- Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hợp đồng trong pháp luật Việt Nam gồm có: + Thứ nhất, có hành vi vi phạm nghĩa vụ: hành vi này có thể là hành vi vi phạm các c
Trang 1: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
NỘI DUNG:
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ, VI PHẠM HỢP ĐỒNG
Trang 2 Vấn đề 1: Bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng gây ra
Tình huống: Ông Lại (bác sỹ chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ) và bà Nguyễn
thỏa thuận phẫu thuật ngực với 4 yêu cầu: Lấy túi ngực ra, Thâu nhỏ ngực lại, Bỏ túi nhỏ vào, Không được đụng đến núm vú Ba ngày sau phẫu thuật, bà Nguyễn phát hiện thấy núm vú bên phải sưng lên, đau nhức và đen như than Qua 10 ngày, vết mổ hở hết phần vừa cắt chỉ, nhìn thấy cả túi nước đặt bên trong và ông Lại tiến hành mổ may lại Được vài ngày thì vết mổ bên tay phải chữ T lại hở một lỗ bằng ngón tay, nước dịch tuôn ướt đẫm cả người Sau đó ông Lại mổ lấy túi nước ra và may lại lỗ hổng và thực tế bà Nguyễn mất núm vú phải
1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng tồn tại khi tồn tại hợp đồng
giữa các bên với nhau và một bên không thực hiện đúng hợp đồng gây ra thiệt hại
- Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hợp đồng trong pháp
luật Việt Nam gồm có:
+ Thứ nhất, có hành vi vi phạm nghĩa vụ: hành vi này có thể là hành vi vi phạm các cam kết, các thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ nghĩa vụ cũng có thể là các hành
vi vi phạm pháp luật
+ Thứ hai, phải có thiệt hại xảy ra, nếu không có thiệt hại thì sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng bao gồm những thiệt hại về vật chất và bù đắp tổn thất về tinh thần
+ Thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ra thiệt hại và thiệt hại xảy ra Hành vi vi phạm nghĩa vụ là nguyên nhân trực tiếp, còn việc phát sinh ra thiệt hại
là kết quả khách quan, tất yếu của hành vi vi phạm nghĩa vụ
Trang 3- Những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về căn cứ phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
+ Ta thấy tại Điều 307 BLDS 2005 đề cập đến vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ dân sự Trong nội dung của điều luật chỉ đề cập đến vấn đề thiệt hại với hai loại trách nhiệm đó là trách nhiệm bồi thường về vật chất và trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần, không cho biết rõ để có trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì phải hội tụ đủ những điều nào Tuy nhiên, tại Điều 302 và 307 BLDS 2005 có thể suy luận được rằng muốn phát sinh trách nhiệm bồi thường thì thiệt hại phải xảy ra Đối
với BLDS 2015 đã bổ sung đầy đủ hơn ở Điều 360 với nội dung như sau: “Trường hợp
có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.” Tại quy định này thì
yếu tố thiệt hại đã được xác định rõ ràng qua cụm từ “có thiệt hại” Xét thấy Điều 360 BLDS 2015 được nêu rõ hơn BLDS 2015 ở cụm từ “có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra” Do vậy, “[ ] Hướng sửa đổi đối với vấn đề vừa nêu trong BLDS 2015 là thuyết phục
và sẽ là cơ sở pháp lý rõ ràng để Tòa án áp dụng giải quyết tranh chấp trong thực tiễn xét
xử về nguyên tắc bồi thường thiệt hại.”1
+ Các loại thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng cũng được xác định cụ thể, đầy đủ và rõ ràng, hợp lý hơn so với BLDS 2005, cụ thể tại Điều
419 BLDS 2015
+ Việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên vi phạm có lỗi, đây được xem là quy định có nhiều điểm mới của BLDS 2015 thể hiện sự tiến bộ về tư duy lập pháp của các nhà làm luật Những quy định trong BLDS 2005 chỉ thể hiện được nội dung: bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền, BLDS 2015 đã bổ sung Điều 363 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại xảy ra do một phần lỗi
của bên quy phạm như sau: “Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức
độ lỗi của mình” Quy định này cũng là hệ quả của việc không thực hiện nghĩa vụ ngăn
1 Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ hai), phần số 273.
Trang 4chặn, hạn chế thiệt hại theo quy định tại Điều 362 BLDS 2015 của bên có quyền, đồng thời quy định này phù hợp với thực tiễn cũng như nguyên tắc tự chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 5 Điều 3 BLDS 2015
2 Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn không? Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn
đã hội đủ chưa? Vì sao?
- Căn cứ theo khoản 3 Điều 33 BLDS 2015 quy định như sau: “Việc gây mê, mổ,
cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người; thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người; thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý của người đó và phải được
tổ chức có thẩm quyền thực hiện.” Theo như tình huống trên, khi ông Lại phẫu thuật cho
bà Nguyễn đã có sự đồng ý của bà và làm theo ý muốn của bà Chính vì thế không có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn đã hội đủ.
Trong tình huống trên ta thấy ông Lại đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, tại hợp đồng thỏa thuận giữa ông Lại và bà Nguyễn có tồn tại những yêu cầu và trong đó có một yêu cầu rằng “không được động đến núm vú” Tuy nhiên, sau khi tiến hành phẫu thuật thì núm của bà Nguyễn phải chịu ảnh hưởng nhiều nhất 3 ngày sau phẩu thuật thì núm bên phải của bà bị đau nhức, sưng lên và đen như than Qua 10 ngày, vết mổ hở hết phần vừa cắt chỉ và ông Lại phải tiến hành mổ may lại Được vài ngày thì vết mổ lại hở một lỗ bằng ngón tay và sau đó ông Lại mổ lấy túi nước ra và may lại lỗ hổng và thực tế
bà Nguyễn mất núm vú phải Theo Điều 360 BLDS 2015: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Như vậy, đã có đủ căn cứ để nói
rằng ông Lai phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn
3 Theo quy định hiện hành, những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng gây ra được bồi thường? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Những thiệt hại vật chất do vi phạm hợp đồng gây ra được bồi thường bao gồm:
tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại hay thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút
Trang 5- Cơ sở pháp lý là: Theo khoản 2 Điều 361 BLDS 2015 quy định: “Thiệt hại về
vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.” Tài sản có thể là tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
4 BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do
vi phạm hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
- BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi
phạm hợp đồng
- Các cơ sở pháp lý là:
+ Khoản 3 Điều 361 BLDS 2015 quy định: “Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể”
+ Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
+ Theo khoản 3 Điều 419 quy định: “Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”.
5 Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất về tinh thần không? Vì sao? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất về tinh thần.
- Theo khoản 1 và khoản 3 Điều 361 và khoản 3 Điều 419 BLDS 2015, bà
Nguyễn sau khi được ông Lại làm phẫu thuật thẩm mỹ đã xảy ra nhiều vấn đề như sau: ông Lại đã vi phạm yêu cầu của bà Nguyễn được ghi trong hợp đồng phẫu thuật thẩm
mỹ, làm mất núm vú phải của bà, bị hở vết mổ bằng ngón tay, thấy cả túi nước bên trong, phải tiến hành mổ may lại, ảnh hưởng đến sức khỏe, thân thể của bà Nguyễn
Trang 6Vì những lẽ trên bà Nguyễn sẽ được bồi thường tổn thất về tinh thần nếu như có yêu cầu
Vấn đề 2: Phạt vi phạm hợp đồng
*Tóm tắt bản án số 121/2011/KDTM-PT ngày 26/12/2011 của Tòa án nhân dân TP.HCM
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Tân Việt
- Bị đơn: Công ty TNHH Tường Long
- Nội dung vụ án: công ty Tân Việt và công ty Tường Long có ký kết Hợp đồng
kinh tế số 01-10/TL-TV ngày 01/10/2010 và phụ lục hợp đồng ngày 7/10/2010 với nội dung cụ thể về đơn giá, số lượng, thời hạn giao hàng và phương thức thanh toán Tuy nhiên, sau khi thanh toán đợt 1, công ty Tường Long có công văn yêu cầu thay đổi đơn giá nhưng công ty Tân Việt không đồng ý Ngày 3/12/2010, công ty Tường Long có thông báo về việc hủy bỏ hợp đồng và phụ lục hợp đồng Vì cho rằng công ty Tường Long đã tự ý hủy bỏ hợp đồng và phụ lục hợp đồng nên công ty Tân Việt đã khởi kiện yêu cầu công ty Tường Long phải thanh toán 509.769.640 đồng bao gồm tiền phạt cọc và tiền phạt hợp đồng
- Hướng giải quyết của Tòa án: Tại bản án sơ thẩm, tòa chấp nhận một phần
yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền phạt do hủy bỏ hợp đồng
và bác yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền phạt cọc Tại bản án phúc thẩm, Tòa không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của công ty Tân Việt và giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm
*Tóm tắt Quyết định số 10/2020/KDTM-GĐT ngày 14/08/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Yến Sào Sài Gòn
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Yến Việt
- Nội dung vụ án: Tháng 10/2010, công ty Yến Sào và công ty Yến Việt ký Hợp
đồng nguyên tắc số 02/HĐNT về việc “Phân phối độc quyền ra phía Bắc”, Theo đó, công
ty Yến Việt đồng ý cho công ty Yến Sào là nhà phân phối độc quyền trong thời hạn 10 năm đối với sản phẩm từ yến mang nhãn hiệu Yến Việt tại khu vực phía Băc từ Nghệ An trở ra Tuy nhiên sau đó công ty Yến Việt đã thành lập chi nhánh tại Hà Nội và thiết lập các cửa hàng để phân phối sản phẩm trên thị trường phía Bắc mà không trao đổi với công
Trang 7ty Yến Sào, vi phạm hợp đồng số 02 và gây thiệt hại nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Yến Sào Vì vậy công ty Yến Sào đề nghị Tòa án buộc công
ty Yến Việt bồi thường 10.000.000.000 đồng (do vi phạm Hợp đồng số 02/HĐNT), yêu cầu công ty Yến Việt chấm dứt hoạt động phân phối các sản phẩm từ yến mang nhãn hiệu Yến Việt tại thị trường phía Bắc
- Hướng giải quyết của Tòa án: hủy Quyết định giám đốc thẩm số
12/2019/KDTM-GĐT, hủy bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 01/2017/DSPT
và bản án sơ thẩm số 06/KDTM-ST Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm
1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về phạt vi phạm hợp đồng
- Khoản 2 Điều 422 BLDS 2005 quy định: “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận”, trong khi đó Điều 301 Luật thương mại quy định: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại điều 266 của Luật này” Chính vì thế, khoản 2 Điều 418 BLDS 2015 bổ sung thêm cụm từ “trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác” Theo quy định của BLDS 2005, mức phạt vi phạm do các bên tự thỏa thuận xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận theo quy định luật dân sự Tuy nhiên mức phạt được pháp luật thương mại điều chỉnh thì bị hạn chế ở mức 8% Do đó, cần phải phân biệt được các quan hệ do pháp luật dân sự hay pháp luật thương mại điều chỉnh Theo pháp luật thương mại dù thiệt hại thực tế có lớn hơn mức phạt thì bên vi phạm phải chịu tối đa mức phạt trong thỏa thuận nhưng phải phù hợp theo pháp luật Như vậy sự bổ sung của BLDS 2015 đã giúp cho các bên trong chừng mực nào đó có thể tự do định đoạt mức phạt vi phạm hợp đồng
- Mặt khác, mối quan hệ về chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cũng không có sự thống nhất giữa luật dân sự và luật thương mại Khoản 2 Điều 422 BLDS
2005 quy định: “Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt” Trong khi khoản 1 Điều 307 Luật thương mại quy định: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị
vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp luật này có quy định khác.” BLDS 2015 đã bổ sung để thống nhất với Luật thương mại bằng cách thay một phần nội dung của khoản 3 Điều 418 “Trường hợp các bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt
Trang 8hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm" Trong hợp đồng giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có mối quan hệ cụ thể Pháp luật dân sự tôn trọng sự thể hiện ý chí của các bên, hai chế tài này sẽ được áp dụng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận Quy định mới tránh trường hợp trên hợp đồng không thỏa thuận nhưng lại yêu cầu bồi thường thiệt hại
* Đối với vụ việc thứ nhất
2 Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng
- Về đối tượng: là một khoản tiền mà buộc phải nộp cho một bên trong hợp đồng
- Về hình thức: đều được lập thành văn bản
- Về hậu quả pháp lý: bên vi phạm (bên đặt cọc) bị mất một khoản tiền và không căn cứ vào thiệt hại thực tế
3 Khoản tiền trả trước 30% được Toà án xác định là tiền đặt cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng
- Trong bản án số 121/2011/KDTM-PT ngày 26/12/2011 Toà án xác định khoản tiền trả trước 30% là tiền đặt cọc
- Đoạn trong bản án cho thấy: “Xét thấy, theo khoản 3 Điều 4 Hợp đồng kinh tế 01/10/TL-TV ngày 01/10/2010 các bên đã thỏa thuận: Ngay sau khi kí hợp đồng, bên mua (công ty Tân Việt) phải thanh toán trước cho bên bán (công ty Tường Long) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, 40% giá trị đơn hàng thanh toán ngay sau khi bên công ty Tường Long giao hàng hoàn tất, 30% còn lại sẽ thanh toán trong vòng 30 ngày
kể từ ngày thanh toán cuối cùng Do vậy, số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000 đồng) được xác định là tiền đặt cọc.”
4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%?
- Cách giải quyết của Tòa án là chưa hợp lý và thiếu thống nhất
- Về khoản tiền trả trước 30%, Tòa án đã xác định đây là tiền đặt cọc dựa trên khoản 7 Điều 292 Luật thương mại và Điều 358 BLDS Khoản tiền này dùng để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, sau đó Tòa án lại nhận định rằng phía bị đơn đã không từ chối thực hiện hợp đồng mà hai bên đã đi vào thực hiện hợp đồng cho nên khoản tiền 30% được xác định là khoản tiền dùng để thanh toán đợt giao hàng lần thứ nhất Theo hai bên thỏa thuận thì sau khi kí hợp đồng, công ty Tân Việt (bên mua) phải thanh toán trước cho công ty Tường Long (bên bán) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 358 BLDS 2005 số tiền 30% thuộc về bên bán
Trang 9khi bên mua từ chối thực hiện hợp đồng nhưng trên thực tế thì hai bên đã đi vào thực hiện hợp đồng nên khoản tiền trên phải được trả lại cho bên mua chứ không được dùng vào việc thanh toán cho giá trị đơn hàng thứ nhất
- Do đó, cách giải quyết nhiều mâu thuẫn như trên của Tòa án đã khiến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không được đảm bảo
*Đối với vụ việc thứ hai
5 Cho biết điểm giống và khác nhau giữa thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng và thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
*Điểm giống:
- Là biện pháp chế tài mà luật dân sự quy định để áp dụng cho các trường hợp vi phạm hợp đồng
- Cơ sở để áp dụng hai biện pháp này là phải có hành vi vi phạm hợp đồng trên thực tế và phải có lỗi của các vi phạm
- Áp dụng với các hợp đồng có hiệu lực
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm
*Điểm khác:
Thỏa thuận phạt vi phạm
hợp đồng
Thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng
Cơ sở pháp
lý
Điều 418 Bộ luật Dân sự
2015, Điều 300, 301 Luật Thương mại 2005
Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 10Khái niệm
Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị
vi phạm nghĩa vụ
Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều
13 và Điều 360 của Bộ luật này
- Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015 quy định
về bồi thường thiệt hại như sau: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc luật có quy định khác.”
- Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015 quy
định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ như sau:
“Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trong trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật quy định khác.”
Đặc điểm
Các bên có thể thỏa thuận
về việc bên vi phạm nghĩa
vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại
Bên bị vi phạm chỉ được phạt bên vi phạm khi có thỏa thuận trong hợp đồng
Các chủ thể chỉ được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong phạm vi luật định Được bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có thỏa thuận