QUÁ TRÌNH RA ĐỜI ĐẠO PHẬT VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 1.1 Sự ra đời của Phật giáo 1.1.1 Hoàn cảnh ra đời Phật giáo ở Ấn Độ 1.1.2 Thân thế và sự nghiệp của Phật Thích Ca 1.2
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Giảng viên : TS Trần Thị Thanh Vân
ThS Nguyễn Thị Kim Lân
Hà Nội, 08/2021
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
A MỞ ĐẦU
Trang 22 Đối tượng nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4 Câu hỏi nghiên cứu
I QUÁ TRÌNH RA ĐỜI ĐẠO PHẬT VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
1.1 Sự ra đời của Phật giáo
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời Phật giáo ở Ấn Độ
1.1.2 Thân thế và sự nghiệp của Phật Thích Ca
1.2 Sự phát triển của Triết học Phật giáo
II MỘT SỐ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
2.1 Tư tưởng Triết học trong các khái niệm giáo lý cơ bản của đạo Phật
2.1.1 Thế giới quan triết học Phật giáo
2.1.2 Nhân Sinh Quan triết học Phật giáo
Trang 32.2.3 Giải thoát luận
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
1 Đặt vấn đề
Trang 4Phật giáo là một trào lưu tư tưởng lớn ở Ấn Độ thời cổ đại Xuất hiện vào khoảngthế kỷ thứ VI TCN, Phật giáo đã nhanh chóng phổ biến và trở thành một quốc giáocủa Ấn Độ Trải qua những thăng trầm của lịch sử Phật giáo đã trở thành một tôn giáolớn của cả thế giới cũng như là nền tảng cội nguồn, văn hóa của các dân tộc phươngĐông Với mục đích nhằm giải thoát con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộcsống đức độ của mình, Phật giáo nhanh chóng chiếm được nhiều cảm tình của mọingười bởi sự từ bi, bác ái tinh thần nhân văn cao cả mà đạo Phật luôn hướng tới nhất
là đối với những tầng lớp lao động thấp kém yếm thế trong xã hội
Sự xuất hiện của Phật giáo với tư cách là một tôn giáo hay trào lưu tư tưởng triếthọc là do những nguyên nhân của hoàn cảnh lịch sử xã hội Ấn Độ cổ đại Nhằm đểđáp ứng nhu cầu tinh thần tâm linh của người dân Ấn Độ lúc bấy giờ cũng như là một
sự phản kháng đối với các giai tầng thống trị của đạo Balamon Do vậy, hệ thống triếthọc Phật giáo lúc này vừa mang tính chất lý luận triết học lại vừa mang đậm tính tôngiáo Triết học phật giáo cũng bàn luận đến các vấn đề như bản thể luận, nhận thứcluận, đạo đức nhân sinh…và những tri thức này không chỉ để hướng tới nhận thức vềmặt thế giới quan, nhân sinh quan mà là nhằm mục đích cao hơn là củng cố niềm tincủa con người vào trạng thái siêu nhiên Phủ nhận thế giới con người đang sống, đềcao một thế giới khác – thế giới con người chỉ có thể cảm nhận bằng trực giác trạngthái siêu thức, sự “hư không” của thế giới
Triết học Phật giáo là một hệ thống lý luận đồ sộ và phức tạp, nó rất quan trọngtrong hệ thống các trào lưu tư tưởng của Triết học Chính vì vậy việc tìm hiểu vànghiên cứu về lĩnh vực triết học Phật giáo là rất cần thiết và bổ ích, nhất là trong lĩnhvực thuộc về Triết học Tôn giáo Tuy nhiên do khả năng và thời gian có hạn em chỉxin trình bày khái lược về sự hình thành và phát triển cũng như một số nội dung của tưtưởng Triết học Phật giáo
2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 5Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự ra đời và phát triển của Phật giáo và những tưtưởng triết học cơ bản của Phật giáo.
3 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của tiểu luận là thu thập tư liệu, thông tin cóliên quan đến đối tượng nghiên cứu từ giáo trình, bài giảng, internet, báo chí, các đềtài có liên quan… Tổng hợp các nội dung có liên quan đến nội dung nghiên cứu của
đề tài từ các nguồn tài liệu đã thu thập, từ đó sắp xếp thành một đề tài hoàn chỉnh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khái lược về sự hình thành và phát triển của Phật giáo cũng như một số nội dung của
tư tưởng Triết học Phật giáo
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu chính: sự ra đời và phát triển của Triết học Phật Giáo diễn ra
như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
Tư tưởng Triết học trong các khái niệm giáo lý cơ bản của đạo Phật và những vấn đề
cơ bản trong triết học Phật giáo gồm những nội dung cụ thể nào?
Trang 6I QUÁ TRÌNH RA ĐỜI ĐẠO PHẬT VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
1.1 Sự ra đời của Triết học Phật giáo
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời Phật giáo ở Ấn Độ
Sự xuất hiện của Phật giáo gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hộicủa Ấn Độ cổ đại Đây là thời kỳ của chế độ nô lệ kiểu phương Đông và phương thứcsản xuất kinh tế đặc trưng của vùng châu Á cũng như Ấn Độ Với sự phân biệt đẳngcấp khắc nghiệt và nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền là sự sở hữutối cao về ruộng đất và thần dân
Về mặt tư tưởng và chính trị trong đời sống tinh thần của người dân Ấn Độ lúc này bịthống trị bới quan điểm duy tâm thần thánh trong kinh Veda và đạo Balamon Đóchính là cơ sở triết lý cho chế độ phân chia đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ, gồm 4 đẳngcấp trong xã hội Ấn Độ:
1 Bà-la-môn (Brahman) gồm những Giáo sĩ, những người giữ quyền thống trịtinh thần, phụ trách về lễ nghi, cúng bái Họ tự nhận mình là hạng cao thượng, sinh từmiệng Phạm Thiên (Brahma) thay Phạm Thiên cầm cương lãnh đạo tinh thần dân tộc,nên có quyền ưu tiên được tôn kính, và an hưởng cuộc đời sung sướng nhất
2 Sát-đế-lỵ hay Sát-đế-lợi (Kshastriya) là hàng vua chúa quý phái, tự cho mìnhsinh từ cánh tay Phạm Thiên, thay mặt cho Phạm Thiên nắm giữ quyền hành thống trịdân chúng
3 Vệ-xá (Vaisya) là những hàng thương gia chủ điền, tin mình sinh ra từ bắp vếPhạm Thiên, có nhiệm vụ đảm đương về kinh tế trong nước (mua bán, trồng trọt, thuhoa lợi cho quốc gia)
4 Thủ-Đà-La (Sudra) là hàng tiện dân tin mình sinh từ gót chân Phạm Thiên, nênthủ phận và phải phục vụ các giai cấp trên Chiên-Đà-La (Ba-ri-a, Pariah, Dalit) là giaicấp người cùng khổ, chủ yếu làm các nghề hạ tiện nhất (gánh phân cho các nhà hoặcnghề đồ tể), bị coi như sống ngoài lề xã hội loài người, bị các giai cấp trên đối xử nhưthú vật, bị coi là thứ ti tiện, vô cùng khổ nhục, tối tăm, không được chạm tay vào
Trang 7người của các giai cấp khác, thậm chí không được giẫm lên cái bóng của những ngườiBà-la-môn, Sát-đế-lỵ.
Sự phân biệt đẳng cấp thể hiện ở nhiều mặt, từ địa vị xã hội đến quyền lợi kinh tế,quan hệ giao tiếp ăn mặc, đi lại quan hệ tôn giáo,…Sự phân biệt đẳng cấp diễn ra vôcùng khắc nghiệt khiến cho tầng lớp đa số trong xã hội – những người Thủ đà la cămghét chế độ đẳng cấp Nhiều trào lưu tư tưởng chống lại đạo Bà – La – Môn ra đời,trong đó có đạo Phật
1.1.3 Thân thế và sự nghiệp của Phật Thích Ca
Phật giáo là trào lưu tôn giáo triết học xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN Ngườisáng lập là Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tât Đạt Đa (Siddhattha), họ là Cù Đàm(Goutama), thuộc bộ tộc Sakya Tất Đạt Đa là thái tử của vua Tịnh Phạn, một nướcnhỏ nằm ở Bắc Ấn Độ (nay thuộc vùng đất Nepan) Ông sinh ngày 8 tháng 4 năm 563TCN, theo truyền thống Phật lịch thì là ngày 15/04 (rằm tháng tư) còn gọi là ngàyPhật Đản
