấp của nhà cung cấp cho khách hàng của khách hàng Như đã thảo luận trongchương trước, chuỗi cung ứng quản lý đòi hỏi một dòng chảy, hợp tác và phốihợp của vật liệu và hàng hóa thông qua các hệ thống logistics của tất cả các tổ chứctrong mạng
Trong thế kỷ 21, logistics nên được xem như là một phần của quản lý vàđược phân ra thành:
Logistics kinh doanh: là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm
hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và hiệu lực các dòng vận động
và dữ trữ sản phẩm, dịch và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu đến điểmtiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng
Logistic quân đội: là việc thiết kế và phối hợp các phương diện hỗ trợ và
các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân đội Đảm bảo sựsẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này
Trang 14Logisc sự kiện: là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật
và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lựccho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp
Dịch vụ logistics: bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương trình, vàquản trị các điều kiện cơ sở vật chất/tài sản, con người, và vật liệu nhằm hỗ trợ vàduy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh
Tất cả bốn loại đều có một số đặc điểm chung và các yêu cầu như lập kếhoạch, dự báo, và vận tải, nhưng chúng cũng có một số khác biệt về mụcđích chính Tất cả bốn loại được xem trong một bối cảnh chuỗi cung ứng là đầuvào và đầu ra của các tổ chức khác đóng một vai trò quan trọng trong thành côngchung và khả năng tồn tại lâu dài (Xét trong văn bản này là quản lý logistics tronglĩnh vực kinh doanh.)
Một định nghĩa chung của logistics được sử dụng gồm cả bốn loại hoạtđộng logistics là:
Logistics là quá trình dự báo nhu cầu và huy động các nguồn lực như vốn,vật tư, thiết bị, nhân lực, công nghệ và thông tin để thoả mãn nhanh nhất nhữngyêu cầu về sản phẩm, dịch vụ của khách hàng trên cơ sở khai thác tốt nhất hệ thốngsản xuất và các mạng phân phối, cung cấp hiện có của doanh nghiệp, với chi phíhợp lý
Từ quan điểm của công ty thực phẩm Jordano, nên tập trung vào hệ thốnglogistics đầu vào và hệ thống logistics đầu ra (đáp ứng các yêu cầu củakhách) Tuy nhiên, Weber có những thách thức bổ sung vào yêu cầu của chuỗicungứng tổng thể
Vai trò giá trị gia tăng của logistics
Hình 2-5 minh họa bốn lợi ích kinh tế gia tăng giá trị cho một sản phẩmhay dịch vụ gồm hình thái, thời gian, địa điểm, và sở hữu Thông thường, chúng
ta điều chỉnh các hoạt động sản xuất nhằm đem lại thêm các hình thái hữu dụng,logistic góp phần tạo ra tính hữu ích về thời gian và địa điểm cho sản phẩm/dịch vụ
và hoạt động marketing đem lại lợi ích sở hữu
Hình thái hữu dụng là giá trị tăng thêm cho hàng hóa thông qua việc sảnxuất hoặc quá trình lắp ráp Vi dụ, kết quả của hình thái hữu dụng là khi nguyênliệu thô được xử lý tạo thành sản phẩm Ví dụ, trong một xưởng đóng chai, xiro,nước và cacbonat hòa với nhau để thành nước giải khát Quá trình hòa tan vật liệuthô với nhau trong việc sản xuất nước giải khát là điển hình cho việt thay đổi hìnhthái sản phẩm, gia tăng thêm giá trị cho sản phẩm
Trong môi trường kinh tế hiện nay,các hoạt động logistics cũng đem lại hìnhthái hữu dụng Vi dụ, số lượng lớn các sản phẩm được pha trộn, thường thực hiệntại trung tâm phân phối, thau đổi hình thức của sản phẩm bằng cách thay đổi kíchthước lô hàng và đặc điểm đóng gói Do đó, việc mở một gói ngũ cốc ăn sáng vào
Trang 15hộp kích thước cho cá nhân gia tăng thêm giá trị cho sản phẩm Tuy vậy, tiện íchthời gian và tiện ích địa điểm vẫn là hai tiện ích chủ yếu của logistics
Lợi ích địa điểm: Logistics cung cấp lợi ích địa điểm bằng cách di
chuyển hàng hoá từ điểm sản xuất đến điểm cần Logistics mở rộng thị trường, do
đó tăng thêm giá trị kinh tế hàng hoá vào sản phẩm Giá trị kinh tế gia tăng thêmvào hàng hóa và dịch vụ được gọi là lợi ích địa điểm Logistic tạo ra lợi ích địađiểm chủ yếu qua vận tải
Lợi ích thời gian: Không chỉ hàng hóa và dịch vụ phải hiện hữu nơi có
người tiêu dùng cần đến chúng, mà hàng hóa và dịch vụ phải có mặt tại nơi kháchhàng yêu cầu Điều này được gọi là lợi ích thời gian, hoặc giá trị kinh tế thêm vàomột hàng hóa hoặc dịch vụ bằng cách nó có tại điểm yêu cầu trong thời gian cụthể Logistics tạo ra lợi ích thời gian thông qua việc bảo trì hàng tồn kho và vị tríchiến lược hàng hóa và dịch vụ Ví dụ, logistics tạo ra lợi ích thời gian bằng cách
có những sản phẩm được quảng cáo nhiều và bán hàng hóa có sẵn trong các cửahàng bán lẻ vào thời điểm chính xác đã hứa trong quảng cáo
Để mức độ nào đó, vận tải có thể tạo ra các lợi ích thời gian bằng cách dichuyển hàng hóa nhanh chóng tới điểm yêu cầu Ngày nay lợi ích thời gian ngàycàng quan trọng vì việc giảm thời gian và giảm thiểu mức hàng tồn kho thông quachiến dịch liên quan tới logistics như kiểm soát hàng tồn kho JIT
Lợi ích sở hữu: Lợi ích sở hữu chủ yếu được tạo ra thông qua hoạt động
marketing cơ bản liên quan đến việc quảng cáo các sản phẩm hoặc dịch vụ Chúng
ta có thể hiểu rằng quảng cáo là nỗ lực tiếp xúc với khách hàng một cách trực tiếphay gián tiếp, để tăng sự mong muốn sở hữu hàng hóa hay lợi ích từ dịch vụ
Hình 2-5 Những tiện ích cơ bản trong nền kinh tế
Trang 16Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu chuỗi cung ứng, Đại học bang Penn.
- Nguyên nhân:
Các tiện ích: Các tiện ích chủ yếu được tạo ra thông qua các hoạt động tiếpthị cơ bản liên quan đến việc thúc đẩy các sản phẩm hoặc dịch vụ Chúng ta có thểđịnh nghĩa xúc tiến bán như một nỗ lực, thông qua quá trình tiếp xúc trực tiếp hoặcgián tiếp với khách hàng để tăng mong muốn sở hữu hoặc hưởng lợi từ một dịch
vụ Vai trò của logistic trong nền kinh tế phụ thuộc vào những tiện ích đang tồn tại,như tiện ích về thời gian hoặc địa điểm có ý nghĩa đối với nhu cầu của sản phẩm vàdịch vụ hiện tại Mặt khác marketing cũng phụ thuộc vào hoạt động logistic bởi vìcác tiện ích không thể hoạt động mà không phu thuộc vào tiện ích thời gian cũngnhư nơi chốn đã đưa ra Thực hiện đơn hàng là bước quan trọng và thường là bướccuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng
Logistic trong doanh nghiệp: góc nhìn vi mô.
Một góc nhìn khác của Logistic theo quan điểm vi mô là nghiên cứu mốiquan hệ giữa Logistic và các bộ phận chức năng khác trong công ty như marketing,sản xuất, tài chính, kế toán và các phòng ban khác Bản chất của Logistic là nhữnghoạt động xuyên suốt các bộ phận chức năng truyền thống trong doanh nghiệp, đặc
Trang 17biệt là trong chuỗi cung ứng hiện nay Do đó, Logistic là một hoạt động không thểthiếu với tất cả các bộ phận chức năng.
Mối quan hệ giữa Logistic với quá trình sản xuất
- Thời gian vận hành sản xuất
Mối quan hệ cơ bản giữa logistic và quản lý sản xuất là thời gian vận hànhsản xuất Chúng ta thông thường kết hợp các phương thức sản xuất với thời gianvận hành dài sử dụng các dây chuyền sản xuất không thường xuyên hoặc chuyểnđổi lẫn nhau Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến thành phẩm tồn kho quá mức và sựhạn chế các nguồn cung cấp Vì vậy, quyết định sản xuất cuối cùng đòi hỏi nhàquản lý phải cân nhắc một cách cẩn thận giữa những ưu điểm và nhược điểm củachu kỳ sản xuất dài so với chu kì sản xuất ngắn Nhiều ngành công nghiệp ngàynay có xu hướng chạy theo phương thức sản xuất với chu kỳ ngắn, từ đó tiến tớiviệc làm bất cứ điều gì để tiết kiệm thời gian và chi phí, phương thức thông thường
là chuyển đổi dây chuyền sản xuất từ sản phẩm này sang sản phẩm khác Điều nàyđặc biệt đúng đối với các công ty sử dụng lao động theo công việc với phươngpháp tiếp cận kiểm kê và lập kế hoạch Xu hướng này là hướng tới hệ thống "kéo”trong hoạt động sản xuất/logistic, nghĩa là sản xuất để đáp ứng nhu cầu, ngược lạivới hệ thống “đẩy” là tối ưu hóa nhu cầu Mức tồn kho thấp hơn làm giảm chi phílogistic
- Nhu cầu theo mùa
Quản lý sản xuất được chú trọng bằng việc giảm thiểu các tác động của nhucầu theo mùa đối với các sản phẩm Tuy nhiên, việc dự báo nhu cầu một cách đầy
đủ không phải khi nào cũng thực hiện được; do vậy, để có được lượng sản phẩmsẵn có mong muốn vào thời điểm và địa điểm cần thiết không phải khi nào cũngthực hiện được Ví dụ, thời tiết lạnh và tuyết tích tụ ở các vùng miền khác nhau củanước Anh làm ảnh hưởng đến doanh số bán hàng của ván trượt tuyết cũng như xetrượt tuyết Để tiết kiệm chi phí, tránh trường hợp làm thêm giờ, gấp gáp, và chuẩn
bị tốt cho kế hoạch bán hàng, quản lý sản xuất thường có kế hoạch sản xuất trướcmùa và sản xuất một số lượng tối đa Khoản chi phí trả trước cho sản xuất này cóthể không kinh tế vì chi phí lưu trữ hàng tồn kho lớn Tuy nhiên, quản lý sản xuấtphải xem xét tính toán để tiết kiệm chi phí sản xuất Vì vậy, bộ phận Logistic kếthợp với sản xuất, phải có sự chuẩn bị hàng hoá sẵn sàng để phục vụ cho theo mùa,
có thể bắt đầu tích luỹ 3-6 tháng trước khi bán hàng Ví dụ, Hallmark Cards bắtđầu tích lũy các mặt hàng cho giáng sinh tại kho của nó ở thành phố Kansas trongnhững tháng mùa hè, do đó hàng hóa sẽ được chuẩn bị sẵn sàng để vận chuyển đếncác cửa hàng bán lẻ và khách hàng khác trong mùa thu
