Pháp luật và thực tiễn áp dụng nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Pháp luật và thực tiễn áp dụng nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Pháp luật và thực tiễn áp dụng nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Pháp luật và thực tiễn áp dụng nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT
DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
TÊN ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC “HÔN NHÂN TỰ NGUYỆN, TIẾN BỘ”
Người thực hiện: Mai Đức Dũng
MSSV: 1953801013036
Lớp: CLC44D
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC………1
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT……… 2
MỞ ĐẦU………2
CHƯƠNG I: NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN TỰ NGUYỆN, TIẾN BỘ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM………3
1 Nhận thức chung……….3
2 Sự thể hiện các nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thông qua chế định kết hôn……… 3
2.1 Sự thể hiện các nguyên tắc qua các thời kì của Luật Hôn nhân và gia đình trước 2014…….4
2.1.1 Luật Hôn nhân và gia đình 1959……… 4
2.1.2 Luật Hôn nhân và gia đình 1986……… 4
2.1.3 Luật Hôn nhân và gia đình 2000……… 5
2.2 Sự thể hiện các nguyên tắc trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014………5
CHƯƠNG II: SỰ THỂ HIỆN CỦA CÁC NGUYÊN TẮC TỰ NGUYỆN, TIẾN BỘ QUA CHẾ ĐỊNH LY HÔN……….6
1 Sự thể hiện các nguyên tắc qua các thời kì của Luật Hôn nhân và gia đình trước 2014…… 6
1.1 Luật Hôn nhân và gia đình 1959……….6
1.2 Luật Hôn nhân và gia đình 1986……….8
1.3 Luật Hôn nhân và gia đình 2000……….9
2 Sự thể hiện các nguyên tắc trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014………10
3 Hiện thực về các mặt trái với các biểu hiện nguyên tắc……… 11
CHƯƠNG III: CÁC VẤN ĐỀ THỰC TIỄN……… 12
1 Kết hôn giả tạo……….12
2 Tục cướp vợ……….14
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN……… 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….15
Trang 3DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
HNGĐ: Hôn nhân gia đình
NQ-HĐTP: Nghị quyết- Hội đồng Thẩm phán
NĐ-CP: Nghị định- Chính phủ
BLDS: Bộ Luật dân sự
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã tìm hiểu tại khoản 1 Điều 36 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng tôn trọng lẫn nhau” Căn cứ theo nguyên tắc này, Luật hôn nhân gia đình 2014 ra đời với nhiều quy định liên quan nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của đôi bên trong quan hệ hôn nhân
Ở lĩnh vực pháp luật về hôn nhân gia đình, sự tự nguyện, tiến bộ chính là điều quan trọng trong mối quan tâm mà chúng ta muốn nói đến Trong thời gian qua ơ Việt Nam cũng đã có một
số công trình nghiên cứu về vân đề này Và có một vài bài viết mang tính chât nghiên cứu một số nội dung của vân đề hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được đăng tải trên tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật kể cả một số luận văn thạc sĩ và luận văn tiến sĩ luật học nghiên cứu liên quan Các vân đề nghiên cứu về hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, về các thực trạng Luật hôn nhân và gia đình qua các thời kì ơ Việt Nam Những sự việc còn tồn đọng trong pháp luật thời nay, qua đó đưa ra một số đề xuât giúp Luật Hôn nhân và gia đình được cải thiện đầy đủ, ổn định hơn
Chúng ta đang sống trong thời đại 4.0 như hiện nay, khi hòa nhập vào lối sống hiện đại, mọi khía cạnh đều phát triển rât nhanh và không thể không kể đến việc yêu đương, kết hôn vội khi chưa chuẩn bị chu đáo về cuộc sống hôn nhân gia đình Đôi khi, còn họ chưa tự chủ về kinh
tế, đang sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình, hoặc nhiều cặp vợ chồng chỉ tập trung quá nhiều thời gian vào công việc, không ai chăm lo việc gia đình, hai người dành ít thời gian cho nhau, không quan tâm đến con cái, chưa có sự thông cảm cho nhau Bên cạnh đó, việc tuổi đời còn quá trẻ, suy nghĩ chưa được thâu đáo, quan điểm của hai cá nhân không hòa hợp được với nhau, cái tôi trong bản thân quá lớn nên dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình, thậm chí là ly hôn Giờ đây, đó không chỉ là việc riêng của mỗi gia đình nữa, điều này ảnh hương trực tiếp đến đời sống an sinh xã hội và còn là vân đề đáng quan tâm của chính quyền, các ban ngành đoàn thể của địa phương và xã hội Vì thế, hôn nhân tự nguyện với các tư tương tiến bộ được nhà nước đề cao nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình, góp phần đưa xã hội vững mạnh, phát triển bền vững và lâu dài
Bài tiểu luận gồm có 4 chương, 15 mục nêu lên cái nhìn tổng thể về nguyên tắc hôn nhân
tự nguyện, tiến bộ được quy định trong Bộ luật Hôn nhân và gia đình hiện hành
