DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐÌNH LÀNG THỦY TRIỀUHUYỆN CAM LÂM Cam Lâm là một huyện ven biển thuộc tỉnh Khánh Hòa, được thành lập vào ngày 11/04/2007 trên cơ sở tách ra từ thị xã Cam Ranh v
Trang 1BÀI THUYẾT TRÌNH VỀ DI SẢN VĂN HÓA
NHÓM 4DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 4
1 Hoàng Thị Thanh
2 Nguyễn Minh Thu
3 Trương Thị Thanh Thúy
Trang 2TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com
Trang 3DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐÌNH LÀNG THỦY TRIỀU
HUYỆN CAM LÂM
Cam Lâm là một huyện
ven biển thuộc tỉnh Khánh Hòa,
được thành lập vào ngày
11/04/2007 trên cơ sở tách ra từ
thị xã Cam Ranh và huyện Diên
Khánh Huyện Cam Lâm nằm ở
phía nam tỉnh Khánh Hòa, phía
bắc giáp Thành phố Nha Trang và huyện Diên Khánh, phía nam giáp Thành phố CamRanh, phía tây giáp huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh, phía đông giáp Biển Đông
Tuy là vùng đất mới thành lập nhưng đây là vùng đất cổ Từ khi dinh TháiKhang được thành lập (1653) trên vùng đất Khánh Hòa ngày nay diễn quá trình tụ cư,khẩn hoang lập làng Vùng đất này được chúa Nguyễn Phúc Tần chia làm 2 phủ: TháiKhang ở phía bắc (gồm 2 huyện Tân Định và Quảng Phước) và Diên Ninh ở phía nam(gồm 3 huyện Phước Diên, Hoa Châu, Vĩnh Xương) Được chúa Nguyễn ra chínhsách ưu đãi, cư dân từ phía Bắc, nhất là các tỉnh Nam – Ngãi – Bình – Phú vào lậpnghiệp ngày càng nhiều Giữa thế kỷ XVII có thêm một bộ phận người Hoa cũng di
cư đến Cùng với cư dân bản địa Chăm, Raglai, người dân sinh sống thuận hòa
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com
Trang 4Riêng vùng đất “ vùng vịnh Cam Ranh ’’ (bao gồm Cam Lâm hiện nay) đếncuối thế kỷ 19 hầu như vẫn còn ở trạng thái hoang sơ, chủ yếu là tộc người Raglai tụ
cư nhiều ở vùng Suối Cát, Suối Tiên, Sơn Tân, Cam Tân, Cam Phước Đông (ngàynay) Cư dân người Kinh chỉ có mới vài thôn (xã) ở Hòa Tân, Lập Định, Thủy triều.Cuộc di dân của người Kinh vào vùng đất này trải qua nhiều đợt trong thế kỷ 20,nhiều nhất trong thập niên 60,70 và kéo dài mãi về sau này
Sau khi khai hoang, hinh thanh cac lang xom ở các khu vực ven biển, đồngbằng, nhân dân Cam Lâm qua nhiêu thê hê nôi tiêp nhau, vơi tinh thân cân cu tronglao đông, đoan kêt Kinh-Raglai cùng nhau chinh phuc thiên nhiên, thông minh sangtao, đa không ngưng lam ăn, phat triên kinh tê Trên vùng mới các thế hệ cư dân CamLâm mang theo các giá trị văn hóa, tín ngưỡng, phong tục, tập quán từ các vùng đấtQuảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đến vùng quêmới Tại nơi đây các giá trị văn hóa được tiếp tục giữ gìn, giao lưu, hòa chung vàonền văn hóa bản địa, vào đặc điểm vùng miền tạo nên những sắc thái mới cùng hòachung vào các giá trị văn hóa dân tộc Cho đến nay, trên địa bàn huyện Cam lâm cònbảo tồn và lưu giữ nhiều di tích văn hóa, tín ngưỡng trong đó đáng chú ý nhất là ĐìnhThủy Triều - Di tích lịch sử-văn hóa cấp tỉnh
Đình làng Thủy Triều là Di tích Lịch sử - văn hóa có từ lâu đời và là nơi diễn ra
lễ hội tín ngưỡng dân gian đặc sắc của cư dân vùng biển xã Cam Hải Đông, huyệnCam Lâm
1. Địa điểm và đường đến di tích Lịch sử - Văn hóa Đình làng Thủy Triều.
