1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mạc Tử (Cảm nhận hay)

4 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 20,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàn Mặc Tử là một trong những “cây bút” nổi tiếng bậc nhất trong phong trào thơ ca lãng mạn. Ông đã mang đến cho văn học những sáng tác đi vào lòng người một cách tự nhiên, sâu lắng và giàu cảm xúc. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nói khi nhắc đến thơ của Hàn Mặc Tử: “Thơ không cần nhiều từ ngữ, nó cùng không quan tâm đến hình xác sự sống. Nó chỉ cần cảm nhận và chuyển đi một chút linh hồn của cảnh vật thông qua linh hồn thi si”. Thật vậy, Hàn Mặc Tử luôn thả hồn mình vào những dòng thơ để có thể lột tả chân thật những thăng hoa và nỗi đau trong trái tim. Đọc những trang thơ của ông, ta vừa bắt gặp được vẻ trong treo tinh khiết, vừa thấy thấp thoáng đâu đó sự bí ẩn và huyền ảo. “Đây thôn Vĩ Dạ” trích trong tập “Thơ Điên” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác độc đáo này. Bài thơ ra đời khi nhà thơ đang trên giường bệnh, được gởi cảm hứng từ mối tình của chính tác giả với một cô gái vốn quê ở Vĩ Dạ, một thôn nhỏ bên dòng sông Hương nơi xứ Huế thơ mộng và trữ tình

Trang 1

Hàn Mặc Tử là một trong những “cây bút” nổi tiếng bậc nhất trong phong trào thơ ca lãng mạn Ông đã mang đến cho văn học những sáng tác đi vào lòng người một cách tự nhiên, sâu lắng và giàu cảm xúc Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nói khi nhắc đến thơ của Hàn Mặc Tử: “Thơ không cần nhiều từ ngữ, nó cùng không quan tâm đến hình xác sự sống Nó chỉ cần cảm nhận và chuyển đi một chút linh hồn của cảnh vật thông qua linh hồn thi si” Thật vậy, Hàn Mặc Tử luôn thả hồn mình vào những dòng thơ để có thể lột tả chân thật những thăng hoa và nỗi đau trong trái tim Đọc những trang thơ của ông,

ta vừa bắt gặp được vẻ trong treo tinh khiết, vừa thấy thấp thoáng đâu đó sự bí ẩn và huyền ảo “Đây thôn Vĩ Dạ” trích trong tập “Thơ Điên” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác độc đáo này Bài thơ ra đời khi nhà thơ đang trên giường bệnh, được gởi cảm hứng từ mối tình của chính tác giả với một cô gái vốn quê ở Vĩ Dạ, một thôn nhỏ bên dòng sông Hương nơi xứ Huế thơ mộng và trữ tình

Mở đầu thơ là một hoài niệm mênh mang về cảnh và người thôn Vĩ Bức tranh thơ đẹp còn tình người thì tha thiết nhớ mong:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Một câu hỏi tu từ được cất lên ngay từ đầu bài thơ, như lời mời gọi của một người con gái thôn Vĩ Từ “về chơi” được sử dụng thay cho “về thăm” tạo cảm giác gần gũi, thắm thiết, thân tình Câu thơ mang một âm sắc đặc biệt bởi đa số chữ đều mang thanh bằng gợi nên một cảm giác rất Huế, rất ngọt ngào êm ái Mặt khác, sắc thái tu từ trong câu thơ đầu còn là lời tự hỏi, tự trách mình của thi nhân: sao cảnh Huế đẹp vậy mà mình không trở về ? “Không về” chứ không phải là “chưa về”, đó là một câu hỏi đớn đau, khắc khoải thể hiện nỗi ước ao thầm kín vừa mãnh liệt vừa uẩn khúc của Hàn Mạc Tử Ông khát khao biết bao được quay trở về thăm con người và cảnh vật ở thôn Vĩ Nhưng trớ trêu thay, đó là điều mà ông không thể làm được, bởi lúc bấy giờ nhà thơ đang phải đối mặt với cơn bạo bệnh Chính vì thế mà ở những câu thơ tiếp theo, thi nhân đã tự gợi nên khung cảnh vườn tược thơ mộng của xứ Huế “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”, bức tranh nắng sớm hiện lên với sức sống tươi đẹp cùng những hàng cau xanh chót vót đang đưa tay hứng ánh ban mai lung linh Điệp từ “nắng” cùng với cách ngắt nhịp 4/3 gợi nên cho người đọc một cái nắng tinh khôi, trong trẻo của bình minh ở miền Trung Màu của nắng hòa cùng sắc xanh mát của hàng cau tạo nên một khung cảnh tươi trẻ, thanh khiết, không chỉ làm bừng sáng cảnh vật mà còn làm bừng sáng cả tâm hồn người thi sĩ Câu thơ vẽ nên một bức tranh thôn Vĩ tưởng chừng như đơn sơ, bình dị nhưng lại có sức gợi hình, gợi cảm lớn và có ý nghĩa sâu sắc trong trái tim nhà thơ Nhắc đến cau còn là nhắc

