Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng thỏa thuận về giải quyết tranh chấp và Tòa án đã xét rằng: 1 bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo
Trang 1KẾT QUẢ THẢO LUẬN MÔN:
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP
ĐỒNG
NỘI DUNG:
VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG
Trang 2MỤC LỤC VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 3
1 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề (1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015 3
2 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015 3
3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề (3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới 4
VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP
ĐỒNG 4
1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng? 4
2 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao? 5
VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN
ĐƯỢC 6
1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS
2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu; 6
2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao? 7
3 Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao? 8
VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG CÓ GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN 8
1 Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? 10
2 Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì? 10
3 Hướng giải quyết của tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu 10
4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo
và hợp đồng bị che giấu 11
5 Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh và ông Vượng
là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu? 11
6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ) 12
Trang 37 Cho biết hệ quả của Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch trên
là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ 12
VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP
ĐỒNG
Tình huống: Tháng 1 năm 2018, A (pháp nhân), B (cá nhân) và C (cá nhân) gửi cho
D một đề nghị giao kết hợp đồng (là điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp, bằng văn bản và có chữ ký của cả 3 chủ thể) Tháng 1 năm 2020 và tháng 2 năm 2020, D đã gửi cho A và B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình nhưng D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D) Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng (thỏa thuận về giải quyết tranh chấp) và Tòa án đã xét rằng: (1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015; (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS
2015 và (3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới
1 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề (1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015.
(1): Hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý
Khoản 1 Điều 400 BLDS 2015: “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết”; Cụ thể vào tình huống, ta thấy, C (bên đề nghị) không thừa
nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D (bên được đề nghị), và D đã không chứng minh được mình đã gửi đề nghị giao kết hợp đồng đến cho C Vì thế căn cứ vào
Khoản 1 Điều 400 BLDS 2015 thì hướng giải quyết của Tòa án là thuyết phục.
2 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp
lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015.
(2): Hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý
Căn cứ vào Điều 394 BLDS 2015 quy định về thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng Theo đó thì thời hạn trả lời được xác định theo hai cách:
Một là, bên đề nghị ấn định Đề nghị là ý chí của bên đề nghị, do đó, chỉ họ mới
nhận biết rõ thời hạn trả lời trong bao lâu thì đảm bảo được lợi ích tối đa của cả hai bên Hơn nữa, đề nghị giao kết hợp đồng được xây dựng dựa trên ý chí của chủ thể, chứ không là quy định bắt buộc của pháp luật, mà pháp luật chỉ điều chỉnh các vấn đề xoay quanh nó để đảm bảo các bên vừa được tự do tham gia vào các quan hệ dân sự, vừa đảm bảo trật tự xã
Trang 4hội Chính vì lẽ đó, mà pháp luật đã trao cho các chủ thể quyền được tự mình ấn định thời hạn trả lời chấp nhận
Hai là, khoảng thời gian hợp lý do các bên thỏa thuận hoặc cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền quyết định Quy định này nhằm dự phòng trong trường hợp bên đề nghị không
ấn định thời hạn trả lời chấp nhận Vì trong thời hạn đợi bên được đề nghị trả lời, bên đề nghị không được giao kết hợp đồng với bên thứ ba Nếu bên đề nghị không ấn định thời hạn trả lời, mà pháp luật không quy định gì thêm thì thời hạn trả lời sẽ tồn tại mãi mãi, như vậy
sẽ ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng của bên đề nghị với bên thứ ba Hiện nay, BLDS năm 2015 vẫn không có quy định nào ghi nhận “thời hạn hợp lý” là như thế nào vì không phải hợp đồng nào cũng như nhau, tùy thuộc vào từng hợp đồng cụ thể mà thời hạn có sự khác biệt
Tòa án dựa vào quy định tại Khoản 1 Điều 394 BLDS 2015: “Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực trong một thời hạn hợp lý”.
Vào tháng 1/2018, A, B và C có gửi cho D đề nghị giao kết hợp đồng và không nêu rõ thời hạn trả lời, nhưng đến tháng 1 và tháng 2 năm 2020, D mới gửi chấp nhận cho A, B và C
Từ đó, ta thấy được thời hạn trả lời là hơn 2 năm, là một khoảng thời gian khá dài và chưa hợp lý Bởi lẽ, trong 2 năm quyền lợi của bên đề nghị có thể bị thiệt hại nếu không được chấp nhận trả lời Do đó chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015
3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với vấn đề (3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới.