Trang 4CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN TỰ NGUYỆN, TIẾN BỘ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1 Nhận thức chung
Khái niệm về hôn nhân: Hôn nhân trước hết là hiện tượng xã hội - là sự liên kết giữ đàn ông và đàn bà Sự kết nối đó được biểu hiện ơ một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân đó là quan hệ vợ chồng Quan hệ này là một quan hệ giới tính, thực chât và ý nghĩa của nó thể hiện trong việc sinh đẻ, dạy dỗ, giáo dục con cái, đáp ứng lẫn nhau trong nhu cầu tinh thần và vật chât hằng ngày
Nhằm phát triển các quy định về vân đề hôn nhân, kế thừa sự ghi nhận của các nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ qua Luật HNGĐ trong các năm qua Luật HNGĐ 2014 ban hành ngày 19/06/2014 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015 thay thế cho tât cả các luật hôn nhân và gia đình trước đó Tại Điều 2 của Luật này và nhiều điều luật khác quy định về các chế định kết hôn và ly hôn, nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật HNGĐ năm 2014, hôn nhân là quan hệ phát sinh giữa vợ và chồng sau khi kết hôn Nguyên tắc cơ bản của hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là nguyên tắc được quy định trước cả định nghĩa về hôn nhân (Khoản 1 Điều 2 Luật Luật HNGĐ 2014), cho thây tầm quan trọng của nguyên tắc trong quá trình xây dựng Bộ luật này
“Điều 2 Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình
1 Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng
2 Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ
3 Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con
4 Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình
5 Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.”1
2 Sự thể hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thông qua chế định kết hôn
Tình yêu giữa nam và nữ là tình cảm hết sức thiêng liêng và cao quý Đó là tình cảm chân chính, không vì mục đích vụ lợi hay vì những mục đích khác Hơn hết đó chính là tình cảm đó xuât phát từ sự tự nguyện cả hai phía mà không có sự lừa dối, cản trơ hay ép buộc Đây cũng
1 Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 5chính là tiền đề cho việc nam và nữ tiến tới hôn nhân khi họ thực sự muốn cùng nhau xây dựng cũng như thực hiện các chức năng của gia đình
2.1 Sự thể hiện các nguyên tắc qua các thời kì của Luật Hôn nhân và gia đình trước năm 2014
Nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ trong hôn nhân đã được nhà nước ta thừa nhận là một nguyên tắc ngay từ những ngày đầu tiên thành lập nhà nước, được thể hiện qua trong các quy định điều chỉnh quan
hệ hôn nhân gia đình trong các giai đoạn phát triển của đât nước, cụ thể gồm:
2.1.1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
Nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ trong hôn nhân được nhà nước ta ghi nhận trong những Bộ luật đầu tiên Điều này được thể hiện rõ rệt qua hệ thống Luật định về hôn nhân trong các giai đoạn phát triển của đât nước Năm 1959, Bộ luật HNGĐ đầu tiên được thông qua, ghi nhận những quy định chung về nguyên tắc
Điều 1
Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến
bộ.2
Điều 2
Xoá bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái.3
Điều 3
Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ Cấm lấy vợ lẽ
Dù biết rằng đây là những điều luật đầu tiên trong những năm đầu xây dựng luật, hiển nhiên sẽ còn chưa đầy đủ, nhưng cũng phần nào thây rõ việc nhà nước ta đề cao nguyên tắc hôn nhân tự ngyện, tiến bộ.4
2.1.2 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986
Luật HNGĐ 1986 quy định:
2 Điều 1 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
3 Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
4 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm1959
Trang 6Điều 4
Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ…cấm cưỡng ép ly hôn 5
Khi đã kết hôn thì vợ chồng có quyền tự do, bình đẳng đến tât cả các vân đề nảy sinh trong đời sống gia đình,…
2.1.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Đến Luật HNGĐ năm 2000, nguyên tắc này được quy định cụ thể và rõ ràng hơn rât nhiều, cụ thể:
Điều 2 Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình
Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.6
Khoản 2 Điều 4 quy định: “Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi.”7
Điều 9 Điều kiện kết hôn
Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không
ai được cưỡng ép hoặc cản trở
Việc nguyện trong hôn nhân là sự tự nguyện, tự do và bình đẳng trong việc giải quyết châm dứt việc kết hôn: tức là không được có bât cứ sự phân biệt đối xử ép buộc đối với bât kỳ bên trong các vân
