Tại phần nhận định của Tòa án, đoạn cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực là: “Theo quy đ
Trang 1KẾT QUẢ THẢO LUẬN MÔN:
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
NỘI DUNG:
VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (tt)
Trang 2 Vấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức
Tóm tắt Quyết định số 171/2020/DS-GĐT
Nguyên đơn là ông Phan Quý, bà Lê Thị Bích Thủy
Bị đơn là ông Lê Văn Dư, ông Lê Sĩ Thắng, ông Khâu Văn Sĩ
Vợ chồng ông Quý, bà Thủy nhận chuyển nhượng bằng giấy viết tay của ông Huỳnh Hữu Lợi 3.500m2 đất trồng Ngày 03/02/2002, ông Quý, bà Thủy lập hợp đồng bằng giấy viết tay chuyển nhượng cho ông Khâu Văn Sĩ 500m2 đất nêu trên với giá 500 triệu đồng Ông Quý, bà Thủy đã nhận đủ tiền và đã giao đất cho ông Sĩ quản lý, sử dụng Ngày 18/4/2009, ông Quý, bà Thủy ký 02 hợp đồng bằng giấy viết tay chuyển nhượng cho ông
Dư và ông Thắng mỗi người 87m2 đất Ngày 18/9/2013, ông Dư và ông Thắng lập hợp đồng bằng giấy viết tay chuyển nhượng 174m2 đất (cộng 02 phần đất trên) cho ông Sĩ Sau đó, ngày 03/11/2015, ông Sĩ lập hợp đồng bằng giấy viết tay chuyển nhượng cho ông Dư 674m2
đất (cộng 02 phần đất trên và phần đất 500m2 ông Sĩ nhận chuyển nhượng của ông Quý, bà Thủy vào năm 2002) Ông Quý và bà Thủy khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Sĩ, ông Dư, ông Thắng chưa có hiệu lực và đình chỉ hợp đồng chuyển nhượng
Hướng giải quyết: Các bên đã hoàn thành xong quá trình chuyển nhượng, Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp lệ và có hiệu lực pháp lí căn cứ theo quy định BLDS 2015
Tóm tắt Quyết định số 93/2018/DS-GĐT
Nguyên đơn là ông Võ Sĩ Mến, bà Phùng Thị Nhiễm
Bị đơn là ông Đoàn Cưu và bà Trần Thị Lắm
Diễn biến vụ việc: Tại Giấy chuyển nhượng đất thổ cư lập ngày 10/8/2009 thể hiện
vợ chồng ông Cưu, bà Lắm và con trai là Đoàn Tấn Linh thống nhất thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm một lô B (tự chọn) khi được Nhà nước giao đất, với giá chuyển nhượng là 90.000.000 đồng, diện tích là 5m x 20m Sau khi viết giấy chuyển nhượng, ông Mến và bà Nhiễm giao đủ số tiền theo thỏa thuận ban đầu, sau đó vì không có
lô B nên hai bên thống nhất ông Mến, bà Nhiễm giao thêm 30.000.000 đồng nữa để lấy lô khu A Ông Mến, bà Nhiễm tiếp tục giao thêm 20.000.000 đồng cho gia đình bị đơn (ông Cưu, bà Lắm và anh Linh đã nhận số tiền 110.000.000 đồng) Ngày 17/10/2016, ông Cưu,
bà Lắm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 03 lô đất được cấp; ngày 23/02/2017, bị đơn đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 260823 đối với thửa đất số 877, tờ bản đồ số 24 tại xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ cho ông Mến, bà Nhiễm, việc giao này có lập giấy xác nhận (bút lục 25) Ngày 18/4/2017, ông Mến và bà Nhiễm khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên lập vào
Trang 3ngày 10/8/2009 Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Cưu, bà Lắm có đơn phản tố yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 10/8/2009
vì cho rằng tại thời điểm chuyển nhượng chưa có đất và hợp đồng không được công chứng, chứng thực
Hướng giải quyết: Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy chuyển nhượng đất thổ cư) lập ngày 10/8/2009 giữa vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm với
vợ chồng ông Cưu, bà Lắm; công nhận cho ông Mến, bà Nhiễm được quyền sử dụng thửa đất số 877, tờ bản đồ số 24 tại xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; đồng thời tuyên ông Mến, bà Nhiễm được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên thửa đất mới đúng và đảm bảo cho việc thi hành án Ngoài ra, buộc ông Mến, bà Nhiễm tiếp tục giao số tiền 10.000.000 đồng còn thiếu cho ông Cưu, bà Lắm
1 Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực?
Trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được
xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực: “Ngày 03/02/2002, ký chuyển nhượng cho ông Khâu Văn Sĩ 500m2 đất với giá 500.000.000 đồng; ngày 18/4/2009, ký chuyển nhượng cho ông Lê Sĩ Thắng 87m2 đất với giá 435.000.000 đồng; ngày 18/4/2009, ký chuyển nhượng cho ông Lê Văn Dư 87m2 đất với giá 435.000.000 đồng.”
Hợp đồng chuyển nhượng chưa công chức, chứng thực: “Các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết vào năm 2002 và năm 2009 đều vi phạm điều cấm của pháp luật, cụ thể là: người sử dụng đất chưa có quyền sử dụng đất hợp pháp; diện tích đất chuyển nhượng cho ông Dư, ông Thắng không đảm bảo điều kiện tách thửa; thủ tục chuyển nhượng bằng giấy viết tay, không có công chứng, chứng thực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Theo quy định tại Khoản 3 Điều 132 BLDS 2015 thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu trong trường hợp này không bị hạn chế”.
2 Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực?
Tại phần nhận định của Tòa án, đoạn cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS
2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015
có hiệu lực là: “Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về điều khoản chuyển tiếp:
“Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung
và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này Sau khi chuyển nhượng, ông Quý, bà Thủy được cấp quyền sử dụng đất nên điều kiện về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được khắc phục Tuy nhiên, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất này đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm bắt buộc về công chứng, chứng thực.”
Trang 4[ ] Theo quy định tại khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”
Trong trường hợp không phát sinh thêm tài liệu, chứng cứ nào khác thì phải xem xét
để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo yêu cầu phản tố của ông Dư.”
3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao?
Việc tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 là hoàn toàn thuyết phục
Tòa án đã viện dẫn Điểm b Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 quy định về điều khoản chuyển tiếp:
“1 Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:
b) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung
và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này.”
Ông Lê Văn Dư, ông Lê Sĩ Thắng và ông Khâu Văn Sĩ đã thực hiện đầy đủ phần nghĩa vụ của mình, giao đủ số tiền cho ông Quý và bà Thuỷ nhận đất để sử dụng, và bên nhận chuyển nhượng cũng đã xây dựng nhà Điều đó đáp ứng được trường hợp quy định tại
Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện
ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”
Bên cạnh đó, “ hợp đồng sinh ra không để bị tuyên bố vô hiệu mà là để được thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho các bên mong muốn Do đó, cần hạn chế tối đa việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu, nhất là khi hợp đồng chỉ vi phạm về hình thức.”1
Vì thế, việc áp dụng Điều 129 BLDS 2015 là hợp lí, đảm bảo cho hợp đồng duy trì hiệu lực, quyền và nghĩa vụ của các bên được đáp ứng
4 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?
“[5] Về hình thức của hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước
ngày 01/01/2017, thời hiệu được áp dụng theo qui định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (điểm
d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 giữa vợ chồng ông Cửu, bà Lắm với ông Mến, bà Nhiễm không công chứng, chứng thực là vi phạm hình thức ”
1 Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 1), NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh, trg.932.
Trang 55 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên
bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.
Hết thời hiệu yêu cầu Tòa Án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức thì hợp đồng sẽ phát sinh hiệu lực căn cứ vào Điểm đ Khoản 1 và Khoản 2 Điều 132 BLDS năm
2015 quy định:
“1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:
đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.
2 Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.”
Hợp đồng cũng là một hình thức của giao dịch dân sự, vì thế khi hết thời hiệu yêu cầu vô hiệu về hình thức thì hợp đồng sẽ phát sinh hiệu lực
6 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực?
Đoạn [9] phần nhận định của Tòa án: “Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01/01/2017, thời hiệu được áp dụng theo qui định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 10/8/2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức Tuy nhiên, từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn khởi kiện 18/4/2017, đã quá thời hạn hai năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân
sự 2015 Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo Khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.”
7 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?
Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/08/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực hoàn toàn thuyết phục
Căn cứ vào Điểm d Khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 quy định về điều khoản chuyển tiếp:
“1 Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:
d) Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này.”
Theo đó, mặc dù hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên được xác lập trước ngày BLDS có hiệu lực (ngày 10/8/2009) nhưng vẫn sẽ áp dụng thời hiệu của BLDS năm 2015
Trang 6Căn cứ theo Khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu: "Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không
có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực." , thì khi quá
thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và không có yêu cầu tuyên bố hợp đồng
vô hiệu đối với hợp đồng vi phạm về hình thức sẽ không bị vô hiệu và hợp đồng đó vẫn có hiệu lực.Với trường hợp trong quyết định số 93, trong hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập nhưng ông Cựu, bà Lắm không có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu
Hơn nữa, ông Mến, bà Nhiễm đã nhận đất và thanh toán với số tiền 90.000.000 đồng,
và ông Cựu, bà Lắm đã giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Mến, bà Nhiễm Điều này cho thấy giao dịch chuyển quyền sử dụng đất giữa ông Cựu, bà Lăm và ông Mến, bà Nhiễm đã thực hiện xong nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau
nên theo Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu do không
tuân thủ quy định về hình thức: "Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện
ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực", khi các bên đã thực hiện ít nhất hai phần
ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó
Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng
Tình huống: Ông Minh ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Cường quyền sử dụng
một mảnh đất Hợp đồng được giao kết hợp pháp và ông Minh đã giao đất cho ông Cường nhưng ông Cường không trả tiền cho ông Minh mặc dù ông Minh đã nhiều lần nhắc nhở Nay ông Minh yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng để nhận lại đất
1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do
có vi phạm.
Giống nhau:
Về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu và huỷ bỏ hợp đồng:
- Các bên phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận Trong trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả
- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên bị thiệt hại
Khác nhau:
Cơ sở
pháp lý
Từ Điều 123 đến Điều 133, Điều 407, Điều 408 BLDS 2015
Từ Điều 423 đến Điều 428 BLDS 2015
Điều kiện Vô hiệu do không có một trong Một bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và
Trang 7các điều kiện quy định tại Điều
117 của BLDS 2015, trừ trường
hợp Bộ luật này có quy định
khác
+ Về năng lực: chủ thể phải có
đủ năng lực pháp luật dân sự và
năng lực hành vi dân sự
+ Về ý chí: sự tự nguyện của
các bên tham gia
+ Đảm bảo các điều kiện về nội
dung, hình thức và mục đích
hợp đồng
Do vi phạm điều cấm của luật,
trái đạo đức xã hội
Do giả tạo
Do người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi
dân sự, người hạn chế năng lực
hành vi dân sự xác lập, thực
hiện
Do nhầm lẫn
Do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng
ép
Do người xác lập không nhận
thức và làm chủ hành vi của
mình
Do không tuân thủ quy định về
hình thức
Do có đối tượng không thể
thực hiện được
(CSPL: Điều 122, Điều 407,
Điều 408 BLDS 2015)
không phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 423 BLDS 2015
- Một bên vi phạm hợp đồng là điều
kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận
- Một bên vi phạm nghiêm trọng
nghĩa vụ của hợp đồng
- Trường hợp khác do luật quy định.
Trang 8Tính chất
Không có hiệu lực tại thời điểm giao kết
Hợp đồng này có hiệu lực tại thời điểm giao kết nhưng vì phát sinh yếu tố dẫn đến hủy hợp đồng nên hiệu lực này không được công nhận
Thẩm
quyền
quyết định
Hợp đồng phải được Toà án hoặc Trọng tài tuyên bố là vô hiệu khi có yêu cầu
Tòa án hoặc Trọng Tài
2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ?
Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng bị vô hiệu
Tại phần “Nhận định” của Toà án: “Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu
trên là vô hiệu theo qui định tại các điều 122 của Bộ Luật dân sự nên không có căn cứ tuyên huỷ hợp đồng cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của cả nguyên và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết, không ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả theo điều 131 của Bộ Luật dân sự…”
Và tại phần “Quyết định”: “Vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 26/5/2012 giao
kết giữa công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ với ông Trương Văn Liêm”
3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng).
Hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về vô hiệu hợp đồng là thuyết phục
Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 117 BLDS năm 2015 quy định:
“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;”
Theo như hướng giải quyết của Toà thì bà Nguyễn Thị Dệt không phải là người đại diện cho Trang trí nội thất Thành Thảo mà thực chất ông Trương Hoàng Thành mới là Giám đốc đại diện của Công ty TNHH-SX-TM Thành Thảo Mặt khác, trên hợp đồng ghi đại diện bên mua là bà Dệt nhưng người đứng ra giao dịch ký kết lại là ông Trương Văn Liêm Điều này là không đúng với quy định của pháp luật và dẫn tới hợp đồng vô hiệu, từ đó ta thấy hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long là hoàn toàn hợp lý
sao?
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 131 BLDS năm 2015 quy định: “1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.”
Trang 9Căn cứ vào Khoản 1 Điều 418 BLDS năm 2015 quy định: “1 Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.” Theo đó thì phạt vi phạm hợp đồng là một trong những hình thức
chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm hợp đồng một khoản tiền nhất định do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận
Đối với hợp đồng vô hiệu, thì đã không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập Hợp đồng vô hiệu thì vốn dĩ quyền và nghĩa vụ các bên giao kết trong hợp đồng không mang tính ràng buộc nhau,và các bên không nhất thiết phải ứng xử theo hợp đồng Như vậy không thể áp dụng vi phạm hợp đồng do chế định phạt vi phạm hợp đồng chỉ xảy ra khi hợp đồng có hiệu lực pháp luật
5 Hướng giải quyết của tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Căn cứ vào đoạn 2 của phần “Nhận định” trong bản án có ghi : “Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu theo qui định tại các điều 122 của Bộ Luật dân
sự nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng cũng không xét yêu cầu vi phạm hợp đồng của
cả nguyên đơn và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên này từ thời điểm giao kết” Vậy nên, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long cho rằng hợp
đồng vô hiệu thì không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng
Hướng giải quyết trên của tòa án là hoàn toàn hợp lý vì khi hợp đồng đã bị tuyên là
vô hiệu thì đương nhiên không ràng buộc trách nhiệm của các bên giao kết căn cứ vào
Khoản 1 Điều 131 BLDS 2015:“Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập” Hợp đồng dân sự vô
hiệu thì quyền và nghĩa vụ của các bên không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Vì vậy, vấn đề phạt vi phạm của các bên không được xét đến
6 Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy
bỏ hợp đồng do có vi phạm.
Giống nhau:
- Đều có hậu quả là kết thúc việc thực hiện hợp đồng.
- Do một bên thực hiện.
- Chỉ không phải bồi thường khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp
đồng Đây cũng là điều kiện để áp dụng việc hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng
- Phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hoặc hủy bỏ, nếu không
thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
Trang 10Khác nhau:
ST
ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT
HỢP ĐỒNG
HỦY BỎ HỢP ĐỒNG
1 Cơ sở pháp lý Điều 428 BLDS 2015 Điều 423 BLDS 2015
2 Các trường hợp
- Khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng
- Do hai bên thỏa thuận
- Do pháp luật quy định
- Do chậm thực hiện nghĩa vụ
- Do không có khả năng làm
- Do tài sản bị hư hại, bị hỏng, bị mất
3 Điều kiện áp
dụng
Không bắt buộc phải có sự
vi phạm hợp đồng bởi hai bên có thể thỏa thuận hoặc
do pháp luật quy định
Phải có sự vi phạm hợp đồng và đây cũng là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng
- Hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt
- Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ nữa
- Bên thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện
(Khoản 3 Điều 428 BLDS 2015)
- Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ
đã thỏa thuận
- Hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ đi chi phí hợp lý
(Điều 427 BLDS 2015)
7 Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không?
Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 424 BLDS năm 2015 quy định: “1 Trường hợp bên có nghĩa
vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ mà bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng.”