1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THUYẾT TRÌNH VỀ DI SẢN VĂN HÓA

17 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hai lối bên rộng 1,22m, trụ cao 2,27m, rộng 20cm, dài 35cm, trên đỉnh có trang trí đắp nổi linh vật Lân chầu bằng sứ, cao 40cm, dưới chân các trụ cột trang trí hoa văn hình chân ngai, th

Trang 1

BÀI THUYẾT TRÌNH VỀ DI SẢN VĂN HÓA

NHÓM 4 DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 4

3 Trương Thị Thanh Thúy Nhóm trưởng:Tìm kiếm thông tin,sửachữa bài trong nhóm. Tốt

4 Lê Thị Ánh Thư ký:Tổng hợp tài liệu về bài viết Tốt

Trang 2

DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐÌNH LÀNG THỦY TRIỀU

HUYỆN CAM LÂM

Cam Lâm là một huyện

ven biển thuộc tỉnh Khánh Hòa,

được thành lập vào ngày

11/04/2007 trên cơ sở tách ra từ

thị xã Cam Ranh và huyện Diên

Khánh Huyện Cam Lâm nằm ở

phía nam tỉnh Khánh Hòa, phía

huyện Diên Khánh, phía nam giáp Thành phố Cam Ranh, phía tây giáp huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh, phía đông giáp Biển Đông

Tuy là vùng đất mới thành lập nhưng đây là vùng đất cổ Từ khi dinh Thái Khang được thành lập (1653) trên vùng đất Khánh Hòa ngày nay diễn quá trình tụ cư, khẩn hoang lập làng Vùng đất này được chúa Nguyễn Phúc Tần chia làm 2 phủ: Thái Khang ở phía bắc (gồm 2 huyện Tân Định và Quảng Phước) và Diên Ninh ở phía nam (gồm 3 huyện Phước Diên, Hoa Châu, Vĩnh Xương) Được chúa Nguyễn ra chính sách ưu đãi, cư dân từ phía Bắc, nhất là các tỉnh Nam – Ngãi – Bình – Phú vào lập nghiệp ngày càng nhiều Giữa thế kỷ XVII có thêm một bộ phận người Hoa cũng di

cư đến Cùng với cư dân bản địa Chăm, Raglai, người dân sinh sống thuận hòa

Trang 3

Riêng vùng đất “ vùng vịnh Cam Ranh ’’ (bao gồm Cam Lâm hiện nay) đến cuối thế kỷ 19 hầu như vẫn còn ở trạng thái hoang sơ, chủ yếu là tộc người Raglai tụ

cư nhiều ở vùng Suối Cát, Suối Tiên, Sơn Tân, Cam Tân, Cam Phước Đông (ngày nay) Cư dân người Kinh chỉ có mới vài thôn (xã) ở Hòa Tân, Lập Định, Thủy triều Cuộc di dân của người Kinh vào vùng đất này trải qua nhiều đợt trong thế kỷ 20, nhiều nhất trong thập niên 60,70 và kéo dài mãi về sau này

Sau khi khai hoang, hình thành các làng xóm ở các khu vực ven biển, đồng bằng, nhân dân Cam Lâm qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau, với tinh thần cần cù trong lao động, đoàn kết Kinh-Raglai cùng nhau chinh phục thiên nhiên, thông minh sáng tạo, đã không ngừng làm ăn, phát triển kinh tế Trên vùng mới các thế hệ cư dân Cam Lâm mang theo các giá trị văn hóa, tín ngưỡng, phong tục, tập quán từ các vùng đất Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đến vùng quê mới Tại nơi đây các giá trị văn hóa được tiếp tục giữ gìn, giao lưu, hòa chung vào nền văn hóa bản địa, vào đặc điểm vùng miền tạo nên những sắc thái mới cùng

hòa chung vào các giá trị văn hóa dân tộc Cho đến nay, trên địa bàn huyện Cam lâm

còn bảo tồn và lưu giữ nhiều di tích văn hóa, tín ngưỡng trong đó đáng chú ý nhất là Đình Thủy Triều - Di tích lịch sử-văn hóa cấp tỉnh

