Chương 5 PHÂN TÍCH CÁU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ CÂN BẰNG TÀI CHÍNH Mục tiêu chương 5 • Nhận diện bản chất và các bộ phận cấu thành cấu trúc tài chính và cân bằng tài chỉnh • Thảo luận về mối quan hệ giữa cẩu.
Trang 1Chương 5 PHÂN TÍCH CÁU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ CÂN BẰNG TÀI CHÍNH
• Xác định nội dung và quy trình phân tích cẩu trúc tài chỉnh và cân bằng tài chỉnh.
• Năm vững cách thức phân tích cũng như nội dung, ỷ nghĩa của các chỉ tiêu sử dụng khi phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn von.
• Hiểu rô nội dung và cách thức phân tích cân bằng tài chính dưới các góc độ khác nhau.
5.1 Tổng quan về cấu trúc tài chính, cân bằng tài chính và ý nghĩa, nội dung phân tích
5.1.1 Cẩu trúc tài chính và ý nghĩa, nội dung phân tích
Cấutrúc tài chính794 (còn gọi là cấu trúc nguồn vốn) của một DN phản ánh mối quan
hệ hay sựkết hợp giữa VCSHvới nợ phải trảtrong việc tài trợ tài sản cho hoạtđộng củaDN(Subramanyam, 2014; Nguyễn Văn Công, 2017) về thực chất, cấu trúc tài chính đề cập đếnmối quan hệ cân bằng giữa tất cả các khoản nợ phải trả (nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) vớiVCSH tức là đề cập đến cấu trúc nguồn vốn Thông qua việc xem xét cấu trúc tài chính,người sử dụng thông tin biết được toàn bộ nguồn hình thành (nguồn tài trợ) cùng với mức
độ tham gia tài trợ tài sản của từng nguồn vốn Từ đó, có thể đánh giá được mức độ tài trợtài sản từ các nguồn tài trợ (nguồn vốn), mức độ tự chủ tài chính, mức độ trách nhiệm của
DN đối với các chủ nợ và các chủ sở hữu, mức độ rủi ro tài chính và giá trị DN, mức độ họp
lý của chính sách huy động vốn Cũng thông qua việc xem xét cấu trúc tài chính, người sử dụng thông tin nắm được cấu trúc nguồn tài trợ thường xuyên795 - nguồn tài trợcho các tài sản tạo ra thu nhập - để từ đó xác định các tài sản tạo thu nhập cho DN được tài trợ chủyếu
từ VCSH hay từ nợ dài hạn Do vậy, các nhà quản trị tài chính luôn tìm cách thiết lập một mối quan hệ phù hợp, cân bằng giữa VCSH với nợ phải trả nhằm tối ưu hóa cấu trúc tài chính Mộtcấutrúc tài chính được coi là tối ưu khi DN thiết lập được một tỷ lệ họp lý giữa
nợ phải trả và VCSH để sao cho DN có mức chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền796thấp nhất
194 Financial Structure.
195 Cẩu trúc nguồn tài trợ thường xuyên còn được gọi là cấu trúc von - Capital Structure (TG).
196 Weighted Average Cost of Capital (WACC).
Trên mộtgóc độ khác, cấu trúc tài chính đề cập đến tất cả các thànhphần của tài chính
DN, bao gồm nguồn vốn (nợ ngắn hạn, nợ dài hạn VCSH) và tài sản (TSNH, TSDH) Nhưvậy, cấu trúc tài chính không chỉ bao hàm trong mình cấu trúc nguồn vốn mà còn bao hàm 194 195
Trang 2cả cấu trúc tài sản cấu trúc tài sản thể hiện mối quan hệ cân bàng giữa TSNH với TSDH của DN mà qua đó, người sử dụng thông tin có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng tài sảnhay phươngthức mà DN sửdụngđể tối đa hóa khả năng sinh lợi của tài sản Đồng thời, quaxem xét cấu trúc tài sản, người sử dụng thông tin cũng đánh giá mức độ rủi ro của cấu trúctài chính của DN Một cấu trúc tài sản hợp lý sẽ là cơ sở vững chắc giúp DN bảo đảm khả năng tồn tại và khả năng giành thắng lợi trong cạnh tranh Việc sử dụng các nguồn tài trợ tài sản mà DN đã huy động vào việc mua sắm, trang bị từng loại tài sản phản ánh chính sách sử dụngvốn của DN.