đề như cơ sơ và các thủ tục ly hôn, việc trông nom, chu câp, nuôi dưỡng, thăm nom con cái…8
2.2 Sự thể hiện các nguyên tắc trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trên cơ sơ tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng bình đẳng.Khoản 1 Điều 29cho thây nguyên tắc này trên cơ sơ nam, nữ có quyền xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sơ tự nguyện quyết định mà không có bât kỳ sự ép buộc hay tác động chủ quan nào Sự tự nguyện này cũng áp dụng tương tự trong trường hợp vợ chồng ly hôn thuận tình Quan hệ hôn nhân chỉ được phép duy trì trong đó chỉ có một chồng một vợ Trong mối quan hệ này đôi bên bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ
Không phân biệt đối xử là việc cần thiết hôn nhân có thể được xác lập giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng và người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng
5 Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
6 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
7 Khoản 2 Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
8 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 7và được pháp luật bảo vệ.10Nam và nữ khi kết hôn phải tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục kết hôn Mặt khác, không hề có bât kỳ điều kiện nào hay sự phân biệt đối xử nào giữa các chủ thể liên quan Nguyên tắc của pháp luật hôn nhân này phản ánh cả mục tiêu của nam lẫn nữ khi quyết định xác lập mối quan hệ, tiến đến hôn nhân Vì vậy để có thể thực thi được mục đích cũng như việc tuân thủ theo luật thì các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, hỗ trợ cho nhau và không phân biệt đối xử giữa các con với nhau
Gia đình vốn là tế bào của xã hội, vì vậy mà việc giữ gìn, xây dựng và phát huy những giá trị tốt đẹp góp phần vào sự phát triển cuộc sống Những nguyên tắc trên với mục đích tôn vinh những giá trị truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của gia đình
CHƯƠNG 2: SỰ THỂ HIỆN CỦA CÁC NGUYÊN TẮC TỰ NGUYỆN, TIẾN BỘ QUA CHẾ ĐỊNH LY HÔN
1.Sự thể hiện các nguyên tắc qua các thời kì của Luật Hôn nhân và gia đình trước năm 2014
Nguyên tắc Hôn nhân tiến bộ chính là đặc điểm cơ bản, được nhắc đến trước tiên khi nói đến Chế độ hôn nhân gia đình ơ nước ta hiện nay Tiến bộ được hiểu là tốt hơn, phù hợp hơn cái đã có từ trước Theo sự diễn đạt trên, nguyên tắc hôn nhân tiến bộ có thể là những quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hôn nhân có sự đổi mới so với những quy định trước đây Thông qua những lần sửa đổi, bổ sung thì Luật HNGĐ, các nhà lập pháp đều ghi nhận nguyên tắc này
1.1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
Luật HNGĐ 1959 đã đưa ra quy định về việc thuận tình ly hôn của hai bên hoặc yêu cầu ly hôn
từ một bên
Điều 25
Khi hai bên vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì sau khi điều tra, nếu xét đúng là hai bên tự nguyện xin
ly hôn, Tòa án nhân dân sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn.11
Điều 26
Khi một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra và hòa giải Hòa giải không được, Tòa án nhân dân sẽ xét xử Nếu tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Tòa án nhân dân sẽ cho ly hôn.12
Nói cách khác, sự tiến bộ còn thể hiện qua các khía cạnh sau:
10 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
11 Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
12 Điều 26 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
Trang 8Trước khi kết hôn, đôi nam nữ có thể tìm hiểu nhau rồi mới tiến tới hôn nhân Việc tìm hiểu nhau trước khi kết hôn là yếu tố quan trọng giúp hôn nhân được gắn bó lâu dài
Trong trường hợp cuộc sống hôn nhân bât hòa, mục đích hôn nhân không đạt được, thường xuyên gây nhau, bât đồng quan điểm Pháp luật quy định vợ chồng được phép ly hôn theo một trong hai con đường đó là thuận tình ly hôn hoặc đơn phương ly hôn
Ly hôn thuận tình trong trường hợp vợ chồng tự nguyện cùng đưa ra yêu cầu ly hôn và đã có có
sự thỏa thuận về tài sản cũng như là con cái Trong trường hợp không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận chưa thỏa đáng thì Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn
Ly hôn đơn phương13trong trường hợp vợ hoặc chồng có yêu cầu ly hôn, có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được Ngoài ra, Tòa án cũng giải quyết ly hôn cho vợ, chồng trong trường hợp người vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mât tích có yêu cầu ly hôn BLDS 2015 cũng đề cập đến vân đề này tại Khoản 2 Điều 68 14
“ 2 Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.”