a) Địa điểm : Đình Thủy Triều tọa lạc
tại xóm 3, thôn Thủy Triều, xã Cam Hải
Đông, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
b) Đường đến khu di tích : Từ Trung
tâm thành phố Nha Trang đi theo đường
23/10 đến thị trấn Diên Khánh đi theo Quốc
lộ 1A vào Nam, khoảng 30km, rẽ trái đi xã
Cam Hải Đông 2,5km qua cầu mới, rẽ phải
vào thôn Thủy Triều khoảng 500m là đi đến
di tích nằm cạnh bên đường trái
2. Quá trình hình thành Di tích:
Vào khoảng năm Bính Tý (1756) một số ngư dân ở các tỉnh Quảng Nam,
Quảng
Trang 5Ngãi, Bình Định trong đó có các ông Trần Chấn, Nguyễn Tảo vào đây lập làng,một
thời gian gian dựng đình bằng vật liệu thô sơ nhà tranh, vách đất để thờ thần ThànhHoàng, thời điểm khởi dựng đình chưa có tư liệu thành văn ghi lại Theo lời kể: ditích có niên đại cùng với cây me cổ thụ sau đình, đường kính thân cây chỗ rộng nhất2m, khoảng gần 300 tuổi
3. Quá trình trùng tu Di tích:
Đình ban đầu được xây dựng bằng vật liệu thô sơ nhà tranh vách đất, trải qua thờigian dài chịu đựng nắng mưa cùng với chiến tranh tàn phá ngôi đình bị xuống cấp Nhândân trong làng đã nhiều lần góp công, góp sức tu bổ Đình Qua nhiều đợt tu bổ, đến năm
1920 Hội đồng làng tổ chức quyên góp toàn dân tu bổ Đình bằng vật liệu tường gạch,mái lợp ngói Âm Dương, bộ khung chịu lực bằng gỗ Người được dân làng cử đứng ratrùng tu là ông Nguyễn Chí (thường gọi là Bảy Thẩm) sinh năm 1888
Năm 1956, sau khi trở về làng cũ sinh sống, ngôi đình bị đổ nát do thực dânPháp phá hủy, Hội đồng làng vận động nhân dân đóng góp tu bổ Đình Năm 2004,ngôi đình bị xuống cấp, nhân dân tu bổ Đình.Qua các lần tu bổ đến nay, về cơ bảnphần vị trí của các công trình kiến trức vẫn giữ nguyên trên nền móng cũ, song một sốyếu tố gốc của hạng mục công trình bị biến đổi do chiến tranh tàn phá
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com
Trang 6Trong cuộc sống hiện nay đình Thủy Triều vẫn giữ vai trò trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân địa phương Sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của Di
Trang 7- Phần hội
Hát bội phục vụ nhân dân
Các trò chơi truyền thống: đua thuyền, bắt vịt, đập ấm
Trò chơi mới: chạy việt dã
b) Không gian kiến trúc của Di tích
- Đình Thủy Triều nằm trong không gian cảnh quan phù hợp với công trình vănhóa, tín ngưỡng, dưới tán cây Me cổ thụ, phía trước là đầm Thủy Triều Bố cục mặtbằng các hạng mục công trình kiến trúc của Đình được dàn trải theo chiều rộng gồm:Nghi môn, Án phong, Võ ca, sân Đình, miếu Tiền Hiền, miếu Sơn Lâm, miếu ThanhMinh, Tiền tế, Chính điện