Mặc dù sống trong cảnh cao sang quyền quý, dòng dõi đế vương lại có vợ đẹp conngoan Nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất lựccủa con người trước khó khăn của cuộc đời Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ conđường vương giả xuất gia tu đạo Sau 6 năm tu hành, năm 35 tuổi, Tất Đạt Đa đã giácngộ tìm ra chân chân lí “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, tìm ra con đường giảithoát nỗi khổ cho chúng sinh Từ đó ông đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình
và đã trở thành người sáng lập ra tôn gáo mới là đạo Phật Về sau ông được suy tônvới nhiều danh hiệu khác nhau: Đức Phật, Thích Ca Mâu Ni, Thánh Thích Ca… Quahơn 40 năm hoằng pháp và truyền đạt giáo lý Phật giáo khăp Ấn Độ Ông qua đời ởtuổi 80 và để lại cho nhân loại những tư tưởng triết học Phật giáo vô cùng quý báu.Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức
độ của con người, Phật giáo nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đôngđảo quần chúng lao động Nó đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi bác ái trong đạođức truyền thống của các dân tộc Châu Á
Trang 81.2 Sự phát triển của Triết học Phật giáo
Đạo Phật có một lịch sử phát triển rất thăng trầm trong suốt hơn 2500 năm và nólan toả từ Ấn Độ ra khắp nơi trên thế giới cho đến tận ngày nay Khi xem xét lịch sửphát triển của Phật giáo có thể chia nó thành 4 thời kỳ khác nhau:
Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, phần lớn trùng khớp với giai đoạn
mà sau này được gọi là Phái Tiểu Thừa
Thời kỳ thứ hai được đánh dấu bởi sự phát triển của giáo lý Đại thừa
Thời kỳ thứ ba là sự phát triển của Mật Tông và Thiền Tông
Sau đó Phật giáo không còn sự thay đổi nào nữa mà chỉ tiếp tục duy trì Và khoảng
1000 năm gần đây có thể được xem như là thời kỳ thứ tư
Sự phát triển của triết học Phật giáo Ấn Độ thời kỳ đầu giới hạn trong phạm vi Ấn
Độ, sang đến thời kỳ thứ hai bắt đầu phát triển sang Đông Á Đến thời kỳ thứ ba nhiềutrung tâm phát huy một cách sáng tạo các tư tưởng Phật giáo như ở Việt Nam, TrungQuốc, Nhật Bản,…Về mặt triết học, thời kỳ đầu tập trung vào những vấn đề tâm lý –bàn về việc chế ngự Tâm cái bản tính như lai hay cái tâm của Phật Thời kỳ thứ hai làbàn về vấn đề bản chất của sự hiện hữu: của tính không và có tính là cái hư không cáitồn tại của thế giới vạn pháp,…các yếu tố để đạt tớt sự giải thoát và thời kỳ thứ ba là
về các vấn đề vũ trụ
Theo lịch sử của đạo Phật, sau một năm ngày Phật tịch, Đại hội tăng đoàn lần thứnhất I được triệu tập với 500 tì kheo, kéo dài tới 7 tháng Chủ tọa đại hội là Maha CaDiếp A nan đa đọc (kể) lại lời Phật nói về giáo lý Ưu bà ly đọc kể lại lời Phật nói vềgiới luật tu hành Maha đọc, kể lại lời luận giải của Phật về giáo lý và giới luật Đạihội tăng đoàn lần thứ hai II triệu tập vào thế kỷ thứ IV TCN (100 năm sau lần kết tậpthứ nhất) với khoảng 700 tì kheo, kéo dài 8 tháng Nội dung chủ yếu là giải quyếtnhững bất đồng về thực hành giới luật và luận giải kinh điển Hình thành 2 pháiTrưởng lão bộ: Tiểu thừa và Đại chúng bộ gồm những người trẻ tuổi là Đại Thừachiếm đa số
Trang 9Sau đó là các đại hôi tăng đoàn lần thứ III và IV, kết quả của lần các lần kết tậpnày là hoàn chỉnh kinh điển phật giáo gồm Kinh, Luật, và Luận được gọi là Tam tạngkinh điển của nhà Phật.
