pháp của quốc gia nào mà duy nhất dựa trên bằng chứng và ý chí của các bên ký kết hợpđồng.Về tác dụng thứ ba hoàn toàn đặc biệt trong luật pháp của Pháp - tác dụng huyđộng hoặc thu hút,
Trang 1KỶ YẾU HỘI THẢO VỀ
DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
Do Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức tại Hà Nội các ngày 24, 25/09/2009
(Kỷ yếu này chỉ ghi lại những nội dung trao đổi chính tại Hội thảo)
_
Thuyết trình viên :
- Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa án Tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp
- Bà Corinne Montineri, Chủ nhiệm Ban Thư ký Ủy ban của Liên hợp quốc về pháp luật
thương mại quốc tế (UNCITRAL)
- TS Nguyễn Minh Chí, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam
PHẦN I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI
CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ
I KHUYNH HƯỚNG HIỆN NAY CỦA PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CỘNG
HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ (Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa án Tư
pháp tối cao Cộng hòa Pháp)
Tôi xin giới thiệu tổng quát về pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế, bắt đầubằng hai nhận xét chính Tôi sử dụng cụm từ “pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế” doPháp không có Luật Trọng tài (điều này khác với nhiều nước từ 15 năm trở lại đây đãthông qua Luật Trọng tài) Ở Pháp, trọng tài được coi là lĩnh vực của tố tụng dân sự, đượcđiều chỉnh bởi nghị định, không phải bởi luật Vậy nên một nghị định cơ bản được banhành vào năm 1981 (cho đến nay chưa hề bị sửa đổi) Điều này dẫn tới nhận xét thứ haicủa tôi là: trong pháp luật của Pháp, hầu hết các quy định, thậm chí các quy định cơ bảnnhất về trọng tài, đều bắt nguồn từ thực tiễn xét xử Tòa án đã đưa ra hầu hết các quy địnhquan trọng về trọng tài, đặc biệt về trọng tài quốc tế
Trong pháp luật của Pháp, có 3 nguyên tắc lớn mang tính chủ đạo điều chỉnh lĩnhvực trọng tài quốc tế Nguyên tắc thứ nhất là tính độc lập và tính có hiệu lực của điều
Nhµ Ph¸p luËt ViÖt - Ph¸p MAISON DU DROIT VIETNAMO - FRANÇAISE
87, Rue Nguyen Chi Thanh, Dong Da, Hanoi · Tel : (844) 8351899 · Fax : (844) 8352080 · Email : mdvf@maisondudroit.org
Trang 2khoản trọng tài quốc tế Nguyên tắc thứ hai là đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấpbằng trọng tài được tiến hành công bằng và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế.Nguyên tắc thứ ba là quy chế pháp lý đặc biệt của phán quyết trọng tài quốc tế phải đượcchấp nhận Trong đó, nguyên tắc thứ nhất mang tính truyền thống, hai nguyên tắc còn lạimới mẻ hơn trong luật so sánh.
Về nguyên tắc thứ nhất (tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tàiquốc tế), nguyên tắc này ngày nay đã được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận DựLuật của Việt Nam dĩ nhiên là giữ lại nguyên tắc này Ở Pháp, nguyên tắc này được thiếtlập từ một quyết định của Tòa Phá án (Tòa án Tư pháp tối cao) năm 1963 Tại quyết địnhnày, Tòa Phá án tuyên bố nguyên tắc theo đó điều khoản trọng tài quốc tế có tính độc lập
so với hợp đồng chính Từ nguyên tắc đó, vào năm 1999, Tòa Phá án đã suy ra nguyên tắc
về tính hiệu lực điều khoản trọng tài, theo đó điều khoản hợp đồng có một chế độ pháp lýriêng, đặc thù và được suy đoán trước là có hiệu lực Giải pháp táo bạo này đã bị chỉ tríchrất nhiều do có những ý kiến cho rằng thỏa thuận hợp đồng không thể tồn tại mà không cóluật điều chỉnh Hiệu lực của hợp đồng luôn phải phù hợp với quy định của một đạo luậthoặc một văn bản quy phạm pháp luật khác như nghị định Theo giáo sư Fouchard, đâykhông phải là trường hợp hợp đồng có xung đột pháp luật vì người ta không tìm được luật
áp dụng đối với thỏa thuận này Theo tôi, luật áp dụng đối với điều khoản trọng tài đơngiản chỉ là thỏa thuận giữa các bên - kể từ khi các bên đã quyết định về thỏa thuận trọngtài, quyết định này có hiệu lực bắt buộc và trở thành luật của các bên
Nguyên tắc tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế có 3tác dụng chính và cũng có một vài hệ quả cơ bản Ba tác dụng chính là: tác dụng thứ nhất
- tính miễn dịch của điều khoản; thứ hai – tác dụng giải phóng điều khoản khỏi bất cứpháp luật quốc gia nào; thứ ba - tác dụng huy động hoặc tác dụng thu hút của điều khoản,cho phép mở rộng điều khoản này đối với các bên liên quan đến hợp đồng
Trong các tác dụng trên, tác dụng thứ nhất được Dự Luật của Việt Nam giữ lại.Tính độc lập của điều khoản trọng tài nghĩa là điều khoản trọng tài có chế độ pháp lýriêng, độc lập với hợp đồng chính; hệ quả là điều khoản này không bị ảnh hưởng khi hợpđồng chính bị vô hiệu hoặc không được áp dụng Tác dụng thứ hai – tác dụng giải phóng,thường được thể hiện nhiều hơn trong luật của Pháp nhưng ít được giữ lại trong luật sosánh, nghĩa là điều khoản trọng tài tách rời khỏi mọi hệ thống pháp luật mang tính nhànước Chính theo nghĩa này mà giáo sư Fouchard đã nói rằng đó là một hợp đồng không
có xung đột pháp luật bởi vì người ta sẽ không tìm kiếm luật áp dụng cho hợp đồng đặcbiệt này Đây là nguyên tắc đặc biệt mà Tòa án Pháp đã đưa ra bởi lẽ thông thường, tưpháp quốc tế gắn với luật của quốc gia Điều đó không đúng đối với điều khoản trọng tài,nguyên nhân đơn giản là do người ta muốn tránh các tranh chấp hết sức phức tạp về luật
áp dụng đối với điều khoản trọng tài Mặt khác, phải nói rằng với 25 năm kinh nghiệmcủa bản thân, tôi chưa từng gặp một điều khoản trọng tài nào mà các bên nói là được điềuchỉnh bởi luật này hay luật kia, chưa từng có khái niệm về luật áp dụng đối với thỏa thuậntrọng tài Không có lý do để nghĩ rằng luật áp dụng đối với hợp đồng chính nhất thiết phải
áp dụng cho điều khoản trọng tài, do điều khoản trọng tài là độc lập, là một hợp đồng thủtục được nhập vào trong một hợp đồng nội dung Điều này cho phép Trọng tài và Tòa ánxác định tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài trong khi không tham chiếu vào luật
Trang 3pháp của quốc gia nào mà duy nhất dựa trên bằng chứng và ý chí của các bên ký kết hợpđồng.
Về tác dụng thứ ba (hoàn toàn đặc biệt trong luật pháp của Pháp) - tác dụng huyđộng hoặc thu hút, nghĩa là điều khoản trọng tài có quyền áp dụng đối với mọi hợp đồngkhi các hợp đồng này được lập để thực hiện duy nhất một hoạt động kinh tế, kể cả khitrong số các hợp đồng đó, có hợp đồng không có điều khoản trọng tài; mặt khác, điềukhoản trọng tài cũng được áp dụng đối với mọi bên đã tham gia vào hợp đồng chứa đựngđiều khoản trọng tài và cả những bên không ký kết điều khoản đó, với điều kiện là cácbên đó phải được biết trước về điều khoản trọng tài Trong các hợp đồng quốc tế, đặc biệt
là trong khuôn khổ các hoạt động đầu tư, thường có nhiều bên có liên quan, ví dụ nhiềudoanh nghiệp châu Âu hoặc châu Mỹ cùng tham gia xây dựng một con đường ở ViệtNam Sẽ có một hợp đồng chính, quy định về việc xây dựng con đường, được lập và kýkết bởi được một vài doanh nghiệp, các doanh nghiêp này đề nghị các doanh nghiệp kháctham gia thực hiện hợp đồng, các doanh nghiệp này có thể sẽ không ký hợp đồng chínhnhưng đã phải biết về điều khoản trọng tài và đã ngầm chấp nhận điều khoản trọng tài.Xuất phát từ đó, thẩm phán Pháp quyết định rằng điều khoản trọng tài áp dụng cho tất cảcác bên liên quan Điều này là một một thuận lợi rõ rệt bởi lẽ mọi tranh chấp liên quanđến cùng hoạt động kinh tế được tập trung giải quyết bởi một trọng tài viên, tại cùng mộtđịa điểm, tránh được nguy cơ vụ việc được các bên khác nhau khởi kiện tại các địa điểmkhác nhau như Hà Nội, Los Angeles, Singapore hay nơi khác Tác dụng của điều khoảntrọng tài cũng được mở rộng theo hướng là điều khoản trọng tài được chuyển giao cùngvới hợp đồng chính Tòa án Pháp cho rằng điều khoản trọng tài nhất thiết phải đượcchuyển giao cùng với hợp đồng; điều này không mâu thuẫn với tính độc lập của điềukhoản trọng tài, do tính độc lập của điều khoản chỉ có nghĩa là điều khoản trọng tài có chế
độ pháp lý đặc biệt, nhưng điều khoản này vẫn là một phần không thể tách rời của hợpđồng chính, là một bộ phận phụ của hợp đồng chính về mặt pháp lý, do vậy, điều khoảnnày sẽ được chuyển cho tất cả những người thế quyền của các bên ký kết hợp đồng banđầu Do vậy, bằng tác dụng thu hút này, chúng ta có thể tập trung mọi tranh chấp liênquan đến một hoạt động kinh tế cho một Hội đồng Trọng tài giải quyết; đây rõ ràng làmột giải pháp hết sức thuận lợi nhằm tăng cường hiệu quả của thỏa thuận trọng tài Mặtkhác, toàn bộ pháp luật của Pháp về trọng tài có tác dụng và có mục đích đảm bảo tínhhiệu quả của thỏa thuận trọng tài
Về các hệ quả quan trọng của tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, hệ quả quantrọng thứ nhất là nguyên tắc “thẩm quyền về thẩm quyền”, được thừa nhận trong Dự Luậtcủa Việt Nam Đây là một nguyên tắc cơ bản về trọng tài theo đó, Trọng tài có thẩmquyền xem xét, quyết định về thẩm quyền của chính mình Xuất phát từ nguyên tắc này,Trọng tài có thẩm quyền tuyên bố mình có thẩm quyền giải quyết tranh chấp bởi lẽ điềukhoản trọng tài là độc lập và có hiệu lực Đây là một nguyên tắc chung, không riêng gìpháp luật Việt Nam quy định như vậy Tại Pháp, Tòa án cũng rút ra hệ quả từ nguyên tắcnày Khi quyết định rằng Trọng tài có quyền ưu tiên tuyệt đối trong việc xem xét, quyếtđịnh về thẩm quyền của chính mình, Tòa án phải từ chối thụ lý vụ kiện Các bạn sẽ thấyrằng sau đó, có vẫn còn khả năng khởi kiện ra Tòa án, nhưng không phải ở giai đoạn này– đây là tác dụng phủ định của nguyên tắc “thẩm quyền về thầm quyền”, khi Tòa án loại
bỏ thẩm quyền của Trọng tài Điều này chỉ có thể thực hiện trong những trường hợp hết
Trang 4sức ngoại lệ, khi Tòa án thấy rằng điều khoản trọng tài rõ ràng vô hiệu hoặc rõ ràngkhông thể áp dụng Ví dụ, trong luật Pháp (có lẽ luật Việt Nam cũng quy định tương tự),điều khoản trọng tài về ly hôn Tòa án sẽ quyết định thụ lý vụ việc vì đây không thuộcthẩm quyền giải quyết của trọng tài Ví dụ thứ hai là trường hợp hai bên đã ký kết hai hợpđồng tách biệt đối với một dự án kinh tế, trong đó một hợp đồng quy định tranh chấp sẽđược giải quyết bằng trọng tài trong khi hợp đồng kia lại dự kiến khả năng lựa chọn Tòa
án Do sự mâu thuẫn này của các điều khoản thỏa thuận về cơ quan giải quyết tranh chấp,khi có bên khởi kiện căn cứ vào hợp đồng có điều khoản lựa chọn Tòa án, Tòa án đãquyết định rằng điều khoản lựa chọn trọng tài là không thể áp dụng Trong trường hợpnày, điều khoản trọng tài rõ ràng không được áp dụng do việc áp dụng bị hạn chế bởi mộthợp đồng khác