Đình làng Thủy Triều là Di tích Lịch sử - văn hóa có từ lâu đời và là nơi diễn ra

lễ hội tín ngưỡng dân gian đặc sắc của cư dân vùng biển xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm

1 Địa điểm và đường đến di tích Lịch sử - Văn hóa Đình làng Thủy Triều.

a) Địa điểm: Đình Thủy Triều tọa lạc

tại xóm 3, thôn Thủy Triều, xã Cam Hải

Đông, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa

b) Đường đến khu di tích: Từ Trung

tâm thành phố Nha Trang đi theo đường

23/10 đến thị trấn Diên Khánh đi theo Quốc

lộ 1A vào Nam, khoảng 30km, rẽ trái đi xã

Cam Hải Đông 2,5km qua cầu mới, rẽ phải

vào thôn Thủy Triều khoảng 500m là đi đến

di tích nằm cạnh bên đường trái

2 Quá trình hình thành Di tích:

Vào khoảng năm Bính Tý (1756) một số ngư dân ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng

Trang 4

Ngãi, Bình Định trong đó có các ông Trần Chấn, Nguyễn Tảo vào đây lập làng, một

thời gian gian dựng đình bằng vật liệu thô sơ nhà tranh, vách đất để thờ thần Thành Hoàng, thời điểm khởi dựng đình chưa có tư liệu thành văn ghi lại Theo lời kể: di tích có niên đại cùng với cây me cổ thụ sau đình, đường kính thân cây chỗ rộng nhất 2m, khoảng gần 300 tuổi

3 Quá trình trùng tu Di tích:

Đình ban đầu được xây dựng bằng vật liệu thô sơ nhà tranh vách đất, trải qua

thời gian dài chịu đựng nắng mưa cùng với chiến tranh tàn phá ngôi đình bị xuống cấp Nhân dân trong làng đã nhiều lần góp công, góp sức tu bổ Đình Qua nhiều đợt tu

bổ, đến năm 1920 Hội đồng làng tổ chức quyên góp toàn dân tu bổ Đình bằng vật liệu tường gạch, mái lợp ngói Âm Dương, bộ khung chịu lực bằng gỗ Người được dân làng cử đứng ra trùng tu là ông Nguyễn Chí (thường gọi là Bảy Thẩm) sinh năm 1888

Năm 1956, sau khi trở về làng cũ sinh sống, ngôi đình bị đổ nát do thực dân Pháp phá hủy, Hội đồng làng vận động nhân dân đóng góp tu bổ Đình Năm 2004, ngôi đình bị xuống cấp, nhân dân tu bổ Đình.Qua các lần tu bổ đến nay, về cơ bản phần vị trí của các công trình kiến trức vẫn giữ nguyên trên nền móng cũ, song một số yếu tố gốc của hạng mục công trình bị biến đổi do chiến tranh tàn phá

Trang 5

Trong cuộc sống hiện nay đình Thủy Triều vẫn giữ vai trò trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân địa phương Sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của Di

tích :

Hằng năm, đình Thủy Triều tổ chức lễ hội vào hai ngày 18 và 19 tháng 3 Âm lịch để tưởng nhớ công ơn to lớn của các vị thần và bậc tiền nhân

4 Giá trị về văn hóa tâm linh:

a) Lễ hội:

- Phần lễ: Chiều ngày 18 tháng 3 Âm lịch toàn dân quy tụ tại Đình cúng Tiền Hiền, Thanh Minh; đúng 21 giờ vị Chánh lễ và Ban nghi lễ trang phục nghiêm trang làm lễ Tỉnh Sanh; đến 0 giờ lễ tế Thần bắt đầu Trong các lễ cúng đều có nghi thức cúng và đọc văn tế