- Mối quan hệ với nguồn cung cấp
Từ khi quản lý Logistic chịu trách nhiệm cho việc nhập hàng và lưu trữnguyên vật liệu thô cung cấp cho dây chuyền sản xuất thì logistic và sản xuất đềuliên quan mật thiết đến nguồn cung cấp Tình trạng thiếu hụt kho nguyên vật liệu
Trang 18có thể dẫn đến việc ngừng sản xuất hoặc tăng chi phí sản xuất Hoạt động quản lýLogistic phải đảm bảo nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác luôn sẵn sàngnhằm đáp ứng kịp thời tiến độ sản xuất đồng thời tiết kiệm chi phí lưu kho Bởi vì
sự cần thiết của việc điều phối vấn đề này, ngày nay nhiều công ty đã chuyển tráchnhiệm của công việc lập kế hoạch sản xuất từ hệ thống quản lý sản xuất sang hệthống quản lý logistic Kết quả cuối cùng là mở rộng trách nhiệm của một hệ thốnglogistic tổng thể
- Vấn đề về bao bì/đóng gói
Một mối quan hệ khác của logistic và sản xuất là vấn đề bao bì Nhiềudoanh nghiệp xem như là hoạt động của logistic Trong phạm vi của hoạt động sảnxuất hoặc quản lý Logistic, mục đích chủ yếu của bao bì là bảo vệ sản phẩm khỏi
bị hư hại Điều này tạo ra sự khác biệt của sản phẩm so với các gói sản phẩm khácnhằm mục đích cho việc tiếp thị, quảng cáo
- Nhà cung cấp thay thế
Mối quan hệ giữa logistic và hoạt động sản xuất ngày càng trở nên quantrọng tập trung vào việc mua sắm nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào mua ngoàikhác Ngoài ra, nhiều công ty ngày nay tiến hành hợp tác với bên thứ ba, hoặc hợptác đóng gói, sản xuất, lắp ráp một số hoặc toàn bộ thành phẩm của công ty Sựhợp tác này đặc biệt phổ biến trong ngành công nghiệp thực phẩm, nơi mà nhiềucông ty sản xuất mặt hàng thực phẩm chỉ được bán dưới nhãn hiệu của người khác Mối quan hệ giữa logistic và quá trình sản xuất với hãng thực phẩmJordano là một ví dụ điển hình Việc cung cấp theo mùa của một số nguyên liệunhư cà chua và nhu cầu nhập khẩu một số mặt hàng đòi hỏi phải có sự phối hợpchặt chẽ giữa các bên của hệ thống logistic
- Mối quan hệ giữa Logistic và hoạt động Marketing
Logistics đôi khi được gọi là một nửa của marketing Lý do cho định nghĩanày là quá trình phân phối sản phẩm, hàng hoá tới người tiêu dùng Hệ thốngLogistics chịu trách nhiệm cho việc lưu trữ và phân phối sản phẩm tới khách hàng
và do đó đóng một vai trò quan trọng trong việc bán một sản phẩm Trong một sốtrường hợp, việc phân phối và thực hiện đơn hàng là các yếu tố quan trọng trongviệc bán một sản phẩm, có nghĩa là, khả năng của bạn cung cấp sản phẩm vào lúcnào và với số lượng bao nhiêu là phù hợp nhằm đạt hiệu quả trong bán hàng
- Marketing hỗn hợp
Phần này đề cập tới mối quan hệ giữa logistic và Marketing chủ yếu là hoạtđộng của marketing hỗn hợp Hoạt động này được tổ chức theo Bốn chữ P củamarketing Price-giá cả, product - sản phẩm, promotion -khuyến mãi, và place –phân phối Cụ thể như sau:
Trang 191 Price-Giá
+ Giá vận chuyển
Theo quan điểm của logistic, việc lựa chọn phương thức và đơn giá vậnchuyển dựa vào kích thước và trọng lượng của hàng hóa là rất quan trọng Ví
dụ, đối với vận tải đường sắt yêu cầu trọng tải tối thiểu cho một toa thông thường
là 30.000 pound Vận tải đường bộ thông thường có trọng tải bằng 4 hoặc 5 lần, ápdụng đối với cùng một mặt hàng được vận chuyển giữa 2 điểm tùy thuộc vào kíchthước (trọng lượng) của lô hàng Kích thước lớn hơn hay nhỏ hơn thì tỉ lệ đơn vị sẽđược chuyển đổi cho phù hợp Nói cách khác, chương trình giảm giá được áp dụngcho những hàng hóa cần vận chuyển có khối lượng lớn nhất định bởi vì các công tyvận tải ưu đãi kinh tế khi khách hàng gửi lượng hàng với khối lượng lớn hơn hoặcbằng khối lượng hàng hóa được ấn định mức ưu đãi
+ Phương thức vận chuyển phù hợp.