Phật giáo phát triển thịnh hành trên khắp Ấn ĐỘ ở thời Asoka cho đến thời Ca nhisắc ca Đến thời vua Gúp ta (tk IV đến tk VI SCN ), đạo Phật suy thoái trước sự pháttriển của Ấn Độ giáo Từ thế kỷ thứ VIII trở về sau đạo I-xlam thâm nhập Ấn Độ Trước sự tấn công của người Hồi giáo vào năm 1193, đạo Phật ở Ấn Độ rơi vào tìnhtrạng suy thoái Nhưng tuy nhiên đạo Phật đã kịp lan ra các nước tại Bắc Á, Nam Á vàsau đó là nhiều nước khác trên thế giới
Trong quá trình phát triển, đạo phật đã hình thành nhiều bộ phái khác nhau: nhưng lớnnhất là bộ phái Tiểu Thừa và Đại Thừa
tu hành mặc áo màu vàng và sống bằng khất thực
• Đại thừa
Phật giáo đại thừa chủ trương không câu nệ vào kinh sách, cho rằng phải khoan dungđại lượng trong việc thực hiện giáo luật, thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ;cần phải giải thoát cho nhiều người, thờ nhiều Phật, Bồ Tát, người tu hành mặc áo nâu
và tự lao động để kiếm sống Phật giáo đại thừa còn chủ trương “không luận” cho rằngvạn pháp tuy có (hữu ) nhưng thực ra là không (vô) và trong ngay quá trình sinh tửcon người vẫn có thể đạt tới trạng thái Niết bàn
• Bắc tông và Nam tông
Trang 10Đại thừa phát triển lên phía Bắc của Ấn Độ nên còn gọi là phái Bắc tông, phổ biếnsang Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên…Tiểu thừa phát triển xuống phíaNam Ấn Độ còn gọi là phái Nam Tông, phát triển mạnh ở Xri Lanca và Đông Nam Á.Kinh sách tiểu thừa viết bằng tiếng pali Năm 1956, tại hội nghị Phật giáo quốc tế tạiNêpan các vị lãnh đạo Phật giáo thế giới đề nghị bỏ danh từ Phật giáo “ Tiểu thừa” vàthay bằng “ Phật giáo nguyên thủy” Kinh sách của phái Đại thừa ( Bắc tông) đượcviết bằng tiếng Sanscrit là tiếng Ấn Độ Cổ Do vậy kinh sách phái Nam tông và Bắctông không lẫn với nhau.
• Thiền tông
Khai tổ từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến tổ bồ đề lạt ma là 28 đời, sau đó đượctruyền sang Trung Hoa vào khoảng TK VI: Tổ Huệ Năng khai sáng dòng thiền Namtông vào thế kỷ 7 Khác với hầu hết các tông phái khác đều có một vị tổ sư khai sáng,vận dụng một phần giáo lý nào đó trong kinh Phật để sáng lập thành tông phái củamình Thiền tông không xem trọng sự truyền thừa qua giáo nghĩa, kinh văn, mà chỉchấp nhận “dĩ tâm truyền tâm”, nghĩa là phải có sự truyền trao trực tiếp giữa bậc thầy
và đệ tử Với tông chỉ: “Không lập thành văn tự giáo nghĩa, chỉ thẳng vào tâm người,thấy tánh thành Phật”
• Tịnh Độ Tông
Tịnh Độ Tông xuất hiện vào giữa thế kỷ IV từ sự truyền bá của sư Huệ Viễn ngườiTrung Quốc Tư tưởng về Tịnh Độ thì có sẵn trong Phật giáo Ấn Độ nhưng tới khisang Trung Quốc thì nó phát triển thành một tông phái Tịnh Độ tông cũng đuợc xem
là một nhánh của Đại thừa song tông này không có sự truyền thừa như các tông pháikhác mà chỉ do sự đóng góp công sức để phát huy giáo lý Tịnh Độ Nguyên lý củatông phái dựa vào nguyện lực (tha lực) của Phật A Di Đà và sự nhất tâm niệm danhhiệu Phật Nếu thiền tông đề cao cái tâm thì Tịnh độ tong đề cao sự giúp đỡ từ bênngoài Thiền tông dành cho những người có trình độ cao thì Tịnh độ tông chủ yếudành cho giới bình dân Sự giúp đỡ cho tín đồ Tịnh Độ Tông gợi cho họ về một cõiNiết Bàn cụ thể, gọi là “cõi tịnh độ” Hệ phái này dễ tu luyện, giáo chúng chỉ cầnniệm theo Đức A di đà
Trang 11• Mật Tông