Trang 6

- Phần hội

Hát bội phục vụ nhân dân

Các trò chơi truyền thống: đua thuyền, bắt vịt, đập ấm

Trò chơi mới: chạy việt dã

b) Không gian kiến trúc của Di tích

- Đình Thủy Triều nằm trong không gian cảnh quan phù hợp với công trình văn hóa, tín ngưỡng, dưới tán cây Me cổ thụ, phía trước là đầm Thủy Triều Bố cục mặt bằng các hạng mục công trình kiến trúc của Đình được dàn trải theo chiều rộng gồm: Nghi môn, Án phong, Võ ca, sân Đình, miếu Tiền Hiền, miếu Sơn Lâm, miếu Thanh Minh, Tiền tế, Chính điện

Nghi môn:

- Được thiết kế tứ trụ bằng bê tông, tạo thành một lối chính và hai lối nhỏ hai bên Lối chính giữa rộng 3,2m, hai trụ cột cao 3,55m, rộng 25cm, dài 35cm; mặt ngoài thân trụ ghi đôi câu đối bằng chữ Hán có nội dung:

Phiên âm:

Thủy nhiễu thăng trầm dân lạc nghiệp,

Triều sa cổ thụ đắc an khang.

Dịch nghĩa :

Nước chảy thăng trầm nhân dân vui nghề nghiệp

Thủy Triều cổ thụ thôn xóm được an khang.

- Trên hai trụ đắp bê tông giả mái, bờ nóc đắp nổi ‘lưỡng Long chầu Nguyệt’ Hai lối bên rộng 1,22m, trụ cao 2,27m, rộng 20cm, dài 35cm, trên đỉnh có trang trí đắp nổi linh vật Lân chầu bằng sứ, cao 40cm, dưới chân các trụ cột trang trí hoa văn hình chân ngai, thân trụ ghi câu đối bằng chữ Hán nội dung :

Phiên âm :

Đình tiền tráng lệ như hoa cẩm,

Hương nội huy hoàng cảnh phong quang

Dịch nghĩa :

Tráng lệ miếu đình hoa tựa gấm,

Huy hoàng thôn ấp cảnh phong quang.

Trang 7

- Nối giữa các trụ cột đứng là 3 bảng bê tông nằm ngang ; bảng chính giữa ghi dòng chữ : ‘Đình Thủy Triều’ , bảng bên tả ghi : ‘Tân Tỵ’, bảng bên hữu ghi :

‘2001’

Hình ảnh: Nghi môn của đình làng Thủy Triều

Án phong:

Án phong, ở chính giữa phía ngoài của Võ ca (được dựng với mục đích ngăn chặn những điều xấu xa, uế tạp vào Chính điên) Án phong hình chữ nhật, rộng 2,92m, cao 2,24m, có hai trụ hai bên, trên đầu hai trụ cột trang trí đắp nồi linh vật Lân, cao 30cm Mặt trước trang trí hình vẽ Long Hổ hội (Rồng,Hổ trong mây, mặt hướng vào vòng tròn Lưỡng Nghi), mặt sau trang trí đắp nổi hình Long Mã phụ Hà Đồ

Mặt trước của Án Phong Mặt sau của Án Phong

Sân đình : Sân đinh: Được làm bằng xi măng, diện tích 120m2 , đây là nơi nhân dân hội họp khi cúng đình

Tiền tế:

Trang 8

- Tiền tế tiếp giáp với sân Đình bởi ba bậc thềm, mỗi bậc cao 15cm, Tiền Tế dài 6.8m, rộng 7.27m được thiết kế một gian, hai chái, gồm bảy cửa; cửa chính giữa rộng 1.92m, cao 2.57m; hai cửa bên rộng 1.21m, cao 2.55m và bốn cửa nách dẫn sang miếu Tiền Hiền, miếu Thanh Minh mỗi cửa rộng 1.21m, cao 2.55m, các cửa làm theo dạng hình vòm, để trống Nền lát gạch, cao hơn sân 45cm Mái lợp ngói Tây, trên bờ nóc trang trí đắp nổi hình Rồng vân mây cách điệu chẩu vòng tròn Lưỡng Nghi, các

bờ dài trang trí đắp nổi hình Rông vân mây cách điệu Mặt trước Tiền Tế phía trên đắp nổi ba cuốn thư: cuốn chính giữa để dòng chữ Hán "Thủy Triều Đình", cuốn bên

