MỤC LỤC MỤC LỤC 2 MỞ BÀI 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 4. Câu hỏi nghiên cứu 3 5. Phương pháp NCKH 4 NỘI DUNG 5 TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 5 1. Tầm quan trọng của tri thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế 5 2. Những thành tựu trong việc giáo dục nâng cao tri thức của sinh viên mà Việt Nam đã đạt được. 5 3. Khó khăn và thách thức của sinh viên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế 7 4. Giải pháp nhằm nâng cao tri thức sinh viên 10 KẾT LUẬN 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13 MỞ BÀI 1. Lý do chọn đề tài Trong xã hội ngày càng phát triển ngày nay, hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu giúp các nước tiến hành các hoạt động gia tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục đích, trị giá, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chung trong khuôn khổ các định chế hoặc đơn vị quốc tế. Hội nhập quốc tế giúp mở rộng thị trường kinh tế, thúc đẩy thương mại từ đó mở rộng các mối quan hệ giữa các quốc gia. Không chỉ vậy mà còn giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thị trường kinh tế nước ngoài, giúp mỗi quan hệ giữa các quốc gia trở nên tốt hơn, duy trì nền hòa binh cho thế giới; Giúp các quốc gia có thể giải quyết các vấn đề chung một cách hiệu quả hơn. Vậy làm cách nào để hội nhập quốc tế một cách hiệu quả, đem lại lợi ích cho quốc gia? Đó chính là nâng cao tri thức cho tầng lớp sinh viên – đội ngũ trí thức của Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu, đánh giá tầm quan trọng của tri thức đối với tầng lớp sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đồng thời chỉ ra các định hướng, chính sách phù hợp trong việc nâng cao tri thức cho sinh viên Việt Nam. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng được rộng mở, thì tri thức có vai trò vô cùng to lớn. Việc phân tích vai trò của tri thức tới hội nhập quốc để nhằm chỉ ra các phương pháp giúp nâng cao nâng của tri thức của tầng lớp sinh viên Việt Nam, xây dựng một thế hệ tri thức lớn mạnh, nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ cho các lĩnh vực sáng tạo khoa học, phát minh, sáng chế, công nghệ, điều hành, quản lý và tổ chức xã hội. Đây chính là phần quan trọng trong công tác tổ chức, cán bộ thời kỳ hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới. Nhiệm vụ nghiên cứu: 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu : từ năm 2008 đến nay Đối tượng nghiên cứu : Sinh viên Việt Nam 4. Câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo: Tri thức quan trọng như thế nào với sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế? Câu hỏi nghiên cứu bổ trợ: + Sinh viên đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức gì trong việc tiếp thu và tiếp cận nguồn tri thức mới ? + Làm thế nào để có thể nâng cao tri thức của sinh viên ? 5. Phương pháp NCKH Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cùng phương pháp nghiên cứu tài liệu. NỘI DUNG TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Tầm quan trọng của tri thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, để nhanh chóng phát triển đất nước, nâng cao các thành tựu kinh tế xã hội thì vai trò của tri thức là vô cùng to lớn. Xây dựng và phát triển tri thức là một phần quan trọng không thể thiếu không chỉ đối với Việt Nam mà còn với tất cả quốc gia trên thế giới. Đội ngũ trí thức trực tiếp tham mưu, góp ý, phản biện vào những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Đội ngũ tri thức là những người đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ ở nhiều lĩnh vực.