Mật Tông hay Kim cương thừa, xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI Phái này chia sẻchung nhiều tư tưởng với Đại thừa nhưng có nhấn mạnh trong việc thực hành Cáctruyền giảng được tập trung vào nhiều phương pháp tu học thực nghiệm mãnh liệt đểđẩy nhanh việc thăng tiến và có thể ngay trong cuộc sống hiện tại sẽ đạt đuợc giác ngộcác thực nghiệm này thường được gọi là phương tiện Nếu như Đại thừa có nhiều tínhchất thiên về triết lý, tư duy thì Mật tông đi xa hơn về mặt thực nghiệm và cũng thểhiện sự thích ứng linh hoạt của Phật giáo Mật tông chủ trương sử dụng phép tu huyền
bí như dùng linh phù, mật chú ấn quyết…thời xưa không được truyền qua ghi chép màđược sư phụ truyền trực tiếp, gọi là truyền Tâm Ấn Đề mong chóng đạt đến giác ngộ
cả Trung Hoa Abhidharmakośa (Đại Tỳ Bà Sa luận) của đạo sư Thế Thân là tác phẩmquan trọng nhất của phái này Trường phái này nhấn mạnh lời dạy của Phật rằng “bảnchất đạo đức của các hành vi sẽ quyết định những kinh nghiệm tương lai của ngườilàm các hành vi ấy” (theo Andrew Skilton) Phái này cho rằng các yếu tố không thểgiản lược của hiện hữu (dharmas) cũng thể hiện trong quá khứ và tương lai Do đó,những dharmas đã tạo nên hành vi trong quá khứ có thể tạo được ảnh hưởng ở mộtthời điểm sau đó Sarvāstivādin căn cứ trên tiền đề duyên khởi (Pratityasamutpàda) là:bởi có cái này nên có cái kia để giải thích về các nhận thức tri thức Vì phải có đốitượng (cảm nhận hay nhận thức) mới có tri thức nên nếu thừa nhận hoạt động của trithức thì cần chấp nhận sự tồn tại của đối tượng Học thuyết này còn tách biệt Phật bảovới Pháp bảo và cho rằng Phật bảo là tập họp của những dharmas làm nên Phật cũng
Trang 12như các hiểu biết và các cảm-hoạt (hay ngủ uẩn bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức
• Duy Thức Tông:
Phái Duy thức ra đời vào khoảng đầu thế kỷ IV do đạo sư Vô Trước (310-390) sánglập Trường phái này nhấn mạnh rằng “vạn pháp duy tâm” (nghĩa là mọi vật đều dotâm) Từ kinh nghiệm thiền định, thuyết này chỉ ra sự sai lầm của nhận thức về các đốitượng đối với sự hiện hữu thực sự của chúng Điều mà trường phái muốn nói khôngphải là mọi sự đều được làm thành bởi cái tâm, nhưng muốn nói rằng toàn thể kinhnghiệm đều lệ thuộc vào hay nhờ vào tâm của chúng ta Mọi sự vật mà chúng ta biết,mọi yếu tố của nhận thức của chúng ta, cơ bản đều là một thành phần của một quytrình của tâm Trường phái này cho rằng tâm thực sự hiện hữu (khác với Trung quán).Như vậy, tâm thì trống rỗng theo nghĩa là tâm không có phân biệt chủ thể và kháchthể
• Trung Quán Tông
Phái này do đạo sư Long Thọ bồ tát (150–250) sáng lập Phái Trung quán tập trungvào chủ đề tính không Đây là thuộc tính của vạn vật Vạn vật chỉ do nhân duyên sinh
ra, cho nên những sự vật hiện thấy có là không thực sự tồn tại Phái này có tên là
Trang 13Trung quán là vì nó chỉ ra con đường ở giữa chủ nghĩa hằng cửu (mọi vật tồn tại vỉnhviễn) và chủ nghĩa hư vô (không có gì tồn tại) Chủ thuyết này nhìn nhận sự hiện hữuthông thường của các đối tượng xuất hiện trong dòng chảy liên tục của các nhânduyên Không vật gì có thể tồn tại một cách độc lập với mọi điều kiện bên ngoài (tính
hỗ tương tồn tại) Đồng thời, có sự liên hệ phụ thuộc giữa thành phần và toàn thểtrong mỗi sự vật Thêm vào đó, do tính chất vô thường trên từng khoảnh khắc, khôngvật gì có thể hiện hữu tuyệt đối kể cả tâm và và thế giới vật lý bởi vì chúng thiếu vắngđối tượng thực sự của sự hiện hữu Như vậy tính không ở đây so với trường phái DuyThức, đã được nới rộng áp dụng lên vạn vật
Sự ra đời và phát triển của Phật giáo là một kết quả tất yếu của sự vận động biếnchuyển của xã hội Ấn Độ và của sự phát triển các trào lưu tư tưởng Triết học Ấn Độ
II MỘT SỐ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