Từnhững phân tích ở trên cho thấy: Khi xem xét cấu trúctài chính không chỉdừng lại
ở việc xem xét cấu trúc nguồn vốn mà còn phải xem xét cả cấu trúc tài sản và mối quan hệ giữa nguồn hình thành tài sản với tài sản Việc xem xétcấu trúc nguồn vốn cho biết tình hình huy động vốn và chính sách huy động vốn, xem xét cấu trúc tài sản cho biết tình hình sử dụng vốn, còn xem xét mối quan hệ giữa nguồn hình thành tài sản với tài sản chobiết chínhsách sử dụng vốn của DN Chính sách huy động, sử dụng vốn của một DN, một mặt phảnánh nhu cầu vốn cho HĐKD; mặt khác, quan trọng hơn, chính sách này có quan hệ trực tiếpđến an ninh tài chính, đến hiệu quả sử dụng vốn của DN Từ đó, tác động trực tiếp đến hiệuquả kinh doanh cũng như rủi ro kinh doanh của DN
Phân tích cấu trúc tài chính là xem xét, đánh giá tính hợp lý của cấu trúc nguồn vốn, cấu trúc tài sản và mối quan hệ giữa nguồn hình thành tài sản với tài sản của DN Qua đó,giúp những người sử dụng thông tin nắmđược tình hình huy động và kết hợp giữa các nguồntài trợtàisản, tình hình sử dụng nguồn tàitrợ tài sản vào việc tàitrợ tài sản, biết được nguyên nhân cũng như các dấu hiệu ảnh hưởng đến cân bằng tài chính Những thông tin này sẽ làcăn cứ quan trọng để các nhà quản trị ra các quyết định điều chỉnh chính sách huy động và
sử dụng vốn của mình, bảo đảm cho DN có được một cấu trúc tài chính tối ưu, lành mạnh, hiệu quả và tránh được những rủi ro trong kinh doanh Đồng thời, nội dung phân tích nàycòn góp phần củng cố cho các nhận định đã rút ra khi đánh giá khái quát tình hình tài chính.Nhưvậy, về thực chất, phân tích cấu trúc tài chính của DN bao gồm các nội dung như: phân tích cấu trúc nguồn vốn, phân tích cấu trúc tài sản và phân tích mối quan hệ giữa nguồn hình thành tài sản với tài sản
5.1.2 Cân bằng tài chính và ỷ nghĩa, nội dung phân tích
Bảo đảm vốn cho HĐKD của DN tiến hành được bình thường luôn là mối quan tâmcủa các nhà quản trị Bởi vì, có bảo đảm được nguồn von, DN mới có the đầu tư vào các loại tài sản phục vụ cho hoạt động của mình Việc bảo đảm đầy đủ nhu cầuvề tài sản - bao gồmTSNH và TSDH - là một vấn đề cốt yếu đế bảo đảm cho quá trình kinh doanh được tiếnhành liên tục và có hiệu quả
Nhằm đáp ứng nhu cầu về tài sản cho HĐKD, DN cần phải chuẩn bị các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động, hình thành nguồn tài trợtài sản (nguồn vốn) Nguồn tài trợ tài sản (nguồn vốn) của DN đượchình thành trước hết từ nguồn vốn của bản thân chủ sở hữu (vốn đầu tư ban đầu của chủ sở hữu và vốn đầu tưbố sung thêm trong quá trình kinhdoanh, số lợi nhuận chưa phân phối giữ lại, các nguồn kinh phí, nguồn vốn xây dựng cơ bản ); sau nữa, nguồn vốn của DN được hình thành từ nguồn vốn vay (vayngắn hạn, trung hạn, dài hạnở ngân hàng vàvay các đối tượng khác) Cuối cùng, nguồn vốn được hình thành
Trang 3do chiếm dụng trong quá trình thanh toán (nợ người cung cấp, nợ người lao động, nợ ngânsách nhà nước kể cả số chiếm dụng bất hợp pháp).
Một cách tổng quát, tài sản của DN được hình thành từ VCSH và nợ phải trả Từ đó,
ta có đẳng thức kế toán cơ bản sau:
Tài sản = VCSH + Nợ phải trả [5.1]
Đẳng thức kế toán cơ bản cho thấy: Tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình HĐKD,tổng tài sản của DN luôn luôn bằng VCSH và nợ phải trả (hay bằng tổng nguồn vốn) Mối quan hệ cân đối này tạo nên cân bằng tài chính củaDN Nhưvậy, cân bằng tài chính là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ cân đối giữa tài sản với nguồn hình thành tài sản, phản ánhmức độ an toàn hay ổn định của nguồn tài trợtài sản của DN
Do tài sản bao gồm cả TSNH và TSDH; nợ phải trả bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dàihạn nên đẳng thức kế toán cơ bản có thể viết lại như sau:
TSNH + TSDH = VCSH T Nợ ngắn hạn phải trả + Nợ dài hạn phải trả [5.2]
Do các tài sản khác nhau có tính thanh khoản khác nhau nên việc hình thành từng loại tài sản cũng đòi hỏi phải được tài trợ bởi các nguồn vốn khác nhau với mức độ an toàn và mức độ ổn định khác nhau, về mặt tổng thể, đểcânbằng tài chính luôn nằmtrong tình trạng
“cân bằng tốt” hay “cân bằng dương”, DN phải luôn bảo đảm mức độ thanh khoản cao,TSDH phải được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn (nguồn tài trợ thường xuyên) chứ khôngphải tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn Điều này xuấtphát từđặc điểm của các TSDH là tính thanh khoản thấp, khả năng chuyển đổi thành tiền chậm, thời gian luân chuyển dài Ngược lại, việc nắm giữ các TSNH lại không đòi hỏi phải tài trợ bởi nguồn vốn nào do các TSNH