(3): Hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý
Theo Khoản 1 Điều 394 BLDS 2015:
“1 Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời
Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.”
Chính vì vậy ta có thể cho rằng A, B, C (bên đề nghị) nhận được câu trả lời khi đã qua thời hạn hợp lí thì việc trả lời chấp nhận của D (bên chậm trả lời) làm cho lời chấp nhận giao kết trở thành lời đề nghị mới đối với bên đã đưa ra đề nghị trước đó
VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của
im lặng trong giao kết hợp đồng?
* Chấp nhận giao kết:
Trang 5- Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 quy định: “2 Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận
im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.” Như vậy, BLDS 2005 xem im lặng trong giao kết
hợp đồng là sự trả lời chấp nhận giao kết nếu
- Khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 quy định: “2 Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.” Theo BLDS 2015 trừ những trường hợp có
thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên thì sự im lặng trong giao kết hợp đồng không được coi là chấp nhận giao kết
* Thời điểm giao kết hợp đồng:
- Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 chỉ nêu trường hợp im lặng là chấp nhận đề nghị
giao kết nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, không quy định về thời gian chấp nhận giao kết
- Khoản 2 Điều 400 BLDS 2015 quy định: “2 Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.” BLDS 2015 đưa ra quy định về thời hạn của việc “im lặng là đồng ý” là thời điểm cuối cùng của thời hạn theo thỏa thuận trước đó
của các bên Việc bổ sung sửa đổi trên là hoàn toàn hợp lý, nhằm hạn chế những trường hợp phát sinh tranh chấp không đáng có từ việc im lặng
2 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?
*Khái quát nội dung của án lệ 04/2016/AL:
Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên
ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhà đất
Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là thuyết phục:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 8, Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao:
“ Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải
Trang 6được giải quyết như nhau Trường hợp áp dụng án lệ thì số bản án, quyết định của Toà án
có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ phải được viện dẫn, phân tích, làm rõ trong bản án, quyết định của Toà án; trường hợp không áp dụng án lệ thì phải phân tích, lập luận, nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Toà án.”
So sánh giữa Án lệ số 04/2016/AL với tình huống trên, ta nhận thấy giữa hai vụ việc có các tính chất, tình tiết vụ việc tương tự với nhau, cụ thể là:
Xảy ra tranh chấp do không có đủ sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu
Trong Án lệ, tài sản tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng còn tài sản tranh chấp trong tình huống trên là tài sản chung của hộ gia đình (quyền sử dụng đất là tài sản chung của bà Chu, ông Bùi và năm người con)
Trong Án lệ, nhà đất là tài sản chung của vợ chồng ông Ngự và bà Phấn mà chỉ có ông Ngự đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho ông Tiến và bà Tý, bà Phấn không ký tên trong hợp đồng Còn trong tình huống trên, bà Chu và ông Bùi chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ (gồm 7 nhân khẩu) cho ông Văn, các con của ông bà không có ý kiến đến nay mới thể hiện sự không đồng ý thông qua việc yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu
Dù không ký tên nhưng có căn cứ cho rằng đồng chủ sở hữu biết và không phản đối Bên nhận chuyển nhượng đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất công khai
Theo Án lệ thì ông Tiến, bà Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà
và cho các cháu đến ở Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người con Như vậy, có cơ sở xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ
Trong tình huống trên thì vào năm 2004, ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng nên có căn cứ cho rằng các con bà Chu ông Bùi đã biết Sau đó các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì Việc “gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì” cho thấy việc các con ông bà biết mà không phản đối dù không ký tên trong hợp đồng Như vậy, có thể hiểu rằng người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì tức là người đó đã đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất
Vì các lẽ trên nên việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là hoàn toàn hợp lý và có đầy đủ căn cứ pháp lý
VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG
THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC
Tình huống: Ông A thế chấp quyền sử dụng đất của mình cho Ngân hàng Hợp đồng
Trang 7thế chấp đã được xác lập phù hợp với quy định về hình thức, đăng ký nhưng trên đất có căn nhà thuộc sở hữu của người khác (không thuộc tài sản thế chấp) Khi có tranh chấp, Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được