2.1 Tư tưởng Triết học trong các giáo lý cơ bản của Phật giáo
Giáo lý của đạo Phật được thể hiện trong Tam tạng kinh là kinh tạng, luận tạng, vàluật tạng Mà các tư tưởng Triết học Phật giáo lại được thể hiện qua những khái niệmtrong giáo lý cơ bản của đạo Phật: Khái niệm về Vô tạo giả, vô thường, vô ngã tứ diệu
đế, ngũ giới, niết bàn,…
2.1.1 Thế giới quan triết học Phật Giáo
Những luận điểm cơ bản trong giáo lí Đạo Phật lại bao gồm những lí luận về nhânsinh quan và thế giới quan
Thứ nhất, quan niệm của Phật giáo về Thế giới quan:quan niệm của Đạo Phậtcũng như của nhiều các trào lưu triết học khác là chủ yếu lí giải về thế giới, sự tồn tạicủa các sự vật trong thế giới Nội dung cơ bản của Đạo Phật trong vấn đề này là đưa raDuyên khởi, mọi vật đều do nhân duyên hội tụ mà thành Tâm là nguồn gốc của duyênkhởi nên cũng là nguồn gốc của vạn vật Do quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nênThế giới quan Đạo Phật chủ trương tập trung giải thích ở bốn luận điểm là vô tạo giả,
vô ngã, vô thường và nhân quả
Vô tạo giả là không có kẻ sáng tạo đầu tiên
Trang 14Đạo Phật cho rằng thế giới do các loại vật chất tạo thành Mọi sự vật trong vũ trụkhông do bất kì thần linh nào tạo ra bằng những phép màu mà là do phần tử vật chấtnhỏ nhất tạo ra Những vật chất nhỏ bé đó gọi là “bản thể” Không gian trong thế giới
là “muôn hình, vạn pháp” nhiều như cát của sông Hằng “Pháp” trong thế giới không
có điểm bắt đầu và không có điểm kết thúc tức là Vô thủy vô chung Và “Pháp” cũng
có thể biểu hiện là thiện hay ác là hữu hình hay vô hình nó còn mang tính chất vôthường và vô ngã “Pháp” ở đây còn là khái niệm về Vạn Pháp là các sự vật hiệntượng thế giới được tạo nên bởi những phần tử vật chất và tinh thần gọi là Ngũ uần:Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn Thế giới còn bị chia làm 3 cõi giới làDục giới, sắc giới và vô sắc giới
Tuy nhiên, giáo lí Đạo Phật còn cho rằng thế giới mà con người nhận biết chỉ là
ảo, là giả tạo chứ nó không tồn tại , không đúng với thế giới tồn tại ấy Bởi cái thế giớivạn vật ấy luôn luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng, không có gì làtrường tồn bất biến, nó chỉ là những đơn vị satna trôi qua mà thôi (đơn vị thời gian rấtnhỏ) Con người chỉ có thể nhận biết được nó trong từng satna Nó là kết quả từ sự vôminh của con người, vì không nhận ra nó luôn luôn biến đổi
Vô ngã
Đây là luận điểm rút ra từ khái niệm Vô tạo giả Đạo Phật cho rằng tất cả mọi sự vật,hiện tượng xung quanh ta cũng như chính ta là không phải thực, chỉ là ảo giả, do vôminh đem lại Con người là “một pháp” đặc biệt của thế giới, bao gồm phần sinh lý vàtâm lý là sự kết hợp của Ngũ uẩn ( Sắc, thụ, tưởng, hành, thức) Phần sinh lý (sắc uẩn)
là thần sắc, hình tướng được tạo thành bởi tứ đại: địa – thủy- hỏa – phong Phần tâm
lý ( tinh thần, ý thức) gồm thụ - tưởng – hành – thức được biểu hiện bằng thất tình: ái,
ố, hỉ, nộ, lạc, ai, dục Tâm lý bao giờ cũng dựa vào sinh lý, con người sinh diệt là sựgiả hợp của ngũ uẩn Khi ngũ uẩn hợp là sinh, khi ngũ uẩn tan là diệt Do đó không cócái gọi là bản ngã tức cái tôi Tồn tại con người chỉ là vô ngã Con người có cái tâmthường trụ, bất biến và bao hàm vũ trụ Tâm của con người là cái tâm đại bình đẳng,tâm bát nhã tâm chân như; phật tính hay tâm Phật Nhưng Tâm của chúng sinh do bị
Vô minh che lấp nên chỉ là cái tâm mê loạn, vì vô minh nên không thấy được chân lícủa vũ trụ là “chư hành vô thường, chư pháp vô ngã”; vì vô minh nên chúng sinh