có tínhthanh khoản cao, thời gian luân chuyển ngắn, khả năng chuyển đổi thành tiềncao.Phân tích cân bằng tài chính giúp cho những người sử dụng thông tin biết được mức
độ đáp ứng vốn cho nhu cầuhoạt động của DN Đồng thời, biết được sự ổn định, bền vững,cân đối và an toàn trongtài trợ và sửdụngvốncũng như nhữngnhân tố có thểgây ảnh hưởng đến cân bằng tài chính Quađó, có những giải pháp tài chính thích hợp để bảo đảm cho DN luôn có đủ khả năng đáp ứng tài sản cho nhu cầu kinh doanh, tránh cho DN rơi vào tìnhtrạngmất khả năng thanh toán hay lâm vào tình trạng phá sản Việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốnđể tiến hành các HĐKD và HĐĐT là điềukiện tiên quyếtđểbảođảm hoạt động củaDNđược tiến hành liên tục và có hiệu quả
Do cân bằng tài chính của DN thể hiện quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản nên khi phân tích cân bằng tài chính, các nhà phân tích thường xem xét theoquan hệ cân đối giữa tình hình tài trợ tài sản với mức độ an toàn của nguồn tài trợ (nguồn huy động) và theo quan hệ cân đối giữa tài sản với mức độ ổn định của nguồn tài trợ
5.2 Phân tích cấu trúc tài chính
5.2.1 Phân tích cấu trúc nguồn von
Để tiến hành HĐKD, các DN cần phải xác định nhu cầu đầu tư, tiến hành tạo lập, tìmkiếm, tổ chức và huy động vốn DN có thể huy động vốn cho nhu cầu kinh doanh từ nhiềunguồn khác nhau; trongđó, có thể qui về hai nguồn chính là VCSH và nợ phải trả
Trang 4VCSH là sốvốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp ban đầu vàbổ sungthêmtrong quá trình kinh doanh (vốn đầu tưcủachủsở hữu) Ngoàira, thuộc VCSH còn bao gồm một số khoản khác phát sinh trong quá trình HĐKD như: chênh lệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch đánh giálại tài sản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối VCSH không phải là các khoản
nợ nên DN không phải cam kết thanh toán
Khác với VCSH, nợ phải trả phản ánh số vốn mà DN đi chiếm dụng trong quá trìnhHĐKD; do vậy, DN phải cam kết thanh toán và có trách nhiệm thanh toán Thuộc nợ phảitrả cũng bao gồm nhiều loại khác nhau, được phân theo nhiều cách khác nhau; trong đó,phân theo thời hạn thanh toán được áp dụng phổ biến Theo cách này, toàn bộ nợ phải trả của DN được chia thành nợ phải trảngắn hạn (là các khoản nợ mà DN có trách nhiệm phải thanh toán trongvòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh bình thường) và nợ phải trả dàihạn (là các khoản nợ mà DN có trách nhiệm phải thanh toán ngoài một năm hay một chu kỳ kinh doanh bình thường)
DN có trách nhiệm xác định số vốn cần huy động, nguồn huy động, thời gian huy động, chi phí huy động sao cho vừa bảo đảm đáp ứng nhu cầu vềvốn cho kinh doanh, vừa tiết kiệm chi phí huy động, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn và bảo đảm an ninh tài chính cho
DN Vì thế, qua phân tích cấu trúc nguồn vốn, các nhà quản lý nắm được cấutrúc vốn huy động, biết được trách nhiệm của DN đối với các nhà cho vay, nhà cung cấp, người laođộng,ngân sách về số tài sản tài trợbằng nguồn vốn củahọ Cũng qua phân tích cấu trúc nguồn vốn, các nhà quản lý cũng nắm được mức độ độc lập về tài chính cũng như xu hướng biếnđộng của cấu trúc nguồn vốn huy động
Phân tích cấu trúc nguồn vốn là việc xem xét, đánh giátính hợp lý của sựkết hợp giữa tất cả các bộ phận cấu thành nên nguồn vốnmà DN sử dụng Sự kếthợp giữa các nguồn vốn của DN có thể thay đổi theo thời gian dựa trên chi phí sử dụng vốn và rủi ro mà DN phải gánh chịu
Phân tích cấu trúc nguồn vốn bao gồm các bước sau:
(1) Tỉnh toán các chi tiêu phản ánh cẩu trúc nguồn von:
Trong bước này, các nhà phân tích phải tínhra tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn797 Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng
số nguồn vốn cho biết trong 100 đồng tài trợtài sản của DN, mức độ tài trợcủatừng nguồn vốn là bao nhiêu Tỷ trọng này càng lớn, chứng tỏ mứcđộ tài trợtài sản củabộ phận nguồn vốn đó càng cao và ngược lại Đe thuận lợi cho việc tính toán tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn, trước hết cần phân loại nguồn vốn thành nợ phải trả (nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) và VCSH Đối với nợ phải trả, trongđiều kiện dữ liệu chophép, tốt nhất nên chi tiết theo quy mô (số tiền), thời gian đáo hạn và ngày thanh toán củatừng khoản nợ