Trang 2

đến loại cây rất thân thuộc với làng quê Việt Nam, nơi có phong tục ăn trầu từ ngàn đời nay Nguyễn Bính – một nhà thơ cảnh quê, hồn quê cũng đã đặt mối tình bình dị của đôi trai gái thôn quê trên cái nền phong cảnh có hình ảnh thân cau quen thuộc ấy:

“Nhà anh có một hàng cau Nhà em có một giàn trầu”

Nếu như câu thơ vừa rồi đã mở ra không gian tràn ngập ánh sáng của cảnh vật Thôn Vĩ qua góc nhìn từ phía xa thì đến câu thơ tiếp theo, nhân vật trữ tình đã được hạ thấp

xuống, hướng về một khoảng xanh tươi của vườn tược Nghệ thuật tu từ “vườn ai" gợi lên sự tò mò, hiếu kì vì không xác định về chủ nhân khu vườn Nhưng cái người ta quan tâm không phải là danh tính người chủ, mà là sự trong xanh của nó Cái nhìn như chạm khẽ vào sắc màu của sự vật để rồi bật lên một sự ngạc nhiên đến thẫn thờ Từ “mướt” được đặt cạnh từ chỉ biểu cảm “quá” đã thể hiện lên sự ngỡ ngàng của tác giả trước vẻ đẹp xanh non, mượt mà ấy Những tia nắng rọi lên những hạt sương ban mai long lanh đọng trên những chiếc lá lấp lánh, tựa như những viên ngọc được đính vào chiếc choàng nhung xanh mịn Không phải “xanh mượt” hay “xanh tươi” mà dường như chỉ có “xanh như ngọc” mới có thể lột tả một cách trọn vẹn được vẻ đẹp ngồn ngộn sức sống của vườn tược Đó là một màu xanh cao quý và trong trẻo Với nghệ thuật so sánh đầy tài tình, nhà thơ đã gợi lên vẻ đẹp tươi tốt đầy sức sống của khu vườn xứ Huế trong buổi bình minh

mà có lẽ nếu như không có một tình yêu sâu nặng, nồng nàn đối với Vĩ Dạ thì Hàn Mặc

Tử đã không thể có được những vần thơ trong trẻo như vậy

Trong cảm xúc bất tận, xao xuyến về khung cảnh thôn Vĩ, hình ảnh con người thấp thoáng sau khóm trúc hiện lên thật đặc biệt: “Lá trúc chen ngang mặt chữ điền” Khuôn mặt chữ điền vốn thường được dùng trong thơ ca để gợi ra vẻ hiền lành, phúc hậu của nam nhi Nhưng trong bài thơ này, gương mặt ấy lại lấp ló sau những cành lá trúc khiến cho người đọc có cảm giác như đây lại là khuôn mặt dịu dàng, kín đáo một người con gái đang e ấp phía sau cành lá trúc Dáng vẻ xa xôi, bị cách trở bởi hàng trúc nhưng lại mang đến những xuyến xao da diết cho người nhìn Đến đây, cảnh và người đã hòa quyện làm một cùng tạo nên bức tranh thơ thật đẹp đẽ, trong trẻo Chỉ với 4 câu thơ ngắn gọn, tác giả Hàn Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh Vĩ Dạ đầy gợi cảm, sinh động cùng tình cảm tha thiết, chan chứa tình yêu thương của chủ thể trữ tình

