Trong số các nội dung được xây dựng, duy trì thực hiện có thể chú trọng đến nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền, còn gọi là PPP The Polluter Pays Principle, nguyên tắc ngưßi gây ô
Trang 1TR ¯ÞNG Đ¾I HàC KINH T¾ - LU¾T Đ¾I HàC QUÞC GIA TP Hà CHÍ MINH
-
MSHV: C20610154
Trang 2TR ¯ÞNG Đ¾I HàC KINH T¾ - LU¾T Đ¾I HàC QUÞC GIA TP Hà CHÍ MINH
-
MSHV: C20610154
Trang 3CH¯¡NG 2
QUY ĐÞNH THÂ HIÆN NGUYÊN TÀC NG¯ÞI GÂY Ô NHIÄM PHÀI
1.1 Thuế bảo vệ môi trưßng 11 1.2 Phí bảo vệ môi trưßng 13
CH¯¡NG 3
19
Trang 4kê khả quan, cụ thể: tốc độ tang trưáng GDP ước tính đạt 2,91% trong năm 2020, mặc dù tăng trưáng GDP năm 2020 đạt thấp nhất trong giai đoạn 2011-2020 nhưng trước những tác động tiêu cực của dịch Covid-19 thì đó là một thành công của nước
ta với tốc độ tăng thuộc nhóm nước cao nhất thế giới Cùng với Trung Quốc và an-ma, Việt Nam là một trong ba quốc gia á châu Á có mức tăng trưáng tích cực trong năm nay; đồng thßi quy mô nền kinh tế nước ta đạt hơn 343 tỷ USD, vượt Xin-ga-po (337,5 tỷ USD) và Ma-lai-xi-a (336,3 tỷ USD), đưa Việt Nam trá thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4[2] trong khu vực Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a 1.088,8 tỷ USD; Thái Lan 509,2 tỷ USD và Phi-li-pin 367,4 tỷ USD)1 Để đạt được những thành quả trên, có thể kể đến sự vận dụng, duy trì, cải thiện không ngừng nghỉ các nguyên tắc bảo vệ môi trưßng, một trong những yếu tố quan trọng của sự phát triển bền vững mà các quốc gia trên thế giới đang cố gắng xây dựng Gần đây
https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2021/01/kinh-te-viet-nam-2020-mot-nam-tang-truong-day-ban-linh/
Trang 52
nhất, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhất trí cao thông qua Luật Bảo vệ môi trưßng năm 2020 vào ngày 17/11/2020 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022, cho thấy những bước đi cải cách các vấn đề liên quan đến môi trưßng vô cùng mạnh mẽ và có chiều sâu của bộ máy nhà nước Việt Nam, chủ độngxây dựng những hành lang pháp lý vững chắc để giải quyết các vấn đề cốt yếu liên quan đến môi trưßng, được sự đồng thuận cao trong bộ máy chính quyền và xã hội Với mong muốn cải thiện các bất cập, nhược điểm còn tồn đọng của luật cũ, cập nhất tình hình, quy định mới trên thế giới về môi trưßng, từ đó vận dụng chuyên sâu vào lĩnh vực quy phạm pháp luật á Việt Nam Trong số các nội dung được xây dựng, duy trì thực hiện có thể chú trọng đến nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền, còn gọi là PPP (The Polluter Pays Principle), nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm
phải trả tiền là một nguyên tắc vô cùng quan trọng và được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng phổ biến vào trong các quy phạm pháp luật để duy trì trật tự, tạo nên sự công bằng trong giải quyết các vấn đề về ô nhiễm môi trưßng, khi vấn đề ô nhiễm môi trưßng ngày càng trá nên là mối quan tâm hàng đầu á các vấn gia phát triển và đang phát triển, và đương nhiên là có cả Việt Nam Vì những lí do trên, tác giả quyết
định chọn đề tài tiểu luận <Nguyên t Ác ng°ßi gây ô nhiÅm phÁi trÁ tiÁn (PPP) và
tiến hành nghiên cứu