Tả để "Giáp Thân Niên", cuốn bên Hữu đề "Đại Trùng Tu", dưới trên thân các trụ đắp nổi câu đối bằng chữ Hán, nội dung như sau:

 Đôi thứ nhất:

Phiên âm:

Thần tại huyền cơ tạo hóa thiên tăng ứng cảm tỏa tỏa nhật thọ nhật khang,

Thánh đức uy nghiêm mạc trắc vạn vật làm ân nguy nguy tí quốc hộ dân.

Dịch nghĩa:

Thần bởi huyền cơ tạo hóa, ứng cảm vô biên, nơi nơi (hưởng) an khang phước thọ,

Thánh đức oai nghiêm khôn xét, vạn vật hàm ơn, nguy nga giúp nước trợ dân.

 Đôi thứ hai:

Phiên âm:

Thủy Nhiễu [ ] tiền vạn cố ngưỡng thần ân thánh đức chiêu chương thủy nhật nguyệt,

Triều ngưng hải đế ức niên thường tế tự thần uy lẫm liệt trấn càn khôn.

Dịch nghĩa:

Nước uốn khúc trước đình, muôn thuở kính ơn thần, đức thánh rạng ngời

truyền nhật nguyệt,

Thủy Triều nên biến lớn, vạn năm

thường tế tự, oai thần lẫm liệt trấn đát

thần.-Kết cấu kiến trúc: Tiền tế được thiết kế theo

Trang 9

lối kiến trúc cổ truyền của người Việt, có tường bao quanh, cùng với hệ thống chịu lực chủ yếu bằng cột (gồm hai chiếc cột mỗi chiếc có đường kính 25cm, cao 3.57m)

vì kèo kết hợp với hệ thống hoành, kè, rui, mè được gối lên tường bên ngoài, tạo

thành một hệ thống chịu lực vững chắc nâng đỡ hệ mái Hoa văn trang trí của Tiền tế

rất phong phú, đa dạng về đề tài và chất liệu, chủ yếu sử dụng các họa tiết mang đậm phong cách truyền thống: đề tài tứ linh, Rồng cách điệu trên bờ nóc, Rồng vân mây trên các bờ dài

Chính điện:

- Chính điện dài 7.90m, rộng 7,7m gồm 2 gian và 1 chái với Cổ lầu phía trên Nền xi măng, cao hơn sân 45cm Mái lợp ngói Tây, gồm hai hệ mái: mái dưới và mái Cổ lầu Trên bờ nóc mái Cổ lầu trang trí đăp nổi hình "Lưỡng Long Chầu Nguyệt", dưới là hình hoa văn trang trí, các bờ dài trang trí đắp nổi hình Rồng vân mây cách điệu, hai mảng tường hồi trang trí đắp nổi linh vật Dơi Mái dưới bốn góc mái trang trí đắp nổi hình Rồng vân mây cách điệu Chính diện có 3 cửa vào bằng nhau, rộng 1.24m, cao 2,17m, cánh làm bằng gỗ

- Kiến trúc chính diện được thiết kế theo

lối kiến trúc cổ truyền của người Việt

Hệ thống chịu lực gồm 4 chiếc cột cái,

mỗi cột có đường kính 25 cm, cao 4.6m;

hai cột trước để trơn, hai cột sau trang trí

Rồng cuốn thân cột Bốn cột liên kết với

hệ thống vì, hoành, rui, mè cùng với

các bức tường nâng đỡ hệ mái

- Nội thất Chính Điện được bài trí đơn giản, thứ tự được sắp xếp như sau: trong cùng

có 3 ban thờ, ban chính giữa thờ Bổn Cảnh Thành Hoàng dài 1.12m, rộng 1.44m, cao 1.11m, trên bàn thờ là chữ "Thần", hai bên ghi câu đối chữ Hán Có nội dung như sau:

Phiên âm:

Thần ân hiển hách càn khôn đại, Thách thức quang huy nhật nguyệt đường.

Dịch nghĩa:

Ơn thần hiển hách to lớn tựa trời đất, Đức thánh rạng ngời trường tồn cùng nhật nguyệt.

Trang 10

- Phía dưới bệ ban trang trí hình vẽ Nai găm cỏ trên núi, hai bên ban che đôi lọng, trước mặt ban là bộ "Lỗ bộ" gồm 16 cái được chia thành hai hàng, trên thân cột có treo đôi liễn đối chữ Hán, nội dung như sau:

 Đôi thứ nhất:

Phiên âm:

Thủy cư thủy hưởng nguy nguy hồ thạnh đức, Triều lạc triều ca trạc trạc nhĩ hoằng ân.

Dịch nghĩa:

Ở với nươc, hưởng bởi nước, đức hạnh cao lớn thay, Vui cùng (Thủy) triều, ca cùng (Thủy) triều, ơn sâu rực rỡ vậy.

 Đôi thứ hai:

Phiên âm:

Tỉ xí tỉ xương xã nội đồng hân khang thái, Lai thành lai hạ thôn trung lão ấu bình an.

Dịch nghĩa:

Được tốt đẹp được hưng thịnh xã tắc hòa bình phát triển, Nên sự nghiệp được chở che trong thôn già trẻ bình an.

- Hai bên của ban thờ Thần là Tả ban, Hữu ban bằng bê tông, kích thước bằng nhau rộng 1.07m, dài 1,05m, cao 11.06m, trên ban có ghi dòng chữ Hán: "Tả Ban Liệt Vị", "Hữu Ban Liệt Vị", hai bên là đôi câu đối bằng chữ Hán, hình vẽ các linh vật; chim Phượng, Rùa, Lân; vòng tròn Lương Nghi là một số hoa văn trang trí cách điệu, dưới bệ ban bên Tả trang trí hình vè phong cảnh đồng quê, mục đồng cưỡi trâu thổi sáo, phụ nữ gánh nông sản trên đê, dưới là đồng lúa, xa xa là dãy núi; bên Hữu là hình

vẽ biển

Trang 11

Hình ảnh: Hai

vật sụng được sử dụng khi hành lễ) Trên các mặt bệ ban bày biện các vật dụng thờ như: lư hương, chân đèn, chén nước, bình hoa, đĩa bồng bằng đồng và sứ Hoa văn trang trí Chính điện rất phong phú và đa dạng về đề tài và chất liệu sử dụng mang đậm tphong cách truyền thống: trang trí đắp nổi Rồng, mặt Nguyệt, hoa văn Rồng vân mây cách điệu trên mái và trên các thân cột, trên ban thờ Thần, dưới bệ ban trang trí hình vẽ chiêm Phượng, Lân, Rùa và phong cảnh làng quê, thể hiện giá trị khoa học, nghệ thuật đã cùng tồn tại cùng ngôi đình trong những năm vừa qua

Hình ảnh: Bên trong Chính điện Miếu Tiền Hiền:

Trang 12

- Bên trái tiền tế là miếu Tiền Hiền, diện tích 28m2 Nền lát gạch cao hơn 30m Mái lợp ngói tây, trên bờ nắp chính giữa trang trí đắp nổi vòng tròn Lưỡng Nghi, bờ dài trang trí đắp nổi hình vân mây cách điệu Miếu được dựng để thờ các vị Tiền Hiền (những người có công khai làng lập ấp), thiết kế một gian gồm hiên phía ngoài và khu thờ tự phía trong Hiên có bốn cột, thân các cột đắp nổi các đôi câu đối bằng chữ Hán, nội dung như sau:

 Đôi thứ nhất:

Phiên âm

Tứ thời vũ thuận dân tòng vượng, Bát tiết phòng điều hiệp cảnh xuân.

Dịch nghĩa:

Bốn mùa mưa thuận dân hưng vượng, Tám tiết gió hòa cảnh mãi xuân

 Đôi thứ hai:

Phiên âm:

Áp quy dân công tự hải, Điền khẩn thổ đức như sơn.