Nghi môn:
- Được thiết kế tứ trụ bằng bê tông, tạo thành một lối chính và hai lối nhỏ haibên Lối chính giữa rộng 3,2m, hai trụ cột cao 3,55m, rộng 25cm, dài 35cm; mặtngoài thân trụ ghi đôi câu đối bằng chữ Hán có nội dung:
- Trên hai trụ đắp bê tông giả mái, bờ nóc đắp nổi ‘lưỡng Long chầu Nguyệt’.Hai lối bên rộng 1,22m, trụ cao 2,27m, rộng 20cm, dài 35cm, trên đỉnh có trang tríđắp nổi linh vật Lân chầu bằng sứ, cao 40cm, dưới chân các trụ cột trang trí hoa vănhình chân ngai, thân trụ ghi câu đối bằng chữ Hán nội dung :
Trang 8TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com
Trang 9- Nối giữa các trụ cột đứng là 3 bảng bê tông nằm ngang ; bảng chính giữaghi dòng chữ : ‘Đình Thủy Triều’ , bảng bên tả ghi : ‘Tân Tỵ’, bảng bên hữu ghi :
Sân đình : Sân đinh: Được làm bằng xi măng, diện tích 120m2 , đây là nơi nhân dân hội họp khi cúng đình
Tiền tế:
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com
Trang 10- Tiền tế tiếp giáp với sân Đình bởi ba bậc thềm, mỗi bậc cao 15cm, Tiền Tếdài 6.8m, rộng 7.27m được thiết kế một gian, hai chái, gồm bảy cửa; cửa chính giữarộng 1.92m, cao 2.57m; hai cửa bên rộng 1.21m, cao 2.55m và bốn cửa nách dẫn sangmiếu Tiền Hiền, miếu Thanh Minh mỗi cửa rộng 1.21m, cao 2.55m, các cửa làm theodạng hình vòm, để trống Nền lát gạch, cao hơn sân 45cm Mái lợp ngói Tây, trên bờnóc trang trí đắp nổi hình Rồng vân mây cách điệu chẩu vòng tròn Lưỡng Nghi, các
bờ dài trang trí đắp nổi hình Rông vân mây cách điệu Mặt trước Tiền Tế phía trênđắp nổi ba cuốn thư: cuốn chính giữa để dòng chữ Hán "Thủy Triều Đình", cuốn bên
Tả để "Giáp Thân Niên", cuốn bên Hữu đề "Đại Trùng Tu", dưới trên thân các trụ đắpnổi câu đối bằng chữ Hán, nội dung như sau:
Thủy Triều nên biến lớn, vạn năm
thường tế tự, oai thần lẫm liệt trấn đát
thần.-Kết cấu kiến trúc: Tiền tế được thiết kế theo
Trang 11lối kiến trúc cổ truyền của người Việt, có tường bao quanh, cùng với hệ thống chịulực chủ yếu bằng cột (gồm hai chiếc cột mỗi chiếc có đường kính 25cm, cao 3.57m)
vì kèo kết hợp với hệ thống hoành, kè, rui, mè được gối lên tường bên ngoài, tạothành một hệ thống chịu lực vững chắc nâng đỡ hệ mái Hoa văn trang trí của Tiền tếrất phong phú, đa dạng về đề tài và chất liệu, chủ yếu sử dụng các họa tiết mang đậmphong cách truyền thống: đề tài tứ linh, Rồng cách điệu trên bờ nóc, Rồng vân mâytrên các bờ dài
Chính điện:
- Chính điện dài 7.90m, rộng 7,7m gồm 2 gian và 1 chái với Cổ lầu phía trên Nền ximăng, cao hơn sân 45cm Mái lợp ngói Tây, gồm hai hệ mái: mái dưới và mái Cổ lầu.Trên bờ nóc mái Cổ lầu trang trí đăp nổi hình "Lưỡng Long Chầu Nguyệt", dưới làhình hoa văn trang trí, các bờ dài trang trí đắp nổi hình Rồng vân mây cách điệu, haimảng tường hồi trang trí đắp nổi linh vật Dơi Mái dưới bốn góc mái trang trí đắp nổihình Rồng vân mây cách điệu Chính diện có 3 cửa vào bằng nhau, rộng 1.24m, cao2,17m, cánh làm bằng gỗ
- Kiến trúc chính diện được thiết kế theo
lối kiến trúc cổ truyền của người Việt Hệ
thống chịu lực gồm 4 chiếc cột cái, mỗi
cột có đường kính 25 cm, cao 4.6m; hai
cột trước để trơn, hai cột sau trang trí
Rồng cuốn thân cột Bốn cột liên kết với
hệ thống vì, hoành, rui, mè cùng với
các bức tường nâng đỡ hệ mái
- Nội thất Chính Điện được bài trí đơn giản, thứ tự được sắp xếp như sau: trong cùng
có 3 ban thờ, ban chính giữa thờ Bổn Cảnh Thành Hoàng dài 1.12m, rộng 1.44m, cao1.11m, trên bàn thờ là chữ "Thần", hai bên ghi câu đối chữ Hán Có nội dung như sau:
Trang 12- Phía dưới bệ ban trang trí hình vẽ Nai găm cỏ trên núi, hai bên ban che đôi lọng,trước mặt ban là bộ "Lỗ bộ" gồm 16 cái được chia thành hai hàng, trên thân cột cótreo đôi liễn đối chữ Hán, nội dung như sau:
Đôi thứ nhất:
Phiên âm:
Thủy cư thủy hưởng nguy nguy hồ thạnh đức, Triều lạc triều ca trạc trạc nhĩ hoằng ân.
- Hai bên của ban thờ Thần là Tả ban, Hữu ban bằng bê tông, kích thước bằngnhau rộng 1.07m, dài 1,05m, cao 11.06m, trên ban có ghi dòng chữ Hán: "Tả Ban LiệtVị", "Hữu Ban Liệt Vị", hai bên là đôi câu đối bằng chữ Hán, hình vẽ các linh vật;chim Phượng, Rùa, Lân; vòng tròn Lương Nghi là một số hoa văn trang trí cách điệu,dưới bệ ban bên Tả trang trí hình vè phong cảnh đồng quê, mục đồng cưỡi trâu thổisáo, phụ nữ gánh nông sản trên đê, dưới là đồng lúa, xa xa là dãy núi; bên Hữu là hình
vẽ biển
Trang 13TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com
Trang 14Hình ảnh: Bên trong Chính điện Miếu Tiền Hiền:
Trang 15- Bên trái tiền tế là miếu Tiền Hiền, diện tích 28m2 Nền lát gạch cao hơn 30m Máilợp ngói tây, trên bờ nắp chính giữa trang trí đắp nổi vòng tròn Lưỡng Nghi, bờ dàitrang trí đắp nổi hình vân mây cách điệu Miếu được dựng để thờ các vị Tiền Hiền(những người có công khai làng lập ấp), thiết kế một gian gồm hiên phía ngoài và khuthờ tự phía trong Hiên có bốn cột, thân các cột đắp nổi các đôi câu đối bằng chữ Hán,nội dung như sau:
Đôi thứ hai:
Phiên âm:
Áp quy dân công tự hải, Điền khẩn thổ đức như sơn.
Dịch nghĩa:
Lập ấp quy dân công tựa bể, Khải điền khẩn thổ đức như non.
- Phía trên có ba cuốn thư, chính giữa ghi
"Tiền Hiền", bên Tả ghi "Canh Dần", bên
Hữu ghi"2010" Miếu có một của rộng 1.1m,
cao 1.97m, cánh làm bằng gỗ, màng tường
phía trên của trang trí hình vẽ phong cảnh
"Đầm Thủy Triều" Khu thờ tự có ban thờ
"Tiền Hiền" bằng bê tông, có ghi dòng chữ
Hán "Tiền Hiền", phía tên là hình vẽ Lưỡng
Long Chầu vong tròn Lưỡng Nghi, hai bên
có hình vẽ linh vật Rồng và một số hoa văn
hình vẽ cách điệu, mặt ban bày biện các vật
Trang 16TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com
Trang 17dụng thờ như là: lư hương, chân đèn, chén nước, bình hoa, đĩa bồng bằng sứ Dưới bệtrang trí hình vẽ linh vật chim Phượng chầu chữ Thọ Trụ cọt đắp nổi bằng cặp câudối chữ Hán.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com
Trang 18Hình ảnh: Miếu Sơn Lâm:
Miếu Thanh Minh:
- Bên phải miếu Sơn Lâm là miếu
Thanh Minh, xây bằng gạch, vữa và có
diện tích 28m2, có một cửa rộng 1.1m,
cao 1.87m và có canhs làm bằng gỗ Nên
xi măng, cao hơn sân 30cm Mái lợp
ngói tây, trên bờ nóc chính giữa đắp nổi
vòng tròn Lưỡng Nghi, các bờ dài đắp
nổi hình vân mây cách điệu Miếu gồm
hiên phía ngoài và khu thờ tự phía trong;
trên hai cột hiên đắp nổi các đôi câu đối
Đôi thứ nhất:
Trang 19Phiên âm
Nghĩa khí oai linh từ thời phong điều vũ thuận,
Ân quang điền lễ cổ kim vạn thế dân an.
Dịch nghĩa:
Nghĩa khí oai linh, bốn mùa mưa hòa gió thuận,
Ơn ngời điền lễ, cổ kim mua thuở dân an.
- Trên mặt các ban bày biện các đồ vật: lư hương, chân đèn, chén nước, bình hoa, đĩa bồng chất liệu bằng đồng bằng sứ
Hình ảnh: Bên trong miếu Thanh Minh
5 Giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ của Di tích
Đình Thủy Triều, có niên đại khoảng cuối thế kỉ XVIII là một trong những ngôi
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com
Trang 20đình cổ trên cùng đất Khánh Hòa nói chung và Cam Lâm nói riêng Di tích tồn tạicùng với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nó như là một mình chứng cho
sự tồn tại của làng Thủy Triều, trong đó hội tụ hầu như đầy đủ những giá trị mà chaông ta đã sáng tạo ra và lưu truyền lại Điểm nổi bật nhất của đình Thủy Triều là hệ
- Định hướng, ứng dụng vào việc giảng dạy ở tiểu học: Giáo dục học sinh bảo
vệ và góp phần tuyên truyền trong cộng đồng cùng chăm sóc , bảo vệ các di tích lịch
sử - văn hóa thông qua việc giảng dạy lồngghép vào các môn trong trường tiểu họchiện nay: Mĩ thuật, Âm nhạc, Tiếng Việt,Đạo đức, lịch sử, Địa lí, Hoạt động trảinghiệm nhằm hướng tới việc phát huy vàgìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống,các giá trị của di tích lịch sử - văn hóa tạiđịa phương bằng những việc làm thiết thựcnhư:
- Thắp hương tưởng nhớ vào các dịp lễ,Tết
- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa đưa học sinh tham quan các khu đình làng có thờthần Thành Hoàng cũng như trực tiếp tham gia vào lễ hội để học sinh được sống trongkhông gian văn hóa này; từ đó vun đắp thái độ, tình cảm tích cực và tốt đẹp đối vớiquê hương
- Tổ chức cho học sinh vệ sinh khu vực đình làng
Trang 21- Quảng bá, tuyên truyền về giá trị của di tích lịch sử - văn hóa Đình Thủy Triều với khách tham quan.
- Giáo dục học sinh tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào về bản sắc vănhóa của dân tộc, ý thức xây dựng huyện Cam Lâm nói riêng và tỉnh Khánh Hòa nóichung ngày một giàu đep Nhằm phát huy và gìn giữ các giá trị văn hóa lịch sử, các ditích văn hóa trên quê hương mình
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com