Đội ngũ tri thức có vai trò cung cấp luận cứ khoa học, phản biện các vấn đề xã hội, đưa ra những phương hướng giúp hoàn chỉnh chích sách của Đảng và Nhà nước. Từ đó giúp đẩy mạnh nền kinh tế, đưa nền kinh tế của đất nước ngày một phát triển, nâng cao vị thế quốc gia. Có thể thấy vai trò của tri thức trong việc tham gia phát triển đất nước trong hội nhập quốc tế là hoàn toàn to lớn. Và sinh viên Việt Nam chính là tầng lớp phù hợp nhất để Đảng và Nhà nước đầu tư nguồn tài nguyên nhằm nâng cao vốn tri thức, giúp Việt Nam nhanh chóng đẩy nhanh tốc độ hội nhập. 2. Những thành tựu trong việc giáo dục nâng cao tri thức của sinh viên mà Việt Nam đã đạt được. Về việc này nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề để tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ trí thức. Nhà nước đã thực hiện các chính sách xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo, nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ; các chính sách sử dụng và tạo môi trường phát huy vai trò của trí thức; chính sách đãi ngộ, tôn vinh trí thức, lập các giải thưởng quốc gia, phong tặng các chức danh khoa học và các danh hiệu cao quý; thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài. Đến năm 2017, Việt Nam có khoảng 6,5 triệu người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, tăng hơn 3,7 triệu người so với năm 2009. Kết quả này cho thấy, đội ngũ trí thức Việt Nam đã tăng thêm khoảng 2,8 triệu người sau 9 năm (2009 2017) so với 2,25 triệu người trong 10 năm. Ngoài trí thức trong nước, còn có khoảng hơn 400.000 trí thức Việt kiều (trong đó có hơn 6.000 tiến sĩ và hàng trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao) trên tổng số hơn bốn triệu người Việt Nam đang sinh sống trên thế giới. Các cơ sở giáo dục đại học của chúng ta không thể hội nhập với thế giới nếu không được kiểm định chất lượng. Người tốt nghiệp có tấm bằng của cơ sở giáo dục hoặc của chương trình đào tạo đã được kiểm định có cơ hội công ăn việc làm và hội nhập tốt hơn. Đến nay, hầu hết tất cả các cơ sở giáo dục đại học đều đã có đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng. Tính đến tháng 5.2016, có 229266 (chiếm 86,1%) cơ sở giáo dục đại học do Bô ̣ GDĐT quản lý đã thành lập đươc đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng, môt số trường còn lại giao môt số cán bộ phụ trách hoaṭ đông đảm bảo chất lượng. Cả nước hiện nay có 05 Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục đươc thành lập và đươc cấp phép hoạt động. Đã tổ chức 5 đợt tuyển chon và cấp thẻ kiểm định viên, có 346 người đã được cấp thẻ kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp. Công tác kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam đã định hướng theo các tiêu chí chuẩn mực của khu vực và thế giới. Qua tự đánh giá, đánh giá ngoài nhiều nhà trường đã thấy được điểm mạnh, điểm yếu và đã xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng sát thực và hiệu quả hơn. Các cơ sở giáo dục đã thay đổi cách nhìn nhận về công tác quản lý và chỉ đạo, tăng cường năng lực quản lý nhà trường và quản lý dạy, học. Kiểm định chất lượng giáo dục tạo động lực cho công tác đánh giá nói chung, góp phần quan trong thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục và hội nhập với thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam, vào năm 2018, 2 Đại học Quốc gia có tên trong danh sách xếp hạng 1000 trường hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS; trên 10 cơ sở GDĐH của Việt Nam có tên trong các bảng xếp hạng nghiên cứu SCImago. Ngoài ra, còn có 3 cơ sở GDĐH được chứng nhận 3 sao theo QSStars. 5 năm qua, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế mới về đào tạo đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, trong đó chuyển đổi hoàn toàn từ đào tạo niên chế sang tín chỉ và yêu cầu xác định chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo. Chất lượng đầu ra của người học về ngoại ngữ và chuyên môn đều yêu cầu cao hơn so với trước đây. Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo còn yêu cầu phải trang bị kiến thức về CNTT và các kỹ năng mềm cho người học. Trước đây, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu thường chỉ được chú trọng ở các đại học lớn. Sau khi có NQ29, để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, hoạt động đào tạo gắn với nghiên cứu được Bộ GDĐT quan tâm chỉ đạo triển khai ở tất cả các trường đại học. Thành tích lớn nhất của 5 năm qua là chúng ta đã tạo được sự chuyển biến đột phá về chất lượng. Chất lượng đội ngũ đã tăng lên từng bước, từng năm theo chuẩn quốc tế. Nếu như trước đây, GS, PGS,TS không yêu cầu bắt buộc có công bố quốc tế, thì nay, với quy chế mới về tiêu chuẩn chức danh, bắt buộc yêu cầu GS, PGS và cả các NCS khi bảo vệ luận án đều phải có công bố quốc tế. Nhờ nâng chuẩn chất lượng và có chính sách hỗ trợ cho nghiên cứu và các nhóm nghiên cứu, công bố quốc tế của Việt Nam đã đặc biệt tăng mạnh trong 3 năm gần đây. Năm 2013, trước khi có NQ 29, tổng công bố quốc tế của cả Việt Nam hết sức khiêm tốn, ở mức 2309 bài, thì theo thống kê mới đây nhất của nhóm nghiên cứu độc lập của ĐH Duy Tân, tính từ 2017 đến thời điểm công bố vào tháng 62018, chỉ riêng các công bố quốc tế của 30 trường đại học Việt Nam hàng đầutrong danh sách này đã đạt 10.515 bài, và hơn cả giai đoạn 5 năm trước 20112015,khi đó toàn Việt Nam, trong 5 năm mới có 10.034 bài. Trong những năm gần đây, cơ cấu đội ngũ trí thức đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tính đến cuối năm 2017, cơ cấu lao động theo trình độ được đào tạo đã có sự tăng cao. Tỷ lệ lao động có trình độ đại học tăng nhanh, từ 17,9% năm 2012 lên 18,4% năm 2017, cao đẳng tăng từ 4,9% lên 6,7%. Có thể thấy, từ khi hội nhập quốc tế năm 1986 tới nay, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách tận dụng sức mạng tri thức không chỉ ở trong nước mà còn với đội ngũ tri thức Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài. Chính vì thế, trong thời gian qua, hoạt động này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. 3. Khó khăn và thách thức của sinh viên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế Thứ nhất, chất lượng giáo dục và đào tạo trong môi trường Đại học chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao còn nhiều hạn chế. Mặc dù ngành giáo dục đã có nhiều bước phát triển và thay đổi nhưng chúng ta vẫn quá chú trọng đến việc tăng số lượng và quy mô đào tạo mà chưa chú trọng đến chất lượng. Chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy là yếu tố quyết định nhất trong việc nâng cao tri thức cũng như chất lượng của sinh viên. Tuy nhiên, chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy còn nhiều lạc hậu. Chúng ta quá chú trọng đến việc dạy kiến thức mà chưa chú trọng nhiều đến việc dạy kỹ năng, tác phong, văn hóa, đạo đức cho sinh viên. Kiến thức giảng dạy nặng về lý thuyết; rất ít thực hành, thường chỉ trong những năm cuối Đại học. Mặc dù chúng ta cũng đã có nhiều cố gắng đổi mới phương pháp dạy học, khuyến khích phương pháp dạy học tích cực, lấy sinh viên làm trọng tâm, nhưng vì nhiều lý do mà phương pháp truyền thống vẫn còn phổ biến, phương pháp mới không có gì thay đổi. Tất cả những hạn chế đó của ngành giáo dục và đào tạo đã thể hiện rõ trên sản phẩm của nó. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, chúng ta hiểu rõ rằng sinh viên cần nhiều hơn những kĩ năng mềm và môi trường để thỏa sức sang tạo cũng như phát triển trí tưởng tượng. Sinh viên Việt Nam vốn thông minh, năng động, tiếp thu nhanh, luôn biết cập nhật tình hình thế giới một cách nhanh nhất để bắt kịp với nhịp phát triển của các nước mạnh khác.
Trang 1Vương Nguyễn Linh
Nhi-20030761
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ MÔN NHẬP MÔN NĂNG LỰC THÔNG TIN
TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Trang 2Vương Nguyễn Linh
Nhi-20030761
2
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
MỞ BÀI 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Câu hỏi nghiên cứu 3
5 Phương pháp NCKH 4
NỘI DUNG 5
TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 5
1 Tầm quan trọng của tri thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế 5
2 Những thành tựu trong việc giáo dục nâng cao tri thức của sinh viên mà Việt Nam đã đạt được 5
3 Khó khăn và thách thức của sinh viên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế 7
4 Giải pháp nhằm nâng cao tri thức sinh viên 10
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ BÀI
1 Lý do chọn đề tài
Trong xã hội ngày càng phát triển ngày nay, hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu giúp các nước tiến hành các hoạt động gia tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục đích, trị giá, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chung trong khuôn khổ các định chế hoặc đơn vị quốc tế
Hội nhập quốc tế giúp mở rộng thị trường kinh tế, thúc đẩy thương mại từ đó mở rộng các mối quan hệ giữa các quốc gia Không chỉ vậy mà còn giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thị trường kinh tế nước ngoài, giúp mỗi quan hệ giữa các quốc gia trở nên tốt hơn, duy trì nền hòa binh cho thế giới; Giúp các quốc gia có thể giải quyết các vấn đề chung một cách hiệu quả hơn Vậy làm cách nào để hội nhập quốc tế một cách hiệu quả, đem lại lợi ích cho quốc gia? Đó chính
là nâng cao tri thức cho tầng lớp sinh viên – đội ngũ trí thức của Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu, đánh giá tầm quan trọng của tri thức đối với tầng lớp sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế Đồng thời chỉ ra các định hướng, chính sách phù hợp trong việc nâng cao tri thức cho sinh viên Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng được rộng mở, thì tri thức có vai trò vô cùng to lớn Việc phân tích vai trò của tri thức tới hội nhập quốc để nhằm chỉ ra các phương pháp giúp nâng cao nâng của tri thức của tầng lớp sinh viên Việt Nam, xây dựng một thế hệ tri thức lớn mạnh, nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ cho các lĩnh vực sáng tạo khoa học, phát minh, sáng chế, công nghệ, điều hành, quản lý và tổ chức xã hội Đây chính là phần quan trọng trong công tác tổ chức, cán bộ thời kỳ hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu : từ năm 2008 đến nay
Đối tượng nghiên cứu : Sinh viên Việt Nam
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo: Tri thức quan trọng như thế nào với sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế?
- Câu hỏi nghiên cứu bổ trợ:
+ Sinh viên đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức gì trong việc tiếp thu và tiếp cận nguồn tri thức mới ?
Trang 4+ Làm thế nào để có thể nâng cao tri thức của sinh viên ?
5 Phương pháp NCKH
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cùng phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trang 5NỘI DUNG TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI
NHẬP QUỐC TẾ
1 Tầm quan trọng của tri thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, để nhanh chóng phát triển đất nước, nâng cao các thành tựu kinh tế xã hội thì vai trò của tri thức là vô cùng to lớn Xây dựng và phát triển tri thức là một phần quan trọng không thể thiếu không chỉ đối với Việt Nam mà còn với tất cả quốc gia trên thế giới Đội ngũ trí thức trực tiếp tham mưu, góp ý, phản biện vào những quyết sách lớn của Đảng