Trong Luật HNGĐ 1959, Bộ luật đầu tiên nguyên tắc này được ghi nhận tại những quy định chung
Điều 1
Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ.15
Điều 2
Xoá bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái.16
Điều 3
Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ Cấm lấy vợ lẽ.17
Xóa bỏ những lạc hậu, định kiến của chế độ hôn nhân xưa, trọng nam khinh nữ Khi tình yêu hai bên nam nữ không còn nữa thì việc đảm bảo cho họ được tự do ly hôn lại thực sự rât cần thiết vì như
13 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
14 Bộ Luật dân sự 2015
15 Điều 1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
16 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
17 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
Trang 9vậy là giải phóng cho cả đôi bên Trên quan điểm của chủ nghĩa Mac, Luật HNGĐ của Nhà nước ta ghi nhận nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là một trong số các nguyên tắc cơ bản của Luật HNGĐ Việt Nam18, trên cơ sơ này nam nữ được bình đẳng trong việc thực hiện quyền kết hôn cũng như ly hôn theo quy định của pháp luật hiện hành
1.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Trải qua gần 30 năm sử dụng Bộ luật cũ19, sau khi Luật HNGĐ 1986 ra đời theo đó cùng với những quy định tiên tiến hơn
Điều 1
Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững
Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc các tôn giáo khác nhau, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo được tôn trọng và bảo vệ.20
Điều 2
Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện sinh đẻ có kế hoạch
Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội
Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.21
Điều 3
Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.22
Điều 4
Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi ; cấm cưỡng ép ly hôn
Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác
Cấm ngược đãi, hành hạ cha, mẹ, vợ, chồng, con cái.23
Tại Điều 1 Luật HNGĐ năm 1986 nhà lập pháp đã lên tiếng mạnh mẽ để đảm bảo thực sự chế
độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Hơn hết, yếu tố dân tộc, tôn giáo cũng được đưa vào để bảo vệ sự bình đẳng và đảm bảo rằng hôn nhân của công dân Việt Nam thuộc các dân tộc các tôn giáo khác nhau, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo cũng được bảo vệ, đây là một phương diện thể hiện
sự tiến bộ trong hôn nhân Điều 2 và Điều 3 Bộ luật này cũng gồm những quy định rât tiến bộ bảo vệ quyền lợi của người mẹ, người phụ nữ cũng như bảo vệ các mối quan hệ trong hôn nhân Từ đó thây được Luật HNGĐ 1986, các quy định về xóa bỏ tàn dư phong kiến đã được xóa đi, vì lúc này, tàn dư của chế độ trong kiến trong pháp luật và trong xã hội đã gần như bị gạt bỏ sau một quá trình dài nước ta hoàn toàn độc lập và trong quá trình cải cách Thay vào đó quy định cụ thể hơn trong Điều 4, các điều
18 https://luatduonggia.vn/nguyen-tac-hon-nhan-tu-nguyen-tien-bo-qua-che-dinh-ket-hon-va-li-hon/
19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
20 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
21 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
23 Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Trang 10câm trong quan hệ hôn nhân để chắc chắn hôn nhân tự nguyện, không bị ngăn câm hôn nhân hợp pháp, câm người đã kết hôn chung sống như vợ chồng với người khác (trước đó chỉ quy định câm lây vợ lẽ)
để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của mỗi người
1.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Luật HNGĐ năm 2000 quy định căn cứ cho ly hôn tại một điều luật riêng, cụ thể:
Điều 89 Căn cứ cho ly hôn
1 Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn
2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.24
Đối với khoản 1 Điều 8925, tại mục 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP26ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HNGĐ
2000 (Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP) hướng dẫn:
Thứ nhât, được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi vợ, chồng không thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, bạo lực, như thường xuyên đánh đập, hoặc xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau, hay vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan tổ chức, nhắc nhơ, hòa giải nhiều lần nhưng vẫn tái phạm những hành vi nêu trên
Thứ hai, để có cơ sơ nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như trên hay chưa Nếu thực tế cho thây đã được nhắc nhơ, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn
cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được
Thứ ba, mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng, không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng, không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng, không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng, không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt
Đối với Khoản 2 Điều 8927, thực tiễn cho thây có thể xảy ra hai trường hợp:
Thứ nhât, người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mât tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn Trong trường hợp này nếu Toà án tuyên bố người đó mât tích thì giải quyết cho ly hôn, nếu Toà án thây chưa đủ điều kiện tuyên bố người
24 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
25 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
26 Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000