Nguyên tắc là tư tưởng chỉ đạo quy tắc cơ bản,yêu cầu cơ bản đối với hoạt động và hành vì rút ra từ tính quy luật được khoa học thiết lập.Từ đó ta có khái niệm: - Nguyên tắc dạy học là m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-♦ -♦ -♦ -CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG
NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM ĐẠI HỌC
BÀI THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ: ………
Mã: 930
Năm 2021
Anh chị hãy phân tích các quy luật và nguyên tắc dạy học ở đại học Anh chị đã vận dụng các quy luật và nguyên tắc này trong việc dạy học của mình như thế nào
Trang 2Câu 1: Anh chị hãy phân tích các quy luật và nguyên tắc dạy học ở đại học Anh chị đã vận dụng các quy luật và nguyên tắc này trong việc dạy học của mình như thế nào?
Theo Hê-ghen:”Quy luật là hiện tượng có tính bản chất”, “Quy luật là mối quan hệ bản chất”.Theo từ điển tóm tắt về Triết học:”Bản chất biểu thị tính tổng thể của các quy luật vốn có của đối tượng, là mối liên hệ bên trong thống nhất của các mặt đối tượng, xuyên suốt đối tượng và quá trình.”
1.Quy luật cơ bản của quá trình dạy học ở đại học
Quy luật dạy học là mối liên hệ chủ yếu bên trong của những hiện tượng dạy học quy định sự tất yếu và sự phất triển của chúng Quy luật dạy học phản ánh mối quan
hệ chủ yếu, tất yếu và bền vững giữa các thành tố trong các cấu trúc của quá trình dạy học vầ giữa các yếu tố trong từng thành tố
Các quy luật dạy học bao gồm:
+Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa môi trường xã hội với các thành
tố trong quá trình dạy học
+Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa các hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên
+Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dạy nghề và lý tưởng đạo đức nghề
+Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ,
tư duy khoa học và nghề nghiệp
+Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện của quá trình dạy học ở đại học
Trong các quy luật trên, quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên là cơ bản nhất, phản ánh mối liên hệ tất yếu và bền vững giữa hai nhân tố trung tâm,đặc trung cho tính chất hai mặt của quá trình dạy học
2 Nguyên tắc dạy học
2.1.Khái niệm
Trang 3Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo Nguyên tắc là tư tưởng chỉ đạo quy tắc cơ bản,yêu cầu cơ bản đối với hoạt động và hành vì rút ra từ tính quy luật được khoa học thiết lập.Từ đó ta có khái niệm:
- Nguyên tắc dạy học là một hệ thống nhiều luận điểm, mỗi nguyên tắc nhấn mạnh một khía cạnh của quá trình dạy học, nói cách khác nguyên tắc dạy học là luận điểm
cơ bản cần phải dựa vào khi giảng dạy những vấn đề khoa học
- Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tính chất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, với nhiệm vụ dạy học và với những tính quy luật của quá trình dạy học
Nguyên tắc dạy học là phạm trù lịch sử, lịch sử phát triển nhà trường và lý luận nhà trường đã chỉ ra rằng mục đích giáo dục biến đổi dưới tác động của những yêu cầu của sự phát triển xã hội đã dẫn tới sự biến đổi các nguyên tắc dạy học, với lý luận dạy học phải nhạy bén nắm bắt sự biến đổi những yêu cầu của xã hội đối với việc giáo dục thế hệ trẻ, phản ứng kịp thời trước những yêu cầu đó xây dựng hệ thống những nguyên tắc dạy học chỉ ra một cách đúng đắn phương hướng chung đi đến mục đích
và đồng thời cũng cần bảo toàn và hoàn thiện những phương pháp dạy học trước đây
mà chưa mất ý nghĩa trong hoàn cảnh mới của nhà trường
2.2.Vai trò của nguyên tắc dạy học
Nguyên tắc dạy học đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy và học vì nó không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của một trường học, một cơ sở giáo dục
cụ thể nào đó mà thực chất là nó quyết định chất lượng “ sản phẩm” của nền giáo dục lấy các nguyên tắc dạy học đó làm nền tảng, vì lẽ đó mỗi giáo viên cần hiểu rõ và biết vận dụng hệ thống các nguyên tắc dạy học vi nó hâu như chi phối toàn bộ nội dung và hình thức dạy học
2.3 Hệ thống nguyên tắc dạy học
1.Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải vũ trang cho người học những tri thức khoa học chân chính, phản ánh những thành tựu khoa học, công nghệ và văn hoá hiện đại, phải dần dần giúp học sinh tiếp cận với những phương pháp học tập, nhận
Trang 4thức, thói quen suy nghĩ và làm việc một cách khoa học Thông qua đó mà dần dần hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, tình cảm và những phẩm chất đạo đức cao quý của con người hiện đại.Tính chất giáo dục của dạy học, phương hướng tư tưởng