và Nhà nước Đội ngũ tri thức là những người đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ ở nhiều lĩnh vực.Đội ngũ tri thức có vai trò cung cấp luận cứ khoa học, phản biện các vấn đề xã hội, đưa ra những phương hướng giúp hoàn chỉnh chích sách của Đảng và Nhà nước Từ đó giúp đẩy mạnh nền kinh tế, đưa nền kinh tế của đất nước ngày một phát triển, nâng cao vị thế quốc gia Có thể thấy vai trò của tri thức trong việc tham gia phát triển đất nước trong hội nhập quốc tế là hoàn toàn to lớn Và sinh viên Việt Nam chính là tầng lớp phù hợp nhất để Đảng và Nhà nước đầu tư nguồn tài nguyên nhằm nâng cao vốn tri thức, giúp Việt Nam nhanh chóng đẩy nhanh tốc độ hội nhập
2 Những thành tựu trong việc giáo dục nâng cao tri thức của sinh viên mà Việt Nam đã đạt được
Về việc này nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề để tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ trí thức Nhà nước đã thực hiện các chính sách xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo, nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ; các chính sách sử dụng và tạo môi trường phát huy vai trò của trí thức; chính sách đãi ngộ, tôn vinh trí thức, lập các giải thưởng quốc gia, phong tặng các chức danh khoa học
và các danh hiệu cao quý; thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài
Đến năm 2017, Việt Nam có khoảng 6,5 triệu người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, tăng hơn 3,7 triệu người so với năm 2009 Kết quả này cho thấy, đội ngũ trí thức Việt Nam đã tăng thêm khoảng 2,8 triệu người sau 9 năm (2009 - 2017) so với 2,25 triệu người trong 10 năm Ngoài trí thức trong nước, còn có khoảng hơn 400.000 trí thức Việt kiều (trong đó có hơn 6.000 tiến sĩ và hàng trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao) trên tổng số hơn bốn triệu người Việt Nam đang sinh sống trên thế giới
Trang 6Các cơ sở giáo dục đại học của chúng ta không thể hội nhập với thế giới nếu không được kiểm định chất lượng Người tốt nghiệp có tấm bằng của cơ sở giáo dục hoặc của chương trình đào tạo
đã được kiểm định có cơ hội công ăn việc làm và hội nhập tốt hơn Đến nay, hầu hết tất cả các cơ
sở giáo dục đại học đều đã có đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng Tính đến tháng 5.2016,
có 229/266 (chiếm 86,1%) cơ sở giáo dục đại học do Bô ̣ GDĐT quản lý đã thành lập
đươc
đơn vị
chuyên trách về đảm bảo chất lượng,
đảm bảo chất lượng Cả nước hiện nay có 05 Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục đươc thành lập và
đươc cấp phép hoạt động Đã tổ chức 5 đợt tuyển chon và cấp thẻ kiểm định viên, có 346 người đã được cấp thẻ kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp
Công tác kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam đã định hướng theo các tiêu chí chuẩn mực của khu vực và thế giới Qua tự đánh giá, đánh giá ngoài nhiều nhà trường đã thấy được điểm mạnh, điểm yếu và đã xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng sát thực và hiệu quả hơn Các cơ sở giáo dục đã thay đổi cách nhìn nhận về công tác quản lý và chỉ đạo, tăng cường năng lực quản lý nhà trường và quản lý dạy, học Kiểm định chất lượng giáo dục tạo động lực cho công tác đánh giá nói chung, góp phần quan trong thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục và hội nhập với thế giới
Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam, vào năm 2018, 2 Đại học Quốc gia có tên trong danh sách xếp hạng 1000 trường hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS; trên 10 cơ sở GDĐH của Việt Nam có tên trong các bảng xếp hạng nghiên cứu SCImago Ngoài ra, còn có 3 cơ
sở GDĐH được chứng nhận 3 sao theo QS-Stars
5 năm qua, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế mới về đào tạo đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, trong đó chuyển đổi hoàn toàn từ đào tạo niên chế sang tín chỉ và yêu cầu xác định chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo Chất lượng đầu ra của người học về ngoại ngữ và chuyên môn đều yêu cầu cao hơn so với trước đây Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo còn yêu cầu phải trang
bị kiến thức về CNTT và các kỹ năng mềm cho người học
Trước đây, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu thường chỉ được chú trọng ở các đại học lớn Sau khi có NQ29, để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, hoạt động đào tạo gắn với nghiên cứu được Bộ GD&ĐT quan tâm chỉ đạo triển khai ở tất cả các trường đại học Thành tích lớn nhất của 5 năm qua là chúng ta đã tạo được sự chuyển biến đột phá về
Trang 7chất lượng Chất lượng đội ngũ đã tăng lên từng bước, từng năm theo chuẩn quốc tế Nếu như trước đây, GS, PGS,TS không yêu cầu bắt buộc có công bố quốc tế, thì nay, với quy chế mới về tiêu chuẩn
Trang 8chức danh, bắt buộc yêu cầu GS, PGS và cả các NCS khi bảo vệ luận án đều phải có công bố quốc tế
Nhờ nâng chuẩn chất lượng và có chính sách hỗ trợ cho nghiên cứu và các nhóm nghiên cứu, công bố quốc tế của Việt Nam đã đặc biệt tăng mạnh trong 3 năm gần đây Năm 2013, trước khi
có NQ 29, tổng công bố quốc tế của cả Việt Nam hết sức khiêm tốn, ở mức 2309 bài, thì theo thống kê mới đây nhất của nhóm nghiên cứu độc lập của ĐH Duy Tân, tính từ 2017 đến thời điểm công bố vào tháng 6/2018, chỉ riêng các công bố quốc tế của 30 trường đại học Việt Nam hàng đầutrong danh sách này đã đạt 10.515 bài, và hơn cả giai đoạn 5 năm trước 2011-2015,khi đó toàn Việt Nam, trong 5 năm mới có 10.034 bài
Trong những năm gần đây, cơ cấu đội ngũ trí thức đã có nhiều chuyển biến tích cực Tính đến cuối năm 2017, cơ cấu lao động theo trình độ được đào tạo đã có sự tăng cao Tỷ lệ lao động có trình độ đại học tăng nhanh, từ 17,9% năm 2012 lên 18,4% năm 2017, cao đẳng tăng từ 4,9% lên 6,7%
Có thể thấy, từ khi hội nhập quốc tế năm 1986 tới nay, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách tận dụng sức mạng tri thức không chỉ ở trong nước mà còn với đội ngũ tri thức Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài Chính vì thế, trong thời gian qua, hoạt động này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
3 Khó khăn và thách thức của sinh viên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Thứ nhất, chất lượng giáo dục và đào tạo trong môi trường Đại học chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao còn nhiều hạn chế Mặc dù ngành giáo dục đã có nhiều bước phát triển và thay đổi nhưng chúng ta vẫn quá chú trọng đến việc tăng số lượng và quy mô đào tạo mà chưa chú trọng đến chất lượng Chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy là yếu tố quyết định nhất trong việc nâng cao tri thức cũng như chất lượng của sinh viên Tuy nhiên, chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy còn nhiều lạc hậu Chúng
