Mặc dù chỉ có Tòa án được Hiến định là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, nhưng đối với chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan thi hành án dân sự thì có thể nói rằng đây cũng là một cơ quan mang
Trang 1HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TP Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2022
Trang 2CÂU HỎI Câu 1 (6,0 điểm)
Phân tích các nguyên tắc của Luật Thi hành án dân sự
Câu 2 (4,0 điểm)
Bản án số 05/DSST ngày 01/10/2021 của Tòa án nhân dân quận BT đã có hiệu lực pháp luật, quyết định: “Buộc ông Nguyễn Văn A trả ông Trần Văn B số tiền vay cộng lãi suất là 500 triệu đồng và ông Nguyễn Văn A phải nộp án phí dân
sự sơ thẩm là 500 nghìn đồng”
a Anh (chị) cho biết khoản tiền Chi cục thi hành án dân sự quận BT ra quyết định
thi hành án chủ động và khoản tiền Chi cục thi hành án dân sự quận BT sẽ ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu Nêu căn cứ pháp lý
b Ngày 01/12/2021 ông Trần Văn B có đơn yêu cầu thi hành án gửi Chi cục thi
hành án dân sự quận BT Anh chị hãy soạn thảo quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của ông Trần Văn B
c Sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án, Chi cục thi hành án dân sự quận BT
đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của ông Nguyễn Văn A, thì ông Nguyễn Văn A và ông Trần Văn B cùng có văn bản xin tự thỏa thuận việc thi hành
án, do đó Chi cục thi hành án dân sự quận BT đã ra quyết định không thu phí và chi phí thi hành án đối với ông Nguyễn Văn A và ông Trần Văn B là đúng hay sai?
Trang 3BÀI LÀM Câu 1:
Nhà nước ta luôn tạo mọi điều kiện, phương tiện tốt nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, dễ dàng nhìn thấy nhất là trong hoạt động tư pháp Tòa án nhân danh Nhà nước đóng vai trò là trung gian giải quyết những mâu thuẫn tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực dân sự nói chung Việc Tòa án giải quyết là vô cùng quan trọng, tuy nhiên thực chất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ mới nằm trên những bản án, quyết định mà trên thực tế vẫn chưa được thực hiện Cùng với đó, ngoài Tòa án – cơ quan nhà nước thực hiện quyền tư pháp, thì vẫn còn có những cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng tài phán khác như Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Điều này thể hiện Nhà nước luôn tạo nhiều kênh giải quyết những tranh chấp để người dân lựa chọn theo ý chí của mình, đưa vụ việc được giải quyết nhanh chóng, tránh quá tải số lượng công việc của Tòa án Bên cạnh đó, vấn đề này cũng đồng nghĩa rằng những bản án, quyết định của những cơ quan, tổ chức này muốn trở thành hiện thực thì phải thông qua hoạt động thi hành án Hay nói một cách khác, thi hành án tức là thực hiện bản án, quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Cần phải hiểu rằng, hoạt động thi hành án phải luôn gắn liền với hoạt động xét xử, tài phán Vì xét xử, tài phán là giai đoạn tiền đề, cơ sở để phát sinh hoạt động thi hành án, cũng như ngược lại, chính hoạt động thi hành án mới bộc lộ rõ tính quyền lực nhà nước trên thực tế, đưa bản án, quyết định vào thực tiễn cuộc sống, bảo vệ kịp thời, đúng nghĩa, thực chất quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự
Vì tính chất đặc thù, nên hoạt động thi hành án sẽ do Cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp quản lý Mặc dù chỉ có Tòa án được Hiến định là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, nhưng đối với chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan thi hành
án dân sự thì có thể nói rằng đây cũng là một cơ quan mang dáng dấp của hoạt động tư pháp, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Bên cạnh đó, theo xu hướng xã hội hóa ngày càng cao ở nhiều lĩnh vực trong đó có thi hành án dân sự nên các văn phòng Thừa phát lại được tổ chức theo Nghị định 08/2020/NĐ-CP
Trang 4ngày 08/01/2020 của Chính phủ nhằm thi hành án một số bản án, quyết định Hoạt động thi hành án dân sự luôn đặc thù và khó khăn nên Nhà nước ta đã ban hành một luật riêng để điều chỉnh Và cũng giống như các ngành luật khác, thì luật Thi hành án dân sự cũng có những nguyên tắc bản lề buộc các chủ thể chịu sự điều chỉnh phải tuân thủ Theo đó: “Nguyên tắc của luật thi hành án dân sự là những tư tưởng pháp li cơ bản, phản ánh quan điểm của Đảng và Nhà nước ta thi hành án dân sự, xuyên suốt các quy phạm pháp luật thị hành án dân sự, quyết định toàn bộ kết cấu của quy trình thi hành án dân sự và thể hiện những đặc trưng của hoạt động thi hành án dân sự”1 Việc tuân thủ các nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng, vì trên thực tế không phải lúc nào luật cũng điều chỉnh hết những vấn đề mà
có thể sẽ phát sinh những sự kiện mới mà chủ thể chưa tính tới Do đó, việc hiểu sâu sắc, vận dụng linh hoạt những nguyên tắc cơ bản của luật thi hành án dân sự sẽ giúp cho hoạt động thi hành án được suôn sẻ, hiệu quả hơn
I Các nguyên tắc của luật thi hành án dân sự
1.1 Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định
Như đã trình bày, hoạt động xét xử của Tòa án, quyền tài phán của Trọng tài
và của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh với hoạt động thi hành án dân sự luôn là một khâu liên kết chặt chẽ thể hiện rõ rệt nhất quyền lực nhà nước Hoạt động xét
xử, tài phán chỉ thực sự có ý nghĩa khi hoạt động thi hành án được diễn ra trên thực
tế
Đây là nguyên tắc trọng tâm không chỉ trong lĩnh vực tố tụng dân sự mà tố tụng hình sự cũng được áp dụng triệt để Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
đã hết sức quan tâm và khẳng định: “Xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành” Nguyên tắc này đã và đang đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, đảm bảo nền pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện Thể hiện tinh thần nhận thức trên, Hiến pháp 2013 mà cụ thể tại Điều 106 cũng đã quy định:
“Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ
1 Giáo trình luật THADS, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr.54
Trang 5quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Nguyên tắc này thật sự quan trọng có tầm ảnh hưởng sâu sắc khi được Hiến định, các đạo luật tố tụng trụ cột cùng với luật thi hành án dân sự ghi nhận Nó thể hiện được tính chủ đạo, sức mạnh, tính hiệu lực, hiệu quả của bản
án, quyết định và có ý nghĩa đối với việc bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Vì tầm quan trọng hàng đầu trong các ngành luật nên nguyên tắc này đặt ra một số yêu cầu như sau:
- Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, việc dân sự Tòa án phải có trách nhiệm
áp dụng các biện pháp tư pháp cần thiết để bảo đảm cho khâu thi hành án Bản án, quyết định nhân danh Nhà nước khi được tuyên phải bảo đảm bố cục về mặt hình thức, đầy đủ, rõ ràng, chính xác về mặt nội dung tạo điều kiện thuận lợi Cơ quan thi hành án dân sự, đương sự chấp hành và thực hiện có hiệu quả
- Bản án, quyết định được xác định là văn bản tố tụng được Tòa án ban hành Ở cấp tòa án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật khi không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định; Bản án, quyết định của toà án cấp phúc thẩm có hiệu lực
kể từ ngày tuyên án; Quyết định của hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có hiệu lực
kể từ ngày ra quyết định Tóm lại, bản án, quyết định khi đã có hiệu lực phải được đưa ra thi hành án Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cá nhân, cơ quan và tổ chức hữu quan phải chấp hành bản án và quyết định Trong trường hợp không tự nguyện thi hành thì Cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế bắt buộc bên phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ
- Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức phải tôn trọng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Với tính chất của hoạt động tư pháp là độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên các chủ thể nói trên tuyệt đối không được can thiệp vào hoạt động tư pháp nói chung, công tác thi hành án nói riêng Pháp luật có những quy định, chế tài rõ ràng cho từng hành vi xâm phạm cụ thể, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự
2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Khẳng định lại một điều rằng hoạt động xét xử của Tòa án chỉ thực sự thể
Trang 6hiện quyền lực nhà nước khi được thi hành án trên thực tế Nguyên tắc quan trọng
đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án là cơ quan xét xử của nhà nước và của các
cá nhân, cơ quan tổ chức khác trong việc thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
1.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của đương sự
Quyền yêu cầu thi hành án dân sự là một trong những quyền năng cơ bản, giai đoạn đầu để phát sinh các quan hệ xã hội trong hoạt động thi hành án dân sự
Là một nguyên tắc nằm trong nguyên tắc lớn “bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Nguyên tắc này bắt buộc các đương sự phải nắm mà đặc biệt là người được thi hành án vì chỉ khi thực hiện quyền này thì họ mới được bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình
Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014, 2018, 2020) cũng đã
cụ thể hóa quyền được yêu cầu thi hành án của đương sự Cụ thể, thông qua điểm a khoản 1 Điều 7 và điểm b khoản 1 Điều 7a của luật, quy định về quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án cũng đã quy định về quyền yêu cầu thi hành án của người được thi hành án và người được thi hành án Theo đó, một khi bản án, quyết định đã có hiệu lực thì đương sự kể cả người được và - người phải thi hành án sẽ có quyền yêu cầu thi hành án Chính vì thế, khi đương sự
có yêu cầu thì các cá nhân, tổ chức, người có liên quan phải có trách nhiệm thực hiện và thi hành án Khi tiếp nhận đơn yêu cầu thì Cơ quan thi hành án dân sự có nhiệm tổ chức thi hành án và chỉ được từ chối yêu cầu thi hành án khi đảm bảo các điều kiện mà luật quy định2
Để thực hiện quyền yêu cầu thi hành án, theo quy định của pháp luật thì đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện3
Để tạo mọi điều kiện tối đa cho đương sự thực hiện quyền yêu cầu của mình thì Tòa án, cơ quan, tổ chức đã giải quyết tranh chấp phải tiến hành cấp cho đương
sự bản án, quyết định đó nhưng phải trng thời hạn luật định Kèm theo đó thì phải giải thích về quyền yêu cầu và thời hiệu yêu cầu Hiện nay, ngoài những hình thức
2 Khoản 5 điều 31 luật THADS
3 Khoản 1 điều 31 luật THADS
Trang 7gửi đơn như luật định thì toàn ngành Thi hành án dân sự đã có những đổi mới trong những năm gần đây nhằm tạo mọi điều kiện thực hiện quyền yêu cầu của đương sự một cách tốt nhất Chi cục Thi hành án dân sự quận 7 Tp Hồ Chí Minh
là đơn vị đầu tiên trong ngành Thi hành án dân sự vào năm 2016 đã nhận đơn yêu cầu thi hành án thông qua thư điện tử (email), điều này mang lại nhiều lợi ích rất lớn cho người dân lẫn cơ quan khi trong bối cảnh đại dịch Covid vẫn còn phức tạp, hạn chế cũng như tiết kiệm được thời gian đi lại mà vẫn nộp đơn yêu cầu thi hành
án theo luật định
1.3 Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người có
quyền, nghĩa vụ liên quan
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng, định hướng tư tưởng trong hoạt động tư pháp Như đã nói, xét xử và thi hành án dân sự là hai hoạt động bảo
vệ quyền , lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phải thực hiện triệt để rằng không những chỉ bảo vệ quyền lợi của đương sự
mà nhất thiết cũng cần quan tâm, bảo đảm quyền lợi của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan, không được vì lợi ích của bên này mà gây phương hại cho những cá nhân, tổ chức khác
Là một trong những nguyên tắc lớn, mang tính dân chủ trong nhà nước pháp quyền nên trong quá trình thực hiện phải đảm bảo một số yêu cầu như sau:
- Trong hoạt động thi hành án dân sự phải luôn tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Qúa trình tố tụng tại Tòa án thì cơ quan này cũng phải tuân thủ triệt để nguyên tắc bảo đảm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, thì đến hoạt động cuối cùng là thi hành án dân
sự thì Cơ quan thi hành án dân sự cũng phải nghiêm chỉnh áp dụng nguyên tắc này
vì mục đích của thi hành án dân sự không gì khác hơn là để bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Khi tổ chức thi hành án phải áp dụng đúng pháp luật, đúng nội dung bản án, quyết định để thi hành án Không thiên vị, bảo đảm hài hòa lợi ích của bên được thi hành án và bên phải thi hành án, không làm ảnh hưởng đến những cá nhân, tổ chức có liên quan trong quá trình thi hành án dân sự
Trang 8- Để bảo đảm thực hiện tối ưu nguyên tắc, một nội dung cũng cần lưu ý đó là phải bảo đảm cho các đương sự, các bên liên quan được tham gia vào quá trình thi hành
án, tức là tham gia vào quá trình bảo vệ quyền và lợi ích của chính họ Để từ đó nâng cao trách nhiệm của Cơ quan thi hành án dân sự, của Chấp hành viên khi thực hiện nhiệm vụ, hạn chế tối đa việc bị khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự
1.4 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự
Nối tiếp những nguyên tắc trên, khi mà đương sự được hưởng sự bảo vệ về quyền và lợi ích hợp pháp khi thi hành án thì đặt trường hợp nếu quyền lợi của họ chưa được bảo đảm mà xảy ra tiếp những thiệt hại trong quá trình thi hành án cũng như khi có kết quả thi hành án thì sẽ như thế nào Do đó, nguyên tắc này được đặt
ra như một chế tài buộc Cơ quan thi hành án dân sự, các cá nhân, tổ chức có liên quan phải thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ của mình Nguyên tắc này nhằm đề cao trách nhiệm của Cơ quan thi hành án dân sự, của cá nhân, tổ chức có liên quan Việc gắn trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ giúp cho những nguyên tắc trên cũng như trong hoạt động thi hành án được thực hiện nghiêm chỉnh
Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, đương sự, cá nhân, tổ chức có liên quan phải thực sự đề cao trách nhiệm của chính mình trong việc thực hiện, nhiệm vụ quyền hạn theo quy định pháp luật về thi hành án dân sự, không được thực hiện hành vi vi phạm pháp luật dẫn tới bị khiếu nại, tố cáo, làm ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin của nhân dân đối với cơ quan nhà nước
Khi để xảy ra sai phạm thì Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, các cá nhân, tổ chức sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về chính hành vi vi phạm đó Nguyên tắc này cũng đã được cụ thể tại luật thi hành án dân sự Bên cạnh đó, trách nhiệm 4
bồi thường thiệt hại trong hoạt động thi hành án dân sự cũng được thực hiện theo quy định tại Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước 2017 Theo đó, các cá nhân, tổ chức phải nắm được các văn bản để đưa ra yêu cầu bồi thường đúng quy định pháp luật, những văn bản này bao gồm: “ Bảnán,quyết định của Tòa án có thẩm quyền
4 Điều 10 luật THADS
Trang 9xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ; Quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự chấp nhận một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của người khiếu nại; Quyết định hủy, thu
hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án vì quyết định đó được ban hành trái
pháp luật; Quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ
bị tố cáo trên cơ sở kết luận nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật về tố cáo; Văn bản của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trả lời chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về thi hành án dân
sự; Quyết định xử lý kỷ luật người thi hành công vụ do có hành vi trái pháp luật” 5
Cũng cần phải xác định những hành vi tố tụng mà Cơ quan thi hành án dân
sự thực hiện, trong đó khi Cơ quan này ra hoặc không ra; tổ chức thi hành hoặc không tổ chức thi hành một trong các quyết định được nêu trong Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước là trái pháp luật Từ đó, giúp cho đương sự, cá nhân, tổ chức 6
có căn cứ, cơ sở để đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại, qua đó đảm bảo tốt hơn quyền lợi, lợi ích của chính họ khi bị xâm phạm
1.5 Nguyên tắc kết hợp tự nguyện và cưỡng chế thi hành án
Như đã nói, hoạt động thi hành án không phải lúc nào cũng được suôn sẻ, thuận lợi vì tính chất phức tạp, nhiều vấn đề của các quan hệ dân sự Chính vì thế,
sự tự nguyện thi hành án lúc nào cũng được khuyến khích, là sự mong mỏi trước hết là của người được thi hành án và của Chấp hành viên đang thụ lý giải quyết, chi phí, nhân lực thi hành án sẽ được giảm thiểu Tuy nhiên, có một thực tế rằng mặc dù đã được thuyết phục, giáo dục nhiều lần nhưng người phải thi hành án vẫn không thể hiện thiện chí, không tự nguyện thi hành án Lúc này, những biện pháp cưỡng chế được Chấp hành viên tùy vào trường hợp cụ thể sẽ áp dụng nhằm vừa bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án
Luật thi hành án dân sự mà cụ thể tại điều 9 có quy định rằng “Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án; Người phải thi hành án có điều kiện
thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy
5 Điều 12 Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước
6 Điều 21 Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước
Trang 10định của Luật này” Kết quả của sự tự nguyện là tiền đề, cơ sở để Chấp hành viên quyết định có hay không việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế, do đó vấn đề tự nguyện và cưỡng chế đã đủ yếu tố cấu thành một trong những nguyên tắc của Luật thi hành án dân sự
Đây là nguyên tắc thể hiện rõ nhất hành vi của đương sự, của Chấp hành viên trong việc giải quyết yêu cầu thi hành án, việc lựa chọn tự nguyện hoặc không
tự nguyện cũng có thể dẫn đến những kết quả khác nhau trong quá trình thi hành
án Chính vì thế, Chấp hành viên, đương sự cần phải nắm rõ những nội dung của nguyên tắc này:
- Khi nói đến sự tự nguyện thi hành án là chủ yếu đề cập tới sự tự nguyện của người phải thi hành án Đây đối tượng thể hiện một cách trực tiếp nhất, cụ thể nhất
về bản chất và hình thức của tự nguyện thi hành án Do đó, Chấp hành viên cần đặc biệt quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Quyết định thi hành án Một mặt khuyết khích, ghi nhận sự tự nguyện thi hành án, mặt khác phải tiếp tục động viên, khuyến khích họ nên có thái độ tự giác, tự nguyện trong việc chấp hành pháp luật
- Về trường hợp còn lại, sau khi đã trải qua giai đoạn tạo điều kiện, thuyết phục, giáo dục mà người phải thi hành lại cố chấp, cố tình không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc phát hiện có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản thì lúc này, Chấp hành viên sẽ tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án cần thiết theo quy định pháp luật nhằm buộc chủ thể không chấp hành thực hiện nghiêm nghĩa vụ của mình
Đây là nguyên tắc kết hợp tính nhân văn và tính cưỡng chế của nhà nước nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương
sự Chấp hành viên cần giải thích rõ việc tự nguyện thi hành án và những vấn đề phát sinh khi không thực hiện là như thế nào để đương sự từ đó có thể chấp hành
và tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình
1.6 Nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ
quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên
Hoạt động thi hành án dân sự luôn phức tạp, khó khăn bởi những quan hệ