197 Xem các công thức [2.4], mục 2.2.1, Chương 2 và [3.3], [3.4], mục 3.2.1, Chương 3.
Bên cạnh đó, để đo lường cấu trúc nguồn tài trợ thường xuyên, các nhà phân tích có thể sử dụng chỉ số “Hệ số nợ dài hạn trên VCSH” Chỉ số này cho biết: ứng với 1 đồng tài trợ tài sản bằng VCSH, có baonhiêu đồng tài trợtài sản từ nợ dài hạn Trị số của chỉ số này
Trang 5càng cao, mức độ tài trợ tài sản đem lại thu nhập cho DN càng cao, dẫn đến mức độ rủi rocủa DN càng cao và ngược lại Sởdĩ các DN sử dụng các khoản nợ để tài trợcho tài sản là
vì những lợi thế từ nguồn vốn này: số lãi vay phải trả được khấu trừ thuế và DN giữ đượcquyền sở hữu, không giống như VCSH Ngoài ra, nguồn vốnnày khá dồi dàovà dễtiếp cận lại có mức chi phí sử dụng hợp lý Mặt khác, sử dụng nhiều nợ dài hạn để tài trợ cho cácHĐKD sẽ giúp cho DN có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao và cấu trúc vốn tích cực, có thể dẫn đến tốc độ tăng trưởng cao horn
Hệ sô nợ dài hạn trên VCSH
Nợ dài hạn
Cũng thông qua cấutrúc nguồn vốn, các nhà quản lý cũng có thể đánh giá được nănglực tài chính cũng như mức độ độc lập về mặt tài chính của DN Do toàn bộ nguồntài trợ tài sảncủa DN bao gồm nợ phải trả và nguồn VCSH; trongđó, DN chỉ chịu trách nhiệm thanh toán số nợ phải trả, còn số VCSH DN không phải cam kết thanhtoán nên trường hợp VCSH chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn, DN có đủ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính
và mức độ độc lập của DN đối với các chủ nợ (ngân hàng, nhà cung cấp ) là cao Ngượclại, nếu nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tống số nguồn vốn (cảvề số tuyệt đối và tương đối),khả năng bảo đảm về mặt tài chính của DN sẽ thấp, an ninh tài chính thiếu bền vững Trên
cơ sở cấu trúc nguồn vốn, các nhà phân tích sẽ nắm được trị số và sự biến động của các chỉ
số như: hệ số tài trợ795, hệ số nợ trên VCSH799, hệ số nợ so với tổng nguồn vốn Các chỉ số này đều cho thấy mức độ độc lập về mặt tài chính và khả năng thanh toán củaDN
Hệ sô nợ so với tông nguồn vốn
Nợ phải trả Tông nguôn vôn
[5.4]
(2) So sảnh tình hình biến động về cấu trúc nguồn vốn:
Sau khi đã xác định trị số của các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc nguồn vốn, các nhà phântích tiến hành so sánhtình hình biến động về tỷ trọng giữakỳ phân tích với kỳ gốc theotừngchỉ tiêu Việc xem xét này mới chỉ cho phép các nhà phân tích có căn cứ để đánh giá tínhhợp lý của cấu trúc nguồn vốn của DN thông qua cơ cấu huy động và xu hướng biến độngcủa cấu trúc nguồn vốn Đe có thế biết được các nhân tố tác động đến sự thay đổi của cấu trúc nguồn vốn cũng như biết được chính xáctình hình huy động vốn, các nhà phân tích cònkết hợp cả việc so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc cả về số tuyệt đối (biếnđộng về quy mô) và số tương đối (biến động về tốc độ) trên tổng số nguồn vốn cũng như theo từngloại nguồnvốn Điều này cũng được áp dụng với việc so sánh chỉ số phản ánh cấu trúc nguồn tài trợ thường xuyên và các chỉ số phản ánh mứcđộ độc lập tài chính và khả năngthanh toán của DN
198 Xem công thức [3.5], mục 3.2.1, Chương3.
199 Xem công thức [3.16], mục 3.2.3, Chựơng 3.
Trang 6(3) Nhận xét, đánh giả tỉnh hợp lý của cấu trúc nguồn vốn:
Căn cứ vào kết quả so sánh, các nhà phân tích sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá về tính hợp lý của cấu trúc nguồn vốn hiện tại (dựa vào cơ cấu nguồn vốn ở kỳphân tích) cũng như tính hợp lý của xu hướng biến động cấu trúc nguồn vốn (dựa vào tình hình biến động
về cơ cấu nguồn vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc) Đồng thời, khi đánh giá tính hợp lý
về xu hướng biến động cấu trúc nguồn vốn, nhà phân tích sẽ kết hợp chỉ ra nhân tố ảnhhưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của cấu trúc nguồn vốn cả
về quy mô và tốc độ biến động Việc đánh giáđược tiến hành từđánh giá sự biến động tổng thể (biến động của nợ phải trả và biến động của VCSH) rồi đến biến động của từng loại nợphải trả (nợ ngắn hạn, nợ dài hạn), từng loại VCSH (VCSH, nguồn kinh phí và quỹ khác) và cuối cùng là sựbiến động của từng nguồn vốn trong từng loại nguồn vốn Khi đánh giá tính hợp lý của cấu trúc và xu hướng biến động của từng nguồn vốn trong từng loại nguồn vốn (nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, VCSH, nguồn kinh phí và quỹ khác), cần quán triệt nguyên tắctrọng yếu Trong điều kiệncho phép, có thểxem xét và so sánh sựbiếnđộngvề tỷtrọngcủatừng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn của DN qua nhiều năm và so với
cơ cấu chung củangành hay của các đối thủ cạnh tranh đế đánh giá
Để nhận xétvề cấutrúc nguồn tài trợ thường xuyên cùng với mức độ độc lập tài chính