Các công ty thương mại cũng thường có chương trình giảm giá cho việc muahàng với số lượng lớn Nếu chương trình giảm giá liên quan đến tỉ lệ chiết khấu đốivới khối lượng thì công ty có thể tiết kiệm cho bản thân hoặc cho khách hàng một
số tiền nhất định, tùy thuộc vào các điều kiện bán hàng Ví dụ, một công ty thươngmại bán hàng tại kho của người mua (chịu chi phí vận chuyển) và nếu chính sáchgiá phù hợp với điều kiện về tải trọng của phương tiện vận tải, công ty có thể nhậnđược mức giá thấp hơn với lượng hàng lớn và do đó tiết kiệm tiền Vì vậy, công ty
sẽ tính toán xem nhu cầu khách hàng là bao nhiêu và trọng lượng được ưu đãi làbao nhiêu, nếu gần đạt mức hưởng giá ưu đãi thì họ sẽ cố lấy thêm hàng đủ đạtđiều kiện giá ưu đãi với đơn giá vận chuyển rẻ hơn Thậm chí nếu công ty bánhàng theo giá FOB chi phí vận chuyển do người mua chi trả Khi đó đơn giá vậnchuyển người mua phải trả sẽ rẻ hơn từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc kháchhàng giảm thiểu chi phí và do đó tiết kiệm tiền
Mặc dù không phải lúc nào cũng có thể lấy được số lượng hàng hoá đủ điềukiện được hưởng giá ưu đãi Công ty có thể sử dụng xen kẽ các loại hình vậnchuyển khác nhau như vận chuyển bằng đường bộ hoặc đường sắt hoặc các loạihình vận chuyển khác phù hợp với đặc điểm và số lượng hàng hoá cần giao nhận
để làm sao cho tiết kiệm được chi phí vận chuyển một cách tối ưu Đó cũng là một
cơ sở để đưa ra chương trình khuyến mãi giảm giá bán
+ Mối quan hệ của khối lượng hàng hóa:
Ngoài ra, quản lý logistics cũng phải liệt kê khối lượng hàng hoá với nhữngđơn giá khác nhau (bao nhiêu hàng với đơn giá tương ứng là bao nhiêu), vì điềunày sẽ ảnh hưởng đến yêu cầu hàng tồn kho, thời gian nhập hàng và các khía cạnhkhác của dịch vụ chăm sóc khách hàng Mặc dù để phân tích vấn đề này gặp khánhiều khó khăn nhưng quản lý logistic có thể xem xét khả năng cung cấp đủ khốilượng hàng hoá với đơn giá giá hấp dẫn, đúng lúc, đúng chủng loại, theo nhu cầu
Trang 20Nếu làm được như vậy công ty có thể bán hàng với số lượng lớn tạo ra doanh sốbán hàng tăng lên vào các thời điểm cụ thể trong năm Quản lý logistic phải đượcthông báo về thông tin các sản phẩm, hàng hoá để có thể điều chỉnh các nhu cầuhàng tồn kho đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
2 Product-Sản phẩm.
Việc quyết định sản xuất hay cung cấp loại hàng hoá nào đặc điểm ra sao đểphù hợp với nhu cầu và đặc tính của từng khu vực là một trong những mối quantâm hàng đầu của marketing sản phẩm Vấn đề về kích thước, hình dạng của sảnphẩm, trọng lượng, đóng gói có ảnh hưởng khác nhau đến khả năng vận chuyển vàlưu trữ sản phẩm của hệ thống phân phối Quản lý logistic có thể cung cấp thôngtin thích hợp về sản phẩm mới để phục vụ cho việc lựa chọn phương thức vậnchuyển thích hợp Ngoài sản phẩm mới, các công ty còn tiến hành tân trang, cảitiến sản phẩm cũ bằng cách này hay cách khác nhằm cải thiện và duy trì doanh sốbán hàng Việc cải tiến có thể thực hiện bằng cách thay đổi mẫu mã, kích thước,bao bì sản phẩm khác nhau Các kích thước, đặc điểm của sản phẩm ảnh hưởngđến việc lưu giữ sản phẩm trong quá trình vận chuyển Chúng ảnh hưởng đến sựlựa chọn các hãng vận tải, thiết bị cần thiết cho vận chuyển, tỷ lệ hư hỏng, khảnăng lưu trữ, sử dụng các chất liệu bảo quản như băng tải và bạt phủ, bao bì bênngoài
Nhà quản lý logistics sẽ gặp khó khăn khi có sự thay đổi trong bao gói sảnphẩm làm cho việc sử dụng các phương tiện vận chuyển, lưu trữ không hiệu quảgây lãng phí, hoặc có thể gây tổn hại tới sản phẩm Ví dụ, khi Gillete lần đầu tiêngiới thiệu dao cạo Daisy, nhóm logistic đã không tìm hiểu cho đến khi kết thúcchương trình và họ đã phải đối mặt với những giá bày hàng nhẹ và cồng kềnh, gây
ra bởi mật độ trọng lượng thấp Không chỉ những giá bày hàng không phù hợp vớibăng tải của kho mà họ còn vận chuyển với tốc độ cao hơn 150% so với tốc độ chosản phẩm hiện tại Gillette cuối cùng đã giải quyết được vấn đề nhưng nó là mộtbài học đắt giá Những điều này thường có vẻ nhàm chán và hơi tầm thường đốivới những người quan tâm đến việc bán hàng cho khách hàng nhưng nó ảnh hưởnglớn đến thành công chung của tổ chức và lợi nhuận trong thời gian dài
Không có một nguyên tắc hay công thức cụ thể nào chỉ ra cho các công tynên làm gì trong những trường hợp này, nhưng quản lý logistic có thể đưa ranhững điểm mạnh điểm yếu, những căn cứ cho việc ra quyết định đạt hiệu quả.Logistic không phải là người trực tiếp bán hàng nhưng chỉ cần có một sự thay đổinhỏ về lưu trữ trong hệ thống logistic cũng sẽ thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm,nâng cao doanh số bán hàng
- Bao bì/đóng gói sản phẩm
Trang 21Hoạt động marketing khác ảnh hưởng đến logistic là đóng gói sản phẩm.Quản lý marketing thường xem bao bì sản phẩm như một nhân viên bán hàng thầmlặng Ở cấp độ bán lẻ, bao bì sản phẩm có thể là một nhân tố quyết định ảnh hưởngđến doanh số bán hàng Quản lý marketing đặc biệt quan tâm tới mẫu mã sản phẩmkhi tung sản phẩm ra thị trường, thông tin đi kèm và những đặc tính khác của sảnphẩm; cũng như sự so sánh của khách hàng với một số sản phẩm cùng loại trên thịtrường, bao bì sản phẩm có thể làm tăng doanh số bán Bao bì sản phẩm đóng vaitrò quan trọng trong hệ thống quản lý logistic vì một số lý do Bao bì sản phẩmthường phải phù hợp với tiêu chuẩn bao bì công nghiệp, hay bao bì bên ngoài.Kích thước, hình dạng và những yếu tốt khác của bao bì sản phẩm sẽ ảnh hưởngđến khả năng sử dụng của đóng gói công nghiệp Mức độ bảo vệ hàng hóa của cácgói bao bì cũng liên quan đến hệ thống logistic Các yếu tố vật lý và mức độ bảo vệcủa bao bì ảnh lượng đến logistic trong khía cạnh của việc vận chuyển, bảo quản
và lưu trữ
3 Promotion - Xúc tiến bán
Xúc tiến bán là một hoạt động marketing được quan tâm đặc biệt trongdoanh nghiệp Các công ty thường dành hàng trăm nghìn hoặc thậm chí hàng triệu
đô la vào chiến dịch quảng cáo trên khắp cả nước và các hoạt động quảng cáo khác
để mở rộng phạm vi bán hàng Doanh nghiệp thực hiện quảng cáo để kích thíchdoanh số bán hàng do vậy quản lý logistic cũng phải có sự dự trù về số lượng hàngtồn kho có đủ và sẵn sàng cung cấp cho khách hàng Nhưng ngay cả khi logistic đã
có sự chuẩn bị nhưng vấn đề ngoài mong muốn vẫn có thể xảy ra Ví dụ, khiGillette giới thiệu dao cạo lưỡi kép Good new, kế hoạch ban đầu của công ty là đưa
ra ba chương trình khuyến mãi liên tiếp Dự tính khi tung sản phẩm ra toàn quốc sẽđạt được doanh số bán hàng là 20.000.000 chiếc Sau những hoạt động xúc tiếnthương mại đưa ra sẽ đã đạt doanh số bán hàng là 10.000.000 chiếc và Gillette đãmong chờ chương trình xúc tiến thứ ba sẽ tăng doanh số thêm 20.000.000 chiếc,đạt tổng doanh số là 50.000.000 chiếc Khi sản phẩm được tung ra thị trường, đợtđầu tiên đã bán được 35.000.000-75% so với kế hoạch Điều này đã đặt một gánhnặng cho nhóm logistic phải làm sao có đủ lượng hàng để đáp ứng nhu cầu thịtrường khi mà mức tiêu thụ vượt quá so với kế hoạch
- Hệ thống kéo/ đẩy
Chúng ta nên nhìn xa hơn các mối quan hệ giữa doanh số bán hàng và phântích chiến lược quảng cáo để xem những tác động của hệ thống logistic Quản lýmarketing thường phân loại các chiến lược quảng cáo của họ thành hai loại cơ bản:đẩy hoặc kéo Có nghĩa là họ có thể sử dụng một trong hai phương thức đẩy hoặckéo thông qua các kênh phân phối tới người tiêu dùng Tóm lại, họ là những tổ
Trang 22chức đưa sản phẩm tới người tiêu dùng cuối cùng sau khi sản phẩm được sản xuất.
Họ bao gồm các cửa hàng bán buôn và bán lẻ
- Sự cạnh tranh về kênh phân phối sản phẩm
Các nhà sản xuất thường xuyên cạnh tranh để có được những kênh phânphối phù hợp để đạt được khả năng tiêu thụ sản phẩm cao nhất Ví dụ, một nhà sảnxuất ngũ cốc muốn nhà bán lẻ trưng bày nhiều sản phẩm trên giá hàng hoặc muốnnhà bán buôn lấy một số lượng sản phẩm đủ để đáp ứng các nhà bán lẻ và từ đónhu cầu tiêu dùng cho sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến các nhà bán lẻ và bánbuôn Bằng việc bán sản phẩm phổ biến, họ sẽ cải thiện lợi nhuận Doanh thu càngcao thì lợi nhuận càng cao Họ thấy vui hơn với từng sản phẩm cụ thể và sẽ sẵnsàng để cho nó có không gian và vị trí tốt hơn trong cửa hàng
- Phương pháp kéo
Các công ty có thể cố gắng để cải thiện doanh số bán hàng của họ bằng cáchquảng bá sản phẩm thông qua các kênh phân phối quảng cáo trên toàn quốc Từ đókích thích khách hàng mua những sản phẩm mà họ đã thấy trong một tạp chí, đãnghe trên đài phát thanh, hoặc đã thấy trên truyền hình Nhu cầu mua sẽ tác độngđến các nhà bán lẻ, kéo theo việc các nhà bán lẻ sẽ tác động tới nhà bán buôn Một