Một hệ quả khác là nguyên tắc liên quan đến khả năng đưa ra giải quyết trướctrọng tài các tranh chấp liên quan đến các cơ quan, tổ chức công, như Nhà nước hoặc cáccông ty quốc doanh Nguyên tắc này đã được Tòa Phá án đưa ra trong một quyết địnhnăm 1966 Tòa Phá án khẳng định rằng không thể áp dụng nguyên tắc cấm giải quyếtbằng trọng tài đối với các tranh chấp liên quan đến các cơ quan nhà nước Theo Tòa án,khi Nhà nước tham gia vào hoạt động ngoại thương, Nhà nước xử sự với tư cách một chủthể của quan hệ ngoại thương và nguyên tắc ngoại thương, do vậy có thể đưa vụ tranhchấp liên quan đến Nhà nước ra trọng tài giải quyết Trên thực tế, nhiều quốc gia khôngmuốn chấp nhận thẩm quyền trọng tài sau khi đã ký kết điều khoản trọng tài Họ lập luậnrằng Hiến pháp của các quốc gia đó cấm việc ký kết điều khoản trọng tài Tuy nhiên, Tòa
án Pháp quyết định rằng đó là một nguyên tắc quan trọng và luật trọng tài quốc tế buộcquốc gia đã ký kết điều khoản trọng tài phải tuân thủ điều khoản đó
Về nguyên tắc chủ đạo thứ hai - đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài được tiến hành công minh và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế Thuậtngữ “phiên xét xử công minh” có xuất xứ từ Công ước Châu Âu và đây cũng là thuật ngữhết sức phổ biến Nguyên tắc này có nghĩa là phải đảm bảo một phiên tòa đúng đắn, tại đócác bên đều được đối xử bình đẳng, quyền bào chữa được tuân thủ, thẩm phán phải độclập, vô tư, khách quan trong xét xử Các tiêu chí này cũng được áp dụng cho việc giảiquyết tranh chấp bằng trọng tài, lý do rất đơn giản là nếu công lý trọng tài là công lý tư thì
đó vẫn là công lý và mọi công lý phải đáp ứng được các tiêu chí nêu trên
Về sự can thiệp của Tòa án, hệ thống Trọng tài của Pháp hạn chế một cách rất chặtchẽ sự can thiệp của Tòa án, xuất phát từ một lý do khá đơn giản và hiển nhiên, đó là lựachọn trọng tài là để tránh hoặc loại trừ sự can thiệp của Tòa án Do vậy, Tòa án chỉ canthiệp trong 2 trường hợp Trường hợp thứ nhất là hỗ trợ cho Trọng tài - khi Tòa án được
đề nghị hỗ trợ trọng tài, chẳng hạn: chỉ định trọng tài viên, áp dụng các biện pháp khẩncấp tạm thời Phương thức can thiệp thứ hai của Tòa án là sự can thiệp với tư cách kiểmtra phán quyết trọng tài - can thiệp sau khi Trọng tài đã tiến hành giải quyết vụ tranh chấp,nếu Tòa án được yêu cầu kiểm tra tính hợp thức của phán quyết Trọng tài (tuy nhiên,thẩm phán không có thẩm quyền sửa đổi phán quyết về mặt nội dung; điều này thuộcthẩm quyền của Trọng tài), trong trường hợp có yêu cầu hủy phán quyết do không tuânthủ các quy định pháp luật hình thức Tôi cho rằng pháp luật Việt Nam cũng quy định nhưvậy Tòa án sẽ xem xét thỏa thuận trọng tài có hiệu lực hay không, Hội đồng trọng tài cóđược thành lập theo đúng trình tự, thủ tục quy định hay không, Trọng tài viên có độc lập
Trang 5hay không, quyền bào chữa có được tuân thủ không, trật tự công quốc tế có bị vi phạmkhông, v.v Đây là sự kiểm tra rất hạn chế vì toàn bộ thẩm quyền còn lại thuộc Trọng tài.Tòa án Pháp rất nghiêm khắc trong việc kiểm tra, giám sát tuân thủ nguyên tắc này – việckhởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét nội dung của phán quyết trọng tài không thể được chấpnhận.
Nguyên tắc chủ đạo cuối cùng là thiết lập chế độ pháp lý đặc biệt cho phán quyếttrọng tài quốc tế Nguyên tắc này đã được áp dụng trong một vụ việc đặc biệt; trong vụviệc này, phán quyết được đưa ra ở nước ngoài và bị hủy ở nước gốc của phán quyết đó
Đó là vụ việc rất nổi tiếng I-lờ Mác-tơn năm 1994 Phán quyết được đưa ra tại Thụy Sĩ,rồi bị hủy ở Thụy Sĩ, và một trong các bên tranh chấp đã yêu cầu thi hành phán quyết ởPháp Tòa án Pháp đã chấp nhận thi hành phán quyết này ở Pháp với lý do đơn giản làphán quyết đã bị hủy ở nước ngoài không phải là căn cứ để hủy phán quyết đó ở Pháp Vụviệc này đã gây ra nhiều tranh cãi, thậm chí đến nay vẫn tục được nói đến Một vụ việckhác cũng diễn ra trong bối cảnh tương tự vào năm 2007 Một phán quyết được đưa ra ởLuân Đôn và bị huỷ sau đó ở Luân Đôn: một bên khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy phánquyết trọng tài do về nhầm lẫn về luật, Tòa án có thẩm quyền của Luân Đôn tiến hành xét
xử lại và tuyên bố rằng có sự nhầm lẫn về luật và hủy phán quyết trọng tài Cùng lúc đó,một bên yêu cầu thi hành phán quyết tại Pháp và Tòa án Pháp cũng đã chấp nhận cho thihành phán quyết với cùng lý do như với vụ việc trước, bởi vì luật pháp của Pháp, trái vớiCông ước New York, không thừa nhận việc phán quyết trọng tài đã bị hủy ở nước ngoàinhư là một trường hợp phải từ chối thi hành phán quyết tại Pháp Quyết định này của Tòa
án Pháp cũng gây ra rất nhiều tranh cãi, chỉ trích Rõ ràng là vấn đề này gắn liền với cáccăn cứ hủy phán quyết trọng tài ở nước ngoài bởi lẽ nếu phán quyết trọng tài bị hủy ởnước ngoài do vi phạm quyền bào chữa chẳng hạn thì đương nhiên phán quyết đó sẽkhông được thi hành ở Pháp cũng như ở các nước khác Tuy vậy, không nên hiểu rằngquyết định này của thẩm phán Pháp một lần nữa tạo điều kiện cho Pháp trở thành nơi trú
ẩn của tất cả các phán quyết trọng tài đã bị hủy trên toàn thế giới hay nói cách khác là cácphán quyết tồi Thực tế không phải như vậy, lý do đơn giản là phẩm phán Pháp cho rằng -tôi xin trích dẫn bản án 2007 - phán quyết trọng tài quốc tế tách rời khỏi mọi trật tự quốcgia và là một quyết định mang tính công lý quốc tế Do đó, phán quyết trọng tài quốc tếkhông gắn với nước gốc bởi lẽ mối liên hệ giữa phán quyết với nước gốc rất yếu ớt; ngoàithủ tục yêu cầu hủy phán quyết theo quy định pháp luật của nước nơi ra phán quyết, phánquyết không có mối liên hệ nào khác với với hệ thống pháp luật của nước này Do vậy,phán quyết trọng tài được coi là là một quyết định thực sự mang tính quốc tế Quan điểmnày của Tòa án Pháp có xu hướng thừa nhận một trật tự pháp lý quốc tế, và gây ra không
ít tranh cãi giữa những người làm công tác pháp luật, nhiều người tán thành và cũngkhông ít người phản đối
II GIỚI THIỆU CÁC HOẠT ĐỘNG HIỆN NAY VỀ LĨNH VỰC TRỌNG TÀI CỦA ỦY BAN CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC
TẾ (Bà Corinne Montineri, Chủ nhiệm Ban Thư ký Ủy ban của Liên hợp quốc về pháp
luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)
Trước hết, tôi xin cám ơn Nhà Pháp luật Việt Pháp đã có sáng kiến tổ chức cuộcgặp này Tôi cũng xin cám ơn các cơ quan có thẩm quyền tham gia vào việc sửa đổi Pháplệnh Trọng tài thương mại năm 2003 của Việt Nam đã tham khảo ý kiến của cộng đồng
Trang 6trọng tài quốc tế cũng như các nước đối tác của Việt Nam trong quá trình sửa đổi Pháplệnh Chính những nhà đầu tư của các nước này cùng với các nhà đầu tư Việt Nam lànhững người đầu tiên sử dụng Luật này Do vậy, cần thu thập ý kiến của họ ngay từ đầu
và đưa họ tham gia vào quá trình này
Ban thư ký của Uỷ ban Pháp luật thương mại quốc tế của Liên Hợp quốc được đềnghị tham gia công việc tương tự trong khuôn khổ sửa đổi Pháp lệnh Trọng tài năm 2003.Chúng tôi đã cộng tác với những người tham gia các cuộc họp do UNDP tổ chức để đưa
ra những nhận xét của mình Chúng tôi cho rằng trong quá trình cải cách này, việc thamkhảo ý kiến của các luật gia thuộc truyền thống Dân luật cũng như Tiền lệ pháp là rất hữuích Do vậy, chúng tôi rất vui mừng được tham dự Hội thảo này, nhờ đó chúng tôi hiểuđược bối cảnh của việc sửa đổi pháp luật này cũng như các vấn đề đặc biệt đặt ra trongbối cảnh chung của pháp luật Việt Nam
Tôi làm việc ở Phòng Pháp chế của Ủy ban Pháp luật thương mại quốc tế của LiênHợp quốc (UNCITRAL) Hiện tại, tôi là thư ký của nhóm làm việc của UNCITRAL vềtrọng tài
UNCITRAL là một ủy ban của Liên Hợp quốc về thương mại quốc tế, là cơ quanchịu trách nhiệm thực hiện Chương trình của Liên Hợp quốc về hài hòa hóa và hiện đạihóa luật thương mại quốc tế Các quốc gia thành viên cũng như các quốc gia không phải
là thành viên của UNCITRAL tiến hành họp hàng năm nếu muốn, mỗi lần họp kéo dàikhoảng 3 tuần, để thông qua các văn bản, văn kiện quốc tế và xác định chương trình làmviệc trong lĩnh vực luật thương mại quốc tế Chương trình làm việc này sau đó được thựchiện trong khuôn khổ nhóm công tác được lập ra vì mục đích đó Nhóm công tác này họpmột năm 2 lần, các thành viên của nhóm là các chuyên gia do Chính phủ các nước cử.UNCITRAL được thành lập vào năm 1965, bằng một Nghị quyết của Đại hội đồng LiênHợp quốc Vào thời điểm đó, Đại hội đồng cho rằng cần thiết phải tạo ra các điều kiệnthuận lợi cho việc phát triển thương mại quốc tế vì lợi ích của các dân tộc Đại hội đồngtin rằng những sự khác biệt trong luật pháp của các quốc gia cản trở sự phát triển củathương mại thế giới và do vậy, Đại hội đồng đã xác định rằng Liên hiệp Quốc cần phảihoạt động tích cực hơn để giảm bớt hoặc xóa bỏ các trở ngại pháp lý tạo nên rào cản đốivới thương mại quốc tế Chúng ta cần nhớ rằng các văn bản pháp lý của UNCITRALđược soạn thảo trong khuôn khổ các cuộc đàm phán quốc tế tại đó, tất cả các nước khôngphân biệt truyền thống pháp lý và trình độ phát triển, được tham gia một cách bình đẳng.Các văn bản của UNCITRAL như Luật mẫu về trọng tài, được soạn bằng các ngôn ngữ:Anh, Pháp, Trung Quốc, Ả Rập, Tây Ban Nha, Nga Tôi hy vọng sắp tới Việt Nam sẽ cóđại diện tham gia vào các công việc của UNCITRAL, đặc biệt là nhóm công tác củaUNCITRAL về trọng tài vào cuối năm 2010 để bắt đầu các công việc quan trọng trongcác lĩnh vực trọng tài liên quan đến Nhà nước Tham gia vào các cuộc họp củaUNCITRAL có các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ và nhiều trung tâm trọng tài
Các lĩnh vực hoạt động của UNCITRAL, trong đó có soạn thảo văn bản, bao gồmgiải quyết tranh chấp, trọng tài, hòa giải, thực tiễn về hợp đồng thương mại quốc tế, vậnchuyển, khả năng thanh toán, thương mại điện tử, thanh toán quốc tế, hoạt động bảo lãnh,hợp đồng công chính, thương mại điện tử, mua bán hàng hóa Trong số các văn bản củaUNCITRAL đã được Việt Nam tham gia, có Công ước New York về công nhận và thi
Trang 7hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện
tử và chữ ký điện tử Trong các hoạt động của UNCITRAL trong tương lai, có hoạt động
về tài chính vi mô
Về trọng tài và hòa giải, có 3 văn bản quan trọng Văn bản thứ nhất là Công ướcNew York về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài năm 1958 Côngước này đã được soạn thảo trước khi UNCITRAL được thành lập, nhưng UNCITRALđảm bảo việc triển khai thực hiện công ước này Đó là một công ước gần như mang tínhtoàn cầu Việt Nam tham gia Công ước này năm 1995 Cách đây khoảng 20 năm, cácnước thành viên thấy rằng cần phải tiến hành điều tra xem các quốc gia áp dụng công ướcnày như thế nào Một bảng câu hỏi đã được gửi tới tất cả các quốc gia thành viên củaCông ước, trong đó có Việt Nam (Việt Nam cũng đã trả lời Bảng câu hỏi) Câu hỏi cần trảlời là:
- Công ước này đã được đưa vào như thế nào trong hệ thống pháp luật của các nướcthành viên để đảm bảo các quy định của Công ước có hiệu lực ngang luật?