và khả năng thanh toán của DN, các nhà phân tích cũng căn cứ vào kết quả so sánh sựbiếnđộng củatừng chỉ số tương ứng giữa kỳphân tích với kỳ gốc cả về số tuyệt đối và số tương đối để rút ra nhận xétthích họp
Nhằm thuận tiện cho việc đánh giácấutrúcnguồn vốn, khi phân tích, có thểlậpbảng sau:
Bảng 5.1- Bảng phân tích cấu trúc nguồn vốn
Chỉ tiêu
Đầu năm Cuối năm Chênh lệch • cuối năm
so với đầu năm (±)
Số tiền (VND)
Tỷ trọng(%)
Số tiền(VND)
Tỷ trọng(%)
Số tiền(VND)
Tỷ lệ(%)
Tỷ trọng(%)
Trang 7Qua bảng phân tích trên, các nhà phân tích sẽ nắm được các nội dung chủ yếu sau:
1.2 Nợ • dài hạn•
- Phảitrả người bán dài hạn
-Người mua trả tiền trước
“Nợ phải trả” và chỉ tiêu 2 “VCSH” đúng bằng số liệu của chỉ tiêu “Tổng số nguồn vốn” ở từng kỳ
- Cột “Tỷ trọng” trong kỳ phân tích (cột 4 thuộc “Cuối năm”) và kỳ gốc (cột 2 thuộc
“Đầu năm”) phản ánh tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn (nợ phải trả và VCSH và từng loại VCSH, từng khoản nợ phải trảngắn hạn, dài hạn) chiếm trong tổng số nguồn vốn ở từngthời điểm tương ứng (cuối năm, đầu năm); trong đó, số tổng cộng theo từng cộtcủa các chỉtiêu bộ phận (“Nợphải trả” và “VCSH”)đúngbằng 100% vàđúng bằng tỷ trọng củachỉtiêu
“Tổng số nguồn vốn”
+ Cột “Số tiền” (cột 5): phản ánh sự biến động về số tuyệt đối của tổng số nguồn vốncũng như từng loại nguồn vốn giữa kỳ phân tích (cuối năm) so với kỳ gốc (đầu năm) Qua
Trang 8cột này, các nhà phân tích sẽ thấy được mức độ biến động về qui mô của nguồn vốn cũngnhư nguyên nhân ảnh hưởng đến sự thay đổi về tỷ trọng củatừng bộ phận nguồn vốn chiếmtrong tổng số nguồn vốn Đồng thời, qua số liệu của cột 5, các nhà phân tích sẽ xác định được ảnh hưởng của từng nguồn vốn đến từng bộ phận nguồn vốn (Nợphải trả, VCSH) cũngnhư ảnh hưởng của“Nợphải trả” và “VCSH” đến sựbiếnđộng của chỉ tiêu“Tổngsố nguồn vốn”.
+ Cột “Tỷ lệ” (cột6): phản ánh sự biến động về số tương đối theo thời gian của từng
bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn Qua các cột này, các nhà phân tích sẽthấy được tốc độ biến động giữakỳ phân tích so với kỳ gốc của từng nguồn vốn
+ Cột “Tỷ trọng” (cột 7): phản ánh tình hìnhbiến động về tỷ trọng giữa kỳ phân tích
so với kỳ gốc của từng nguồn vốn Sự thay đổi theo thời gian về tỷ trọng của từng nguồnvốn hay từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tong số nguồn vốn sẽ cho các phép nhữngngười sử dụng thông tin đánh giá được xu hướng biến động của cấu trúc nguồn vốn hay cơcấu nguồn huy động
Bằng việc xem xét bảng phân tích trên, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặc trưng trong cấu trúc nguồn vốn và cơ cấuhuy động vốn của DN, xác định được tính hợp lý và antoàn của việc huy động vốn Qua việc xem xét cấu trúc nguồn vốn và sựbiến động về cấu trúc nguồn vốn của nhiều kỳ kinh doanh, gắn với điều kiện kinh doanh cụ thế, các nhà quản
lý sẽ có quyết định huy động nguồn vốn nào với mức độ bao nhiêu là hợp lý, bảo đảm hiệuquảkinh doanh cao nhất
Để đánh giá chính xác tính hợp lý về cấu trúc nguồn tài trợ thường xuyên và mức độ độc lập tài chính cùng khả năng thanh toán của DN, các nhà phân tích cần liên hệ với chính sách huy động vốn và chính sách đầu tư trong từng thời kỳ của DN Chẳng hạn, trong giaiđoạn đầutư mởrộngkinh doanh, DN sẽ huyđộng tất cả các nguồn vốn có thế, nhất là nguồn vốn vay (vay ngân hàng, vay các đối tượng khác và vay bằng phát hành trái phiếu) và vốn góp Mặt khác, cũng cần liên hệ trị số của các chỉ tiêu trên với trị số trung bình ngành hoặc với các DN khác tương đương Một điều chắc chắn rằng, nếu DN có trị số củachỉ sổ "Hệ sốtài trợ" thấp, trị số của chỉ tiêu "Hệ số nợ so với VCSH" và "Hệ số nợ so với tổng nguồnvốn" cao sẽ rất khó khăn khi thuyết phục các nhà đầu tưtín dụng cho vay Do vậy, DN cầnphải có các giải pháp thích hợp để giảm số nợ phải trả, tăngsố VCSH
Khi phân tích cấu trúc nguồn vốn, cần lưu ý đến một số điểm sau:
- Nợ phải trả: Nợphải trả là một trong hainguồn tài trợ tài sản của DN Tình hình biến động (tăng, giảm) nợ phải trả phản ánh chính sách sử dụng đòn bẩy tài chính của DN Việctăng cường hay hạn chế sử dụng đòn bẩy tài chính phải dựa trên tình hình kinh doanh của
DN trong từng thời kỳ cụ thể và phải cân nhắc cẩn thận vì sử dụng đòn bẩy tài chính giongnhư sử dụng “con dao hai lưỡi” Sử dụng nợ phải trả hay sử dụng đòn bẩy tài chính khôngchỉ giúp cho DN có nguồn tài trợ tài sản mà quan trọng hơn, chi phí về sử dụng nợ phải trả (lãiphải trả) là một khoản chi phí được trừ vào thu nhập chịu thuế của DN Do vậy, sửdụng
nợ phải trả đồng nghĩa với việc DN sử dụng một “lá chắn thuế”2ớớ Tuy nhiên, mặt trái của
200 Tax Shield.
Trang 9việc tăng cường sử dụng đòn bẩy tài chính là sẽ đặt DN vàotình trạng nợ nần, áp lực thanh toán sẽ tăng cao, mức độ độc lập tài chính sẽ giảm xuống.
