Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không c
Trang 1KẾT QUẢ THẢO LUẬN MÔN:
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
NỘI DUNG:
NGHĨA VỤ
Trang 2MỤC LỤC
1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền? 3
2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? 3
3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định
“thực hiện công việc không có ủy quyền” 3
4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện 4
5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C
có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 5
TIỀN) 6
1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì? 6
2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 7
3 Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao? 7
4 Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao? 8
5 Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)? 8
1 Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận 10
2 Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú ? 11
3 Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển giao cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh ? 11
4 Suy nghĩ của anh chị về đánh giá trên của tòa án? 12
2
Trang 35 Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách
nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 12
6 Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết 13
7 Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền? 13
8 Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có quyền 14
9 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án 14
10 Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 15
Trang 5 VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN Tình huống: Chủ đầu tư A lập Ban quản lý dự án B để tiến hành
xây dựng một công trình công cộng Khi triển khai, B đã ký hợp đồng với nhà thầu C mà không nêu rõ trong hợp đồng B đại diện A và cũng không
có ủy quyền của A trong khi đó, theo quy định, B không được tự ký hợp đồng với C vì đây là công việc của chủ đầu tư A (thực tế Ban quản lý dự
án B không có nhiều tài sản để thanh toán cho C)
1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?
Căn cứ Điều 574 BLDS 2015 quy định về thực hiện không có uỷ quyền: “Thực hiện
công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”.
VD: Ngày 10/12/2011, A cho B vay số tiền 2.000.000 đồng và B hẹn hai ngày sau sẽ
trả lại cho A Nhưng hai ngày sau B vẫn chưa có tiền để trả cho A, C thấy vậy, đã thay B trả
lại 2.000.000 đồng cho A Như vậy, C là người thực hiện công việc không có ủy quyền còn
B là người có công việc được thực hiện
2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?
Căn cứ phát sinh nghĩa vụ là những sự kiện xảy ra trong thực tế, đã được pháp luật
dự liệu trước, thừa nhận có giá trị pháp lý và làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự Tại
Khoản 3 Điều 275 BLDS 2015 đã quy định thực hiện công việc không có uỷ quyền là một
trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ
Bởi lẽ thực hiện công việc không có ủy quyền làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự
vì đây đều là những hành động bắt nguồn từ sự giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống, một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc của người khác nhưng họ tự nguyện thực hiện công việc đó thì đương nhiên sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người có công việc được thực hiện và người thực hiện công việc Pháp luật dân sự đã có những quy định rõ về
điều kiện, nội dung thay đổi và chấm dứt thực hiện công việc không có uỷ quyền từ Điều
574 đến Điều 578 BLDS 2015 Việc quy định chế định này tạo sự ràng buộc pháp lý giữa
người thực hiện công việc không có ủy quyền và người có công việc được thực hiện; qua đó nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên liên quan
3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”
* Về khái niệm:
- Điều 594 BLDS 2005 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc
đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối” Tuy nhiên, Điều 574 BLDS 2015 đã bỏ đi chữ “hoàn toàn”
Trang 6 Thay đổi trên là hoàn toàn hợp lí vì trong thực tế, có nhiều trường hợp một người thực hiện công việc không có ủy quyền không chỉ hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện mà còn để đảm bảo cho lợi ích của bản thân
VD: A nợ B một khoản tiền nhưng đến hạn không trả, B đã đến nhà tìm A để đòi nợ nhưng không thành nên đã xảy ra xung đột, mâu thuẫn, C là bố của A vì không muốn sự việc trở phức tạp hơn và ảnh hưởng tới gia đình nên đã đứng ra trả nợ cho A
* Về nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền:
- Khoản 3 Điều 575 BLDS 2015 quy định các trường hợp người thực hiện công việc
không có ủy quyền không cần phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình
và kết quả thực hiện công việc nếu không biết “nơi cư trú” và không biết “trụ sở” của người
có công việc được thực hiện Còn Khoản 3 Điều 595 BLDS 2005 thì chỉ quy định về không
biết “nơi cư trú”
Sự bổ sung trên là hoàn toàn hợp lí vì chủ thể của luật dân sự ngoài cá nhân thì còn có pháp nhân Theo đó, với một pháp nhân thì lại không tồn tại khái niệm “nơi cư trú”
mà lại là khái niệm “trụ sở”, tức nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân đó
- Khoản 4 Điều 575 BLDS 2015 quy định rõ ràng về trường hợp người có công việc
được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa
kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận Trong khi đó, ở
khoản 4 Điều 595 BLDS 2005 thì lại không quy định đối với pháp nhân.
Sự bổ sung trên là hoàn toàn hợp lí vì chủ thể của luật dân sự không chỉ có cá nhân mà còn bao gồm pháp nhân Mà đối với pháp nhân, khái niệm “chết” không tồn tại mà thay vào đó là “chấm dứt tồn tại”
*Về chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền:
- Khoản 4 Điều 578 BLDS 2015 quy định rõ ràng một trong các trường hợp chấm dứt
thực hiện công việc không có ủy quyền là “người thực hiện công việc không có ủy quyền
chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân” trong khi Khoản 4 Điều 598
BLDS 2005 chỉ quy định: “người thực hiện công việc không có ủy quyền chết”.
Sự thay đổi này hoàn toàn hợp lí vì có bổ sung thêm quy định đối với pháp nhân Theo đó, đối với một pháp nhân thì không có khái niệm “chết” mà chỉ có “chấm dứt tồn tại”
4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.
Căn cứ Điều 574 BLDS 2015 quy định về thực hiện không có uỷ quyền: “Thực hiện
công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối” Do đó, để áp dụng chế định “thực
hiện công việc không có ủy quyền”, cần phải thỏa mãn các điều kiện sau:
6
Trang 7- Thứ nhất, người thực hiện công việc hoàn toàn tự nguyện khi thực hiện công
việc.Việc thực hiện công việc đó không phải là nghĩa vụ bắt buộc của người thực hiện công việc Về hậu quả pháp lý, họ có thực hiện hay không thực hiện công việc đó thì cũng không phải gánh chịu bất cứ chế tài nào Bởi vì, giữa người có công việc và người thực hiện công việc không có bất cứ thỏa thuận nào, đồng thời pháp luật cũng không có bất cứ quy định nào buộc một người phải thực hiện một công việc cho người khác
- Thứ hai, người thực hiện công việc không ủy quyền thực hiện công việc vì lợi ích
của người có công việc Người thực hiện công việc không ủy nếu đã thực hiện công việc phải tận tâm, tận lực, cố gắng hoàn thành công việc một cách tốt nhất, không cố ý làm trì trệ, làm sai mục đích công việc gây bất lợi cho người có công việc
- Thứ ba, người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản
đối Việc người có công việc biết mà không phản đối thì xem như đã đồng ý cho người khác thực hiện công việc của mình; việc người thực hiện công việc không có ủy quyền không có
sự thỏa thuận trước với người có công việc được thực hiện, nếu người có công việc phản đối thì người kia phải dừng lại, nếu vẫn tiếp tục thực hiện thì được xem như là vi phạm về mặt pháp lý và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
- Thứ tư, khi có công việc cần thiết, cấp bách mà theo đó, các công việc này cần phải
thực hiện ngay Nếu không được thực hiện thì người có công việc cần được thực hiện hoặc những người xung quanh sẽ phải chịu hậu quả bất lợi hơn
5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không
có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C không thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện
công việc không có ủy quyền” Vì căn cứ theo điều 574 BLDS 2015 quy định về thực hiện không có uỷ quyền: “Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có
nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”.
Như vậy, việc xây dựng của nhà thầu C đã không thỏa mãn các điều kiện xác định thực hiện công việc không có ủy quyền:
- Nhà thầu C không phải tự nguyện thực hiện việc xây dựng công trình mà thông qua hợp đồng đã thỏa thuận với B để thực hiện
- Hơn nữa, nhà thầu C thực hiện xây dựng công trình không đơn thuần chỉ vì lợi ích của chủ đầu tư A mà có thể do lợi nhuận đã thỏa thuận với B trong hợp đồng đã ký kết
Trang 8 VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN)
Tình huống: Ngày 15/11/1973, ông Quới cho bà Cô thuê nhà và
nhận tiền thế chân của bà Cô 50.000đ Nay, ông Quới yêu cầu bà Cô trả nhà Bà Cô đồng ý trả nhà và yêu cầu ông Quới hoàn trả tiền thế chân (Lưu ý: giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính Tp.HCM là 15.000đ/kg)
* Tóm tắt Quyết định số 15/2018/DS-GĐT:
Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà và
quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là cụ Ngô Quang Bảng và bị đơn là
bà Mai Thị Hương
Diễn biến vụ việc: Ngày 14/3/1963, cụ Ngô Quang Phúc được cấp
Hưng Đạo, thị trấn Quảng Yên, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh Sau khi cụ Phúc chết, ông Ngô Quang Phục được hưởng thừa kế diện tích đất trên Ngày 20/10/1982, ông Phục đã chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng cụ Ngô Quang Bảng Ngày 26/11/1991, cụ Bảng chuyển nhượng nhà, đất trên cho vợ chồng bà Mai Hương, nhưng bà Hương chưa thanh toán hết tiền nhận chuyển nhượng nhà, đất cho cụ Bảng Ngày 28/6/1996, bà Hương đã chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất trên cho vợ chồng ông Hoàng Văn Chinh, bà Phạm Thị Sáu Theo nội dung “Giấy biên nhận tiền” ngày 26/11/1991 thì cụ Bảng thỏa thuận chuyển nhượng nhà, đất cho vợ chồng bà Hương với số tiền là 5.000.000 đồng Bà Hương chỉ mới thanh toán cho cụ Bảng được 4.000.000 đồng trong tổng số 5.000.000 đồng giá trị chuyển nhượng nhà, đất; còn nợ 1.000.000 đồng tiền nhận chuyển nhượng đất
Hướng giải quyết của Tòa án:
Tòa án sơ thẩm: Buộc bà Mai Hương phải trả cho cụ Ngô Quang Bảng tổng số tiền 2.710.000 đồng, trong đó: tiền nợ gốc 1.000.000 đồng, tiền lãi 1.710.000 đồng
Tòa án phúc thẩm: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tòa án giám đốc thẩm: Căn cứ vào các giấy biên nhận nêu trên thì
bà Hương chỉ mới thanh toán được 4/5 giá trị chuyển nhượng đất cho cụ Bảng, số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất Do đó, bà Hương
8
Trang 9phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng với hướng dẫn tại điểm b2, tiểu mục 2.1, mục 2, phần II Nghị Quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
- Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như sau:
I Trường hợp đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là các khoản tiền, vàng:
1 Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương,
tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:
a) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996
và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là "giá gạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó
b) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 1-7-1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc
phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định
tại Khoản 2 Điều 313 BLDS, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định
khác
- Qua đó ta có thể thấy rằng tài sản qua trung gian được dùng để tính lại giá trị khoản
tiền phải thanh toán chính là gạo trung bình ở địa phương ở thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ
2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ
thể là 5.475.000 đồng
- Căn cứ theo Điểm a Điều 1 Mục I trường hợp đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là
các khoản tiền, vàng của Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản và các quy định liên quan khác.
Trang 10- Trong tình huống thứ nhất đã nêu, ngày phát sinh nghĩa vụ dân sự giữa ông Quới và
bà Cô là ngày 15/11/1973 tức trước ngày 1/7/1996 và thời điểm từ lúc phát sinh nghĩa vụ dân sự đến thời điểm xét xử sơ thẩm giá gạo đã tăng hơn 20% (từ 137 đồng đến 15.000 đồng)
+ Lúc này ta quy đổi số tiền 50.000 đồng bà Cô thế chân ra số gạo tại thời điểm phát
sinh nghĩa vụ dân sự Giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137đ/kg nên số lượng gạo tương
ứng là: 50.000 đồng/137 đồng xấp xỉ bằng 365 kg.
+ Sau đó tính 365kg gạo quy ra thành tiền theo giá gạo tại thời điểm bà Cô yêu cầu ông Quới hoàn trả tiền thế chân Giá gạo trung bình hiện nay là 15.000 đồng/kg nên số tiền
ông Quới cần trả là: 15.000 đồng x 365 kg= 5.475.000 đồng Vậy ông Quới phải trả cho bà
Cô là 5.475.000 đồng
3 Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?
- Thông tư trên không có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển
nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT vì thông tư này điều chỉnh
việc thanh toán tiền trong 2 trường hợp:
+ Đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là các khoản tiền, vàng
Áp dụng cho khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính
+ Đối tượng của nghĩa vụ về tài sản hiện vật
4 Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000 đồng như Tòa
án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
- Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất xác
định là 1.697.760.000 đồng của Tòa án cấp sơ thẩm, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội, khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là: 339.552.000 đồng
- Vì Trong bản án có nêu rõ “[3] Căn cứ vào các giấy biên nhận nêu trên thì bà
Hương mới chỉ thanh toán cho cụ Bằng được 4.000.000 đồng trong tổng số 5.000.000 đồng giá trị chuyển nhượng nhà, đất; còn nợ 1.000.000 đồng tiền nhận chuyển nhượng đất Như
vậy, bà Hương mới thanh toán được 4/5 giá trị chuyển nhượng đất cho cụ Bảng, số tiền còn
nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất Do đó, bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng
với hướng dẫn tại Điểm b2, tiểu mục 2.1, mục 2, phần II Nghị Quyết số 02/2004/NQ-HĐTP
ngày 10/08/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
10