số công ty cảm thấy rằng cách tiếp cận tốt nhất để thúc đẩy một sản phẩm là thôngqua các kênh phân phối từ nhu cầu trực tiếp của người tiêu dùng
- Phương pháp đẩy
Phương pháp tiếp cận cơ bản khác là phương pháp đẩy Phương pháp tiếpcận đẩy là dựa vào sự hợp tác của các kênh phân phối để kích thích doanh số bánhàng – Nói cách khác, nhà sản xuất có thể trả một phần chi phí quảng cáo hoặc đưa
ra những gian hàng trưng bày đặc biệt để kích thích doanh số bán hàng Ngoài việchợp tác với nhà bán buôn, nhà sản xuất có thể cung cấp cho các nhà bán lẻ với giá
ưu đãi tại một thời gian cụ thể để kích thích nhu cầu sản phẩm Điều này tươngphản với cách tiếp cận kéo, trong đó công ty kích thích doanh số bán hàng mộtphần độc lập với nhà bán lẻ bằng cách quảng cáo sản phẩm trên một quy mô khuvực rộng
- Sự ảnh hưởng của logistic
Chúng ta có thể sử dụng một trong hai hoặc kết hợp 2 cách tiếp cận này.Trong thực tế, một số công ty kết hợp cả hai phương thức tiếp cận trong hoạt độngcủa họ Tuy nhiên, theo quan điểm của quản lý logistic, đẩy và kéo có những yêucầu khác xa nhau về phương thức hoạt động của hệ thống logistic Phương phápkéo có nhu cầu về sản phẩm thất thường rất khó dự đoán và có thể có các nhu cầukhẩn cấp Quảng cáo trên quy mô lớn sẽ có khả năng thành công rất cao nhưng dựđoán phản ứng của người tiêu dùng về các sản phẩm mới thường rất khó Vì vậy,việc quảng cáo cũng có thể gây áp lực lên hệ thống logistic, với những đơn hàngvận chuyển khẩn cấp (chuyển phát nhanh) với đơn giá rất cao Việc dư thừa hàngtồn kho cũng làm cho chi phí lưu kho tăng cao Tình trạng của Gillette là một ví dụ
Trang 23của trường hợp này Mặt khác, cách tiếp cận “đẩy” là mô hình có lượng cầu ổnđịnh hơn Sự cộng tác với các nhà bán lẻ cho phép các nhà sản xuất dự báo trướcmột phần doanh số bán hàng và do vậy sẽ thuận lợi hơn với những trường hợpkhẩn cấp hay bất thường gây ra bởi các chương trình xúc tiến bán của sản phẩmmới
4 Place- Địa điểm bán hàng
- Nhà bán buôn và nhà bán lẻ:
Việc lựa chọn địa điểm bán hàng sẽ quyết định đến việc lựa chọn cáckênh phân phối bao gồm cả kênh phân phối giao dịch và vật lý Người nghiên cứuthị trường sẽ quyết định về kênh giao dịch thị trường cũng như quyết định sẽ bánsản phẩm đến nhà bán buôn hay bán trực tiếp đến nhà bán lẻ Trên quan điểm củaquản lý logistic, những quyết định đó có ảnh hưởng lớn đến các điều kiện của hệthống logistic Ví dụ, các công ty chỉ giao dịch với nhà bán buôn sẽ ít đối mặt vớicác vấn đề về logistic hơn so với các công ty muốn giao dịch trực tiếp với các nhàbán lẻ Bán buôn thường có xu hướng mua với số lượng lớn hơn so với các nhà bán
lẻ, đặt hàng và quản lý hàng tồn kho của họ có thể dự đoán được và nhất quán hơn,
do đó làm cho công việc của người quản lý logistic dễ dàng hơn Bán lẻ, thườngđặt hàng với số lượng nhỏ và không phải lúc nào cũng cho phép đủ thời gian đểcung cấp hàng, do đó, các nhà sản xuất cần phải chi phí nhiều hơn cho dịch vụ vậntải để đáp ứng nhu cầu giao hàng
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VÀO CHUỖI CUNG CẤP:
E – LOGISTICS – LOGISTIC ĐIỆN TỬ: VŨ KHÍ CHO MỘT THẾ GIỚI MỚI
Thực hiện các hoạt động logistic trong thương mại điện tử không hề dễdàng Việc lựa chọn công cụ phù hợp và tạo ra hệ thống tích hợp tối ưu cao lànhững bước rất quan trọng để đưa hệ thống vào hoạt động
Xu thế mới trong thế giới ảo đã thu hút các nhà kinh doanh internet và làm
họ nhận ra rằng hoạt động logistic ảo có thể được thể hiện trong nền kinh tế ảo.Những trang Thương mại điện tử com và sự kỳ vọng nhờ vào việc bao phủ rộngrãi của mạng internet trên thế giới, làm cho sản phẩm có thể thể nhảy vô hình từsàn giao dịch của nhà máy đến hộp thư điện tử của người tiêu dùng
Mọi thứ đã không hoàn toàn làm việc theo cách đó Thực tế, Thương mạiđiện tử là một trong những thách thức lớn nhất của hoạt động logistic trong lịch sử,với các mức phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng là phải bằng hoặc tốt hơn nhữngthứ đã tìm thấy trong các thoả thuận JIT nghiêm ngặt nhất và họ muốn tất cả miễnphí
E-logistic điện tử cũng đã mang lại một gánh nặng, nhiều công ty đã làmviệc chăm chỉ để giảm bớt hàng tồn kho trong những năm gần đây Trong một thời
Trang 24gian ngắn đáng ngạc nhiên, e-logistic đã bắt đầu đảo ngược xu hướng chặt chẽ hơn,hàng tồn kho nhỏ hơn và đã giúp làm giảm chi phí cho các doanh nghiệp Mỹ trongnhững năm gần đây.