Nếu như ở khổ đầu tiên ta được chiêm ngưỡng vẻ xanh ngát của vườn tược thì khổ thơ tiếp theo sẽ dẫn dắt người đọc đến với cảnh sông nước mấy trời xứ Huế với niềm bâng khuâng, nỗi nhớ mong sầu muộn hư ảo như trong giấc mộng:

Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Trang 3

Có chở trăng về kịp tối nay?

Gió và mây thường gợi nên những nỗi buồn thênh thang, da diết, nay lại càng sầu hơn khi được đặt trong hai khuôn nhịp tách rời nhau Hai sự vật vốn luôn gắn liền, song hành cùng nhau nhưng giờ đây lại đường ai nấy đi mang một cảm giác xa cách, chia phôi đầy ngang trái, đau xót Dường như thi sĩ tạo ra hình ảnh này không phải bằng cái nhìn của thị giác mà là bằng cái nhìn của tâm trạng về một mặc cảm chia lìa Phải chăng đây là cảm giác của nhà thơ trong xa cách nhớ thương, và cũng là mặc cảm của những con người xưa trong cuộc sống? Phép nhân hóa “dòng nước buồn thiu” cùng với hình ảnh hoa rơi nước chảy lại càng khiến lòng người thêm não nề bởi cảnh vật sao mà vô tình thế

Có lẽ đây là một mối tình đơn phương, chưa có phút giây gặp gỡ yêu thương mà đã sớm chia li, buồn tủi nên cảnh mới hòa vào lòng người mà sầu khổ, phân li Cảnh tuy đẹp nhưng lại lạnh lẽo, hoang sơ, cô đơn, ảm đạm, phảng phất tâm trạng thờ ơ cuộc đời của tác giả Nỗi buồn trong lòng tác giả hoà cùng nhịp buồn xứ Huế rồi vang lên một câu hỏi

“Thuyền ai đậu bến sông trắng đó” Ánh trăng huyền ảo tràn đầy vũ trụ tạo nên không khí

hư ảo Hình ảnh ước lệ “sông trăng” khiến cho khung cảnh thêm lẫy, thơ mộng thể hiện được tình yêu chan chứa của thi nhân dành cho con người và thiên nhiên xứ Huế Thuyền, trăng, bờ bãi vốn không phải lần đầu đồng hiện Thơ xưa từng có ai viết:

“Nước biếc non xanh thành gối bãi Đêm thanh nguyệt bạch khách lên lầu.”

Nhưng cái khác biệt ở đây là thi sĩ không đứng đó ngắm trăng, mà người như đang chìm dần vào trong cảm giác ảo hóa Trăng xuất hiện trở lại, nhưng không phải "trăng vàng trăng ngọc", "trăng nằm sóng soãi", mà là trăng huyền hồ tan trên mặt nước Trong cảm giác mông lung của thi nhân, sông trở thành sông trăng, thuyền trở thành thuyền trăng, bóng người cũng trở thành hình ai thấp thoáng, mờ nhòa trong trăng Con thuyền ấy đang mang một nỗi khắc khoải, bồn chồn, nhưng cũng chứa đựng niềm hy vọng, chờ đợi một cái gì đang rời xa biết có khi nào quay lại Sự phấp phỏm âu lo và những mong được níu giữ thời gian ấy hiện lên rõ nhất ở chữ "kịp" và câu hỏi đầy tội nghiệp kia Ta nhìn thấy ở đây một cuộc chạy đua với thời gian, nhưng không phải là để tận hưởng tối đa thanh sắc cuộc đời như mong muốn của Xuân Diệu, mà chỉ mong được tận hưởng cái tối thiểu - đó

là được sống Được sống không thôi đã thỏa nguyện rồi Trong câu thơ là bao nhiêu sự âu

lo, cũng là bấy nhiêu niềm khao khát Nhân văn của thi phẩm cũng là ở đó: Hãy luôn sống trọn từng ngày khi còn đang được sống Niềm khao khát tình đời, tình người của thi nhân cất lên rõ nhất ở khổ thơ thứ ba, khi mà thế giới đã về với thực tại, ngập chìm hoàn toàn ở cõi mơ:

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Trang 4

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Chữ "mơ" đặt chơi vơi ở đầu sau đó là điệp ngữ “khách đường xa” với âm “a” vang dài

đã thể hiện nỗi mong nhớ, ngóng trông da diết về một bóng hình xa xôi ngoài tầm với Hình ảnh khách đang bước xa dần khỏi vòng tay thi nhân, đi về một nơi xa xăm không thể chạm đến Người con gái mang sắc áo trắng tuyệt đối, thanh khiết và tinh khôi, trinh nguyên vô ngần mà suốt đời thi nhân luôn tôn sùng nay lại trở nên mờ nhòa, khó giữ Không gian mông lung, lạnh lẽo, mịt mùng trong sương khói, huyền hồ trong ảo ảnh, dường như đang bao trùm lên cả ý thức và tiềm thức, thắt buộc lòng người đến tê dại Nghe câu hỏi khắc khoải cuối cùng: "Ai biết tình ai có đậm đà?", ta thảng thốt nhận ra, hóa ra bấy lâu người thi sĩ cũng chỉ mong chờ điều ấy, khao khát điều ấy, đó là tình người, tình đời Điều đáng nói ở đây là cả bài có tới bốn chữ "ai" trải dài trong ba khổ Chúng gắn với nhau bằng cả sắc thái lẫn giọng điệu tạo thành một "hệ vi mạch" ẩn sâu trong lòng bài thơ, chuyển tải một cảm giác đau xót về thực tại xa vời Đời thi sĩ sống đã vốn chẳng được vui, đến cuối cùng cũng chỉ mong tìm được mảnh hồn tri ngộ Hàn Mặc

Tử của chúng ta, không "kì dị" như bao người nói Chàng có trái tim rất người, có những tình cảm rất người, mà có lẽ đến nhiều năm sau này vẫn có không ít người ghi nhận điều ấy

Bài thơ như một khúc đoản ca về tình yêu và niềm khao khát, hướng về một mảnh vườn, cũng là hướng về một mảnh đời Đặc sắc của thi phẩm còn được tạo nên ở những nghệ thuật mang phong cách riêng của Hàn Mặc Tử Với những hình ảnh tượng trưng đầy hàm nghĩa, và các câu hỏi tu từ trải đều trên các khổ thơ mang theo ý niệm riêng, cùng lối viết cách điệu hóa, pha lồng ảo thực, "Đây thôn Vĩ Dạ” xứng là một thi phẩm có những thi từ đẹp nhất, trong sáng nhất

Bài thơ đã thể hiện được tình cảm tha thiết của thi sĩ trước vẻ đẹp thiên nhiên và con người xứ Huế, bên cạnh đó còn là một tình yêu mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của thi nhân Qua diện mao hết sức phức tạp và đầy bí ẩn của thơ Hàn Mặc Tử, người ta vẫn thấy rõ một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế."Mai sau, những thứ tầm thường mực thước sẽ biến mất đi, và còn lại của thời kì này một chút gì đáng kể, thì đó là Hàn Mặc Tử” - Lời trân trọng mà người bạn thơ Chế Lan Viên gửi cho Hàn đã nói thay về những gì Hàn đã để lại cho đời Bằng ngòi bút đầy tài năng và nội tâm phong phú của mình, Hàn Mặc Tử đã mang đến cho độc giả những vần thơ đẹp đẽ Trong chữ có tình, trong tình có chữ, những cảm quan đầy tinh tế gợi cho người đọc bao dư vị về tình đời qua bài thơ

Ngày đăng: 31/08/2022, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w