Đề tài tiểu luận hướng đến việc tìm hiểu sự hình thành, cơ sá lý luận của nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP) Qua đó, phân tích các quy định có trong Luật Bảo vệ môi trưßng năm 2020 có thể hiện nội dung, tinh thần của nguyên tắc này Đồng thßi, tác giả hướng đến việc so sánh, đối chiếu với cách áp dụng nguyên tắc trên của một số quốc gia trên thế giới với Việt Nam, cùng với sự nhìn nhận hiện trạng áp dụng pháp luật về môi trưßng khi áp dụng nguyên tắc ngưßi gây
ô nhiễm phải trả tiền, để thể hiện một số kiến nghị liên quan và từ đó trình bày quan điểm cá nhân trong quá trình áp dụng nguyên tắc PPP, góp phần xây dựng các quy
Trang 6Nội dung xuyên suốt của tiểu luận được thực hiện trên cơ sá áp dụng các
phương pháp nghiên cứu luật học, áp dụng công cụ phân tích lịch sử đi đến phân tích quy định pháp luật
Ngoài phần Má đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung bài tiểu luận có kết cấu chia thành 2 Chương như sau:
+ Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP)
+ Chương 2: Quy định thể hiện nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền trong Luật Bảo vệ môi trưßng năm 2020
+ Chương 3: Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện nguyên tắc ngưßi gây
ô nhiễm phải trả tiền trong pháp luật môi trưßng Việt Nam
Trang 74
CH¯¡NG 1
NG¯ÞI GÂY Ô NHIÂM PHÀI TRÀ TIÀN (PPP)
Nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền, gọi tắt là PPP (The Polluter Pays Principle) là thuật ngữ ngày càng được sử dụng phổ biến trong quan hệ pháp luật liên quan đến yếu tố môi trưßng á các quốc gia trên thế giới Bái lẽ, những hậu quả trầm trọng mà môi trưßng phải gánh chịu từ hoạt động phát triển kinh tế, xã hội đang ngày càng có chiều hướng gia tăng cả về mức độ, cũng như số lượng nguy hại
mà các hoạt động này gây ra Bên cạnh việc các quốc gia đang ngày càng nghiêm
khắc hơn với chính mình trong công cuộc tái thiết môi trưßng sau những chuỗi ngày hủy hoại nó một cách vô tội vạ, định hướng tổng thể sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, các chính sách về môi trưßng và chính sách kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Điển hình trong số muôn vàn các chính sách được áp dụng, triển khai hiện nay là đưa nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP) phổ biến khắp các khía cạnh mà con ngưßi có thể tác động đến môi trưßng à các nước, PPP được xem như một công cụ hữu hiệu để quản lý, kiểm soát và hạn chế các hoạt động làm tổn hại đến các yếu tố của môi trưßng của các chủ thể, bái sự tác động trực tiếp của PPP vào đối tượng là kinh tế, nên PPP được xem là một công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trưßng, sự tác động này sẽ ảnh hưáng trực tiếp đến các chi phí và lợi ích của các chủ thể, từ đó góp phần thay đổi hành vi, cách xử lý và cư xử của mọi ngưßi đối với các vấn đề về môi trưßng
Nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP) lần đầu tiên được nhắc trong các văn bản do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Co-operation and Development), viết tắt là OECD, tổ chức này đã có những bước xây dựng, phát triển và đề xuất đối với PPP trong những năm 1970 -
Trang 85
19742, trong đó năm 1972 OECD đã đề cập đến nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền trong hướng dẫn liên quan đến khía cạnh kinh tế quốc tể của chính sách môi trưßng như sau <Nguyên tắc được sử dụng để phân bổ chi phí của công tác phòng
chống ô nhiễm và chi phí cho các biện pháp kiểm soát ô nhiễm để khuyến khích sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên khan hiếm, giảm thiểu ô nhiễm về môi trường và
để tránh biến dạng trong thương mại và đầu tư quốc tế là gây ô nhiễm phải trả
t iền=
Cho đến những năm sau này, cùng với sự hưáng ứng của nhiều nhà nghiên cứu, tổ chức và quốc gia trên thế giới, nguyên tắc PPP được tiếp tục phát triển và đi đến sự đồng tình á nhiều quốc gia và khu vực, liên tiếp các hội nghị, diễn đàn về môi trưßng được tổ chức, hiện sự quan tâm nghiêm túc của các quốc gia trên thế
giới về vấn đề môi trưßng, cũng như sự nhận thức đúng đắn về những hệ quả nặng
nề của vấn đề ô nhiệm môi trưßng, cụ thể: Năm 1992 tại Rio De Janeiro, Braxin, Nguyên tắc số 16, tuyên bố của hội nghị Liên hiệp quốc tế về Môi trưßng và Phát triển (UNCED) quy định: <Các nhà chức trách quốc gia nên cố gắng đẩy mạnh sự
qu ốc tế hóa những chi phí môi trường và sự sử dụng các biện pháp kinh tế, căn cứ vào quan điểm cho rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm,
v ới sự quan tâm đúng mức đối với quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền
th ương mại và đầu tư quốc tế= 3 Sau Tuyên bố Rio 1992, PPP tiếp tục được nhắc đến tại Nghị định thư Kyoto năm 1997, một sự kiện quốc tế về môi trưßng quy định
về việc giảm lượng khi thải nhà kính của 37 nước công nghiệp trên thế giới và Liên minh Châu Âu (EU), trong đó nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền được đề cập đến như một dạng nghĩa vụ trả tiền theo nguyên tắc của quốc gia theo luật quốc
tế về môi trưßng và được quy định <Các bên sẽ chỉ định rõ các nguyên tắc, phương
th ức, quy tắc và hướng dẫn thích hợp, đặc biệt cho việc kiểm chứng, báo cáo và
https://tapchikhplvn.hcmulaw.edu.vn/module/xemchitietbaibao?oid=e3e7d988-fa1c-424f-93f4-0e009907952b Về nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền – Kinh nghiệm nước ngoài và những vấn đề pháp lý đặt ra đối với Việt Nam- ThS Võ Trung Tín – Tạp chí khoa học pháp lý Việt Nam số 06(85)/2014, trang 26-34
Trang 9Kể từ sau các hội nghị bàn tròn mang tính quốc tế hóa, các quốc gia trên thế giới cũng đã nhanh chóng luật hóa các quy định của quốc gia mình để phù hợp với thông lệ quốc tế Tại Úc, nội dung Bảo vệ Đạo luật Quản lý Môi trưßng (Protection
of the Environment Administration) năm 1991 mục 6 ghi nhận <Người gây ô nhiễm
ph ải trả tiền – nghĩa là những người tạo ra ô nhiễm và chất thải phải chịu chi phí
ng ăn chặn, tránh hoặc giảm thiểu= Sự ghi nhận tương tự cũng được Hiến chương
về Môi trưßng do Pháp ban hành tại Điều 4, cụ thể: <Trong các điều kiện luật pháp
quy định, mọi người phải đóng góp vào việc cải thiện bất kỳ thiệt hại nào mà họ có thê đã gây ra cho môi trường= Tại Hoa Kì, các đạo luật bảo vệ các tài nguyên quốc
gia và môi trưßng cũng dần có sự điều chỉnh và áp dụng PPP như một công cụ pháp
lý đặc biệt nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trưßng do tốc độ phát triển công nghiệp ồ ạt
do các chủ thể sản xuất, khai thác môi trưßng gây ra, các Đạo luật không khí sạch, Đạo luật nước sạch, Đào luật bảo tồn và phục hồi tài nguyên và đặc biệt là sự ra đßi của Đạo luật CERCLA vào năm 1980 (the Comprehensive Environmental Response, Compensation, and Liability Act of 1980), sau đó đổi tên thành Đạo luật tái cấp phép và sửa đổi Superfund (SARA) năm 1986 đã tạo nên pháp luật về siêu quỹ (Superfund) và được quản lý bái Cơ quan Bảo vệ Môi trưßng Mỹ (EPA), với mục đích tìm cách xác định các bên chịu trách nhiệm về các chất độc hại thải ra môi trưßng (ngưßi gây ô nhiễm) và buộc họ phải chịu trách nhiệm dựa trên PPP Bên cạnh sự phát triển đơn lẻ PPP á các quốc gia, thì nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải
Trang 107
trả tiền còn được các liên minh về chính trị và kinh tế dung hòa thực hiện, tiêu biểu như quy định trong Hiệp ước về hoạt động của Liên minh Châu Âu (TFEU) hay chỉ thị 2004/35/EC của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng vào năm 2004, đã đề cập rõ nét về nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền
Với lịch sử hình thành và phát triển nhanh chóng do sự đồng thuận từ nhiều quốc gia trên thế giới, PPP ngày càng phổ biến và trá thành một trong những công
cụ pháp lý quan trọng á mỗi quốc gia, để kiểm soát các hoạt động ảnh hưáng đến môi trưßng của các chủ thể, việc xây dựng các yếu tố xoay quanh mối quan hệ chặt chẽ giữa các giá trị kinh tế nói chung, cũng như lợi ích, chi phí và thuế phải chi trả nói riêng với các chính sách về môi trưßng theo nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền ngày càng trá thành xu thế quản lý hoạt động gây nên ô nhiễm môi trưßng được đánh giá cao về cơ sá thực hiện cũng như kết quả mà nó mang lại
Nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền với nội dung tập trung tác động vào yếu tố kinh tế của chủ thể gây nên hiện trạng ô nhiễm, các chủ thể gây ra sự ô nhiễm môi trưßng thông qua hoạt động khai thác tài, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, cũng như xả thải vào môi trưßng nước, môi trưßng không khí,…thì phải chịu chi phí cho việc khắc phục, cải thiện trình trạng môi trưßng bị ô nhiễm và các chi phí khác liên quan do hành vi khai thác, sử dụng hay xả thải của mình, thì đều phải trả tiền Đồng thßi với quan điểm xuất phát từ việc xem xét môi trưßng là một loại hàng hóa đặc biệt, nên khi các chủ thể tiến hành một hay một số hoạt động nhằm mục đích khai thác, sử dụng loại hàng hóa này thì đều phải trả tiền Theo quan điểm của Karl Marx trong Kinh tế chính trị học, hàng hóa là sản phẩm của lao động, thông qua trao đổi, mua bán có thể thỏa mãn một số nhu cầu nhất định của con ngưßi, với hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị (Theo quan điểm của David Ricardo, giá trị sử dụng của hàng hóa là lợi ích và công dụng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con ngưßi; Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của ngưßi sản xuất hàng hóa kết tinh
Trang 11tắc kinh tế và xã hội
Trong hệ thống pháp luật môi trưßng Việt Nam, điển hình là Luật Bảo vệ môi trưßng năm 2020 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10 khóa XIV, và được đưa vào áp dụng vào năm 2021, nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền được thể hiện á các nội dung liên quan đến vấn đề chi phí hay thuế như: chi phí, thuế ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm cũng như bảo vệ môi trưßng, chi phí thiệt hại do ô nhiễm, chi phí của cơ quan quản lý nhà nước khi thực thi các quy định quản lý môi trưßng
Nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền với mong muốn tạo nên sử công bằng trong hoạt động khai thác, sử dụng môi trưßng, cũng như phục vụ cho công tác giải quyết hậu quả do hành vi ô nhiễm môi trưßng gây ra Thật vậy, với việc áp dụng PPP thì các cá nhân, tổ chức phải gánh chịu hậu quả về kinh tế thích đáng do hành vi gây tác động xấu đến môi trưßng của mình trong quá trình khai thác, sản xuất, kinh doanh, trách nhiệm ấy không thể để một bên nào khác phải chi trả dù các chi phí do hành vi gây ô nhiễm của một bên chủ thể khác gây ra được, việc đảm bảo tính công
Trang 129
bằng trong mối quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội là tối quan trọng để hướng đến
sự phát triển mang tính chất bền vững với yếu tố kinh tế và môi trưßng là trọng tâm
PPP xuất phát điểm là một công cụ kinh tế và dẫn biến chuyển mạnh mẽ trá thành một công cụ pháp lý đặc lực của các quốc gia trong việc giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trưßng, những với cốt lõi là một biện pháp kinh tế, PPP đã tác động sâu vào lợi ích kinh tế của các chủ thể gây nên tình trạng ô nhiễm, để từ đó tác động vào
ý thức, điều chỉnh hành vi xử sự của các chủ thể đối với môi trưßng theo hướng có lợi cho môi trưßng Việc tác động đến yếu tố kinh tế của chủ thể, buộc chủ thể gây
ra ô nhiễm phải chi trả các chi phí liên quan do hành vi tác động đến môi trưßng của mình phần nào thật sự <đánh vào túi tiền= của những cá nhân, tổ chức ấy, qua đó, đòi hỏi các chủ thể phải suy tính đến các biện pháp hạn chế những tác động tiêu cực
của mình đến với môi trưßng để có thể thu được những lợi ích về kinh tế tối ưu nhất
Có thể nhận thấy được rằng, hành vi phát thải khí thải, xã thải hay khai thái tài nguyên thiên nhiên không kiểm soát được coi là một hình thức ô nhiễm bái vì chúng gây ra những hệ quả tiêu cực đến môi trưßng Tổ chức Y tế Thế giới ước tính, các hoạt động trên gây ra gần 12% số ca tử vong trên toàn cầu vào năm 2012, trong đó ô nhiễm môi trưßng giết chết gần 1,7 triệu trẻ em mỗi năm do các bệnh sốt rét, kiết lị, viêm phổi, và đề có thể được ngăn chặn nếu những đứa trẻ này được tiếp sức với thức ăn và nước sạch5 Khi chi phí ô nhiễm do thải ra khí nhà kính không được áp dụng đối với các nhà phát thải, thì những chi phí này do đó được xã hội <chi phối= Xã hội phải gánh chịu những chi phí này do khí nhà kính được thải vào bầu khí quyển, nước thải công nghiệp thải vào nguồn nước sinh hoạt mà không qua sử
lý, được mô tả là <điểm chung toàn cầu= khi mọi ngưßi đều chia sẻ và có quyền sử dụng Với việc xây dựng nguyên tắc PPP như một công cụ kinh tế, nhằm giúp con ngưßi quản lý và kiểm soát các hành vi gây ra ô nhiễm môi trưßng, thông qua cơ chế tác động trực tiếp đến chi phí và lợi ích trong hoạt động của các chủ thế, từ đó giúp các con ngưßi điều chỉnh và có những sự lưu ý hơn với các hành vi có tác động đến
Trang 1310
môi trưßng của chính mình Cùng với PPP, sự phát triển bền vững cũng là vấn đề
mà các quốc gia đều đồng thuận hướng đến để duy trì sự phát triển một cách lâu dài
Uỷ ban Môi trưßng và Phát triển Thế giới (WCED) của Liên hợp quốc năm 1987 ghi nhận <Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ.= Với việc thực hiện triệt để tinh thần và mục đích của PPP, là sự đóng góp rất to lớn đối với các thế hệ tương lại của chúng ta với mong muốn một môi trưßng sống tốt
Ngoài ra, PPP với một trong những mục đích quan trọng của mình là tạo ra
và duy trì nguồn kinh phí cho hoạt động bảo vệ môi trưßng của quốc gia Các quốc gia trên thế giới sử dụng nguồn ngân sách của mình không chỉ để điều tiết cho mỗi khía cạnh môi trưßng, mà còn phải <gòng gánh= với các vấn đề khác của xã hội và kinh tế Vì vậy với nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền thật sự tạo ra một phương án hữu ích, có thể thay thế các khoản chi tiêu đắc đỏ mà Chính phủ bỏ ra để khắc phục các hậu quả do hành vi của các chủ thể gây ra làm tổn hại đến môi trưßng Bằng việc sử dụng nguồn kinh phí thu về từ các chủ thể gây ô nhiễm môi trưßng, Nhà nước có thể sử dụng vào công tác khắc phục hậu quả mà không cần phải trông chß vào ngân sách, cũng như các quy trình giải ngân phức tạp khác, với PPP các chủ thể phải tiến hành chi trả cho hoạt động gây nên hiện trạng ô nhiễm môi trưßng trước, trong hoặc ngay cả sau khi hoạt động đó xảy ra, với cách hiểu á từng quốc gia khác nhau về thuật ngữ ô nhiễm môi trưßng thì hoạt động thu phần tiền mà cả chủ thể trên phải trả cũng tùy vào lĩnh vực, hay giai đoạn khai thác, sử dụng, xả thải vào môi trưßng Với tính linh hoạt của mình, cũng như với khía cạnh vừa là công cụ kinh tế phát triển thành công cụ pháp lý, PPP giúp các quốc gia xây dựng nên các nguồn kinh phí giúp ích cho hoạt động bảo vệ môi trưßng của mình ngày một đúng đắn và tạo nên tính giá trị xã hội cho nguồn quỹ
Trang 1411
CH¯¡NG 2 QUY ĐÞNH TH HIÆN NGUYÊN TÀC NG¯ÞI GÂY Ô NHIÄM PHÀI TRÀ TIÀN TRONG LU¾T BÀO VÆ MÔI TR¯ÞNG NM 2020
Luật Bảo vệ môi trưßng năm 2020 (sau đây gọi là Luật BVMT) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua được xem như một bước tiến lớn trong tiến trình thực hiện hoạt động cải cách tư pháp nói chung, cũng như hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật môi trưßng tại Việt Nam nói riêng, thông qua nhiều sự thay đổi trong cơ chế vận hành, quản lý và điều phối các hoạt động liên quan đến môi trưßng, được các đại biểu quốc hội cũng như ngưßi dân phản ánh là
bước tiến lớn trong việc khắc phục các khiếm khuyết còn tồn động của quy định pháp luật trước đây, từ đó có những sự điều chỉnh phù hợp so với tình hình thực tiễn tại Việt Nam Một trong số đó là sự thể hiện của nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền được duy trì áp dụng, và có xu hướng má rộng, bổ sung để góp phần hoàn thiện nội dung PPP trong Luật BVMT, một nguyên tắc tối quan trọng trong công tác bảo vệ môi trưßng trước các tác nhân tác động như khí thải, nước thải, rác sinh hoạt, Với sự kế thừa từ quy định trước, Luật BVMT vẫn tiếp tục thể hiện nguyên tắc này thông qua thuế, phí bảo vệ môi trưßng, có thể nói đây được xem là một trong những công cụ kinh tế phổ biến đươc áp dụng tại nhiều quốc gia để thể hiện cho nguyên tắc ngưßi gây ô nhiễm phải trả tiền Tại Luật BVMT Điều 136 khoản 1 và khoản 2 lần lượt thể hiện nội dung liên quan đến thuế bảo vệ môi trưßng và phí bảo
vệ môi trưßng
Thuế bảo vệ môi trưßng (sau đây gọi là thuế BVMT) lần đầu được đưa vào nội dung của Luật BVMT so với các văn bản trước đây, dù là một trong những công
cụ kinh tế quan trọng của Luật BVMT cũng như PPP, nhưng đến Luật BVMT năm
2020 thì cụm từ mấy mới chính thức được nhắc đến trong nội dung của luật và được