Có những nhu cầu tiêu dùng phát sinh trong các ngày kế tiếp hoặc thậm chícùng ngày giao hàng làm cho nhà cung cấp thương mại điện tử dù lớn hay nhỏ đềucần phải nắm giữ một lượng lớn hàng hóa không chỉ trong kho mà còn tại cáctrung tâm phân phối trên toàn quốc Điều này có thể thực hiện được bằng cách sửdụng các nhà cung cấp dịch vụ, nhưng cuối cùng vẫn phải có hàng hóa sẵn sàng đểphân phối và vẫn cần người để thanh toán cho các dịch vụ này
Các doanh nghiệp không chú trọng đến E-logistic thường phải đối mặt vớinhững rủi ro thực sự Một vài doanh nghiệp đã chìm đắm trong những thành côngcủa năm trước và quá bận rộn với những doanh số ban đầu và họ không chú trọngđến phương thức để đưa hàng hóa đến người tiêu dùng
Mặc dù những vấn đề của E-logistics đang trở nên ngày càng rõ nét thì vẫnkhông có các giải pháp để cải thiện tình hình Một phần của vấn đề là phát sinh từtính thực tế của thời gian thực trong internet Nhà cung cấp dịch vụ người dùng e-logistic phải giải quyết vấn đề công nghệ và môi trường kinh tế, điều này là sự thayđổi quá nhanh làm cho những quy luật hiếm gặp được lưu giữ trong một tháng đếnmột vài tháng Tất cả diễn ra quá thường xuyên, các doanh nghiệp phải đối mặt vớiviệc điên cuồng tìm kiếm những giải pháp tiềm năng Công việc phát triển cơ bảnvẫn đang trong đường hầm trong nhiều lĩnh vực
Nguồn: Tony Seideman, Quản lý logistic & Báo cáo phân phối (Nhà xuấtbản Cahners, tháng 4 năm 2000): E33-E35
- Dịch vụ khách hàng:
Xu hướng hiện nay: Các nhà Marketing đã bắt đầu công nhận giá trị chiếnlược của hoạt động marketing hỗn hợp Việc doanh thu và sự hài lòng của kháchhàng tăng lên có thể là kết quả của hệ thống logistic chất lượng cao Nhiều công ty
đã công nhận dịch vụ chăm sóc khách hàng là kết quả của mối quan hệ giữa hoạtđộng marketing và hoạt động logistic Các công ty về các lĩnh vực như thực phẩm,hoá chất và dược phẩm đã đạt được thành công đáng kể dựa theo phương thứcnày
MỐI QUAN HỆ CỦA LOGISTIC VỚI CÁC BỘ PHẬN KHÁC
Trong khi sản xuất và marketing là hai bộ phận quan trọng nhất trong nội bộdoanh nghiệp thì logistic có chức năng liên kết với các bộ phận chức năng kháctrong doanh nghiệp Bộ phận tài chính đang ngày càng trở nên quan trọng trongnhững thập niên gần đây Những tác động của logistic tới yếu tố tài chính được thểhiện như sau:
- Ảnh hưởng tới tỷ suất thu hồi tài sản (ROA)
ROA = doanh thu - chi phí / tài sản
Hoặc ROA = tổng lợi nhuận / tài sản
Trang 25Logistics có thể tác động đến ROA một cách tích cực theo nhiềucách Phương thức giảm hàng tồn kho đã được đề cập từ những năm 1990 Hàngtồn kho là một tài sản trên bảng cân đối, làm giảm hàng tồn kho (tài sản) trongphương trình sẽ làm tăng ROA Ngoài việc thay đổi hàng tồn kho, ngày nay còn cóthể sử dụng các tài sản khác liên quan đến logistic như nhà kho, đầu tư thiết bị giaothông vận tải để làm thay đổi chỉ tiêu ROA
Trong chương này cũng chỉ ra rằng chi phí logistic sẽ giảm khi cải thiện tỉsuất lợi nhuận biên hoặc lợi nhuận gộp hoặc tăng ROA Cuối cùng, phải tập trungvào dịch vụ khách hàng (được thảo luận chi tiết hơn trong chương sau ) có thể tăngdoanh thu hoặc doanh số bán Miễn là sự gia tăng doanh số bán hàng không được
bù đắp bởi chi phí cao hơn cho dịch vụ khách hàng , sau đó ROA cũng sẽ đượctăng lên
Càng ngày giám đốc tài chính của các công ty càng trở nên am hiểu vềlogistic do những ảnh hưởng của nó tới các chỉ tiêu tài chính chức năng như ROA,ROI Những số liệu này là công cụ quan trọng để đánh giá khả năng tài chính củamột công ty
Trên một phương diện khác của tài chính, những người quản lý logistic phảiđiều chỉnh tăng đầu tư cho các tài sản liên quan đến logistic bằng cách sử dụng cácchỉ tiêu tài chính chấp nhận được liên quan đến thời hạn phải trả Nói chung, quản
lý logistic phải có kiến thức về các chỉ tiêu tài chính và tiêu chuẩn về hiệu suất.Chương sau sẽ tập trung vào chủ đề này
Kế toán cũng là một bộ phận quan trọng liên quan mật thiết với logistic Hệthống kế toán là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu về các khoản chi phí thích hợp
để phân tích hệ thống logistic thay thế Một thời gian dài trong quá khứ, các khoảnchi phí liên quan đến logistic không được đo lường cụ thể và thường được gộp vàotrong các chi phí, gây khó khăn trong việc quản lý chi phí của hoạt động logistic Gần đây, với sự quan tâm về việc phân tích các khoản chi phí và với sự hỗtrợ của các công cụ phân tích dựa trên hệ thống kế toán chi phí liên quan như dựatheo mô hình chi phí hoạt động (ABC) đã mang lại lợi ích cho việc cải thiện chấtlượng phân tích logistic Hệ thống kế toán cũng rất quan trọng để đo lường chuỗicung ứng thương mại và hiệu suất
Phần kế tiếp sẽ tập trung vào những hoạt động thông thường phản ánh mộtphần chức năng của logistic
CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG LOGISTIC Những định nghĩa logistic trước đây chỉ ra rằng người quản lý logistic phải
có trách nhiệm trong các hoạt động sau:
- Vận chuyển và phương tiện vận chuyển
- Kho bãi và lưu trữ
- Vấn đề về bao bì
Trang 26Phạm vi hoạt động
Sự gia tăng mối quan tâm đến logistic sau chiến tranh thế giới thứ II đã gópphần vào sự tăng trưởng trong các hoạt động liên quan đến logistic Trong phạm vicủa sự tăng trường này, chúng ta sẽ thảo luận về những hoạt động với mối quan hệcủa các hoạt động logistic
Giao thông vận tải Giao thông vận tải là một phần rất quan trọng của hệ
thống logistic Trọng tâm chính trong logistics là sự phân phối sản phẩm, hàng hoá.Mạng lưới này bao gồm của các doanh nghiệp giao thông vận tải cung cấp dịch vụvận tải cho công ty Quản lý logistic chịu trách nhiệm lựa chọn các phương thứcvận tải phù hợp được sử dụng trong việc vận chuyển các nguyên vật liệu và thànhphẩm
- Cân bằng vận tải:
Lưu trữ: Bao gồm hai hoạt động riêng biệt nhưng có mối quan hệ mật
thiết đó là quản lý hàng tồn kho và kho bãi Một mối quan hệ trực tiếp được tồn tạigiữa giao thông vận tải và mức độ hàng tồn kho cũng như số kho cần thiết Ví dụ,nếu các công ty sử dụng một phương tiện vận chuyển tương đối chậm, họ thườngphải giữ tồn kho cao hơn và có không gian lưu kho cho hàng tồn kho này lớnhơn Họ có thể xem xét tới các hình thức vận chuyển khác nhanh hơn để giảm bớt
số kho và hàng tồn kho lưu trữ
Một số quyết định quan trọng liên quan đến hoạt động lưu trữ (hàng tồn kho
và nhà kho) là phải có bao nhiêu kho, cần lưu trữ bao nhiêu hàng tồn kho, xác định
vị trí các kho hàng, kích thước kho cần thiết Bởi vì các quyết định về vận tải sẽảnh hưởng đến các quyết định về lưu trữ, do vậy cần lựa chọn các phương án vềvận chuyển – hàng tồn kho – lưu kho một cách tối ưu nhằm tạo ra một hệ thốnglogistic hiệu quả
Trang 27- Phương thức tác động:
Bao bì Một hoạt động thứ ba mà logistic quan tâm tới là bao bì bên ngoài
trong quá trình vận chuyển Các loại hình giao thông vận tải được lựa chọn ảnhhưởng đến yêu cầu đóng gói cho sản phẩm để đưa tới tay người tiêu dùng Ví dụ,giao thông vận tải đường sắt hoặc đường biển thường đòi hỏi chi phí đóng gói caohơn vì khả năng thiệt hại lớn hơn Trong phân tích về chi phí cơ hội cho các đềxuất thay đổi về phương tiện vận tải, logistic phải xem xét làm thế nào sự thay đổi
đó sẽ ảnh hưởng đến chi phí đóng gói ít nhất Trong nhiều trường hợp, thay đổimột phương tiện vận tải cao cấp, chẳng hạn như vận tải hàng không sẽ làm giảmchi phí đóng gói vì có ít nguy cơ thiệt hại và an toàn hơn
- Hiệu quả:
Công cụ chuyên chở, đóng gói Một vấn đề thứ tư là công cụ xử lý, đó
cũng là vấn đề mà các bộ phận khác quan tâm đến trong tổ chức sản xuất Công cụ
xử lý là một phần quan trọng trong hoạt động kho bãi hiệu quả Quản lý logisticliên quan đến quá trình vận chuyển hàng hóa vào nhà kho, các vị trí của hàng hóatrong kho, và di chuyển hàng hoá từ nơi lưu trữ đến các khu vực bến tàu để vậnchuyển đi giao hàng
Các công cụ, phương tiện xử lý thường được sử dụng là các phương tiện
cơ giới giúp cho việc rút ngắn khoảng cách vận chuyển, thiết bị bao gồm băng tải,
xe nâng hàng, cần cẩu, và các thùng chứa Tuy nhiên các loại công cụ xử lý nàyphải có sự tương thích, phù hợp với hoạt động kho bãi, logistic.Vì vậy, thiết kế lựachọn công cụ, phương tiện xử lý phải được phối hợp để đảm bảo phù hợp giữa cácloại trang bị được sử dụng
Quá trình thực hiện Một lĩnh vực khác mà hoạt động logistic kiểm soát là
quá trình thực hiện, trong đó bao gồm các hoạt động liên quan đến việc hoàn thànhđơn đặt hàng của khách hàng Một yếu tố quan trọng trong việc phân phối sảnphẩm là xác định khoảng thời gian từ thời điểm đặt hàng cho đến khi thoả mãn nhucầu của khách hàng là bao lâu
Ví dụ, giả định rằng, thời gian của hệ thống tổng cộng tám ngày để chếbiến, chuyển giao, chuẩn bị, và vận chuyển Trình tự xử lý có thể mất bốn ngày,chuẩn bị có thể mất thêm hai ngày, có nghĩa là hàng hoá phải được vận chuyển chokhách hàng trong hai ngày Thời gian giao hàng nhanh có thể đòi hỏi một phươngtiện vận tải cao cấp Thay vào đó công ty có thể xem xét đổi mới phương thứcbằng cách sử dụng điện thoại hoặc Internet để giảm thời gian xử lý đơn hàng đếnhai ngày hoặc ít hơn Điều này sẽ cho phép các công ty sử dụng phương tiện vậnchuyển rẻ hơn nhiều và vẫn giao hàng cho khách hàng trong vòng tám ngày Nhìn
từ góc độ thời gian hoặc thời gian giao hàng, chúng ta có thể thấy rằng chức năngcủa logistic là khá quan trọng trong việc thực hiện các đơn hàng
- Độ chính xác của hoạt động kiểm kê: