Buổi thảo luận thứ bảy BTTHNHĐ (phần cụ thể) Làm việc nhóm, có thảo luận trên lớp với giảng viên về kết quả chuẩn bị ở nhà Vấn đề 1 Bồi thường thiệt hại do con chưa thành n.Bị cáo Cao Chí Hùng lái xe khách đi lấn chiếm làn đường gây tai nạn khiến cho anh Trần Ngọc Hải điều khiển xe môtô chết tại chỗ. Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 07092009, bị đơn dân sự Công ty TNHH Hoàng Long không đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại, anh Cao Chí Hùng kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt, chị Nguyễn Thị Thu Thủy yêu cầu tăng hình phạt và không nhận tiền trợ cấp hàng tháng. Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, Tòa chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn dân sự, điều chỉnh hình phạt và giữ nguyên quyết định bồi thường thiệt hại.
Trang 1Buổi thảo luận thứ bảy: BTTHNHĐ (phần cụ thể)
Làm việc nhóm, có thảo luận trên lớp với giảng viên về kết quả chuẩn bị ở
nhà
***************************
Vấn đề 1: Bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra
Tình huống:
Vào lúc 16 tuổi, Hùng đã đánh anh Bình bị thương (tổng thiệt hại là 10 triệu đồng), lấy của anh Bình một đồng hồ (bán cho người đi đường được 2 triệu đồng)
và một xe đạp hiện đang gửi nhà một người bạn Sau khi bị bắt, Hùng khai là có ăn trộm một số đồ vật của những người trong chợ và bán được 7 triệu đồng Hiện nay, Hùng không có bất kỳ tài sản nào
Tóm tắt Bản án số 19/2012/DSST ngày 12/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Cưm’Gar tỉnh Đắk Lắk.
Cháu Mai Công Hậu điều khiển xe đâm vào bà Nguyễn Thị Nam (nguyên đơn), gây thương tích cho bà Nam Vào thời điểm gây tai nạn Hậu chưa đủ 16 tuổi, là người chưa thành niên và không có tài sản riêng nên Tòa án buộc bố mẹ của Hậu là ông Mai Văn Thụ và bà Nguyễn Thị Thêm (bị đơn) bồi thường cho bà Nam Bà Thêm và ông Thụ đã ly hôn, Hậu hiện đang được ông Thụ trực tiếp nuôi dưỡng nên
bà giải thích không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nam đối với hành vi
mà Hậu gây ra Quyết định của Tòa bác bỏ lời giải thích của bà Thêm và cho rằng ông Thụ và bà ly hôn không làm chấm dứt nghĩa vụ của cha mẹ đối với con Chính
vì vậy, bà Thêm và ông Thụ phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bà Nam
Câu 1: Khi nào cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Căn cứ khoản 2 Điều 586 BLDS 2015:
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Trang 2Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- Như vậy, cha mẹ phải bồi thường thiệt hại cho con chưa thành niên gây ra khi người dưới 15 tuổi gây thiệt hại, còn đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì cha mẹ phải bồi thường khi người đó chưa đủ tài sản để bồi thường cho người bị thiệt hại
Đối với tình huống
Câu 1: Tòa án có thể buộc cha mẹ của Hùng bồi thường cho anh Bình thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Hùng thực hiện hành vi đánh anh Bình bị thương là xâm phạm đến sức khỏe của anh Bình nên Hùng phải bồi thường thiệt hại cho anh Bình 10.000.000 đồng theo
khoản 1 Điều 584 BLDS 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
- Căn cứ khoản 2 Điều 586 BLDS 2015 quy định:
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường Tòan bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- Tại thời điểm trong vụ án Hùng 16 tuổi và không có bất kì tài sản nào nên cha, mẹ Hùng phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Bình đối với hành
vi đánh anh Bình của Hùng, con trai ông Thụ và bà Thêm đã gây ra cho anh Bình
Trang 3Câu 2: Tòa án có thể buộc cha mẹ Hùng bồi thường cho anh Bình giá trị chiếc đồng hồ và chiếc xe đạp không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho biết hướng giải quyết trong thực tiễn xét xử đối với hoàn cảnh tương tự.
- Tòa án có thể buộc cha mẹ Hùng bồi thường cho anh Bình giá trị chiếc đồng hồ và
chiếc xe đạp CSPL: đoạn 2 khoản 2 Điều 586 BLDS 2015 “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”
- Trong thực tiễn xét xử đã có hoàn cảnh tương tự: “Quyết định số 04/HĐTP-HS ngày 23-2-2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về vụ án Võ Tiến Hùng phạm các tội "trốn khỏi nơi giam"; "trộm cắp tài sản của công dân”
Võ Tiến Hùng đã gây ra 10 vụ trộm cắp, trong đó có 2 vụ trộm cắp tài sản Giá trị tài sản của công dân bị chiếm đoạt trên 28 triệu đồng, tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt là 2.700.00đ Những tài sản có giá trị bao gồm: 2 xe máy, 1 đầu video, 4 điện thoại bàn , Hùng bán cho Phương ở 72 Bà Triệu, thành phố Huế và một số nơi khác được 7.570.000đ Tại bản án sơ thẩm số 04/HSST ngày 23-2-1995 TAND tỉnh Quảng Trị đã buộc ông Xuất, bà Xuân phải nộp số tiền 7.570.000đ mà Hùng thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước Tuy nhiên, tại bản án phúc thẩm số 265/HSPT ngày 6-6-1995, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đã nêu:
“Hùng khi phạm tội và khi xét xử chưa đủ 18 tuổi và không có tài sản riêng nên buộc bố mẹ bị cáo bồi thường cho những người bị hại là đúng Tuy nhiên, Tòa án các cấp buộc bố mẹ bị cáo phải nộp số tiền 7.570.000đ do bị cáo chiếm hưởng từ việc bán tài sản trộm cắp được là không đúng với quy định của pháp luật dân sự” Cho nên, ông Xuất bà Xuân không phải nộp 7.570.000đ (là số tiền Hùng thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước)
Câu 3: Tòa án có thể buộc cha mẹ Hùng nộp ngân sách nhà nước khoản tiền 7 triệu đồng mà Hùng có được do lấy trộm tài sản trong chợ không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho biết hướng giải quyết trong thực tiễn xét xử đối với hoàn cảnh tương tự.
- Đối với tình huống trên thì Tòa có thể buộc cha mẹ Hùng nộp ngân sách nhà nước khoản tiền 7 triệu đồng mà Hùng có được do lấy trộm tài sản trong chợ Vì trong
Trang 4trường hợp này Hùng là người chưa thành niên (16 tuổi) và không có đủ tài sản để bồi thường, theo khoản 2 Điều 586 BLDS 2015 thì:
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường Tòan bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình
- Do đó cha, mẹ của Hùng sẽ là người bồi thường thiệt hại là 7 triệu do Hùng lấy trộm ở chợ và Tòa có đủ cơ sở để buộc cha, mẹ Hùng là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trong thực tiễn xét xử thì Điều 586 đã được Tòa áp dụng rất nhiều lần, chẳng hạn
như ở “Bản án 246/2018/DS-PT ngày 09/07/2018 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang”
- Cháu T và cháu Lê Nguyễn Anh D học cùng lớp 9 do có mâu thuẫn trước đó nên sáng ngày 10/10/2016, khi cháu T đang ngồi trong lớp thì bị cháu D dùng tay đánh vào mặt, mũi của cháu T làm cháu T bị nứt xương mũi, gây rối loạn thần kinh phải
bỏ hẳn việc học Và bên bị thiệt hại yêu cầu bồi thường Cuối cùng Tòa áp dụng Điều 586 để Buộc bà T là đại diện theo pháp luật của D có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông T là đại diện theo pháp luật của cháu T, thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật
Câu 4: Tòa án có thể buộc Hùng và cha mẹ cùng bồi thường cho anh Bình không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho biết hướng giải quyết trong thực tiễn xét xử.
- Tòa án không thể buộc Hùng và cha mẹ cùng bồi thường cho anh Bình vì căn cứ theo Khoản 2, Điều 586 BLDS 2015:
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường Tòan bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này
Trang 5Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- Áp dụng vào tình hình huống trên thì Hùng mới 16 tuổi hiện nay chưa có bất kì tài sản nào nhưng gây thiệt hại Chính vì thế, Tòa án phải buộc cha mẹ Hùng bồi thường thiệt hại cho người bị hại
- Hướng giải quyết trong thực tiễn xét xử theo Bản án số 19/2012/DSST ngày 12/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Cưm’Gar tỉnh Đắk Lắk Theo nội dung quyết định của Tòa án trong bản án: “Vào thời điểm gây ra tai nạn cháu Hậu chưa đủ 16 tuổi là người chưa thành niên và không có tài sản riêng nên cần buộc cha mẹ cháu Hậu là người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị Thêm và ông Mai Văn Thụ bồi thường cho bà Nam là phù hợp với quy định tại Khoản 2, Điều 606 BLDS 2005” (khoản 2 Điều 586 BLDS 2015)
Đối với Bản án số 19
Câu 1: Theo Tòa án, cha mẹ ly hôn có ảnh hưởng tới việc xác định người phải chịu trách nhiệm bồi thường không? Cuối cùng, Tòa án đã buộc ai phải bồi thường thiệt hại.
- Theo Tòa án, việc ly hôn của cha mẹ cháu Hậu không gây ảnh hưởng đến việc xác định người phải chịu trách nhiệm bồi thường Vì việc ly hôn không làm chấm dứt nghĩa vụ của ông Thụ, bà Thêm đối với cháu Hậu Tòa án nhận xét: “lập luận của bà Thêm là không được chấp nhận vì việc ly hôn giữa hai vợ chồng không làm chấm dứt nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung”
- Đến cuối cùng, Tòa án buộc ông Mai Văn Thụ phải bồi thường 21.438.500đ; bà Nguyễn Thị Thêm phải bồi thường số tiền là 18.438.500đ Với tổng số tiền 42.877.000đ được chia làm hai phần như trên
Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án (từ góc độ văn bản cũng như so sánh pháp luật).
- CSPL: khoản 2 Điều 586 BLDS 2015 quy định:
“Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”.
Trang 6Căn cứ khoản 1 Điều 21 BLDS 2015 “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” thì trong bản án số 19 vào thời điểm Hậu gây tai nạn là người thành
niên (chưa đủ 16 tuổi)
- Xét theo bản án số 19, Tòa án nhận định vào thời điểm Hậu đâm xe vào bà Nam chưa đủ tuổi thành niên (chưa đủ 16 tuổi) và không có bất kì tài sản nào để bồi thường cho người bị hại Vì vậy, việc yêu cầu ông Thụ và bà Thêm liên đới bồi thường cho bà Nam là phù hợp với quy định của pháp luật
- Hướng giải quyết của Tòa như vậy sẽ đảm bảo được quyền lợi mà bên bị hại đáng được nhận (bà Nam) Mặc dù, Hậu chưa là người thành niên và không có tài sản bồi thường nhưng bà Nam có quyền yêu cầu cha mẹ của Hậu liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà
- Theo Điều74 Bồi thường thiệt hại do con gây ra được quy định trong Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014: “Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự”.
CSPL: Điều 288 Thực hiện nghĩa vụ liên đới BLDS 2015 quy định:
1 Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện Tòan bộ nghĩa vụ.
3 Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện Tòan bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.
- Căn cứ vào Điều 74 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 1, 3 Điều 288 BLDS 2015 thì cha, mẹ có nghĩa vụ liên đới BTTH do con mình gây ra cho người khác Nếu người con chưa đủ tuổi thành niên và nằm trong các trường hợp mà Điều
586 BLDS 2015 đã quy định Bà Nam có quyền yêu cầu cha, mẹ Hậu liên đới chịu trách nhiệm BTTH
- Từ các CSPL đã nêu ở trên thì hướng giải quyết của Tòa là hợp lý và đúng với quy định của pháp luật
Vấn đề 2: Bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra
Tóm tắt Bản án số 285/2009/HSPT ngày 23/12/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Trang 7Bị cáo Cao Chí Hùng lái xe khách đi lấn chiếm làn đường gây tai nạn khiến cho anh Trần Ngọc Hải điều khiển xe mô-tô chết tại chỗ Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 07/09/2009, bị đơn dân sự Công ty TNHH Hoàng Long không đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại, anh Cao Chí Hùng kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt, chị Nguyễn Thị Thu Thủy yêu cầu tăng hình phạt và không nhận tiền trợ cấp hàng tháng Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, Tòa chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của người
bị hại, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn dân sự, điều chỉnh hình phạt
và giữ nguyên quyết định bồi thường thiệt hại
Tóm tắt Bản án số 05/2019/DS-PT ngày 16/1/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Ông A là chủ tàu ông B và ông C là người làm công Ngày 21/09/2016 ông C tự
ý cắt sắt để làm bàn trên tàu để cho ông A thờ cúng Trong quá trình thực hiện công việc thì có tia lửa văng xuống thùng sơn làm cháy thùng sơn gây bỏng cho ông C đang làm việc Tòa đã yêu cầu bồi thường thiệt hại là 165.647.678đ số tiền đã được ông A bồi thường thiệt hại cho ông C trước đó nay Tòa án đã dành quyền khởi kiện cho ông A và yêu cầu ông B hoàn trả cho ông A
Câu 1: Vì sao đã có quy định của Điều 584 mà BLDS 2015 còn có thêm quy định của Điều 600?
- Dựa vào Điều 584 ta thấy đây là điều luật mang tính quy định chung về tất cả các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trong đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm, xâm hại tới các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của một chủ thể khác, buộc người này phải gánh chịu một hậu quả bất lợi do hành
vi trái pháp luật của mình gây ra Còn Điều 600 ta thấy đây chỉ là một điều luật cụ thể quy định về trường hợp riêng do một đối tượng cụ thể gây ra đó là người làm công, người học nghề gây ra Khi tìm hiểu quy định tại khoản 1 Điều 584 ta chỉ thấy
nó quy định rất chung:
- “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Các
quy định này là liệt kê ra các trường hợp mà một người khi vi phạm có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại Căn cứ khoản 2 Điều này ta thấy người vi phạm không
Trang 8phải bồi thường do có sự kiện bất khả kháng hoặc lỗi hoàn toàn thuộc về bên kia trừ trường hợp luật có quy định khác hoặc có thỏa thuận Như vậy, có thể thấy nếu chỉ căn cứ vào Điều 584 ta sẽ có cái nhìn chung nhất về các căn cứ phát sinh và loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, trên thực tế việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì đa dạng có thể chia làm 2 loại do người gây ra hoặc do tài sản gây ra Chính vì thế, nếu chỉ dựa vào quy định chung thì rất khó áp dụng vào các tình huống cụ thể gây khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật của các chủ mang quyền lực nhà nước và quá trình thực hiện pháp luật của cá nhân Vì thế, cần có những cơ sở để cụ thể hóa dựa trên cơ sở những quy định chung Điều
600 là một trong những Điều luật đã cụ thể hóa các quy định tại Điều 584 và Điều
600 đã quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người làm công, người học nghề gây ra Khi căn cứ vào điều luật này được vận dụng trên thực tiễn chủ thể vừa vận dụng quy định chung như đã phân tích ở trên vừa vận dụng các quy định cụ thể như khi có thiệt hại trên thực tế do người làm công, người học nghề gây ra thì cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, có thể yêu cầu hai đối tượng trên bồi thường thiệt hại Như vậy, có thêm Điều 600 là để cụ thể hóa Điều 584 làm cho trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu rõ ràng hơn trong những tình huống cụ thể
* Đối với Bản án số 285
Câu 1: Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra?
- Đoạn của bản án cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại
do người làm công gây ra là đoạn 3 trong phần xét thấy: “Bị cáo là người lái xe thuê cho công ty TNHH vận tải Hoàng Long, nên theo quy định tại Điều 622 và Điều
623 của Bộ luật dân sự thì Công ty TNHH vận tải Hoàng Long phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cao Chí Hùng gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu Cao Chí Hùng là người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền theo quy định của pháp luật Do đó yêu cầu không phải bồi thường cho người bị hại của Công ty TNHH vận tải Hoàng Long là không phù hợp với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.”
- Và đoạn về bồi thường dân sự thuộc phần Quyết định: “Áp dụng Điều 42 của BLHS; các Điều 610, 612, 622, 623 của Bộ luật dân sự [ ]
Trang 9Câu 2: Trên cơ sở Điều 600, cho biết các điều kiện để áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra
- Điều 600 BLDS 2015 quy định “Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và
có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”.
- Từ đây chúng ta có thể thấy các điều kiện để áp dụng điều luật này là:
+ Hành vi này không nằm trong hợp đồng giữa các bên
+ Hành vi gây thiệt hại và cần bồi thường của người làm công phải diễn ra khi đang thực hiện công việc được giao Hành vi gây thiệt hại đó phải diễn ra trong lúc làm việc cho người chủ thì mới có thể áp dụng điều luật này để yêu cầu người chủ của người làm công yêu cầu bồi thường
+ Hành vi gây thiệt hại và cần bồi thường của người làm công là hành vi có lỗi, với quy định này thì không chỉ chủ thể bị thiệt hại yêu cầu bồi thường mà chủ của người làm công cũng có quyền yêu cầu người làm công của mình phải hoàn trả một khoản tiền thiệt hại do lỗi của người làm công đó gây ra
Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án vận dụng Điều 622 BLDS 2005 (nay là Điều 600 BLDS 2015) để buộc Công ty Hoàng Long bồi thường (đánh giá từng điều kiện nêu ở câu hỏi trên đối với vụ việc được bình luận).
- Việc tòa án vận dụng điều 622 để buộc công ty Hoàng Long bồi thường là hợp lý
- Vì đã dựa vào các điều kiện sau của Điều 622 để áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra:
Điều 622 BLDS 2005: Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề
gây ra.“Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”
+ Thứ nhất: - Chủ thể gây thiệt hại là do người làm công và trong khi thực hiện công việc được giao – anh Hùng là người lái xe thuê cho Công ty TNHH vận tải Hoàng Long Trong khi gây ra thiệt hại đến tính mạng của anh Trần Ngọc Hải thì Hùng đang trong thời gian công việc được giao là điều khiển xe ô tô khách BKS: 16L - 3411 của Công ty TNHH vận tải Hoàng Long chở khách đi từ Hải Phòng đến TP.Hồ Chí Minh
Trang 10+ Thứ hai: Người bồi thường thiệt hại là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác khi người làm công của các chủ thể này gây ra thiệt hại Trong vụ việc trên thì chủ thể bồi thường thiệt hại do anh Hùng gây ra là Công ty TNHH vận tải Hoàng Long
+ Thứ ba: Có thiệt hại xảy ra Để áp dụng Điều 622 thì điều kiện thứ ba là phải có thiệt hại phát sinh “trong khi thực hiện công việc được giao” Thiệt hại trong vụ việc trên là làm anh Trần Ngọc Hải chết ngay tại chỗ
Câu 4: Nếu ông Hùng không làm việc cho Công ty Hoàng Long và xe là của ông Hùng thì ông Hùng có phải bồi thường không? Vì sao?
- Nếu ông Hùng không làm việc cho Công ty Hoàng Long và xe là của ông Hùng thì ông Hùng phải bồi thường thiệt hại gây ra cho anh Hải Căn cứ khoản 1 Điều
584 BLDS năm 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, ông Hùng là người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của anh Hải thì
phải bồi thường
Câu 5: Đoạn nào của bản án cho thấy, theo Tòa án, ông Hùng không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bị thiệt hại?
- Đoạn về bồi thường dân sự trong quyết định của Tòa án: “ Áp dụng Điều 42 của BLHS; các Điều 610, 612, 622, 623 của Bộ luật dân sự
- Buộc Công ty TNHH vận tải Hoàng Long phải có nghĩa vụ bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu Thủy (Đại diện hợp pháp của người bị hại Trần Ngọc Hải): 20.500.000đ ngoài số tiền 40.000.000đ đã bồi thường trước [ ]
- Và đoạn 3 trong phần xét thấy: “Bị cáo là người lái xe thuê cho Công ty TNHH vận tải Hoàng Long, nên theo quy định [ ] nên không được chấp nhận”
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến trách nhiệm của ông Hùng đối với người bị thiệt hại.
Việc Tòa án giải quyết theo hướng ông Hùng không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho gia đình nạn nhân, thay vào đó Công ty Hoàng Long có trách nhiệm bồi thường là hợp lý Vì trong bản án, ông Hùng chỉ là người làm cho Công ty Hoàng Long (ở đây là mối quan hệ mệnh lệnh), ông điều khiển xe chở khách là đang thực hiện công việc vì lợi ích của Công ty, nhân danh công ty nên công ty có trách nhiệm