 Dịch nghĩa:

Lập ấp quy dân công tựa bể, Khải điền khẩn thổ đức như non.

- Phía trên có ba cuốn thư, chính giữa ghi

"Tiền Hiền", bên Tả ghi "Canh Dần", bên

Hữu ghi"2010" Miếu có một của rộng 1.1m,

cao 1.97m, cánh làm bằng gỗ, màng tường

phía trên của trang trí hình vẽ phong cảnh

"Đầm Thủy Triều" Khu thờ tự có ban thờ

"Tiền Hiền" bằng bê tông, có ghi dòng chữ

Hán "Tiền Hiền", phía tên là hình vẽ Lưỡng

Long Chầu vong tròn Lưỡng Nghi, hai bên

có hình vẽ linh vật Rồng và một số hoa văn

hình vẽ cách điệu, mặt ban bày biện các vật

Trang 13

dụng thờ như là: lư hương, chân đèn, chén nước, bình hoa, đĩa bồng bằng sứ Dưới bệ trang trí hình vẽ linh vật chim Phượng chầu chữ Thọ Trụ cọt đắp nổi bằng cặp câu dối chữ Hán

Phiên âm:

Tiền đại khai cơ dân lạc nghiệp, Hậu thể tài bồi vật an cư.

Dịch nghĩa:

Đời trước mở nền dân lạc nghiệp, Đời sau bồi đắp vật an cư.

Hình ảnh: Bên trong miếu Tiền Hiền

bằng bê tông, mái bê tông giả ngói, trên trang trí đắp nổi vòng tròn Lưỡng Nghi, hai bên đắp nổi hai con hổ con ở tư thế đứng chầu, cao 30m Trong miếu có ban thờ ghi dòng chữ Hán: "Sơn Lâm Chúa Tương"

Trang 14

Hình ảnh: Miếu Sơn Lâm:

Miếu Thanh Minh:

- Bên phải miếu Sơn Lâm là miếu

Thanh Minh, xây bằng gạch, vữa và có

diện tích 28m2, có một cửa rộng 1.1m,

cao 1.87m và có canhs làm bằng gỗ Nên

xi măng, cao hơn sân 30cm Mái lợp

ngói tây, trên bờ nóc chính giữa đắp nổi

vòng tròn Lưỡng Nghi, các bờ dài đắp

nổi hình vân mây cách điệu Miếu gồm

hiên phía ngoài và khu thờ tự phía trong;

trên hai cột hiên đắp nổi các đôi câu đối

bằng chữ Hán

 Đôi thứ nhất:

Phiên âm:

Ngọc chất đại linh phương thảo tài đồi phước, Kim toàn nhân kiệt lưu quang phối hợp thọ tăng.

Dịch nghĩa:

Chất ngọc đất thiêng hoa cỏ vun bồi nên thước, Nay toàn nhân kiệt lưu truyền.

 Đôi thứ hai:

Phiên âm:

Thanh nhật chiếu thiên khi tiết hưng long cát khánh Minh quang thạnh địa nhân uân vượng khí xuân huy.

Dịch nghĩa:

Trời xanh tỏa chiếu, khí tiết phô bày hưng thạnh, Đất sáng huy hoàng, chan hòa vượng khí ngày xuân.

- Bên trong có ba ban thờ: giữa là ban thờ Thanh Minh bằng bê tông, bên trên có ghi dòng chữ Hán "Thanh Minh", hai bên trang trí hoa văn cách điệu, dưới bệ trang trí hình vẽ phong cảnh bình minh trên biển, hai bên là Tả ban và Hữu ban bằng xi măng, trên ban có viết dòng chữ hán " Tả Ban Liệt Vi" và "Hữu Ban Liệt Vi" cùng một số hoa văn cách điệu Trên thân hai trụ cột bê tông đắp nổi đôi câu đối bằng chữ Hán, có nội dung như sau:

 Đôi thứ nhất:

Ngày đăng: 02/09/2022, 06:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w