ta quá chú trọng đến việc dạy kiến thức mà chưa chú trọng nhiều đến việc dạy kỹ năng, tác phong, văn hóa, đạo đức cho sinh viên Kiến thức giảng dạy nặng về lý thuyết; rất ít thực hành, thường chỉ trong những năm cuối Đại học Mặc dù chúng ta cũng đã có nhiều cố gắng đổi mới phương pháp dạy học, khuyến khích phương pháp dạy học tích cực, lấy sinh viên làm trọng tâm, nhưng vì nhiều lý do mà phương pháp truyền thống vẫn còn phổ biến, phương pháp mới không có gì thay đổi Tất cả những hạn chế đó của ngành giáo dục và đào tạo đã thể hiện rõ trên sản phẩm của nó Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, chúng ta hiểu rõ rằng sinh viên cần nhiều hơn những kĩ năng mềm và môi trường để thỏa sức sang tạo cũng như phát triển trí tưởng tượng Sinh viên Việt Nam vốn thông minh, năng động, tiếp thu nhanh, luôn biết cập nhật tình hình thế giới một cách nhanh nhất để bắt kịp với nhịp phát triển của các nước mạnh khác Vào những năm
2008, Việt Nam đã có một chính
Trang 9sách rất đúng về việc phải hội nhập quốc tế về giáo dục, đặc biệt cho giáo dục đại học, một trong những yếu tố quan trọng để tạo tiền đề cho kinh đất nước phát triển trong bối cảnh hội nhập Việc lựa chọn quốc tế hóa đại học bằng các mô hình đại học đẳng cấp và liên kết với các trường Đại học danh tiếng trên thế giới đã đem lại rất nhiều hiệu quả tích cực có thể nhìn bằng mắt thường, là bước đệm để Việt Nam có được vị thế trong nền giáo dục Đại học quốc tế, thu hút sinh viên nước ngoài và đặc biệt là nguồn vốn đầu tư từ các quốc gia phát triển Tuy nhiên, mặc dù chưa có bất
kỳ đánh giá chính thức nào về các mô hình đại học toàn cầu và việc tham gia vào các xếp hạng đại học toàn cầu, nhưng theo tôi tìm hiểu thông tin gần đây nhất được cập nhật về việc các đại học hàng đầu Việt Nam “bị tụt hạng” trong bảng xếp hạng các đại học ở khu vực châu Á vào năm 2016
Thứ hai, ngoài vấn đề về phương pháp giảng dạy thì trang thiết bị, phòng thí nghiệm phục vụ giảng dạy và học tập còn nhiều hạn chế Số lượng máy tính để phục vụ bộ môn cơ bản là Tin học còn ít, một trong những môn học rất quan trọng đối với sinh viên Những năm gần đây, quy mô giáo dục đã có phát triển, số lượng trường cao đẳng, đại học tăng mạnh và không ngừng đẩy mạnh việc tuyển sinh bằng nhiều hình thức, trong khi điều kiện về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất lại chưa phát triển, dẫn đến tình trạng ra trường rồi thất nghiệp là không thể tránh khỏi Theo thống
kê của Bộ GD&ĐT, trong tổng số 172 thư viện của gần 200 trường ĐH, 38,9% thư viện áp dụng các tiêu chuẩn thư viện hiện có của VN hoặc thế giới, 39,3% số trường được khảo sát có thư viện điện tử nhưng hầu hết chưa đáp ứng nhu cầu truy cập, trung bình 175 sinh viên mới có một máy,
số bản tài liệu cho sinh viên cũng rất thấp Một khảo sát khác của Bọ GD&ĐT, trong số 5.572 phòng thí nghiệm của các trường ĐH, CĐ, chỉ có 22,5% phòng thí nghiệm có thiết bị tốt, 19% phòng thí nghiệm có công nghệ hiện đại, chủ yếu của các trường ĐH top đầu Nhiều phòng thí nghiệm, phòng thực hành của các trường ĐH, CĐ hiện nay chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên
Thách thức thứ ba đối với sinh viên trong việc tiếp cận và tiếp thu tri thức đó là trình độ dân trí của các bậc phụ huynh vẫn phần nào hạn hẹp và nhà nước chưa quan tâm được hết tất cả các trường hợp gặp khó khăn Hiện nay vẫn còn rất nhiều các bậc phụ huynh có suy nghĩ rằng học Đại học là thừa thãi, không đem lại tác dụng gì, thay vào đó bắt con em mình học hết lớp 12 đi làm kiếm thu nhập để trợ giúp gia đình Dù con em mình có thành tích học tập rất tốt nhưng vì không được gia đình ủng hộ nên vẫn phải từ bỏ con đường tiếp cận nền tri thức mới Chúng ta vẫn biết rằng tầm quan trọng của tri thức trong việc hội nhập quốc tế là vô cùng to lớn, là cái cơ bản nhất cần chuẩn bị trong hành trang vươn ra thế giới, và sinh viên là niềm hy vọng lớn nhất mà Đảng và Nhà nước đặt niềm tin Có lẽ cần có thêm những giải pháp tích cực hơn để hỗ trợ tất cả sinh viên trong việc tiếp thu nền tri thức mới