- Khi áp dụng Công ước, các nước có thêm các quy định vào chế độ thống nhất củaCông ước hay không?
- Nếu có bảo lưu, số lượng bảo lưu đưa ra có nhiều hơn số lượng bảo lưu được Côngước cho phép không, có quy mô rộng hơn hay không?
- Trong quá trình áp dụng Công ước, liên quan đến việc công nhận và thi hành phánquyết, các nước có quy định thời hiệu bổ sung vốn không được quy định trongCông ước hay không?
Các câu trả lời cho thấy việc áp dụng và giải thích Công ước New York hết sức đadạng, nhiều quy định mà các quốc gia đưa ra rõ ràng trái với tinh thần của Công ước.Trước những khác biệt lớn này, Ủy ban đã quyết định rằng một văn bản hướng dẫn sẽđược ban hành để trao đổi các thực tiễn tốt nhất giữa các quốc gia liên quan nhằm thựchiện các thủ tục liên quan trong khuôn khổ Công ước New York Ủy ban cũng quyết địnhcông bố trên website của UNCITRAL các câu trả lời của các quốc gia, điều này cho phép
so sánh thực tiễn áp dụng Công ước giữa các nước Chúng tôi cũng đã thực hiện nhiềuhoạt động hỗ trợ kỹ thuật cho lãnh đạo của nhiều nước trên thế giới, như đào tạo thẩmphán tại các nước, trao đổi với các cơ quan liên quan về thực tiễn áp dụng Công ước
Văn bản quan trọng thứ hai về trọng tài thương mại quốc tế là Quy tắc tố tụngTrọng tài của UNCITRAL được soạn thảo năm 1967 Hiện Quy tắc tố tụng trọng tài nàyđang được tổ công tác của UNCITRAL sửa đổi sao cho phù hợp với sự phát triển của tìnhtình trong hơn 30 năm qua Chẳng hạn, vấn đề trọng tài nhiều bên, vào thời điểm cách đây
30, chưa đặt ra nhưng giờ đây ngày càng phát triển Quy tắc tố tụng trọng tài củaUNCITRAL được sử dụng rộng rãi bởi các trung tâm trọng tài như là mô hình mẫu choquy tắc tố tụng trọng tài của các trung tâm đó Các bên cũng sử dụng Quy tắc tố tụngtrọng tài này Đây là bộ quy tắc được sử dụng nhiều thứ hai sau Bộ quy tắc của CIRDI(ISCID) về trọng tài áp dụng cho quốc gia trong trường hợp trọng tài nhiều bên liên quanđến đầu tư quốc tế
Văn bản thứ 3 về trọng tài thương mại quốc tế mà tôi muốn đề cập đến Luật trọngtài mẫu của UNCITRAL Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL cho tới nay được hơn 80
Trang 8quốc gia thông qua Mục đích của Luật mẫu là hài hòa hóa pháp luật của các quốc gia vềtrọng tài Luật mẫu này được thông qua (vào năm 1985) để khắc phục những sự khác biệtrất lớn trong luật pháp quốc gia về trọng tài, khẳng định sự cần thiết phải cải thiện và hàihòa hóa pháp luật quốc gia khi chúng ta nhận thấy rằng pháp luật quốc gia thường khôngthích hợp với lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế, và pháp luật quốc gia thường cónhững quy định đồng hóa tố tụng trọng tài với tố tụng tòa án, cũng như các quy định rảirác không điều chỉnh việc xử lý các tình huống cụ thể một cách thích hợp, trong khi đóLuật mẫu có thuận lợi là được biết đến rộng rãi, được bình luận rộng rãi trên bình diệnquốc tế, đáp ứng các yêu cầu của trọng tài quốc tế, cũng như được nhiều nước chấp nhận.
Sự liên quan chặt chẽ của một đạo luật với các văn bản pháp luật khác đang tồn tại củamột nước như Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Hàng hải hay các bộ luật khác mà chúng ta
đã đề cập đến buổi sáng nay, là vấn đề gây tranh cãi đối với rất nhều quốc gia trên thếgiới, không phải là vấn đề riêng của Việt Nam Có nhiều giải pháp để xử lý vấn đề này,chúng ta sẽ đề cập đến sâu hơn chiều nay Trong khu vực châu Á, có nhiều nước đã thôngqua Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế như Singapore, Malaisia,Thái Lan, Nhật Bản Ở các này, đã phát triển các trung tâm trọng tài có quy mô khu vực.Luật mẫu của UNCITRAL đã được nhiều khu vực thông qua, rất nhiều quốc gia thôngqua Luật mẫu đã thành công Các nguyên tắc lớn mà Luật mẫu đặt ra như sau: tính độclập của thỏa thuận trọng tài, sự kiểm tra và hỗ trợ rất hạn chế của tòa án - dù sự phối hợpgiữa các tòa án và trọng tài là cần thiết đối với một số chủ thể nhưng sự phối hợp đó phảirất hạn chế - thể hiện ở chỗ nếu các bên đã lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tàithì có nghĩa là họ không muốn tranh chấp sau đó sẽ được đưa ra tòa án giải quyết, khôngmuốn tòa án can thiệp vào quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Nguyên tắc thứhai là quyền của các bên được đối xử bình đẳng trong quá trình giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài Nguyên tắc tiếp theo là sự thống nhất của hợp đồng chính không làm thỏa thuậntrọng tài của hợp đồng đó vô hiệu Cuối cùng là nguyên tắc “thẩm quyền về thẩm quyền”
mà ông ANCEL đã trình bày Các nguyên tắc này cũng đã được thể hiện trong dự thảoLuật Trọng tài của Việt Nam Luật mẫu của UNCITRAL đã được sửa đổi vào năm 2006
về hai khía cạnh Khía cạnh thứ nhất là về thỏa thuận trọng tài, đặc biệt về hình thức củathỏa thuận trọng tài - Luật mẫu, phỏng theo Công ước New York, quy định rằng thỏathuận trọng tài phải được lập bằng văn bản Định nghĩa này được coi là phù hợp hơn vớicác thực tiễn thương mại quốc tế và sự tiến bộ về công nghệ Nội dung thứ hai được sửađổi liên quan đến các biện pháp khẩn cấp tạm thời do các biện pháp này được áp dụngngày càng nhiều trong thực tiễn thương mại quốc tế Toàn bộ các văn bản củaUNCITRAL về trọng tài gắn bó chặt chẽ với nhau Khi một quốc gia thông qua Luật mẫu
về trọng tài thì sự gắn bó chặt chẽ của luật này với Công ước New York là một vấn đề cốtyếu cần tính đến Tôi nhận thấy rằng dự thảo Luật Trọng tài có một phần về hòa giải.UNCITRAL cũng có một Luật mẫu về hòa giải, được thông qua năm 2002, rất ngắn gọn,chỉ gồm 14 điều, hầu hết các điều này được áp dụng khi các bên không có thỏa thuận đưatranh chấp ra trọng tài giải quyết và mục đích chủ yếu của hòa giải là tránh cho thông tintiết lộ trong quá trình hòa giải sẽ được sử dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài hoặc tòa án Tôi thấy rằng vấn đề này đã được quy định trong khuôn khổ dự thảoLuật Trọng tài Tôi đã lập một bảng so sánh dự thảo Luật Trọng tài với các luật mẫu củaUNCITRAL và chúng ta sẽ thảo luận về vấn đề này chiều nay
Trang 9PHẦN II THẢO LUẬN VỀ DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI
Bà Montineri:
Vấn đề đầu tiên là tên gọi của Luật, nên đặt tên là Luật Trọng tài hay Luật Trọngtài thương mại Về phía Ban thư ký của UNCITRAL, tôi không thể đưa ra quan điểm Têngọi của Luật do nội dung của Luật, phạm vi áp dụng của Luật quyết định Cần lưu ý rằngtrong thương mại quốc tế, không thể loại trừ một số chủ thể nhất định, cho dù khái niệm
“thương mại” có thể được định nghĩa một cách hạn chế trong luật Việt Nam (LuậtThương mại và các văn bản khác có liên quan)
Ông Ancel:
Vấn đề tên gọi của Luật đặt ra là: nếu đặt tên Luật là Luật Trọng tài thương mại thì
có thể hiểu rằng Luật này chỉ áp dụng đối với các tranh chấp trong lĩnh vực thương mạihay không Tôi không rõ là trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật dân sự và luật thươngmại được phân biệt với nhau như thế nào Tôi có thể hiểu rằng sự phân biệt này cũnggiống chút ít với luật của Pháp Như vậy, khó khăn là ở chỗ nếu đặt tên Luật là LuậtTrọng tài thương mại thì trong một số tranh chấp mà các bên có thỏa thuận giải quyếtbằng Trọng tài, một trong các bên có thể phản đối tính thương mại của vụ tranh chấp hoặctính thương nhân của chủ thể tham gia giao dịch Hiện nay, vấn đề xác định tính thươngmại của tranh chấp có vẻ đã lỗi thời Luật mẫu của UNCITRAL vẫn giữ từ “thương mại”nhưng chúng ta biết rằng thuật ngữ này được giải thích hết sức rộng rãi Do vậy, có thể ápdụng pháp luật về trọng tài thương mại quốc tế mà không gặp khó khăn nếu Tòa án ViệtNam sẵn sàng giải thích khái niệm “thương mại” theo nghĩa rộng, nếu không có nguy cơ
là sẽ phát sinh rất nhiều vụ kiện cần phải xác định tranh chấp có do Luật này điều chỉnhhay không, mặc dù các bên đã có thỏa thuận đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết Phápluật của nhiều nước không quy định tính thương mại của tranh chấp, nhất là Thuỵ Sĩ.Pháp luật Pháp đã từ bỏ tiêu chí này từ rất lâu rồi Do vậy, vấn đề đặt ra là giữ lại kháiniệm “thương mại” này có hợp thời hay không? Dĩ nhiên, không có khó khăn gì trongviệc xóa bỏ từ này nhưng việc đó hoàn toàn thuộc quyền quyết định của Việt Nam
Mặc khác, có thể nhận thấy rằng Dự thảo Luật không phân biệt giữa trọng tài quốcnội và trọng tài quốc tế Đây không phải là trở ngại Tôi nhận thấy rằng nhiều quy địnhcủa Dự thảo liên quan đến trọng tài quốc tế, nhất là quy định về tranh chấp có yếu tố nướcngoài hoặc luật áp dụng để giải quyết tranh chấp Như vậy, có thể hiểu rằng Luật này quyđịnh cả hai hình thức trọng tài - quốc nội và quốc tế Vấn đề còn lại là xét xem liệu cácquy định áp dụng cho trọng tài quốc tế đã đầy đủ và cụ thể chưa
Ông Nguyễn Minh Chí:
Chúng ta đã nghe ý kiến của các chuyên gia là tên gọi của Luật thực ra không quantrọng Ở Pháp cũng như các nước khác, người ta coi quan hệ dân sự và quan hệ thươngmại không có sự khác biệt lớn lắm Có lẽ sự cách biệt chỉ liên quan đến vấn đề nhân thânphi tài sản thì Trọng tài không xử lý
Đại biểu:
Trang 10Về tên gọi của Luật, giới lập pháp hiểu là nếu tên gọi là Luật Trọng tài thương mạithì toàn bộ nội dung của Luật chỉ quy định các vấn đề liên quan đến thương mại, chủ thể
là chủ thể kinh doanh, khu vực là khu vực tìm kiếm lợi nhuận Điều này có bất cập là hiệnnay, do quan hệ hàng hóa, quan hệ dân sự ngày càng mở rộng, nếu ta chỉ biệt lập trongkhu vực tìm kiếm lợi nhuận thì tranh chấp giữa một bên là có đăng ký kinh doanh và mộtbên không kinh doanh thì xử lý ở đâu? Tòa Dân sự chỉ xử những vấn đề dân sự, nhưngvấn đề dân sự hết sức rộng, bao gồm cả thương mại trong đó Với tư duy tương tự nhưthế, năm 2005 Việt Nam thực hiện sửa đổi Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại Mọingười cho rằng hợp đồng thương mại phải được dành một chương trong Luật Thương mại
để điều chỉnh, còn Bộ luật Dân sự quy định về hợp đồng dân sự nên có rất nhiều quy định
về hợp đồng dân sự Quan điểm ở đây là hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự khácnhau nên phải có các quy định riêng Cách hiểu như vậy làm tôi rất e ngại bởi vì mỗingành khi xây dựng quy định chỉ biết đến ngành của mình nên có thể dẫn đến sự chia cắt
đó để tránh được tư duy ấy? Người ta tránh bằng cách bỏ chữ “thương mại” Nếu có ýkiến cho rằng bỏ từ “thương mại” thì có thể sẽ có người hiểu là gồm cả những Trọng tàikhác nữa Theo tôi, điều này không đáng ngại vì nếu là Trọng tài khác thì sẽ phải sử dụngthêm từ để làm rõ, ví dụ “Trọng tài bóng đá” Như vậy, quan điểm của tôi là bỏ chữ
“thương mại” vì giới hạn phạm vi trọng tài trong lĩnh vực thương mại là tư duy cũ và quáhẹp Vấn đề là phải thuyết phục các đại biểu Quốc hội và các cơ quan thẩm tra Về điểmnày, Tờ trình cần phải được tiếp tục hoàn thiện hơn nữa
Ông Nguyễn Minh Chí:
Tờ trình này đã được viết đi viết lại đến 4 lần và tính thuyết phục của nó theo tôi
đã là cao nhất có thể về việc giữ tên là “Luật Trọng tài”
Về vấn đề thứ hai chị nêu, BLDS 2005 cũng có định nghĩa về các quan hệ dân sự,gồm các quan hệ về nhân thân, về tài sản, quan hệ mang tính thương mại, đầu tư vv Nhưvậy, định nghĩa về quan hệ dân sự đã có sự pha tạp
Đề nghị các chuyên gia cho biết trong hai phương án nêu tại Điều 2 Dự thảophương án nào là thích hợp và tại sao?
Ông Ancel:
Vấn đề tên gọi của Luật liên quan đến việc soạn thảo Điều 2, với hai phương án đặtra: Phương án 1 quy định các tranh chấp do Luật điều chỉnh phải có tính chất thương mại;Phương án 2 quy định phạm vi rộng hơn nhiều
Bản thân tôi nghiêng về Phương án 2 do Phương án này không hạn chế việc giảiquyết tranh chấp bằng Trọng tài trong lĩnh vực thương mại Không nên quên rằng có rấtnhiều vụ kiện về tài sản, về hợp đồng không có tính chất thương mại Trong pháp luật củaPháp, các quy định mới sửa đổi đã mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng
Trang 11tài đối với các hợp đồng được ký kết cho một hoạt động nghề nghiệp Do đó, các vụ tranhchấp liên quan đến hoạt động nghề nghiệp này có thể giải quyết bằng Trọng tài, khôngnhất thiết phải trong lĩnh vực thương mại Ví dụ, hợp đồng ký kết giữa các nhà chuyênnghiệp, luật sư, bác sĩ, giữa bác sĩ với một bệnh viện tư, là những hợp đồng có giá trị lớnnên sẽ rất đáng tiếc khi loại trừ chúng ra khỏi thẩm quyền của Trọng tài với lý do đókhông phải là hợp đồng thương mại Do đó, tôi nghiêng về Phương án 2, phương án nàykhông giới hạn thẩm quyền của trọng tài trong lĩnh vực hợp đồng mà còn mở rộng ra lĩnhvực ngoài hợp đồng
Bà Montineri:
Trong khuôn khổ các hoạt động của UNCITRAL, chúng tôi nhận thấy rằng trên thếgiới hiện nay, Phương án 1 hiếm khi được áp dụng vì tính hạn chế của nó Trong khi đó,Phương án 2 – tức là đưa tất cả các vụ tranh chấp ra trước Trọng tài giải quyết và chỉ loạitrừ một số ít trường hợp - được đa số các nước lựa chọn Điều này thực sự phù hợp trênphương diện quốc tế
Đại biểu:
Về tên gọi của Luật, theo tôi cả 2 phương án của Điều 2 đều thể hiện là thẩmquyền của Trọng tài đã được mở rộng hơn phạm vi thương mại rồi nên chúng ta cũngkhông nên quá câu nệ là phải gắn chữ “Trọng tài thương mại” nữa Chúng ta cứ đểnguyên cả 2 phương án, mỗi phương án đều có độ hẹp và độ rộng của nó Khi đọc Tờtrình trước Quốc hội, chúng ta sẽ thể hiện quan điểm của chúng ta rõ hơn bối cảnh củaViệt Nam hiện nay Nếu chúng ta thuyết minh được thật rộng thì sẽ là phương án 2, cònnếu chúng ta thuyết minh mà chưa đủ sức thuyết phục thì giữ phương án 1, phương ánnày cũng đã tương đối rộng trên cơ sở kế thừa phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh Trọngtài thương mại
Ông Nguyễn Minh Chí:
Phương án 1 quy định thẩm quyền của Trọng tài thương mại là giải quyết các vụtranh chấp thương mại nhưng về mặt nội dung, có những tranh chấp bán thương mại vàkhông thương mại (khoản 2 và khoản 3) Phương án 2 quy định “Thẩm quyền giải quyếttranh chấp của Trọng tài thương mại” trong đó có khoản 1 quy định “Tranh chấp liênquan đến quyền và lợi ích của các bên phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng hoặc nghĩa vụngoài hợp đồng có thể được giải quyết bằng Trọng tài” Như vậy, phương án này cũnghàm chứa rất nhiều yếu tố không thương mại, ví dụ ngoài hợp đồng, tranh chấp giữa cácbên không hoạt động thương mại với nhau… Điều đó có phù hợp với tên gọi của điều luậthay không?
Ông Ancel:
Theo tôi, có lẽ phương án 2 phù hợp với tên gọi “Luật Trọng tài” (không có chữ
“thương mại”), bởi vì Luật này muốn điều chỉnh cả các vấn đề thuộc lĩnh vực hợp đồng
và ngoài hợp đồng, do vậy rộng hơn rất nhiều so với lĩnh vực “thương mại” Tôi thấy sẽkhó khăn nếu đưa vào Phương án 2 khái niệm thương mại vì điều đó không phù hợp vớinội dung của điều luật Ở đây, Luật mở ra khả năng giải quyết bằng Trọng tài các tranhchấp trong lĩnh vực hợp đồng nói chung mà không phân biệt các bên có phải là thươngnhân hay nghĩa vụ tranh chấp có tính thương mại hay không
Trang 12Bà Montineri:
Tôi thấy rằng không cần thiết phải thêm từ “Thương mại” vào Phương án 2 Luậtmẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế (Điều 7) quy định các tranh chấpphát sinh từ quan hệ hợp đồng hay ngoài hợp đồng có thể được đưa ra giải quyết trướcTrọng tài Luật mẫu không dẫn chiếu đến khái niệm “thương mại” và thuật ngữ “thươngmại” dù được đưa vào Luật nhưng phải được hiểu theo nghĩa rất rộng vì UNCITRAL là
cơ quan phụ trách lĩnh vực thương mại quốc tế Nhiều nước đã thông qua Luật trọng tàimẫu của UNCITRAL mà không sử dụng thuật ngữ “thương mại” để tránh những giảithích rất hạn chế của các tòa án Tôi nghĩ rằng quy định của Phương án 2 của Dự thảo làrất tốt vì nó cho phép thẩm quyền của trọng tài bao trùm lên cả các nghĩa vụ hợp đồng vàngoài hợp đồng và loại trừ một cách rõ ràng những tranh chấp không thể đưa ra trọng tàigiải quyết Phương án này hoàn toàn rõ ràng nên không thể bị hiểu sai
Ông Ancel:
Tôi xin bình luận thêm 2 ý
Thứ nhất, nếu các bạn bổ sung tính từ “thương mại” vào Phương án 2 thì sẽ làmcho việc loại trừ quy định tại phương án này trở nên kỳ cục Tại sao lại loại trừ nhữngtranh chấp liên quan tới tài sản, gia đình, thừa kế… nếu không có một định nghĩa rõ ràng
về lĩnh vực thương mại
Thứ hai, Tờ trình dự thảo Luật là bản báo cáo thuyết minh làm rõ Luật Ở Pháp,người ta thường đưa vào Tờ trình những nội dung khó thể hiện trong chính văn bản luật.Theo tôi, đây không phải là giải pháp thực sự tốt vì hai lý do sau: Hiệu lực bắt buộc thihành của Tờ trình vẫn là một vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau Tờ trình không cóhiệu lực bắt buộc như chính văn bản luật được thuyết minh trong Tờ trình Mặt khác, Tờtrình không có cùng độ dài như văn bản luật Tờ trình được biết đến vào thời điểm vănbản luật được soạn thảo, là một phần của văn bản luật nhưng dần dần, tài liệu đó sẽ bịquên lãng Do vậy, đó, sẽ là nguy hiểm nếu cho rằng chúng ta có thể làm rõ một văn bảnLuật bằng loại tài liệu đó Vì thế, nếu lựa chọn phương án nào thì cần thể hiện chắc chắnphương án đó trong chính văn bản luật
Đại biểu:
Khái niệm “thương mại” trong pháp luật Việt Nam hoàn toàn không phù hợp vớithông lệ quốc tế Do đó, nếu chuyên gia áp dụng khái niệm “thương mại” theo luật củaPháp hay Luật mẫu của UNCITRAL để hiểu Điều 1 Dự thảo là hoàn toàn không phù hợp
Ở Việt Nam, khái niệm “thương mại” được phân ra làm 3 loại khác nhau Theo BLTTDShiện nay, thương mại được hiểu là quan hệ kinh doanh (riêng), quan hệ thương mại(riêng), quan hệ lao động (riêng) Do đó, trong BLTTDS của Việt Nam, chức năng, thẩmquyền của Tòa kinh tế và Tòa lao động bao trùm đầy đủ các lĩnh vực được liệt kê trongkhái niệm “hành vi thương mại” theo Luật mẫu của UNCITRAL Khi trao đổi với cácthành viên khác trong Tổ biên tập, chúng tôi không đồng ý với Phương án 1 ở khoản 1 vàkhoản 2 vì các khoản này giới hạn hành vi thương mại theo nghĩa hẹp chứ không phải làhành vi thương mại theo nghĩa rộng mà Luật mẫu UNCITRAL đã khuyến nghị Hiệnchúng tôi đang cố gắng thuyết phục sử dụng khái niệm hành vi thương mại theo Luật mẫucủa UNCITRAL, bổ sung thêm những hành vi khác mà luật Việt Nam coi rằng đó là quan
Trang 13hệ kinh doanh hay quan hệ lao động vào cùng khái niệm này cho hoàn chỉnh Như vậy sẽ
kế thừa được khuyến nghị trong Luật mẫu của UNCITRAL nhưng phù hợp với tất cả cácluật khác của Việt Nam hiện nay là BLTTDS Việt Nam
Giả thiết là chúng ta chấp nhận Phương án 1 thì hậu quả pháp lý là gì? Khi ViệtNam tham gia Công ước New York năm 1958, có một bảo lưu là bảo lưu thế nào là hành
vi thương mại Chúng tôi đã có một vụ kiện liên quan đến một phán quyết trọng tài được
ra ở Ô-xtrây-lia Trong vụ kiện này, bên nước ngoài xin công nhận và cưỡng chế thi hànhtại Việt Nam nhưng tòa Việt Nam tuyên hủy với lý do tranh chấp phát sinh từ hoạt độngxây dựng không được hiểu là hành vi thương mại Nhiều trường hợp tương tự xảy ra theohướng hành vi thương mại được định nghĩa hẹp đi Mặt khác, theo quy định của BLTTDSViệt Nam, Tòa án Việt Nam được phép công nhận và cưỡng chế thi hành phán quyết củaTrọng tài nước ngoài trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại và lao động Nếu vậy thì tạisao Luật Trọng tài của Việt Nam điều chỉnh Trọng tài trong nước lại giới hạn các tổ chứcTrọng tài Việt Nam và các bên tranh chấp trong phạm vi các hoạt động thương mại? Điều
đó mâu thuẫn với Luật mẫu UNCITRAL, mâu thuẫn với luật nội địa của Việt Nam
Về Phương án 2, chúng tôi cũng thấy có điểm cần cân nhắc lại Phương pháp loạitrừ là đúng để tránh chuyện định nghĩa sai, nhưng trong phương án này, có loại trừ khôngphù hợp với thông lệ quốc tế cũng như luật nội địa của Việt Nam – tranh chấp về bất độngsản Căn cứ vào Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản, điều khoảnnày là không phù hợp
Ông Nguyễn Minh Chí:
Về Phương án 1, chúng tôi đã cố gắng mở rộng tối đa phạm vi của Phương án này,nhưng vẫn chưa hàm chứa được hết những trường hợp cần đưa vào Việc soạn thảo Luậtnày phải dựa trên cơ sở các Luật khác để xem Trọng tài có thẩm quyền không Chẳnghạn, trong những quan hệ dân sự thông thường hay những tranh chấp ngoài hợp đồng(đang ngày càng tăng lên với sự phát triển kinh tế), nếu đương sự muốn giải quyết bằngTrọng tài cho nhanh gọn thì tại sao lại bắt buộc họ phải kiện ra Tòa án?
Đại biểu:
Tôi xin bổ sung ý kiến về điểm c Điều 2 Điều không ổn là người ta không thuyếtminh được là tại sao pháp luật Việt Nam lại không cho phép Trọng tài Việt Nam giảiquyết những vụ tranh chấp về bất động sản Là luật gia trong nước, tôi có thể hiểu rằng đó
là do quan ngại về bất động sản liên quan đến chủ thể pháp nhân công – cơ quan quản lýnhà nước hay Nhà nước Nếu là quan ngại đó thì chỉ nên thu hẹp phạm vi loại trừ này chứkhông thể loại trừ hết mọi tranh chấp về bất động sản Theo tôi, chỉ nên giới hạn điểm cđối với các tranh chấp trong đó một bên là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền raquyết định về đất đai
Ông Ancel:
Về tranh chấp liên quan đến các pháp nhân công, luật của Thuỵ sĩ, Luật Trọng tàicủa OHADA (Tổ chức hài hòa hóa pháp luật kinh doanh của châu Phi, tập hợp 15 nướcnói tiếng Pháp của châu Phi) cũng như án lệ của Pháp quy định rằng Nhà nước có thể làmột bên trong tranh chấp được giải quyết tại trọng tài, nhưng các hệ thống pháp luật nàyquy định quyền riêng cho cơ quan nhà nước được phản đối thẩm quyền giải quyết tranh
Trang 14chấp của trọng tài hoặc hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Đây là vấn đề rất quan trọngnhưng tôi thấy chưa được đề cập đến trong Dự thảo Luật của Việt Nam
Bà Montineri:
Tôi cho rằng việc loại trừ tranh chấp giữa các quốc gia khỏi phạm vi thẩm quyềncủa trọng tài có lẽ là trái với Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam Hơn nữa, hầu hết cácđiều ước song phương và đa phương về đầu tư đều có quy định về giải quyết tranh chấpbằng Trọng tài Do vậy trên phương diện quốc tế, việc loại trừ này có thể có bất cập Tôi
tự hỏi không biết có phải là do Luật này chủ yếu điều chỉnh trọng tài quốc nội hay không
Đại biểu:
Về tranh chấp liên quan đến cơ quan nhà nước, theo quy định của dự thảo Luật,Trọng tài trong nước không có thẩm quyền giải quyết liên quan tới các tranh chấp giữahai Chính phủ Tuy nhiên, có những công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia trong đó cóthỏa thuận cho phép giải quyết bằng Trọng tài, nên chúng tôi đã đưa vào một ngoại lệ là
“trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành có quy định khác”
Đối với cơ quan nhà nước, khoản 3 phương án 1 cho phép cơ quan nhà nước là chủthể tham gia quan hệ pháp luật Trọng tài Do đó, tranh chấp giữa các nhà đầu tư vớiChính phủ theo Luật Đầu tư sẽ được hiểu và giải thích theo khoản 3 của Phương án 1 này.Điều đó có nghĩa là nếu Luật Đầu tư đã cho phép thì Luật Trọng tài tiếp tục công nhận sựtồn tại đó Tuy nhiên, ngoài các quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi Luật Đầu tư, nếuChính phủ Việt Nam và cơ quan nhà nước của Việt Nam tham gia một quan hệ pháp luậtthì có thể được coi là một bên trong vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài, vớiđiều kiện nội dung của tranh chấp đó phải được hiểu là tranh chấp trong hoạt động thươngmại Như vậy, có một số trường hợp như mua bán công sở, đấu thầu xây dựng trụ sở cơquan nhà nước cần phải được xác định là hoạt động thương mại hay không phải hoạt độngthương mại Nếu không thì sẽ loại trừ tranh chấp ra khỏi thẩm quyền của trọng tài Tuynhiên, quan điểm hiện nay vẫn còn chưa ngã ngũ về vấn đề này
Ông Nguyễn Minh Chí:
Nếu theo Phương án 1 thì có một loại tranh chấp có thể giải quyết bởi Trọng tài màTrọng tài lại không có thẩm quyền, đó là tranh chấp giữa thành viên trong công ty, tranhchấp giữa ban lãnh đạo của công ty với thành viên khác của công ty Một số loại quan hệdân sự thông thường, quan hệ ngoài hợp đồng cũng bị loại ra Chính vì vậy, Ban soạnthảo và Tổ biên tập cho rằng Phương án 2 là tối ưu
Bà Montineri:
Tôi xin bổ sung ý cuối cùng về phạm vi điều chỉnh (Điều 1) Tôi hiểu Dự thảo quyđịnh Luật này áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được thực hiện ởViệt Nam Tuy nhiên, hầu hết các luật trọng tài trên thế giới đều nêu rõ rằng luật trọng tàicũng áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài tiến hành ở nước ngoài, ví dụtrong trường hợp tòa án Việt Nam quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theoyêu cầu của trọng tài nước ngoài Ngoài ra, theo quy định về hủy phán quyết trọng tài,phán quyết đưa ra bởi trọng tài ở Việt Nam hoặc Trọng tài ở nước ngoài có thể được xemxét hủy tại Việt Nam Do vậy, tôi thấy rằng cần phải quy định rõ phạm vi điều chỉnh theo
Trang 15lãnh thổ của Luật trọng tài Có thể quy định “Luật này áp dụng đối với việc giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài tiến hành ở Việt Nam và trong một số trường hợp, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tiến hành ở nước ngoài”.
Điều 3 khoản 4 định nghĩa khái niệm “tranh chấp có yếu tố nước ngoài” Quy địnhnày có ý nghĩa quan trọng đối với nhà đầu tư nước ngoài Tôi tự hỏi rằng liệu quy địnhnày đã đủ rõ ràng đối với nhà đầu tư nước ngoài chưa, liệu Luật có thể quy định rõ hơnkhái niệm này không Việc dẫn chiếu đến Bộ luật Dân sự ở đây quá chung chung, vì nhàđầu tư nước ngoài sẽ không biết Bộ luật Dân sự quy định như thế nào về vấn đề này
Ông Nguyễn Minh Chí:
Về vấn đề này, BLDS chủ yếu lấy lại những quy định của điều ước quốc tế, chẳnghạn về chủ thể tranh chấp, luật pháp áp dụng để giải quyết tranh chấp… Vậy nên dẫnchiếu đến BLDS không có nghĩa là dẫn chiếu đến đạo luật thuần túy của Việt Nam vàđịnh nghĩa “yếu tố nước ngoài” trong BLDS hoàn toàn đồng nhất với “yếu tố nước ngoài”
mà UNCITRAL hoặc một số điều ước quốc tế đã có quy định
Xin nói thêm, chúng tôi đã cố gắng không phân biệt trọng tài nước ngoài với trọngtài trong nước Chỉ phân biệt ở một số điểm: thứ nhất, nếu có yếu tố nước ngoài thì việclựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp do các bên tự thỏa thuận; thứ hai, các bên được tự
do lựa chọn ngôn ngữ sử dụng; thứ ba, địa điểm cũng do các bên lựa chọn
Bà Montineri:
Chúng tôi đồng ý là Luật này áp dụng thống nhất cho các hình thức trọng tài khácnhau, không nhất thiết phải phân biệt Nỗi bận tâm của tôi thực ra là ở chỗ phải quy địnhnhư thế nào đó để nhà đầu tư nước ngoài không hiểu rằng tranh chấp giữa một công tyViệt Nam với nhà đầu tư nước ngoài sẽ hoàn toàn do pháp luật Việt Nam điều chỉnh Nóiđơn giản hơn, khái niệm “yếu tố nước ngoài” cần phải được định nghĩa rõ ràng để làmcho nhà đầu tư nước ngoài yên tâm trong việc đưa tranh chấp ra Trọng tài Việt Nam giảiquyết So sánh với Luật mẫu, Luật mẫu cho phép các bên thỏa thuận rằng Trọng tài giảiquyết tranh chấp là Trọng tài quốc tế, do vậy việc giải quyết tranh chấp sẽ do pháp luật vềTrọng tài quốc tế điều chỉnh, hoặc đối với Việt Nam là Luật trọng tài điều chỉnh vì luậtnày áp dụng chung cho cả trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế nước ngoài Lựa chọntrọng tài cũng chính là lựa chọn luật áp dụng Đây là vấn đề rất nhạy cảm đối với các nhàđầu tư nước ngoài nên khái niệm “yếu tố nước ngoài” cần phải được định nghĩa rõ rànghơn
Ông Nguyễn Minh Chí:
Vấn đề bà nêu ra đã được giải quyết trong pháp luật Việt Nam Cụ thể là hiện nay
có nhiều vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng không xét xử tại một Trung tâm trọng tàicủa Việt Nam mà tại nơi khác như SIAC hoặc ICC, chuyện này đã diễn ra chục năm nay
Về luật áp dụng, Dự thảo đã quy định là cứ có yếu tố nước ngoài thì các bên được tự dolựa chọn luật áp dụng Về địa điểm, các bên cũng tự thỏa thuận Ngoài ra, còn quy địnhtrình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận trong trường hợpTrung tâm trọng tài không có Quytắc bắt buộc phải áp dụng (đối với Trọng tài quy chế), hoặc trong trường hợp Trọng tài vụviệc
Trang 16Đại biểu:
Về các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu liệt kê tại Điều 14, tôi lấy một ví
dụ Theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, cũng như một số Luật khác, nếu cómột bên nước ngoài (Luật Hàng hải không dùng “yếu tố nước ngoài” mà dùng “tổ chức,
cá nhân ở nước ngoài”) thì có thể đưa vụ việc ra Tòa án nước ngoài, Trọng tài nước ngoàigiải quyết Như vậy, tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân hoàn toàn Việt Nam thì phảiđưa ra giải quyết tại Việt Nam Tuy nhiên, có một số hợp đồng do không hiểu biết các bênlại thỏa thuận là khi có tranh chấp thì sẽ giải quyết tại Trọng tài Hồng Kông và theo luậtHồng Kông Như vậy đối chiếu theo Bộ luật Hàng hải thì thỏa thuận đó vô hiệu Tôikhông rõ Dự thảo Luật này có đề cập vấn đề đó không
Câu hỏi thứ hai: Nếu Trọng tài Pháp tiếp nhận đơn khởi kiện khi thỏa thuận trọngtài bị xác định là vô hiệu rồi thì Trọng tài Pháp có thụ lý không hay sẽ bác đơn khởi kiện?
Ông Ancel
Đối với câu hỏi thứ hai, trọng tài có thẩm quyền xác định thỏa thuận trọng tài cóhiệu lực hay vô hiệu Nếu trọng tài xác định thỏa thuận có hiệu lực thì sẽ thụ lý đơn kiện.Đây là nhiệm vụ thông thường của trọng tài Nếu trọng tài xác định thỏa thuận trọng tài
vô hiệu thì ngay lập tức trọng tài tuyên bố không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp
và không thụ lý đơn kiện
Về câu hỏi thứ nhất, tôi cho rằng các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu cầnphải được quy định một cách hạn chế nhưng cũng không thể dự kiến được mọi trườnghợp Cá nhân tôi không thấy những trường hợp khác ngoài những trường hợp quy định tạiĐiều 14 Các trường hợp này theo tôi đã là hợp lý rồi
Tuy nhiên, chúng tôi đã gặp một trường hợp hủy phán quyết của trọng tài quốc nội
vì trọng tài viên đã đã vi phạm các nguyên tắc mang tính trật tự công Tôi liên hệ vớitrường hợp mà chị nêu ra là các bên tranh chấp đã không biết rằng pháp luật Việt Namquy định cơ quan giải quyết tranh chấp phải là cơ quan Việt Nam và tôi tự hiểu liệu đây
có phải là một quy định mang tính trật tự công hay không Trường hợp này chưa được đềcập trong dự thảo Tuy nhiên, theo tôi, trong trường hợp chị nêu, trọng tài Hồng Kông giảiquyết tranh chấp trong khi luật Việt Nam quy định tranh chấp phải do trọng tài Việt Namgiải quyết, vấn đề đặt ra không phải là thỏa thuận trọng tài vô hiệu mà là phán quyết trọngtài vô hiệu
Đại biểu
Tôi hiểu rằng khi Trọng tài Hồng Kông nhân được Đơn khởi kiện, nếu người tachứng minh được rằng theo luật Việt Nam, điều khoản trọng tài đã bị vô hiệu thì Trọngtài sẽ không thụ lý vụ tranh chấp
Ông Nguyễn Minh Chí
Cần phân biệt 2 khái niệm: chủ thể tranh chấp và nội dung tranh chấp Có thể chủthể tranh chấp đều là 2 pháp nhân Việt Nam nhưng nội dung tranh chấp trong nhiềutrường hợp lại mang yếu tố nước ngoài, ví dụ VINASHIN với PETRO VIETNAM ký hợpđồng mua bán xăng dầu nhưng hàng lại do một nước khác cung cấp, giao hàng tại mộtcảng ở nước khác v.v Chính vì thể, chủ thể đều là Việt Nam nhưng do tính chất của hoạt
Trang 17động mua bán, cung ứng dịch vụ như vậy, luật pháp các nước vẫn cho phép lựa chọn luậtnước ngoài để giải quyết tranh chấp về mặt nội dung, và khi đã chọn luật nước ngoài làmluật nội dung để giải quyết tranh chấp, có thể sẽ có hệ quả là một Trung tâm nước ngoàiđược lựa chọn để giải quyết tranh chấp.
Mặt khác, nếu quy định ở Điều 2 là Trọng tài chỉ có thẩm quyền như theo quy địnhcủa Luật Thương mại và một số luật khác (trong khi một số quan hệ dân sự không đượcquy định tại các luật này), thì xảy ra trường hợp là khi giải quyết tranh chấp liên quan đếnmột quan hệ dân sự như vậy, Trọng tài nước ngoài ra phán quyết (vì theo pháp luật củanước đó, quan hệ dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài nước ngoài), bênthua kiện (bên Việt Nam) không chịu thi hành phán quyết và Trọng tài nước ngoài yêucầu thi hành án tại Việt Nam theo Công ước New York Tuy nhiên, khi Tòa án Việt Namxem xét phán quyết thì nhận thấy tranh chấp không nằm trong phạm vi điều chỉnh củaLuật Trọng tài nên Tòa án có thể bác đơn yêu cầu cưỡng chế thi hành Đây là vấn đề rấtđáng lo ngại
Đại biểu
Trường hợp mà bà Mai nêu ra rất xác đáng, hiện chưa được giải quyết tại Dự thảo.Nếu tranh chấp hoàn toàn liên quan đến nước ngoài nhưng các bên lựa chọn Việt Nam lànơi tiến giải quyết tranh chấp thì Luật này có áp dụng đối với việc giải quyết tranh chấp
đó hay không Điểm này hiện nay chưa rõ Nếu tôi nhớ không nhầm thì Dự thảo đầu tiên
có điều khoản quy định nếu Trọng tài nước ngoài vào Việt Nam để giải quyết tranh chấpthì phải tuân theo những quy định bắt buộc của Luật Trọng tài này – là những quy địnhmang tính chất thủ tục để phù hợp với các quy định tương ứng của quốc tế Tuy nhiên,quy định này sau đó đã bị bác vì sự phân biệt giữa luật nội dung và luật hình thức ở ViệtNam chưa thật sự rõ ràng, ý kiến phản biện nói rằng nếu các bên đã chọn luật nước ngoàithì kể cả khi sang Việt Nam để giải quyết tranh chấp cũng không chịu sự điều chỉnh củaLuật Trọng tài này Hơn nữa, cũng không có bất kỳ quy định nào trong hệ thống pháp luậtViệt Nam yêu cầu rằng các doanh nghiệp Việt Nam có tranh chấp hoàn toàn thuần túyViệt Nam thì phải đưa ra giải quyết bởi Tòa án hoặc Trọng tài của Việt Nam Do đó, nếu
2 công ty thuần túy Việt Nam chọn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài ở Hồng Kông thìkhó có thể nói sự lựa chọn đó vi phạm những nguyên tắc cơ bản của Việt Nam Theoquan điểm của chúng tôi, với những tranh chấp thuần túy hoàn toàn Việt Nam, không cóyếu tố nước ngoài, theo như định nghĩa của luật dân sự thì thẩm quyền phải thuộc Tòa án,Trọng tài Việt Nam vì đây là nguyên tắc chủ quyền tài phán theo lãnh thổ Nhưng chúngtôi thấy rằng trong Luật này phải đưa vào điều khoản về phạm vi áp dụng của Luật trongnhững trường hợp này
Đại biểu
Dự Luật này chưa xử lý được các vấn đề đó vì Luật Trọng tài vừa giải quyết luậtnội dung vừa giải quyết luật hình thức Tuy nhiên, các nhà lập pháp của Việt Nam thườngthiên về định chế nội dung hơn và thường có thói quen quên hình thức Thủ tục cần phảiminh bạch nên Luật này cần quy định rõ những trường hợp nào sẽ giải quyết bởi Trọng tàitrong nước, những trường hợp này sẽ giải quyết theo Trọng tài nước ngoài
Trang 18Ông Nguyễn Minh Chí
Cần phân biệt địa điểm giải quyết tranh chấp và luật áp dụng là 02 khái niệm,phạm trù hoàn toàn khác nhau Có rất nhiều trường hợp doanh nghiệp Việt Nam khi kýhợp đồng với công ty nước ngoài chọn luật để giải quyết tranh chấp là luật của nướcngười bán, quy tắc là quy tắc tố tụng của ICC nhưng chọn địa điểm giải quyết tranh chấp
là một nơi của Việt Nam Thỏa thuận như vậy không sai nhưng vấn đề đặt ra là: Do chọnquy tắc tố tụng của ICC, người ta sang Việt Nam để tổ chức xét xử tại Việt Nam, vậynhững quy định của luật tố tụng trọng tài Việt Nam họ có bắt buộc phải tuân theo haykhông, có phải từ bỏ quy tắc tố tụng của ICC để theo quy tắc của Việt Nam hay không?Cho nên, tôi thấy rằng ngôn ngữ xét xử, địa điểm xét xử không quan trọng, luật áp dụngmới là cái cơ bản
Đại biểu
Theo tôi, đã là Luật Trọng tài thì chúng ta phải tôn trọng ý kiến của các bên, vì nếuchúng ta càng chi tiết hóa yêu cầu về hình thức, về địa điểm thì không khéo chúng ta phảiyêu cầu về lựa chọn ngôn ngữ nữa Theo tôi, khoản 1 Điều 4 Dự thảo đã quy định thỏađáng: “Khi xét xử tranh chấp trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên và quyđịnh của pháp luật”
Đại biểu
Dự thảo, tại Điều 16, có quy định về quyền khước từ Trọng tài của người tiêudùng Hiện Chính phủ cũng đang soạn thảo Luật Bảo vệ người tiêu dùng, trong đó cũngđưa ra nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng như thế khi tham gia hợp đồng theo mẫu và hợpđồng thương mại chung Ý tưởng tương tự như điều 16 của dự thảo Luật này nhưng cáchviết thì khác vì trong Điều 16 Dự thảo này có nêu rằng thỏa thuận trọng tài chỉ có hiệu lựcvới điều kiện nhà cung cấp thông báo trước và được người tiêu dùng chấp nhận bằng vănbản riêng Nhiều doanh nghiệp và chuyên gia cho rằng quy định như vậy sẽ gây ra một sựtốn kém về thủ tục Câu hỏi của tôi xin nêu ra là: Có nên để Điều 16 trong dự thảo Luậtnày không hay là để trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng? Bởi vì 02 luật có cùng ý tưởngnhưng nếu cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau thì sẽ rất nguy hiểm
Ông Nguyễn Minh Chí
Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bà Mai và phải xin lỗi khi đánh máy, người ta
đã ghép không đúng những từ ngữ mà chúng tôi đã sửa Tiêu đề của điều này là “Quyềnlựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng” chứ không phải là
“Quyền khước từ Trọng tài của người tiêu dùng” Chúng ta đang cố tạo ra một Luật Trọngtài đầy hấp dẫn, thu hút, vậy mà đưa Điều 16 này vào lại thành đẩy người ta ra
Về mặt nội dung, có hợp đồng mẫu, trong đó có điều khoản về trọng tài, giữangười tiêu dùng và nhà cung cấp Về nguyên tắc, nhà cung cấp phải thông báo cho ngườitiêu dùng là nếu có tranh chấp thì tranh chấp sẽ giải quyết bằng Trọng tài mà không phảibằng Tòa án Nhưng vấn đề là đã có hợp đồng mẫu rồi, nhà cung cấp đã thông báo và bâygiờ nhà tiêu dùng lại phải chấp nhận bằng văn bản nữa thì thành ra lại đưa người tiêudùng vào một trạng thái rắc rối
Trang 19Điều 16 cũng sẽ được sửa đổi theo hướng thiết kế chỉ dẫn chiếu sang Luật bảo vệngười tiêu dùng.
Ông Nguyễn Minh Chí
Tôi phải khẳng định là việc Tòa án xác định là thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặcthỏa thuận trọng tài không có khả năng thực hiện đã được đề cập ở những phần dưới, cònđây là quy định nguyên tắc chung là khi hai bên đã ký thỏa thuận trọng tài rồi nhưng mộtbên khi có tranh chấp lại cứ ra Tòa án, thì tòa án khi nhìn thấy hợp đồng hoặc thỏa thuậntrọng tài và các bên không có khiếu nại gì hiệu lực của thỏa thuận trọng tài thì nhìnchung, Tòa án phải từ chối, trừ trường hợp Tòa án xác định thỏa thuận trọng tài vô hiệu,không có khả năng thực hiện Nếu sau này, các bên khiếu nại lên Tòa về việc thỏa thuậntrọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được thì lúc đó, Chánh án Tòa án cấp tỉnh giaocho một thẩm phán xem xét việc này
Tuy nhiên, nếu hai bên đã ký thỏa thuận trọng tài nhưng sau đó, một bên cứ kiện raTòa án và bên kia chấp nhận bằng văn bản việc kiện ra tòa án, thì có nghĩa là hai bên đã
tự nguyện thỏa thuận xóa bỏ điều khoản trọng tài và giao thẩm quyền giải quyết tranhchấp cho Tòa án Chỉ lúc này Tòa án mới được thụ lý giải quyết Còn nếu bên kia khôngđồng ý bằng văn bản thì Tòa án không có thẩm quyền
Ông Ancel
Điều 4, khoản 3 quy định việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải đảm bảo bímật cho các bên tranh chấp Tôi cho rằng nguyên tắc bảo mật này phải được áp dụngchung, nên có lẽ chỉ cần quy định “Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải đảm bảo
bí mật” là đủ
Về nguyên tắc “thẩm quyền về thẩm quyền” của trọng tài, luật pháp của Phápnghiêm cấm thẩm phán xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trước khi Hội đồngtrọng tài xem xét vấn đề đó Tuy nhiên, Dự thảo Luật của Việt Nam quy định có thể yêucầu Tòa án xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài ngay từ đầu Tôi không có bình luậnđặc biệt nếu đó là một sự lựa chọn của người soạn thảo Luật và tôi nghĩ rằng quy địnhnhư vậy có thể không bị phản đối nếu việc khởi kiện sơ bộ này trước tòa án diễn ra trongthời gian rất ngắn, để tránh nguy cơ một vụ kiện trước (nghĩa là kiện trước khi kiện về nộidung), đặc biệt là khi một bên không muốn vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tàinên cố tình trì hoãn quá trình tố tụng bằng việc khiếu nại ra tòa án về hiệu lực của thỏathuận trọng tài
Trang 20Về vấn đề quan hệ giữa Tòa án và Hội đồng trọng tài, dự thảo mới đã bỏ nội dungnày Dự thảo trước đã quy định cụ thể nhiệm vụ hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài Tôithấy rằng điều này là hữu ích bởi nó chỉ ra rằng Tòa án can thiệp với tư cách hỗ trợ chotrọng tài.
Ông Nguyễn Minh Chí
Điều 7 xác định Tòa án nào có thẩm quyền hỗ trợ đối với Trọng tài, còn Điều 8trước kia quy định cụ thể những lĩnh vực Tòa án hỗ trợ Trọng tài Tuy nhiên, sự hỗ trợnày đã được quy định rải rác trong toàn bộ Dự thảo rồi nên nếu để thành một điều riêng sẽ
dễ làm cho người đọc lẫn lộn
Bà Montineri
Về Điều 8 “trọng tài và thương lượng, hòa giải”, tôi cho rằng cần bổ sung vào
khoản 3 là: “không một thông tin nào được trao đổi có thể được viện dẫn như bằng
chứng trước trọng tài và trước tòa án” Đây là vấn đề tế nhị đối với các bên bởi các bên
đã đưa ra các bằng chứng trung thực để cố gắng hòa giải thành nhưng lại lo so rằng cácbằng chứng này có thể được sử dụng để chống lại mình trước tòa án Tôi cho rằng điềunày phải được áp dụng đối với cả trọng tài và tòa án giống như quy định của Luật mẫucủa UNCICTRAL
Đại biểu
Pháp luật Việt Nam có quy định phương thức trung gian không (khác với hòagiải)?
Đại biểu
Pháp luật Việt Nam không chấp nhận trung giam mà chỉ chấp nhận hòa giải trong
tố tụng Tòa án hoặc hòa giải trong tố tụng trọng tài, còn hòa giải trong thương mại thìkhông có Còn có một loại hình hòa giải khác nữa, gọi là hòa giải cộng đồng
Bà Montineri
Về Điều 9, trong cuộc họp mới đây của nhóm làm việc về trọng tài củaUNCITRAL, các chuyên gia đã lưu ý chúng tôi là trong các tranh chấp quốc tế (liên quanđến khoản 2 Điều 9 dự thảo Luật), cần nêu rõ ngôn ngữ hoặc “các” ngôn ngữ được sửdụng trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Ông Nguyễn Minh Chí
Ý kiến của Bà theo tôi là đúng vì các tranh chấp quốc tế liên quan đến nhiều bênthuộc các quốc tịch khác nhau (Anh, Pháp, Ả Rập, Ấn độ…) Trên thực thế, chúng tôi đã
xử lý là người nào sử dụng tiếng nước của người đó thì phải thuê phiên dịch để dịch chomình ra ngôn ngữ đã thỏa thuận Vấn đề này chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm để quy định rõhơn, phân biệt rõ giữa ngôn ngữ từng bên sử dụng với ngôn ngữ các bên sử dụng trong tốtụng
Bà Montineri
Về Điều 11 khoản 3, đoạn cuối của khoản này quy định rằng “nếu việc áp dụng
hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Trang 21nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Tôi nghĩ rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ
khó chấp nhận quy định này vì họ không biết được rõ “các nguyên tắc cơ bản” này là gì
Ông Nguyễn Minh Chí
Đúng là khái niệm “những nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa XHCNViệt Nam” chưa cụ thể Tuy nhiên, khái niệm này được nêu trong rất nhiều văn bản luậtcủa Việt Nam Vừa rồi chúng tôi đưa ra khái niệm phổ biến đối với các nước là “publicpolicy” – “trật tự công”, “chính sách công” và giải thích đây là những chủ trương, chínhsách mà Nhà nước áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích của đất nước và an sinh xã hội Tuynhiên, các đại biểu nói rằng từ xưa đến nay không có khái niệm như vậy, nên chúng tôi đãrút ra
Ông Ancel
Về vấn đề này, luật pháp của Pháp sử dụng khái niệm “trật tự công quốc tế” Chắc
là khái niệm này chưa tồn tại trong pháp luật Việt Nam
M Chí
Vì Việt Nam chưa có khái niệm này nên chúng tôi đã phải rút ra khỏi dự thảo Luật.Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng những luật sau phải tiến bộ hơn những luật trước và phảiđưa ra những khái niệm khoa học, thích hợp với sự phát triển kinh tế, thương mại
Đại biểu
Nếu không quy định về nguyên tắc trật tự công hoặc trật tự công quốc tế trong dựthảo Luật này thì có ảnh hưởng gì tới việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài không,đặc biệt khi Việt Nam thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế
Ông Ancel
Khái niệm “trật tự công quốc tế” là một khái niệm được chấp nhận bởi phần lớnpháp luật các nước Vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao Việt Nam lại không sử dụng khái niệmnày, một khái niệm đã được nhiều nước biết đến, được thừa nhận bởi đa số các nước trongcác lĩnh vực quốc tế Nếu các bạn sử dụng khái niệm “các nguyên tắc cơ bản của phápluật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” thì có thể hiểu rằng khái niệm này nhằm vào trật
tự công của luật nội địa, nghĩa là pháp luật Việt Nam có vị trí có vị trí cao hơn trật tựcông quốc tế Quan niệm này khó có thể được các nước khác chấp nhận Tôi cho rằng lý
lẽ đưa ra ở đây là khái niệm “trật tự công quốc tế” đã được thừa nhận trong hệ thống pháp
Trang 22luật nhiều nước trên thế giới và sẽ đáng tiếc nếu Việt Nam không thừa nhận khái niệmnày Mặt khác, nó cũng đảm bảo cho các tòa án Việt Nam có thể từ chối công nhận mộtphán quyết trọng tài nước ngoài trái với trật tự công quốc tế, nghĩa là trái với các nguyêntắc cơ bản của pháp luật được thừa nhận trên toàn thế giới.
Bà Montineri
Tôi xin bổ sung thêm là khái niệm “nguyên tắc chung của pháp luật” phải đượchiểu rất rộng, rộng hơn khái niệm “trật tự công” rất nhiều Chúng tôi được biết là cácnước đều không phân biệt giữa “trật tự công quốc gia” và “trật tự công quốc tế” Kháiniệm “trật tự công” tồn tại trong các hệ thống pháp luật, dù thuộc bất kỳ truyền thốngpháp lý nào Đó là “public policy” trong tiếng Anh hay “ordre public” trong tiếng Pháp.Chúng tôi sẽ cố gắng cung cấp cho các bạn, thông qua Nhà Pháp luật, những tài liệu vềtrật tự công, trật tự công quốc tế, sự khác nhau giữa các khái niệm này với khái niệm cácnguyên tắc cơ bản của pháp luật
Ông Ancel
Chúng ta tiếp tục nghiên cứu Chương II – Thỏa thuận trọng tài
Về Điều 14 - Các hình thức thỏa thuận trọng tài, tôi thấy quy định của Dự Luật đã
rõ ràng, đầy đủ và đã đưa vào những hình thức mới của thỏa thuận trọng tài Tôi cũng chorằng quy định về thỏa thuận trọng tài ngầm, nghĩa là xuất phát từ trao đổi thông tin bằngvăn bản giữa các bên, rất tốt Với quy định này, các bên không thể phản đối sự tồn tại củathỏa thuận trọng tài Tòa án có thể áp đặt Thỏa thuận trọng tài đối với bên phủ nhận Thỏathuận trọng tài khi bên này đã chấp nhận thỏa thuận đó trong quá trình trao đổi thông tinbằng văn bản với bên kia
Về vấn đề Thỏa thuận trọng tài vô hiệu, tôi lo ngại một chút về trường hợp các bên
có thể khiếu nại trước về vấn đề này Quy định này có bất cập là có thể làm chậm chễ việcgiải quyết tranh chấp bằng trọng tài, điều đó mâu thuẫn với chính bản chất của Thỏathuận trọng tài và tính độc lập của Thỏa thuận trọng tài được quy định tại điều tiếp theo.Tính độc lập của Thỏa thuận trọng tài gắn liền với tính hiệu quả của Thỏa thuận trọng tài,nghĩa là Thỏa thuận trọng tài phải được thực hiện, các bên phải đưa tranh chấp ra trướcTrọng tài Tôi hơi lo ngại là trước khi việc giải quyết bằng trọng tài được tiến hành, cácbên lại kiện ra Tòa án để yêu cầu xem xét hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài Do vậy, tôiđặt câu hỏi là liệu có nên giữ lại quy định về việc khởi kiện ra Tòa án trước khi tiến hànhgiải quyết tranh chấp bằng trọng tài diễn ra Bởi lẽ sau này, khi đã có phán quyết trọng tài,Tòa án hoàn toàn có quyền kiểm tra tính hợp thức của phán quyết, trong đó bao gồm cảkiểm tra hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Bảo đảm này theo tôi đã là đủ đối với các bên
Ông Nguyễn Minh Chí
Về vấn đề thứ nhất liên quan đến hình thức của Thỏa thuận trọng tài, thực ra dựthảo Luật lấy lại y nguyên quy định của UNCITRAL, kể cả trường hợp hai bên dẫn chiếuđến một hợp đồng mẫu, trường hợp hai bên dẫn chiếu đến những chứng từ liên quan tớihợp đồng, và trường hợp một bên kiện trọng tài bằng văn bản và bên kia cũng thể hiện ýchí của mình là không phủ nhận thì vẫn coi như Thỏa thuận trọng tài được thành lập
Trang 23Về vấn đề thứ hai mà ông nêu ra, quy trình như sau Nếu một bên cho rằng Thỏathuận trọng tài là vô hiệu hoặc không có khả năng thực hiện được thì Hội đồng trọng tài
sẽ xem xét và ra quyết định về vấn đề này Sau khi Hội đồng trọng tài đã ra quyết định mànếu một trong các bên đương sự thấy cần phải khiếu nại tiếp thì sẽ đưa ra tòa để yêu cầuTòa án xem xét lại thẩm quyền của Trọng tài, kể cả hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài.Điều đó có nghĩa là Tòa án không tự mình can thiệp ngay từ đầu để xem xét thẩm quyềncủa trọng tài cũng như hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Bà Montineri
Điều 14, khoản 3 quy định “người xác lập Thỏa thuận trọng tài không có năng lực
hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự” Quy định này được hiểu là đối với
một người nước ngoài là một bên trong vụ tranh chấp giải quyết bởi Trọng tài, năng lựchành vi của người đó được xác định theo pháp luật Việt Nam Tôi băn khoăn không biếtquy định như vậy có chặt chẽ không vì năng lực hành vi của một người thường được xácđịnh theo luật của nước mà người đó mang quốc tịch Do đó, khoản 3 chỉ phù hợp vớiTrọng tài trong nước còn đối với Trọng tài quốc tế, khoản này sẽ làm hạn chế thẩm quyềncủa Trọng tài trong việc đánh giá năng lực hành vi của các bên
Cơ chế này rất mất thời gian nên chỉ nên quy định là Tòa án sẽ xem xét vấn đề đó khi đã
có phán quyết trọng tài và một bên không đồng ý với phán quyết và yêu cầu hủy phánquyết
Ông Nguyễn Minh Chí
Vấn đề thời gian thực ra đã được xử lý trong dự thảo rồi vì dự thảo quy định trongthời gian Tòa án xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, Hội đồng trọng tài vẫn có thểtiến hành tố tụng một cách bình thường
Về khoản 3 Điều 14, chúng tôi sẽ phải cân nhắc thêm để có quy định phù hợp Bởi
vì đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước khi ký hợp đồng với nhau, quốc tịchcủa họ đều là quốc tịch Việt Nam, nhưng đối với những hợp đồng kinh tế thương mạimang tính quốc tế, chắc chắn sẽ có một bên là cá nhân, tổ chức nước ngoài nên đặt ra vấn
đề việc xem xét thẩm quyền ký kết hợp đồng của họ phải căn cứ vào luật nước họ hay luậtViệt Nam Việt Nam đang tiến hành hội nhập kinh tế, liệu chúng ta có thể bắt quốc tế vàthế giới theo quy định của mình được hay chăng Cách đây 2 năm ở Trung tâm Trọng tàiQuốc tế, chúng tôi đã xử 1 vụ kiện như thế này Ở Việt Nam, khi Phó Giám đốc hoặcGiám đốc chi nhánh đi ký hợp đồng bao giờ cũng phải có ủy quyền của pháp nhân đó thìhợp đồng mới có giá trị pháp lý Tuy nhiên, các tập đoàn của các nước trên thế giới như
Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức khi thiết lập hoạt động tại các khu vực khác nhau (Châu Á Thái Bình Dương, Châu Âu, Châu Phi, v.v ), bao giờ cũng có một General Manager phụtrách khu vực đó Điều lệ của Tập đoàn quy định người này có quyền thay mặt Tập đoàn
Trang 24-ký kết hợp đồng mà không cần bất cứ sự ủy quyền nào Đó là quy định của nước ngoài,vậy chúng ta có buộc phải tôn trọng không? Bởi lẽ nếu áp dụng luật Việt Nam thì Chủtịch hoặc Tổng Giám đốc của tập đoàn đó chỉ có mỗi một việc là ký các giấy ủy quyềnchưa chắc đã đủ thời gian khi mà tập đoàn có hàng nghìn hợp đồng ký kết Do vậy, theotôi trong trường hợp này chúng ta cần xác lập địa vị pháp lý của một pháp nhân hay cánhân căn cứ vào pháp luật mà họ mang quốc tịch thì sẽ chuẩn hơn Chúng tôi sẽ nghiêncứu xem có nên bỏ đoạn “theo quy định của BLDS Việt Nam” hay không.
Đại biểu
Tôi nhất trí với ý kiến của ông Ancel về việc xác định năng lực hành vi của nhữngngười được ký Thỏa thuận trọng tài, bởi vì trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế vàbản thân tôi đang làm nhiệm vụ, đặt ra vấn đề xác định năng lực hành vi của các đối tácnước ngoài - chính là công ty GLIT Công ty này do 3 người cùng một lúc đại diện nhưngkhi cả 3 người này đã giao cho một người thứ tư đứng ra ký kết hợp đồng cũng như Thỏathuận trọng tài, có giấy ủy quyền của cả 3 người về việc này, thì chúng tôi thấy trườnghợp này chấp nhận được dù pháp luật Việt Nam có thể quy định khác
Chúng tôi cũng đã gặp những trường hợp như ông Chí nêu Nếu chúng ta chỉ chấpnhận những người như Tổng Giám đốc hay Chủ tịch ký kết hợp đồng mà không chấpnhận đối với Giám đốc Khu vực thì rõ ràng là chúng ta tự đưa mình vào một thế bí, thậmchí theo thông lệ chúng tôi phải làm nhiều thủ tục rất thừa là làm công văn dịch ra tiếngnước kia hỏi ông Chủ tịch tập đoàn xem có đồng ý cho Giám đốc Khu vực ký kết hợpđồng không Nếu Điều lệ công ty đã quy định thì chúng ta nên chấp nhận mà không nênquá câu nệ việc đó
Ngoài quy định của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, Nghị quyết của Tòa án Tốicao có quy định rằng, trước khi gửi đơn đề nghị Trọng tài giải quyết, các đương sự nếu cótranh chấp về hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài thì có quyền gửi đơn ra Tòa án để Tòa ánxem xét trước việc đó Nếu Tòa án thấy có đủ cơ sở hoặc thậm chí, trước đó các bên cóviệc ủy quyền chưa hợp pháp nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết, người đứng đầu phápnhân Công ty xác nhận đồng ý với thỏa thuận trọng tài thì Tòa án vẫn công nhận Thỏathuận trọng tài hợp pháp
Trở lại Dự thảo Luật, các đương sự có quyền khiếu nại về việc Thỏa thuận trọngtài có hợp pháp hay không Hội đồng trọng tài có quyền giải quyết khiếu nại đó trướcnhưng nếu đương sự không đồng ý thì có quyền gửi đơn ra tòa Trong khi Tòa án giảiquyết, Hội đồng Trọng tài vẫn được tiếp tục làm việc Tuy nhiên, trên thực tế, Hội đồngtrọng tài vẫn phải đợi xem tòa án quyết định như thế nào bởi vì phán quyết có thể bị hủy,
có thể được công nhận phụ thuộc vào quyết định đó của tòa án Do vậy, theo tôi quy địnhnêu trên chỉ mang tính hình thức
Ông Nguyễn Minh Chí
Tôi đồng ý là trọng tài viên có băn khoăn, nhưng không thể biến băn khoăn thànhquy định của pháp luật Một điều nữa rất quan trọng là có khá nhiều vụ việc được đưa đếnVIAC là một anh bị kiện và cũng biết rằng khả năng là mình thua kiện nên tìm mọi cách
để khiếu nại trọng tài vượt quá thẩm quyền, Thỏa thuận trọng tài mặc dù đã ký nhưng giờphát hiện là thỏa thuận vô hiệu hoặc mập mờ không rõ ràng, mục đích là kéo dài việc giải
Trang 25quyết tranh chấp của Trọng tài để họ tránh phán quyết của trọng tài Do đó, nếu chúng takhông có những quy định cứng rắn thì không cẩn thận chúng ta rơi vào tình trạng để chobên thiếu thiện ý lợi dụng quy định để thoát trách nhiệm.
Đại biểu
Tòa án sẽ phải xem xét 2 lần hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Trong khi đó, tưtưởng của Ủy ban Quốc hội bây giờ là muốn giảm bớt gánh nặng của Tòa án Vậy, tôimuốn hỏi chuyên gia là nếu chúng ta bỏ hẳn đoạn đầu đi – tòa án phải xem xét quyết địnhtrọng tài về thỏa thuân trọng tài có vô hiệu không - thì có được không? UNCITRAL cóquy định nhưng Việt Nam không quy định thì có được không? Hội đồng trọng tài giảiquyết và ra quyết định trọng tài, sau đó nếu không đồng ý thì đương sự yêu cầu Tòa ánxem xét hủy quyết định trọng tài Như vậy, Tòa án sẽ chỉ xem xét một lần thôi, điều đó sẽgiảm bớt sự hỗ trợ của Tòa án đối với Trọng tài
Về điều 14 khoản 2 “người xác lập Thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật” Vậy thì theo quy định của pháp luật nào, pháp luật quốc tế
hay pháp luật Việt Nam Chúng tôi hiểu là pháp luật Việt Nam, nhưng như thế thì người
ký thỏa thuận trong tài phải là người đứng đầu pháp nhân theo pháp luật hoặc là ngườiđược ủy quyền Do vậy, tôi nghĩ quy định này chưa chặt chẽ
Bà Montineri
Bản thân tôi không cho rằng Luật mẫu khuyến khích việc khởi kiện trước Tòa án
để quyết định về tính có hiệu lực của quyết định trọng tài Tuyệt nhiên không phải là nhưvậy mà ngược lại Điều duy nhất trong Luật mẫu quy định về vấn đề này là Điều 8 – quyđịnh rằng nếu vụ việc được đưa ra trước Tòa án khi có Thỏa thuận trọng tài giữa các bênthì Tòa án phải chuyển vụ việc sang cho Trọng tài giải quyết, trừ trường hợp Thỏa thuậntrọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được Đó là lời văn của Công ước New York
Dự thảo Luật của các bạn cũng có quy định tương tự Tuy nhiên, Luật mẫu không có quyđịnh tương đương với Điều 14 của dự thảo Luật
Về vấn đề thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài của các bên được xác định theoquy định của pháp luật, theo tôi, pháp luật ở đây được hiểu theo nghĩa rộng – là pháp luậttrọng tài - pháp luật về trọng tài quy định rằng khi có bên nước ngoài thì Trọng tài sẽ xácđịnh áp dụng pháp luật phù hợp, thông thường là pháp luật của nước mà các bên mangquốc tịch
Ông Ancel
Về thẩm quyền của người đại diện công ty, thực tiễn xét xử của Pháp đã có nhiềuthay đổi Nhiều công ty nghĩ rằng sẽ bị thua kiện khi vụ tranh chấp được đưa ra Trọng tàigiải quyết nên lấy lý do rằng thỏa thuận trọng tài đã được ký kết bởi người không có thẩmquyền Đây chỉ là cái cớ của các công ty vì trên thực tế, họ thường cử những người hoàntoàn có thẩm quyền ký kết hợp đồng và Thỏa thuận trọng tài Để làm thất bại ý định này,Tòa Phá án Pháp vào tháng 7 vừa rồi đã ra một bản án, theo đó trong trường hợp như vậy,người ký kết hợp đồng được suy đoán là có thẩm quyền ký kết trừ trường hợp doanhnghiệp chứng minh được người đó không có thẩm quyền Tòa phá án cho rằng đây là mộtnguyên tắc của luật quốc tế, do đó không cần phải tìm luật quốc gia là Pháp hay Việt Nam