Trong cấu trúc nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Việc sử dụng từng khoản nợ để tài trợ tài sản phải tuân thủ nguyên tắc: nợ ngắn hạn chỉ được tài trợ TSNH, tuyệt đối không được sử dụng nợ ngắn hạnđể tài trợ TSDH Ngược lại, nợ dài hạn cóthể sử dụng để tài trợ các loại tài sản khác nhau, bao gồm cả TSNH và TSDH Tùy theo tình hình kinh doanh và nhu cầu vốn cụ thể trong từng giai đoạn cũng như chính sách cho vay củangân hàng và các tổ chức tín dụng, DN sẽ lựa chọn sử dụng nợ phải trả ngắn hạn hay dàihạn Sử dụng nợ phải trả dài hạn tuy giúp DN có nguồn vốn sử dụng ổn định trong mộtkhoảng thời gian dài, DN giảm được áp lực thanh toán nhưng chi phí sử dụng thường caohơn sử dụng nợ phải trả ngắn hạn Ngược lại, sử dụng nợ phải trả ngắn hạn tuy chi phí sửdụngvốn có thể thấp hơn sửdụngnợ dài hạn nhưng lại đặt DN vào áp lực trảnợ Vì thế, các
DN thường lựa chọn sửdụng các khoản nợ dài hạn khi cần vốnđể đầu tư, mua sắmbất độngsản, máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ và sử dụng nợ ngắn hạn khi cần bổ sung vốn hoạtđộng thuần hoặc các khoản thiếu hụt phát sinh trong quá trình kinh doanh
Một điều cũng cần lưu ý là không phải khoản nợ nào thuộc nợ phải trả DN cũng phải trả chi phí sử dụng (trả lãi) Khá nhiều khoản nợ phải trả phát sinh trong quá trình HĐKD,
DN không phải mất chi phí sử dụng Đó là các khoản phải trả các nhà cung cấp trong thời gian ưu đãi của tín dụng thươngmại, các khoảnphải trảngười lao động, phải nộp ngân sách,các khoản phải trả nội bộ Đây là những nguồn tàitrợtạmthời giúp DN có thêm nguồn vốnngắn hạn để giải quyết các nhu cầu trước mắt Vì thế, DN cần cân nhắc khi sử dụng những nguồn vốn này sao cho vừa không vi phạm thời hạn thanh toán, vừa bảo đảm đáp ứng nhu cầu thanhtoán khi đến hạn hoặc thanhtoán trước hạn nếu có mức chiết khấu thanh toán cao
- VCSH: VCSH càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn, mức độ độc lập tàichính và khả năng thanh toán của DN sẽ càng cao, DN sẽ không bị sức ép thanh toán và ngược lại Thuộc VCSH của DN bao gồm nhiều loại, từ vốn góp của chủ sở hữu (góp banđầu khi mới thành lập DN và góp bổ sung trong quá trình HĐKD), lợi nhuận sau thuếchưaphân phối và các khoản khác (chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái, quỹ đầu tư phát triển, nguồn vốn đầu tư XDCB ) Tình hình biến động (tăng, giảm) VCSH phụthuộc vào chính sách huy động vốn, chính sách đầu tư cũng như tình hình kinh doanh của
DN trongtừng giai đoạn VCSH tăng được đánh giá là tích cực khi được bổ sung từ kết quảHĐKD và ngược lại
Toàn bộ dữ liệu phục vụ cho việc phân tích cấu trúc nguồn vốn được thu thập trực tiếp
từ BCĐKT, phần “Nguồn vốn”
5.2.2 Phân tích cẩu trúc tài sản
Bên cạnh việc tổ chức, huyđộng vốn cho HĐKD, các DN còn phải sử dụng số vốn đã huyđộng mộtcách họp lý, có hiệu quả Sửdụng vốn hợp lý, có hiệu quả không những giúp cho DN tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn mà quan trọng hơn còn giúp cho các DN tiếtkiệm được số vốn đã huyđộng Điều đó đồng nghĩa với việc tăng lượng vốn huy động vào kinh doanh Với cùng một lượng vốn đã huy động, nếu biết sử dụng họp lý, DN sẽ có điều kiện đầu tư cả về chiều rộng và chiều sâu cho kinh doanh Sử dụng họp lý, có hiệu quả số
Trang 10vốn đã huy động được thế hiện trước hết ở chỗ: số vốn đã huy động được đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh hay bộ phận tài sản nào Vì thế, phân tích tình hình sử dụng vốn bao giờcũng được thực hiện trước hết bằng cách phân tích cấu trúc tài sản Qua phân tích cấu trúc tài sản, các nhà quản lý sẽ nắm được tình hình đầu tư (sử dụng) số vốn đã huy động, biếtđược việc sử dụng số vốn đã huy động có phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và có phục vụ tích cực cho mục đích kinh doanh của DN hay không.
Phân tích cấu trúc tài sản là việc xem xét, đánh giá tính hợp lý của sự kết hợp giữa tất
cả các bộ phận cấu thành nên tài sảncủa DN Cũng như cấu trúc nguồn vốn, sựkết hợp giữa các bộ phận tài sản củaDN có thể thay đổi theo thời gian dựatrên mục đích sử dụng tài sản
và hiệu quả HĐKD của DN
Việc phân tích cấu trúc tài sản của DN đượcthực hiện qua các bước sau:
(1) Tính toán các chỉ tiêu phản ảnh cẩu trúc tài sản:
Tưong tự như phân tích cấu trúc nguồn vốn, trong bước này, các nhà phân tích cũng tiến hành tính ra tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản2ơ7 Tỷ trọngcủa từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản cho biết cứ trong 100 đồng tài sản của
DN, từng bộ phận tài sản là bao nhiêu Bộ phận tài sản nào có tỷ trọng càng lớn, chứng tỏ
bộ phận tài sản đó chiếm giá trị càng cao trong tổng số tài sản và ngược lại Khi phân tíchcấu trúc tài sản, đế thuận lợi cho việc tính toán tỷtrọngcủatừng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản, trước hết cần phân loại tài sản thành TSNH và TSDH; trong đó lại chi tiếttheo từng nhóm, từng loại tài sản cụ thể
Ngoài ra, để đo lường tính hợp lý của cấu trúc tài sản, các nhà phân tích có thể sửdụngcác chỉ số như: hệ số khả năng chuyển đổi thành tiền của TSNH2Ơ2, hệ số đầu tưdài hạn, hệ
số đầutưTSCĐ ; trongđó, chỉ số “Hệ số khả năng chuyểnđổi thànhtiền củaTSNH”được
sử dụng để đánh giá tính thanh khoản của DN
201 Xem các công thức [2.4], mục 2.2.1, Chương2 và [3.1], [3.2], mục 3.2.1, Chương3.
202 Xem công thức [3.11], mục 3.2.2, Chương 3
Trang 11(2) So sánh tình hĩnh biến động về cấu trúc tài sản:
Cũng giống như phân tích cấu trúc nguồn vốn, sau khi đã xác định trị số của các chỉtiêu phản ánh cấu trúc tài sản, các nhà phân tích tiến hành so sánhtình hình biến động về tỷtrọng giữa kỳ phân tích với kỳ gốc theo từng chỉ tiêu Việc xem xét này mới chỉ cho phép các nhà phân tích có cơ sở để đánh giá được tính hợp lý của cấu trúc tài sản của DN thôngqua cơ cấu tài sản và xu hướngbiến động củacấu trúc tài sản Đe có thế biết được các nhân
tố tác động đến sự thay đổi củacấu trúc tài sản cũng như biết được chính xác tìnhhìnhphân
bổ tài sản, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với
kỳ gốc cả về số tuyệt đối (biến động về quy mô) và số tương đối (biến động về tốc độ) trên tổng số tài sản cũng nhưtheo từng loại tài sản Điều này cũng được áp dụng với việc so sánh các chỉ số phản ánh mức độ thanh khoản và chính sách đầu tưcủa DN
(3) Nhận xét, đánh giả tỉnh hợp lý của cấu trúc tài sản:
Dựatrênkết quả so sánh, các nhà phân tích sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giávề tính họp lý củacấu trúc tài sản hiện tại (dựa vào cơ cấu tài sản ở kỳ phân tích) cũng như tínhhọp
lý của xu hướng biến động cấu trúc tài sản (dựa vào tình hình biến động về cơ cấu tài sản giữakỳ phân tích so với kỳ gốc) Đồngthời, khi đánh giátínhhọp lý về xu hướngbiếnđộngcấu trúc tài sản, nhà phân tích sẽ kết hợp chỉ ra nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng củatừng nhân tố đến sựbiến động của cấutrúc tài sản cả về quy mô và tốc độ biến động Việcđánh giá được tiến hành từ đánh giá sự biến động tổng thể (biến động của TSNH và biến độngcủa TSDH) rồi đến biếnđộng của từngloại TSNH(tiền vàtương đươngtiền, các khoản đầutưtài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, HTK, TSNH khác), từng loại TSDH (các khoản phải thu dài hạn, TSCĐ, bất động sản đầu tư, tài sản dở dang dài hạn, đầu tư tài chính dài hạn và TSDH khác) và cuối cùng là sự biến động củatừng tài sản trong từng loại tài sản Khi đánh giá tính họp lýcủa cấu trúc và xu hướngbiến động của từng tài sản trong từng loại tài sản cần quán triệt nguyên tắc trọng yếu Trong điều kiện cho phép, có thế xem xét và so sánh sựbiến độngvề tỷ trọng củatừng bộ phận tài sản chiếm trongtổng số tài sảncủa DN qua nhiều năm và so với cơ cấu chung củangành hay của các đối thủ cạnh tranh đế đánh giá
Để nhận xét về cấu trúc tài sản có liên quan đến mức độ thanh khoản và chính sáchđầu tư tài sản của DN, các nhà phân tích cũng căn cứ vào kết quả so sánh sự biến động của từng chỉ số tương ứng giữa kỳ phân tích với kỳ gốc cả về số tuyệt đối và số tương đối đê rút
ra nhận xétthích họp
Nhằm thuậntiện cho việc đánh giá cấu trúc tài sản, khi phân tích, có thể lập bảng sau:
Trang 12Bảng 5.2- Bảng phân tích cấu trúc tài sản
Chỉ tiêu
Đầu năm Cuối năm Chênh lệch cuối • năm so
vớỉ đầu năm (±)
Số tiền(VND)
Tỷtrọng(%)
Số tiền (VND)
Tỷ trọng(%)
Số tiền(VND)
Tỷ lệ(%)
Tỷ trọng(%)
khoán kinh doanh (*)
3 Đầu tưnắm giữ đến ngày
3 Phải thu nội bộ ngắn hạn
4 Phải thu theo tiến độ kế
Trang 13Nội dung phản ánh của các cột trong bảng 5.2 cũng tương tự như bảng 5.1 ở trên.Khi phân tích cấu trúc tài sản, cần lưu ý đến một số điểm sau:
phải thu Nhà nước
4 Giao dịch mua, bán lại
Trang 14về tiền và các khoản tương đương tiền:
Việc gia tăng tiền và các khoản tương đươngtiền của DN tuy làm tăng mức độ thanh khoản nhưng lại làm ứ đọng vốn, giảm hiệu quả sử dụng và do vậy, sẽ ảnh hưởng đến kếtquả và hiệu quả kinh doanh Khi đánh giá, phải liên hệ với tình hình thực tế tại DN để rút ranhận xét phù hợp Tiền và tương đương tiền tại các thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ có thể tăng (hoặc giảm) không phải do ứ đọng (hay thiếu tiền) mà có thể do DN đang có kế hoạch tậptrung tiền để chuẩn bị đầu tư mua sắm vật tư, tài sản hay do DN vừa đầu tư vào một số lĩnh vực kinh doanh
- về đầu tư tài chỉnh:
Đe có thể phát huy hết mọi tiềm năng sằn có cũng như những lợi thế của DN nhằmnâng cao hiệu quả kinh doanh, khẳng định vị thế của mình, các DN không chỉ đầu tư vàocác HĐKD thông thường mà còn tiến hành các hoạt động liên quan đến đầu tư tài chính.Đầu tưtài chính trong DNbao gồm nhiều loại, trongđó chủ yếu là các hoạt động đầu tư gópvốn (đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư liên doanh ) và đầu tưchứng khoán ngắn hạn vàdài hạn Khi xem xét khoản đầu tư này, cần liên hệ với chính sáchđầu tư của DN cũng như môi trường đầu tư trong từng thời kỳ; bởi vì không phải DN nàocũng có điều kiện đầu tư tài chính Hơn nữa, môi trường đầu tư cũng ảnh hưởng nhiều đến
tỷ trọng củakhoản đầu tư này Một DN ởtrongmột môi trường mà thị trường chứngkhoánchưa phát triển thì chắc chắn khoản đầu tư tài chính chưa thể cao được Một điều có thekhẳng định ràng, trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế, đầu tư tài chính chính là cơ hội cần thiết để giúp DN sử dụng số vốn dôi thừa có hiệu quả; đồng thời tạo cho DN có nhiều
cơ hội để nắm bắt, học hỏi được kinh nghiệm vàkiến thức quản lý kinh tế tiên tiến, góp phần thúc đấy tăng trưởng kinh tế cũng như có điều kiện để ứng dụng các tiến bộ kỹthuật vào sản xuất
- về các khoản phải thu:
Các khoản phải thu của DN có nhiều loại, trong đóchủyếu là các khoảnphải thu người mưa và tiền đặt trước cho người bán Đây là số vốn (tài sản) củaDN nhưng bị người mua và người bán chiếm dụng Khoản phải thu này tăng (hoặc giảm) do nhiều nguyên nhân khácnhau Tuy nhiên, khi xem xét nội dung này cần liên hệ với phương thức tiêu thụ (bán buôn, bán lẻ), với chính sách tín dụng bán hàng (tín dụng ngắn hạn, tín dụng dài hạn), với chính sách thanh toán tiền hàng (chiết khấu thanh toán), với khả năng quản lý nợ cũng như năng lực tàichính củakhách hàng để nhận xét Chẳng hạn, số nợ phải thu tăng hoặc giảm không phải do yếu kém của DN trong việc quản lý nợ mà có thể do phương thức tiêu thụ áp dụngtại DN Neu DN áp dụngphương thức bán lẻ là chủ yếu thì số nợ phải thu sẽ thấp do hàng bán ra được thu tiền ngay; ngược lại, với DN áp dụng phương thức bán buôn là chủ yếu thì
tỷ trọng nợ phải thu sẽ cao do đặc trưng của phương thức tiêu thụ này là thanh toán chậm Hoặc với chính sách tín dụng bán hàng khác nhau, trongthời kỳ DN áp dụng chính sách tín dụng bán hàng dài hạn, số nợ phải thu chắc chắn sẽ lớn hơn so nợ phải thu trong thời kỳ áp dụng chính sách tín dụng bán hàng ngắn hạn Do chính sách tín dụng bán hàng có quan hệ chặt chẽ với lượng hàng hóa tiêu thụ và được coi như một biện pháp để kích thích tiêu thụ nên khi xem xét số nợ phải thu phát sinh, nhà phân tích cần liên hệ với lượng hàng hóa tiêuthụ để đánh giá Việc áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán cũng có quan hệ trực tiếp