Bên cạnh những khó khăn khách quan, thì khó khăn chủ quan đến từ mặt tâm lý của sinh viên cũng rất quan trọng Hoạt động học tập là hoạt động chủ yếu của sinh viên Nó là một loại hoạt động nhận thức, là loại lao động trí óc căng thẳng có cường độ cao Đây là hoạt động đặc thù của con người giúp con người hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách Do vậy, trong quá trình tham gia vào hoạt động học tập chủ thể gặp rất nhiều KKTL đòi hỏi người học phải huy động tối đa
Trang 10những phẩm chất và năng lực tâm lý của bản thân mới mong có thể khắc phục được những trở ngại, KKTL nhằm tiếp cận được mục tiêu mà bản thân đã đề ra
Thực tế đã chứng minh, người học dù ở lứa tuổi nào khi tham gia vào hoạt động học tập đều gặp những trở ngại, KKTL Sở dĩ có những hiện tượng đó là do các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan gây ra như ảnh hưởng của đời sống, môi trường, cơ sở vật chất phục vụ cho học tập, năng lực, vốn kinh nghiệp sống bị hạn chế của cá nhân Đặc biệt đối với những người khi chuyển đổi cấp học, phải làm quen với môi trường học tập mới thì những KKTL càng tăng lên gấp đôi.Những KKTL đó không được phát hiện và tháo gỡ kịp thời thì nó sẽ ảnh tiêu cực tới hoạt động học tập của cá nhân.Làm cho cá nhân lo lắng, sợ hải, xấu hổ và cứ thế họ sẽ bị xoáy sâu vào vòng luẩn quẩn của sự bế tắc.Điều này không những ảnh hưởng tới sự học tập mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự học tập và phát triển nhân cách của người học
Một trong những KKTL lớn nhất trong quá trình học tập ở sinh viên là do họ phải tiếp cận với một khối lượng kiến thức lớn, song song với nó họ phải hình thành được kỹ năng, kỹ xảo, nghề nghiệp với tính chất chuyên sâu Mục đích, nhiệm vụ học tập đòi hỏi cao nhưng họ lại thiếu kinh nghiệm học tập, họ thường áp dụng những phương pháp học tập đã quen sử dụng ở phổ thông, những phương pháp này không còn phù hợp với hoạt động học tập ở trường cao đẳng Thực tế cho thấy, sinh viên trong quá trình học tập họ thường lấy sự cần cù, chăm chỉ của mình để mong đổi lấy một kết quả học tập cao Đôi khi xảy ra cả với những sinh viên học khá, giỏi cũng chưa biết cách lựa chọn phương pháp học tập khoa học, họ thường lấy việc tập trung sức lực chăm chỉ đọc sách, làm bài tập hay nghe giảng trên lớp để thay thế cho phương pháp học tập khoa học mà
lẽ ra họ phải có Chính sự chăm chỉ của sinh viên, cùng với sự phát huy cao độ sức lực của mình vào học tập, đã làm cho họ giảm sút nhanh chóng về mặt sức khỏe mà hiệu quả học tập của họ lại không cao Có thể khẳng định rằng nếu SV biết cách lĩnh hội tri thức bằng những phương pháp học tập phù hợp, lấy tự học làm cốt lõi, biết độc lập tự giác trong quá trình học thì chắc chắn kết quả học tập của họ sẽ tốt hơn
Những KKTL trong học tập của sinh viên không chỉ liên quan đến việc sinh viên phải lĩnh hội lượng tri thức lớn mà chủ yếu còn liên quan đến cách học, cách áp dụng các tri thức đã học vào thực tiễn một cách hiệu quả Bên cạnh đó, một số KKTL khác làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập của sinh viên, đó là các vấn đề như: hoàn cảnh sống, sự cô đơn, lẻ loi khi lần đầu xa nhà, môi trường sống thay đổi… Tất cả chúng đều gây ra những KKTL làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của họ Ví dụ như:
- Do lực học của bản thân