và sức mạnh ảnh hưởng của nó tới học sinh là do nội dung, phương pháp dạy học, sự
tổ chức tiết học và do tác động của chính nhân cách người giáo viên quyết định Chính vì vậy, để vận dụng nguyên tắc này cần phải:
- Trang bị cho người học những tri thức khoa học chân chính, hiện đại nhằm giúp cho
họ nắm được quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy, có cách nhìn và thái độ hành động đúng đắn đối với hiện thực
- Cung cấp cho họ những hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên, xã hội, con người Việt Nam, những truyền thống tốt đẹp trong lịch sử dựng nước và bảo vệ đất nước của dân tộc ta qua hàng ngàn năm, đặc biệt truyền thống đó ngày càng phát triển mạnh mẽ dưới sư lãnh đạo của Dảng Từ đó giáo dục cho học sinh tinh thần trách nhiệm, nghĩa
vụ công dân trước sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong học tập và
tu dưỡng
- Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, biết phê phán một cách đúng mức những thông tin đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, những quan niệm khác nhau về một vấn đề
- Vận dụng các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học theo hướng giúp học sinh làm quen với một số phương pháp nghiên cứu khoa học ở mức độ đơn giản nhằm dần dần tiếp cận với hoạt động khoa học, rèn luyện những tác phong, phẩm chất của người nghiên cứu khoa học
2.Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống, với nhiệm vụ phát triển đất nước.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học nắm vững tri thức, nắm vững cơ sở khoa học, kỹ thuật, văn hoá khi kết hợp hai điều kiện: 1) Tri thức là những điểm có hệ thống, quan trọng và then chốt hơn cả 2) Tri thức đó phải được vận dụng trong thực tiễn để cải tạo hiện thực, cải tạo bản thân Thông qua đó mà giúp họ ý thức rõ tác dụng của tri thức lý thuyết đối với đời sống, với thực tiễn, với công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước, hình thành cho họ những kỹ năng vận dụng chúng ở những mức độ khác nhau mà mức độ cao nhất là góp phần phát triển kinh tế- xã hội và văn hoá- khoa học của đất nước
Theo Bác, học phải toàn diện: “ Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ
Trang 5thông mà còn phải có đạo đức cách mạng” Còn “ hành” theo Người là vận dụng những điều đã học vào việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đề ra “Hành” đối với Người không chỉ là những việc to lớn mà cả trong những việc bình thường, ai cũng làm được
Nguyên tắc này dựa trên nhận thức luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh Theo Bác, “ thống nhất lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn
mù quáng Lý luận không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” Một mặt, Người chống lại lý luận suông, nhưng mặt khác Người cũng chống lại bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường lý luận: “ Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”
Để vận dụng nguyên tắc này cần phải:
- Khi xây dựng kế hoạch chương trình dạy học cần lựa chọn những môn học và những tri cơ bản, phù hợp với những điều kiện thiên nhiên, với hoàn cảnh thực tiễn xây dựng
và phát triển kinh tế – xã hội, chuẩn bị cho người học thích ứng nhanh và tham gia có hiệu quả vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
- Về nội dung dạy học phải làm cho người học nắm vững tri thức lý thuyết, thấy rõ nguồn gốc của những tri thức đó và vai trò của tri thức khoa học đối với thực tiễn; phải vạch ra phương hướng ứng dụng tri thức khoa học vào hoàn cảnh cụ thể đất nước, của địa phương; phải phản ámh tình hình thực tiễn vào nội dung dạy học
- Về phương pháp dạy học cần khai thác vốn sống của người học để minh hoạ, để đặt
ra và giải quyết những vấn đề lý luận Cần vận dụng có đổi mới những phương pháp như thí nghiệm, thực nghiệm, nghiên cứu các tài liệu thực tiễn…làm cho học sinh nắm nhanh và nắm chắc những tri thức lý thuyết và vận dụng những tri thức lý thuyết đó vào giải quyết những tình huống khác nhau
- Về hình thức tổ chức dạy học thì cần kết hợp các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, đặc biệt là hình thức lên lớp với hình thức tham quan học tập, hình thức thực hành, thực tập ở phòng thí nghiệm, ở các trung tâm kỹ thuật tổng hợp…
3.Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học.
Nguyên tắc này đòi hỏi phải làm cho người học lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong mối liên hệ logic và tính kế thừa, phải giới thiệu cho họ hệ thống những tri thức khoa học hiện đại, hệ thống đó được xác định không chỉ nhờ vào cấu trúc của logic khoa học mà cả tính tuần tự phát triển những khái niệm và định luật khoa học trong ý thức người học
Trang 6Cácmác đã chỉ ra rằng: Vật thể đã được phát triển dễ nghiên cứu hơn là tế bào của vật thể Điều mà trong việc trình bày hợp logic hệ thống khoa học là cái cuối cùng thì trong dạy học thường là cái mở đầu, và ngược lại, cái mà trong việc trình bày khoa học là cái mở đầu thì trong dạy học lại được trình bày nếu như không phải là cái cuối cùng thì cũng cách khá xa cái mở đầu Hệ thống hợp lý về mặt lý luận dạy học của những giáo trình phải được xây dựng chỉ trên sự nghiên cứu cẩn thận logic của khoa học và sự phát triển của những khái niệm, định luật trong lịch sử khoa học và trong ý thức của người học sinh
Để vận dụng nguyên tắc dạy học này, về mặt nội dung dạy học cần:
- Xây dựng hệ thống môn học, chương, chủ đề và những tiết học phụ thuộc vào lý thuyết làm cơ sở cho sự khái quát Với tính tuần tự như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi để phát triển tư duy lý luận cho học sinh
- Khi xây dựng nội dung dạy học phải tính tới mối liên hệ giữa các môn học, mối liên
hệ giữa những tri thức trong bản thân của từng môn học và tính tích hợp tri thức của các môn
- Tính hệ thống và tính tuần tự không những được thể hiện trong hoạt động của người giáo viên mà ngay cả trong công việc học tập của người học sinh Chính vì vậy điều hết sức quan trọng là phải hình thành cho học sinh thói quen lập kế hoạch một cách hợp lý hoạt động học tập của mình, thói quen lập dàn bài một cách logic cho những câu trả lời miệng, những bài tập làm văn và thực hiện những công tác trong phòng thí nghiệm
4.Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học dưới tác dụng vai trò chủ đạo của giáo viên, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học
- Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ người học ý thức đầy đủ mục đích, nhiệm vụ học tập mà qua đó nỗ lực nắm vững tri thức, tránh chủ nghiã hình thức trong quá trình lĩnh hội tri thức
- Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập, nhận thức
Trang 7- Tính độc lập nhận thức về nghĩa rộng là sự sẵn sàng tâm lý đối với sự tự học.Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực, phẩm chất, nhu cầu học tập và năng lực
tự tổ chức học tập, cho phép người học tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra,
tự đánh giá hoạt động học tập của mình và qua đó cho phép người học hình thành sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc tự học.Qua đó có thể nhận thấy tính độc lập nhận thức
là sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa ý thức, tình cảm và hành động, giữa động cơ, tri thức và phương pháp hoạt động độc lập.Tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập nhận thức có mối liên hệ mật thiết với nhau
- Trong quá trình dạy học người giáo viên càng giữ vai trò chủ đạo của mình khi họ phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học Còn người học càng thể hiện tính tự giác, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của mình, nghĩa
là càng thể hiện vai trò trung tâm của mình trong hoạt động nhận thức – học tập, và qua đó càng tạo điều kiện để giáo viên phát huy vai trò chủ đạo
Để vận dụng nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần:
- Quan tâm đúng mức đến việc giáo dục cho người học ý thức đầy đủ và sâu sắc mục đích, nhiệm vụ học tập nói chung và từng môn học nói riêng để họ xác định đúng động cơ và thái độ học tập
- Khuyến khích, động viên và tạo điều kiện để học sinh mạnh dạn trình bày ý kiến, ý tưởng và những thắc mắc của mình, đề cao tinh thần hoài nghi khoa học, óc phê phán, tác phong độc lập suy nghĩ, chống lối học vẹt, học đối phó, chủ nghĩa hình thức trong học tập
- Cần sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề ở những mức độ khác nhau, đặc biệt tăng dần tỷ trọng mức độ tự nghiên cứu, tự giải quyết những bài tập nhận thức
- Cần tăng cường sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học
- Cần kết hợp tính tự giác, tính tích cực học tập với việc nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập của người học, cần tổ chức kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học
- Hình thành cho người học những thao tác tư duy, những hành động thực hành,những biện pháp hoạt động sáng tạo và tạo điều kiện cho họ thể hiện khả năng hoạt động sáng tạo trong quá trình nghiên cứu, học tập những cơ sở khoa học, nghệ thuật và lao động
5.Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển tư duy lý
Trang 8Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học có thể cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng hay hình tượng của chúng, từ đó hình thành những khái niệm, quy luật, lý thuyết; ngược lại, có thể từ việc lĩnh hội những tri thức lý thuyết trước rồi xem xét những sự vật, hiện tượng cụ thể sau Từ đó ta có thể nhận thấy rằng: a) Tính trực quan có thể là điểm xuất phát chủ yếu ở các lớp tiểu học b) Tuỳ theo mức độ vận động của trẻ từ các lớp dưới lên các lớp trên thì điểm xuất phát của quá trình dạynhọc
là sự tiếp cận lịch sử đối với sự phát minh một quy luật nào đó Lúc đầu nêu lên vấn
đề, tiếp theo là trình bày lịch sử giải quyết vấn đề đó và cuối cùng là trạng thái hiện nay Sau đó cần phải tiến hành công tác thực hành hoặc làm thí nghiệm Đó là con đường có tính quy nạp – lịch sử trong việc nghiên cứu tri thức Ngay cả học sinh tiểu học cũng tiến hành dạy học từ cái chung đến cái riêng nhằm phát triển tư duy lý luận cho trẻ
Nguyên tắc này đã được J.A.Comenxki ( 1592-1670) lần đầu tiên đề ra và được gọi là nguyên tắc vàng ngọc Sau này được J.J.Rutxo (1712-1778), J.A.Pextalogi (1746-1827), K Đ Usinxki ( 1824-1870) kế tục và phát triển Dưới ánh sáng của nhận thức luận Macxit, nội dung của nguyên tắc ngày càng được hoàn thiện và phát triển
Để vận dụng nguyên tắc này cần:
- Sử dụng phối hợp nhiều phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là phương tiện
và nguồn nhận thức
- Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan và lời nói sinh động, diễn cảm, nghĩa là kết hợp hai hệ thống tín hiệu
- Cần sử dụng lời nói giàu hình ảnh để giúp học sinh vận dụng những biểu tượng đã có
để hình thành những biểu tượng mới, qua đó mà hình thành những khái niệm, định luật mới
- Cần vận dụng một trong những cách sử dụng trực quan nêu trên phù hợp với lứa tuổi, nội dung và hoàn cảnh cụ thể nhằm hình thành và phát triển tư duy lý thuyết cho họ
- Cần sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học một cách hiệu quả
- Đề ra cho học sinh những bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập được mối quan hệ giữa cái cụ thể, cái trừu tượng và ngược lại
6.Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc và sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh nắm vững nội
Trang 9dung dạy học với sự căng thẳng tối đa tất cả trí lực của họ, đặc biệt là sự tưởng tượng (Tưởng tượng tái hiện và tưởng tượng sáng tạo), trí nhớ (chủ yếu là trí nhớ logic), tư duy sáng tạo, năng lực động viên tri thức cần thiết để thực hiện công việc nhận thức, học tập đã đề ra
Nguyên tắc này cần phải kết hợp với nguyên tắc tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, nghĩa là phải làm cho họ nhớ lại điều đã học một cách tự giác, đã được suy ngẫm, tránh lối học thuộc l òng một cách máy móc và thiếu suy nghĩ sâu sắc về tài liệu đó, và do vậy chẳng hiểu được điều mình học
Để vận dụng nguyên tắc này cần:
- Cần phải giúp học sinh kết hợp hài hoà giữa ghi nhớ chủ định và không chủ định trong quá trình lĩnh hội tài liệu học tập
- Cần hình thành cho học sinh những kỹ năng tìm ra những tri thức có tính chất tra cứu khác nhau để giúp họ tránh học thuộc lòng không cần thiết những tài liệu đó
- Cần đặt ra những vấn đề đòi hỏi học sinh phải tích cực hoá những tri thức đã học để giải quyết, qua đó mà giúp họ nhớ sâu, nắm vững tri thức và tạo điều kiện phát triển năng lực nhận thức Cùng với điều đó mà việc ôn tập và luyện tập được thực hiện thường xuyên, có hệ thống
- Cần tổ chức quá trình dạy học như thế nào để một bộ phận đáng kể những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo được củng cố tại tiết học
- Giáo viên phải tiến hành kiểm tra, đánh giá và học sinh phải tiến hành tự kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách đều đặn, toàn diện về các mặt số lượng và chất lượng tri thức, kỹ năng hoạt động sáng tạo thông qua bài tập sáng tạo, có tính chất chẩn đoán
7.Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt
và tính tập thể của việc dạy học:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, khi lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phải không ngừng nâng cao mức độ khó khăn trong học tập, gây nên sự căng thẳng về trí lực, thể lực một cách cần thiết
Tính vừa sức đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi Mỗi độ tuổi gắn liền với sự trưởng thành của những cơ quan trong cơ thể và những chức năng của các cơ quan đó, cũng như với sự tích luỹ những kinh nghiệm về mặt nhận thức và về mặt xã hội, với loại hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó Lứa tuổi thay đổi thì nhu cầu trí tuệ và hứng thú nhận thức của trẻ cũng biến đổi
Trang 10Điều kiện dạy học hiện nay ở nước ta là dạy từng lớp với khoảng 40- 50 học sinh Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải tiến hành dạy học và giáo dục cả lớp như một tập thể học tập, tạo điều kiện và tổ chức công tác học tập của tất cả học sinh, đồng thời phải tính tới những đặc điểm cá biệt của từng học sinh nhằm đạt được hiệu quả dạy học và góp phần phát triển những tư chất tốt đẹp của các em
Để đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm cá biệt trong điều kiện tiến hành dạy – học với cả tập thể cần:
- Xác định mức độ tính chất khó khăn trong quá trình dạy học để thiết lập những cách thức chủ yếu tạo nên động lực học tập, mở rộng khả năng nhận thức của học sinh, suy nghĩ những biện pháp tiến hành chung với cả lớp và với từng học sinh
- Phối hợp hình thức lên lớp, hình thức độc lập công tác của học sinh và hình thức học tập nhóm tại lớp Trước tập thể lớp, giáo viên đề ra nhiệm vụ chung và dưới sự chỉ đạo của giáo viên, từng cá nhân suy nghĩ cách giải quyết Trong thời gian đó, giáo viên giúp đỡ những học sinh yếu kém Với cách tổ chức như vậy thì chỉ là sự làm việc cùng nhau của những cá nhân cùng học Đó là hình thức phối hợp đơn giản nhất của các cá nhân trong tập thể người cùng học như N.K.Crupxkaia đã nhận xét Một hình thức tổ chức tiết học khác là giáo viên chỉ đạo việc thực hiện theo nhóm những ý kiến, những
ý tưởng hoặc những cách giải quyết vấn đề khác nhau của từng người để đi đến kết luận chung của cả nhóm, sau đó cử đại diện của mình trình bày ý kiến Trên cơ sở đó,
cả lớp trình bày và đi đến kết luận chung, còn giáo viên lúc này đóng vai trò là người chỉ đạo, người cố vấn, người trọng tài Với hình thức này thì sự phối hợp giữa hoạt động cá nhân và tập thể đạt được hiệu quả cao hơn rất nhiều
Cách tiến hành dạy học như vậy không chỉ giáo dục tinh thần tập thể cho học sinh, mà từng học sinh giúp đỡ lẫn nhau nên nhiệm vụ học tập đề ra trở nên vừa sức mỗi người
8.Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải gây cho người học sự hấp dẫn, hứng thú, lòng ham hiểu biết, niềm vui và tác động mạnh mẽ đến tình cảm của họ
Tình cảm có vai trò quan trọng đối với hoạt động của con người, thôi thúc con người hành động, thậm chí đến mức xả thân mình cho sự nghiệp.Học tập của học sinh cũng hoàn toàn như vậy V.I.Lênin đã khẳng định: “Nếu thiếu tình cảm con người thì không bao giờ có sự tìm tòi chân lý” Về vấn đề này, Paxcan cũng đã nói: “ Ta hiểu được chân lý chẳng phải chỉ nhờ bộ óc mà còn nhờ con tim nữa”
Để vận dụng nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần: