Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng thỏa thuận về giải quyết tranh chấp và Tòa án đã xét rằng: 1 bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA HÌNH SỰ
BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ 2 LẦN 2:
HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
CHỦ ĐỀ: GIAO KẾT HỢP ĐỒNG GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: LÊ THỊ HỒNG VÂN
TÊN THÀNH VIÊN
LỚP: HS46A2 – NHÓM 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 9/2022
Trang 2MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 1
Tình huống: 1
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên 1
VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 2
Tình huống: 2
Tóm tắt Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao - Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26-4-1996: 2
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng? .3 Câu 2: Quy định về vai trò của im lặng trong giao kết hợp trong một hệ thống pháp luật nước ngoài 3
Câu 3: Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao? 4
VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC 5
Bản án số 609/2020/DS-PT ngày 12/11/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh (Trang 66) 5
Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu; 6
Câu 2: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao? 7
Câu 3: Trong vụ án trên, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án theo hướng hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được? 7
Câu 4: Trong vụ án trên, Toà án xác định hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao? 8
VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN 8
Tóm tắt bản án số 06/2017/DS-ST ngày 17/01/2017 của Toà án nhân dân TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương về vụ việc tranh chấp hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất 8
Tóm tắt quyết định số 259/2014/DS-GĐT ngày 16/06/2014 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 8
* Đối với vụ việc thứ nhất 9
Trang 3Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? 9 Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì? 9 Câu 3: Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu 10 Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu 10
* Đối với vụ việc thứ hai 11 Câu 1: Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu? 11 Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)? 11 Câu 3: Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ 12
Trang 4VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG Tình huống:
Tháng 1 năm 2018, A (pháp nhân), B (cá nhân) và C (cá nhân) gửi cho D một đề nghị giao kết hợp đồng (là điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp, bằng văn bản và có chữ ký của cả 3 chủ thể) Tháng
1 năm 2020 và tháng 2 năm 2020, D đã gửi cho A và B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình nhưng D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận
đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D) Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng (thỏa thuận về giải quyết tranh chấp) và Tòa án đã xét rằng: (1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015; (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015 và (3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên.
(1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015: Hướng giải quyết trên của tòa án là hợp lý Theo Khoản 1 Điều 400 Bộ Luật Dân Sự (BLDS) quy định như sau: “ 1 Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.”
Tình huống trên, A (Pháp nhân), B (cá nhân) và C (cá nhân) đã gửi cho D đề nghị giao kết hợp đồng dạng văn bản và có chữ ký của cả ba Hợp đồng thể hiện ý chí của các bên nhằm mục tiêu chung, ở đây chính là việc phương thức giải quyết tranh chấp giữa các bên 3 chủ thể A, B, C (bên đề nghị) thể hiện ý chí của mình thông qua văn bản đề nghị giao kết hợp đồng Chưa bàn về các vấn đề khác, D chỉ mới gửi chấp nhận giao kết với A và B Còn với C, A không chứng minh được mình đã đồng ý giao kết và phía C cũng phủ nhận điều này Như vậy D chỉ mới gửi A và B chấp nhận giao kết hợp đồng, Còn với C không gửi chấp nhận giao kết hợp đồng Như vậy nhận định bên nhận định chưa nhận được đồng ý giao kết hợp đồng là hợp lý
(2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015 Hướng giải quyết trên của tòa chưa thỏa đáng theo khoản 1 Điều 396 quy định:
“1 Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý”
Tình huống trên không đề cập về việc ấn định thời gian trả lời chấp nhận Như vậy theo Luật định nếu bên
đề nghị không ấn định thời gian thì bên được đề nghị sẽ phải trả lời trong một khoản “thời gian hợp lý” Tuy nhiên BLDS không quy định rõ thời gian hợp lý là bao nhiêu Đề nghị được đưa ra vào 01/2018 và
Trang 5lời chấp nhận giao kết gửi cho A và B là 01/2020, 02/2020 khoảng 2 năm Tình huống trên không nêu tranh chấp là gì, phức tạp ra sao và phương thức thanh toán tranh chấp được đề nghị là gì Trên thực tế có nhiều tranh chấp kéo dài nhiều năm liền, vô cùng phức tạp Phương thức giải quyết cũng phức tạp làm sao
đề thống nhất được ý chí của các bên Việc tòa án ấn định thời hạn trả lời chấp nhận là khoảng 2 năm có phần chưa hợp lý
(3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới Hướng giải quyết trên chưa thỏa đáng “Thời hạn hợp
lý” không được quy định một cách rõ ràng bao lâu là hợp lý và xác định như thế nào cho hợp lý Theo 1 Khoản Điều 394 BLDS 2015 quy định:
“ Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.”
Như đã nói, thực tế có nhiều tranh chấp phức tạo có thể kéo dài đến nhiều năm phương thức giải quyết cũng khó khăn Thời hạn trả lời là 2 năm có phân chưa thảo đáng và nên kéo dài thêm thời hạn trả lời trong tình huống trên Theo quy định trên khi hết thời hạn trả lời mà người được đề nghị mới trả lời chấp nhận giao kết thì được xem là đề nghị mới Tuy nhiên thời hạn trả lời ở đấy vẫn có thể kéo dài hơn nữa, D
có thể vẫn còn có thể trả lời trong thời hạn đó Như vậy việc xác nhận D đưa ra đề nghị mới là chưa thỏa đáng
VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG Tình huống:
Năm 2001, bà Chu và ông Bùi chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ (gồm 7 nhân khẩu) cho ông Văn Năm 2004, ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng
để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến
gì Tuy nhiên, nay các con bà Chu và ông Bùi yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu
vì chưa có sự đồng ý của họ và Tòa án đã áp dụng Án lệ số 04/2016/AL
Tóm tắt Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao -
Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26-4-1996:
Việc chuyển nhượng nhà, đất diễn ra từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở Trong khi đó gia đình ông Ngự, bà Phấn vẫn
ở trên diện tích đất còn lại, liền kề với nhà ông Tiến, bà Tý Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người
2
Trang 6con Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà Tý thì ngày 26-4-1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà Phấn,ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến khi xây dựng nhà Như vậy, có cơ sở xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?
Liên quan đến vai trò của sự im lặng trong giao kết hợp đồng, BLDS 2005 đã có quy định tại khoản 2 Điều 404 với nội dung “Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên
nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết” Ở đây,
BLDS 2005 đã ghi nhận vai trò của im lặng nhưng không nêu trong phần chấp nhận giao kết hợp đồng mà trong phần xác định thời điểm hợp đồng được giao kết và BLDS 2015 đã khắc phục nhược điểm này Cụ
thể, trong quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, Điều 393 BLDS 2015 có bổ sung thêm quy
định mới mà trước đó chưa tồn tại trong BLDS 2005 với nội dung “Sự im lặng của bên được đề nghị
không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.
Ở đây, BLDS 2015 theo hướng thông thường im lặng không là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhưng có ngoại lệ, khi theo thỏa thuận hay thói quen giữa các bên, im lặng vẫn là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Ngoài hai ngoại lệ này, chúng ta nên theo hướng: bản thân sự im lặng không là chấp nhận nhưng nếu bên cạnh sự im lặng (biết nhưng không nói gì) mà có yếu tố khác (như giao hàng, trả tiền, lời
đề nghị hoàn toàn vì lợi ích của người được đề nghị) thì vẫn có chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (thực tiễn xét xử của Việt Nam cũng theo hướng vừa nêu)
(Theo Đỗ Văn Đại: Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, phần số 331, tr.351)
=> Thực tế, trong thời gian qua, nhiều tranh chấp phát sinh từ việc im lặng trong khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, BLDS 2015 quy định cụ thể vấn đề này nhằm hạn chế những trường hợp phát sinh tranh chấp không đáng có từ việc im lặng này Hơn nữa,việc điều chỉnh này giúp mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh, phù hợp với thói quen,tập quán giao kết hợp đồng, mua bán hàng hóa
Câu 2: Quy định về vai trò của im lặng trong giao kết hợp trong một hệ thống pháp luật nước ngoài.
BLDS Pháp có nhiều điểm tương đồng với BLDS Việt Nam Cụ thể, Pháp là một quốc gia thuộc cùng một hệ thống của dòng họ Civil Law, hệ thống pháp luật lớn nhất có nguồn gốc từ La Mã cổ đại Đồng thời, dù đã biên soạn lâu đời (BLDS Pháp ra đời vào năm 1804) nhưng tính ổn định, khả năng tồn tại có hiệu lực lâu dài của chúng vẫn còn nguyên giá trị trên cơ sở tự do cá nhân, bảo vệ quyền sở hữu tư nhân
và tự do giao kết hợp đồng Luật Pháp cũng có những ngoại lệ khi công nhận sự im lặng cũng có nghĩa là
đồng ý giao kết hợp đồng Cụ thể tại Điều 1738 BLDS Pháp: “Hợp đồng thuê nhà ở sẽ được tiếp tục
ngay cả trường hợp hợp đồng thuê nhà đã hết hạn, bên thuê vẫn còn chiếm hữu chỗ thuê và bên cho thuê
Trang 7không có bất cứ ý kiến gì về việc tiếp tục chiếm hữu chỗ thuê” Hay tại khoản 2, Điều L.112-2, Bộ luật
Bảo hiểm có quy định, “trong trường hợp công ty bảo hiểm im lặng trong thời hạn 10 ngày có nghĩa
chấp nhận lời đề nghị thay đổi nội dung hợp đồng bảo hiểm” Qua hai trường hợp trên có thể thấy sự im
lặng làm cho hợp đồng được tiếp tục thực hiện theo ý chí của các bên, hay có thể hiểu sự im lặng là đồng
ý giao kết hợp đồng Điển hình là 1 án lệ được giải quyết tại Tòa án Versailles tại Pháp ngày 1/3/2000, án
lệ ghi rõ: “Chiếu theo đơn kiện của ông X (Toà Versailles, ngày 01/3/2000); nhận đơn và đưa nhận định
như sau: 1/ Sự im lặng không phải là thể hiện chấp nhận vì khi ông X nhận được bản dự toán thứ hai và chưa gửi thư trả lời chấp nhận hoặc từ chối; Tòa sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng Điều 1101 và 1108 của
Bộ luật dân sự trong việc xác định rằng chủ sở hữu diện tích đất trên đã chấp nhận toàn bộ nội dung bản
dự toán thứ hai; 2/ Tiếp theo, tòa sơ thẩm vi phạm Điều 1315 Bộ luật dân sự khi xác định rằng bên có quyền được quyền yêu cầu thực thi hợp đồng mà lẽ ra cần phải có sự đồng ý của bên nhận được lời đề nghị chấp nhận ; rằng phía ông X khi nhận được bản dự toán thứ hai không khẳng định, cũng không trả lời chấp nhận nên có thể xem đây là sự gián đoạn nội dung hợp đồng với phía AFAN”.
Tuy nhiên, theo luật Pháp, sự im lặng chỉ được công nhận là đồng ý giao kết hợp đồng nếu thuộc các trường hợp: (1) trước đó các bên đã từng giao kết và thực hiện hợp đồng; hoặc (2) đề nghị đưa ra vì lợi ích của bên nhận đề nghị (bên có nghĩa vụ)
Câu 3: Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên
là hoàn toàn thuyết phục Khái quát án lệ số 04/2016/AL: Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng, nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất, bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai, người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất Khái quát nội dung tình huống: Trong tình huống trên, việc chuyển nhượngquyền sử dụng đất của
hộ gia đình ông Bùi, bà Chu cho ông Văn diễn ra năm 2001 Trong hợp đồng chuyển nhượng không có chữ ký của các con của ông Bùi, bà Chu, tuy nhiên, có căn cứ cho rằng họ đã ngầm đồng ý chuyển
nhượng bởi lẽ việc chuyển nhượng diễn ra năm 2001, năm 2004 ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên phần đất này và khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Văn cũng không có ai ý kiến Từ nội dung Án lệ trên ta thấy về bản chất thì tình huống trên hoàn toàn giống với Án lệ số
04/2016/AL (đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng nhà đất, đều là hợp đồng chuyển nhượng, đều là tài sản chung), đều là trường hợp mà tài sản chung được chuyển nhượng nhưng chỉ có chữ ký của một người
sở hữu tài sản chung đó, còn những đồng sở hữu khác đã thể hiện sự đồng ý qua hành vi (biết nhưng không phản đối) do vậy việc áp dụng Án lệ số 04/2016/AL vào tình huống để công nhận hợp đồng chuyển nhượng là hoàn toàn hợp lý
4
Trang 8VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC
Bản án số 609/2020/DS-PT ngày 12/11/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh (Trang 66)
Tháng 10/2016, ông Huỳnh Tấn P cho ông Búa vay 100.000.000 đồng và thỏa thuận ông B chuyển
nhượng cho ông các thửa đất 20, 21, 22 tờ bản đồ số 1, ấp Giồng Lớn, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đ do ông
B đứng chủ quyền Giấy cam kết được mua lại với 160.000.000 đồng và đã giao nhận đủ tiền Ông Tấn P nhờ Nguyễn Tấn L đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông B được công chứng ngày 22/01/2016 Ông L được cập nhật trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/11/2016, sau đó được cấp đổi các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ông P đã nhiều lần yêu cầu ông L chuyển các thửa đất trên lại nhưng ông L né tránh
Trên thửa 21, 22 có các hộ Nguyễn Văn B, Nguyễn Hoàng V, Voòng Thị L, Nguyễn Thị Huyền T đang ở, thửa 20 có mồ mả nhà ông B
Ông P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vô hiệu của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa
20, 21, 22 giữa ông B với ông L, ông L với bà T và bà Thu H, giữa bà Thu H với ông Ngọc N; Hủy các thông báo cập nhật, chỉnh sửa hồ sơ địa chính các thửa đất tranh chấp trên; Hủy các hợp đồng ủy quyền giữa ông L bà T với Bà H, giữa bà H với ông L, giữa ông L với ông K; Hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà Thu H với HD Bank; Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng và kê khai đang ký quyền sửa dụng đất thửa 20, 21, 22
Ông Nguyễn Tấn L cho biết ông làm ăn chung với ông P từ tháng 10/2016 Khoảng tháng 11/2016, ông P giới thiệu ông nhận chuyển nhượng thửa 20, 21, 22 Ông P có quen ông B nên đề nghị gặp trực tiếp Vì lý
do nào đó mà ông P cho không cho gặp Ông P chỉ cho ông xem ranh đất trước khi mua, ông giao cho ông
P đủ 350.000.000 đồng và ký trực tiếp tại Văn phòng công chứng Ông nhờ dịch vụ chuyển tên, đo đạc với 10.000.000 đồng Ngày 08/02/2017, ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đầu năm 2017, ông chuyển nhượng cho bà Thu H 3 thửa đất với 550.000.000 đồng và ông đã giao đủ giấy từ và tiền bạc Tháng 5/2017, bà Thu H báo sai vị trí đất, ông liên lạc ông P thì biết bị ông P lừa nhưng ông không kiện Ông chuyển nhượng đất cho người khác nên ông không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện ông Phát
Ông Nguyễn Văn B cho biết năm 2016, ông nhờ ông T giới thiệu ông vay ông P 100.000.000 đồng dưới hình thức chuyển nhượng thửa 20, 21, 22 cho ông L Ngày 22/11/2016, ông phát hiện người ký hợp đồng
là ông L, ông P bảo cứ ký đi Ông ký hợp đồng và ký biên nhận 100.000.000 đồng, nhưng chỉ nhận
88.000.000 đồng Ông P có đưa cho ông Giấy cam kết thời hạn 05 năm được chuộc lại đất với
160.000.000 đồng Ông yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất giữa ông L với bà Thu H, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Thu H, hủy các hợp đồng thế chấp đất với Ngân hàng và công nhận quyền sử dụng cho ông các thửa đất trên, ông sẽ hoàn trả đầy đủ tiền vay cho ông P
Bà Nguyễn Thị Thu H cho biết bà đã thanh toán đủ việc nhận chuyển nhượng sử dụng đất, đã được cập nhật, chỉnh lý xong và bà thế chấp thửa 21, 22 cho Ngân hàng Do đó bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện ông P và yêu cầu của ông B Khi nào bà chuyển nhượng đất thì bà sẽ thanh toán nợ cho Ngân hàng Nếu Tòa chấp nhận yêu cầu ông P, ông B thì sẽ kiện ông L trong vụ án khác
Trang 9Bà Nguyễn Thị L cho biết thửa 20, 21, 22 của cụ Huỳnh Thị T đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 Năm 2007, cụ T cắm cọc chia đất cho con nhưng chưa tách quyền sử dụng đất Năm 2005,
cụ T chuyển cho ông B đại diện đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được anh chị em trong nhà đồng ý Trên đất có 04 căn nhà của 04 hộ gia đình gồm: Voòng Thị L, Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Thái H
và Nguyễn Văn B Nhà bà xây năm 2010, đến năm 2017 làm thủ tục tách quyền sử dụng đất thì biết ông B
ký hợp đồng với ông L Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông P Bà chấp nhận sau này ông B tách quyền sử dụng đất cho bà và bà xin vắng mặt tại Tòa án
Anh Nguyễn Thái H cho biết nguồn gốc đất bà Voòng Thị L nói là đúng Cha vợ anh là Nguyễn Văn C (đã chết) được cụ T cho đất năm 2007, đến 2015 cất nhà nhưng chưa làm thủ tục sang tên Anh không
đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông P Anh chấp nhận để sau này ông B tách quyền sử dụng đất cho anh và
anh xin vắng mặt tại Tòa án
Ông Nguyễn Ngọc N cho biết ông nhận chuyển nhượng thửa 20 của bà H với 585.000.000 đồng (Giá ghi tên hợp đồng chỉ 20.000.000 đồng là giảm thuế), ông đã thanh toán đủ tiền và được xác nhận ngày
06/09/2018 Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện ông P và yêu cầu ông B
HD Bank cho biết bà Thu H ký Hợp đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm thế chấp thửa đất số 21 và 22 để vay 300.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 6484/17… Và số 6486/17/… (ngày 05/05/2017) Tính đến 25/07/2018, bà H còn nợ HD Bank vốn gốc 474.999.971 đồng, lãi 55.557.511 đồng, tổng 530.557.482 đồng HD yêu cầu Tòa án buộc bà H thanh toán nợ và cho HDBank xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ cho biết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn B với ông Nguyễn Tấn L công chứng ngày 22/11/2016 Sau khi kiểm tra hồ sơ, Chi nhánh đã thẩm định và trình Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L thửa đất số 20, 21, 22 là đúng quy định pháp luật Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cho biết việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 20, 21, 22 là đúng trình tự, thủ tục Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Ngọc N giữ nguyên kháng cáo yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa 20 giữa ông với bà Thu H và công nhận thửa 20 cho ông,vì ông không biết đất đang
có tranh chấp và ông đã thanh toán đủ tiền cho bà H Ông với bà H thỏa thuận chỉ chuyển nhượng phần đất trống, không chuyển nhượng phần có mồ mả Đề nghị Tòa án xem xét ông P, ông L, ông B đã có lời khai không trung thực Bên cạnh đó, ông Mai Thanh N đề nghị xem xét lúc coi đất thì ông N đã thấy có
mồ mả trên đất, bà Thu H không trung thực khi thế chấp đất để vay tiền của Ngân hàng và HD Bank, nên ông không đồng ý kháng cáo của ông N và không đồng ý khánh cáo của HD Bank Ông Nguyễn văn B không đồng ý kháng cáo của ông N và không đồng ý kháng cáo của HD Bank
Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005
về chủ đề đang được nghiên cứu;
Về vấn đề “đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được”, BLDS 2015 đã có những tiến bộ nhất định so với BLDS 2005 Sự tiến bộ ở đây được thể hiện ở chỗ quy định về lý do làm cho đối tượng hợp
đồng không thể thực hiện được Tại khoản 1, điều 411 BLDS 2015 nêu rằng lý do làm cho đối tượng không thể thực hiện được phải là lý do ”khách quan” trong khi tại khoản 1, điều 408 BLDS 2015 lại
6
Trang 10không nêu cụ thể lý do làm cho đối tượng không thể thực hiện được Như vậy, căn cứ vào BLDS 2015, ta
có thể hiểu rằng lý do làm cho đối tượng không thực hiện được có thể là lý do chủ quan hoặc khách quan, hoặc có thể là lý do khác nữa Việc thay đổi quy định như vậy là hợp lý, thể hiện sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp của các nhà lập pháp Bởi vì, trên thực tế bên cạnh các lý do mang tính khách quan, ta cũng không thiếu các lý do mang tính chủ quan dẫn đến việc đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được
Ví dụ như A giao kết hợp đồng với B về việc cho B vay một khoản tiền là 300.000 USD Nếu lúc này, hợp đồng chưa được thực hiện thì có thể xem đây là hợp đồng vô hiệu do có đối tượng là công việc không thể thực hiện (Bởi vì căn cứ vào pháp lệnh ngoại hối thì không thể cho vay tiền bằng ngoại tệ được)
Câu 2: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?
Theo Điều 116 BLDS 2015, hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, do vậy ta áp dụng điều luật quy định
thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu để xác định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố
vô hiệu hợp đồng Tuy nhiên Điều 132 BLDS 2015 quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao
dịch dân sự vô hiệu chỉ quy định các trường hợp: Giao dịch vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập; vô hiệu do bị nhầm lẫn; do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; do không tuân thủ quy định về hình thức; vô hiệu do
vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội Như vậy, BLDS 2015 không cho biết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thực hiện được Theo PGS.TS Đỗ Văn Đại:
“Do lý do làm cho hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này rất đặc biệt là “đối tượng không thể thực hiện” nên sẽ là thuyết phục khi chúng ta theo hướng thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không bị giới hạn”
=> Ta không nên áp dụng thời hiệu đối với trường hợp yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được vì nếu áp dụng thì sau khi hết thời hiệu sẽ mất quyền khởi kiện trong khi đối tượng chắc chắn không thực hiện được => bị ràng buộc và không thoát ra được hợp đồng
Câu 3: Trong vụ án trên, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án theo hướng hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được?
Đoạn: “Vào tháng 4/2018, Tòa án đã có thông báo cho bà Nguyễn Thị Thu H biết thửa đất số 20 có tranh chấp (Thông báo số 185/TB-TLVA ngày 04/4/2018), nhưng đến ngày 07/8/2018 bà Nguyễn Thị Thu H vẫn ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 20 đang có tranh chấp cho ông Nguyễn Văn N1 Do đó, tuy ông Nguyễn Ngọc N1 trình bày khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 20 thì ông không biết đất đang có tranh chấp, nhưng bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Thu H biết rõ đất đang có tranh chấp, nên không có căn cứ để xác định việc chuyển nhượng đất là ngay tình Mặt khác, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/6/2018 (bút lục 368, 369) thể hiện trên phần đất thửa số 20 đang tồn tại 01 nhà
mồ và 04 ngôi mộ của người thứ ba, nhưng việc chuyển nhượng đất lại không có ý kiến của chủ sở hữu hợp pháp các vật kiến trúc trên đất, nên quyền sử dụng đất không thể chuyển giao cho người nhận chuyển