1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu;
Trong thực tế cuộc sống chúng ta có thể thấy một số trường hợp tuy hợp đồng đã được ký kết nhưng việc thực hiện vẫn không thể thực hiện được do gặp phải vấn đề “hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được” Pháp luật dân sự đã có quy định riêng về vấn đề này
tại Điều 411 BLDS 2005 và Điều 408 BLDS 2015, tuy nhiên ở Điều 408 BLDS 2015 đã có một số điểm mới nhằm khắc phục hạn chế tại Điều 411 BLDS 2005, cụ thể:
- Thứ nhất, Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 đã bỏ cụm từ “vì lý do khách quan” trong Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005
Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 quy định hợp đồng có đối tượng
không thể thực hiện được “vì lý do khách quan” thì hợp đồng bị vô hiệu Nhưng thực tế cho thấy ngay cả khi hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được “vì lý do chủ quan” thì ta vẫn áp dụng điều luật này để giải quyết vụ việc
Việc khoanh vùng chỉ trong những “lý do khách quan” mới khiến hợp đồng vô hiệu là chưa đủ sức thuyết phục, bởi khi ta áp dụng đúng như luật định thì những trường hợp vì lý do chủ quan vẫn không làm cho hợp đồng vô hiệu dù thực tế là hợp đồng đó vốn không thể thực hiện
được Vậy nên Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 đã khắc phục vấn đề này
bằng cách bỏ cụm từ “vì lý do khách quan” và đây là sự thay đổi hợp lý Bởi vì dù là lý do chủ quan hay khách quan thì một hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được đều không thể hình thành, lý do chủ quan hay khách quan chỉ ảnh hưởng đến trách nhiệm phát sinh khi hợp đồng vô hiệu chứ không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng
- Thứ hai, Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 thay từ “ký kết” trong Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 bằng “giao kết”.
Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 đã sử dụng thuật ngữ “ký kết” hợp
đồng, nhưng thuật ngữ này không mang tính bao quát vì việc ký kết hợp đồng chỉ dùng cho những hợp đồng có chữ ký trong khi có nhiều hợp đồng được thực hiện mà không cần chữ ký như: hợp đồng được hình thành bằng lời nói, hợp đồng giao kết thông qua im lặng… Vậy nên việc
Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 đã thay từ “ký kết” bằng “giao kết” nhằm
bao hàm được cả những hợp đồng được xác lập mà không cần chữ ký,
Trang 8điều này cũng khắc phục được khuyết điểm của Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005.
- Thứ ba, Khoản 3 Điều 408 BLDS 2015 đã thay cụm từ “giá trị pháp lý” trong Khoản 3 Điều 411 BLDS 2005 bằng “hiệu lực”.
Hợp đồng một khi đã bị vô hiệu thì chắc chắn hợp đồng đó không còn hiệu lực pháp lý, nhưng một hợp đồng không có hiệu lực pháp lý thì chưa hẳn hợp đồng đó đã bị vô hiệu mà có thể rơi vào các trường hợp như hợp đồng chưa được ký kết hay hợp đồng đã hết hiệu lực Vậy nên việc thay thế cụm từ “hiệu lực” là phù hợp và tạo sự chắc chắn hơn so với cụm từ “giá trị pháp lý”
2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào?
Vì sao?
Hiện nay Bộ luật Dân sự 2015 vẫn chưa có quy định rõ ràng về thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào Tuy nhiên, hợp đồng dân sự là một bộ phận của giao dịch dân sự, quy định về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng cũng được áp dụng như quy định tại phần giao dịch dân sự bị vô hiệu, cụ thể là từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật Dân sự 2015
Ta thấy tại Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015: “Trường hợp ngay từ khi
giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu”, tức là hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được
sẽ bị vô hiệu ngay từ thời điểm hợp đồng được giao kết Trên thực tế trong khoảng thời gian Toà án phải tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng lại chưa thực hiện việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực Nhưng về bản chất nếu hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì việc thực hiện hợp đồng là không thể xảy ra và nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu sẽ quyết định đến thời hiệu yêu cầu Toà
án tuyên bố vô hiệu hợp đồng Từ đó có thể suy ra thời hiệu áp dụng cho việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được
là vô thời hạn Còn trong trường hợp đối tượng không thể thực hiện được trong hợp đồng có dấu hiệu gian dối thì áp dụng thời hiệu là 02 năm được
quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 132 BLDS 2015
3 Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng
không thể thực hiện được là thuyết phục Vì căn cứ theo Điều 408 BLDS
Trang 92015 quy định về hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện
được:
“1 Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu
2 Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết
về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết
về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được
3 Quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này cũng được áp dụng
đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.”
Việc có căn nhà thuộc sở hữu của người khác không thuộc tài sản thế chấp trên mảnh đất đã làm ảnh hưởng đến đối tượng thế chấp là quyền sử dụng đất dẫn đến hợp đồng thế chấp bị vô hiệu Ở tình huống này, ông A biết trên mảnh đất mà ông thế chấp có căn nhà thuộc sở hữu của người khác (không thuộc tài sản thế chấp) nhưng im lặng không thông báo cho bên Ngân hàng biết mà vẫn giao kết hợp đồng thế chấp Trong trường hợp bên Ngân hàng không biết về việc hợp đồng có đối tượng không thực hiện được thì ông A có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho bên Ngân hàng
VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG CÓ GIẢ TẠO VÀ
NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN
Tóm tắt Bản án 06/2017/DS-ST
Bản án 06/2017/DS-ST xét xử về vụ việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Trần Thị Diệp Thúy và bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh Trang
Diễn biến vụ việc: Ngày 23/11/2013, bà Thúy và bà Trang đã thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng Trong đơn
khởi kiện đầu tiên, bà Thúy khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa bà và bà Trang ngày 23/11/2013 và yêu cầu bà Trang giao cho mình quyền
sử dụng đất Đến ngày 15/11/2016, bà Thúy có thay đổi nội dung khởi kiện yêu cầu bà Trang trả lại cho bà số tiền 100.000.000 đồng (đây là số tiền bà Thúy cho bà Trang vay) và
để đảm bảo cho việc vay mượn, hai bên mới thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 23/11/2013 Sau đó bà Trang đã hứa trong vòng 6 tháng sẽ thanh toán hết số tiền trên, nhưng đến hạn bà Trang chỉ trả cho bà Thúy 5.000.000 đồng Vì vậy, bà Thúy
khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và bà
Trang 10Trang là vô hiệu vì đây là giao dịch giả tạo che dấu cho việc vay mượn và buộc bà Trang
phải trả cho bà số tiền là 95.000.000 đồng (không yêu cầu tính lãi suất).
Hướng giải quyết: Tòa án đã tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa bà và bà Trang là vô hiệu, còn giao dịch vay tài sản số tiền 100.000.000 đồng vẫn có hiệu lực, đồng thời yêu cầu bà Trang trả cho bà Thúy số tiền 95.000.000 đồng.
Tóm tắt Quyết định số 259/2014/DS-GĐT
Quyết định số 259/2014/DS-GĐT xét xử giám đốc thẩm về vụ án tranh chấp hợp
đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Võ Thị Thu và bị đơn là bà Đặng Thị Kim Anh
Diễn biến vụ việc: Năm 2009 bà Anh vay bà Thu 3 lần tiền, tổng cộng 3.600.000.000 đồng Bà Thu đòi tiền bà Anh nhiều lần, nhưng bà Anh không trả Cuối năm 2009, vợ chồng
bà Anh đề nghị cấn trừ đất ở Bình Dương cho bà Thu để trừ nợ, nhưng do vợ chồng bà Anh
đưa giá cao nên bà Thu không đồng ý Tháng 11/2009, bà Thu có đơn tố cáo vợ chồng bà Anh lừa đảo chiếm đoạt của bà 3.700.000.000 đồng Ngày 01/12/2009, bà Anh hứa đến tết
âm lịch sẽ trả bà Thu 2.000.000.000 đồng, số còn lại sẽ trả nốt sau tết âm lịch 1 tháng Tuy nhiên, ngày 14/02/2010, bà Anh mới trả bà Thu được 600.000.000 đồng Trong quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng bà Anh thừa nhận còn nợ của bà Thu 3.100.000.000 đồng, đồng
thời vợ chồng bà Anh cam kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) để trả nợ cho bà Thu, nhưng vợ chồng bà Anh không thực cam kết mà lại làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất
trên cho anh là vợ chồng ông Vượng với giá 680.000.000 đồng trong khi giá trị thực tế nhà đất là gần 5.600.000.000 đồng
Hướng giải quyết: Tòa án xác định giao dịch chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng
bà Anh với ông Vượng là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng bà Anh đối với bà Thu Trên cơ sở đó buộc vợ chồng bà Anh trả cả nợ gốc và lãi cho
bà Thu, đồng thời tuyên giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là vô hiệu và phong tỏa nhà đất của vợ chồng bà Anh để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng bà Anh đối với bà Thu
* Đối với vụ việc thứ nhất
1 Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?
- “Giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch mà trong đó việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia giao dịch” 1
1 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Việt Nam, tập 1, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội – trang 108