Mỗi người khi đi xa đều mang trong mình nỗi nhưng nhớ hình bóng quê nhà thân thương. Đặc biệt đối với các nhà thơ, nhà văn, dòng sông quê luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho những tinh hoa tuyệt vời đâm chồi. Xuân Diệu có lần từng nhận xét: “Thơ viết về đất nước, thiên nhiên và quê hương là một điểm mạnh của Huy Cận.” Mang trong mình cả cái tài, cái tâm lẫn cái tầm, Huy Cận tuy am hiểu nhiều nền văn minh, văn hóa của nhân loại nhưng hồn thơ ông vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Hình ảnh thơ ông thường không sắc sảo mà thâm trầm, như ngấm sâu vào tâm hồn và trí tuệ người đọc.“Tràng giang” trích trong tập “Lửa thiêng” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác độc đáo ấy, nói về nỗi buồn man mác dâng lên lúc hoàng hôn khi nhà thơ đứng trước cảnh: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Trang 1TRÀNG GIANG
Mở bài
Mỗi người khi đi xa đều mang trong mình nỗi nhưng nhớ hình bóng quê nhà thân thương Đặc biệt đối với các nhà thơ, nhà văn, dòng sông quê luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho những tinh hoa tuyệt vời đâm chồi Xuân Diệu có lần từng nhận xét: “Thơ viết về đất nước, thiên nhiên và quê hương là một điểm mạnh của Huy Cận.” Mang trong mình cả cái tài, cái tâm lẫn cái tầm, Huy Cận tuy am hiểu nhiều nền văn minh, văn hóa của nhân loại nhưng hồn thơ ông vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Hình ảnh thơ ông thường không sắc sảo mà thâm trầm, như ngấm sâu vào tâm hồn và trí tuệ người đọc.“Tràng giang” trích trong tập “Lửa thiêng” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác độc đáo ấy, nói về nỗi buồn man mác dâng lên lúc hoàng hôn khi nhà thơ đứng trước cảnh: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Khổ 1
Ngay từ khổ đầu tiên, ta đã cảm nhận được một không gian sâu thẳm với những nỗi buồn miên man vô tận
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng
Huy cận có cách dùng từ đầy mới mẻ khi sử dụng “tràng giang” thay cho “trường giang”, điệp vần “ang” đã tạo cảm giác cho con sông không chỉ dài mà còn rất rộng Những con sóng đang lặng lẽ vỗ về nơi xa tận cuối chân trời, có lẽ như từ “gợn” không chỉ miêu tả
sự chuyển động đều đặn của dòng nước mà còn là sóng lòng từng đợt từng đợt cuộn vào nhau Trước cảnh vật hùng vĩ mênh mông ấy, con người trở nên thật bé nhỏ Từ láy “điệp điệp” như khắc họa rõ hơn nỗi buồn chồng chất ấy, tuy nhẹ nhàng mà thấm đẫm, lan tỏa trong lòng con người Nổi bật giữa lớp sóng bạt ngàn là bóng dáng của một con thuyền lẻ loi đang trôi theo mặt nước một cách vô định, hay đó cũng chính là tâm trạng của nhân vật trữ tình trước cảnh thiên nhiên bao la ấy, một cảm giác buồn miên man, bất tận Với nghệ thuật đối và cách ngắt nhịp 4/3 và việc sử dụng những từ láy mang cảm giác cổ kính đậm chất Đường thi, nhà thơ đã khắc họa nên bức tranh dòng sông mênh mông hoang vắng, và chính sự nhỏ nhoi, lạc lõng của con thuyền lại càng làm cho cảnh vật thêm miên man Vốn là người mang tâm hồn mong manh đa sầu đa cảm, Huy Cận là một người sẵn sàng buồn khi nắng xuống, khi chiều lên, buồn khi trời đổ mưa về đêm, hay thậm chí là khi không còn thấy những dấu chân trên đường Trong bài thơ, ông đã thể hiện sự nhạy cảm của mình qua nỗi buồn về sự chia li Nghệ thuật đối một lần nữa được sử dụng một
Trang 2cách tài tình “Thuyền” và “nước” vốn dĩ là hai hình ảnh gắn bó, khăng khít với nhau nhưng qua con mắt của nhân vật trữ tình thì hai hình ảnh ấy không còn song hành với nhau nữa “Thuyền về nước lại” gợi nên sự chia lìa đầy đau buồn để rồi nỗi sầu ấy đã bao trùm cả đất trời Đến với câu thơ tiếp theo, nhân vật trữ tình đã dùng biện pháp đảo ngữ
“củi một cành khô” để bộc lộ sự cô đơn trơ trọi Một khúc củi khô héo thiếu sức sống nhưng lại “lạc mấy dòng” thể hiện sự bấp bênh, trôi nổi Cách ngắt nhịp 1/3/3 khiến từ
“củi” đứng riêng lẻ càng tô đậm hơn tình cảnh lẻ loi của sự vật này Phải chăng đó cũng chính là nỗi niềm của thi nhân về một kiếp người tài hoa nhưng lại vô cùng nhỏ bé, lạc lõng và vô định? Cả khổ thơ giàu tính nhạc mang âm địu nhịp nhàng và trầm buồn, qua
đó tạo cho bài thơ một giọng điệu chung về nỗi buồn triền miên ão não của nhân vật trữ tình trước cảnh vật vũ trụ bao la, hùng vĩ
Khổ 2+3
Đến khổ thơ thứ hai, điểm nhìn của nhân vật trữ tình đã xa hơn, khung cảnh trên sông được hướng vào chiếc cồn nhỏ, vào bầu trời và khắp cả dòng sông
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xe vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu
Cảnh vật dường như không có sự khác biệt, vẫn hiu quạnh và vắng lặng Từ láy “lơ thơ”
và “đìu hiu” đã làm rõ hơn sự yên ắng ấy Ở câu thơ kế, ta thấy được thấp thoáng đâu đó
là sự sống của con người Chợ vốn dĩ là nơi mang lại cảm giác nhộn nhịp, đông đúc, như trong thơ của Nguyễn Trãi: “Lao xao chợ các làng Ngư Phủ” Nhưng với Huy Cận lại khác, âm thanh của chợ trong thơ của ông không phải là thứ âm thanh rộn ràng, náo nhiệt
mà là tiếng vãn chợ chiều đâu đó từ phía xa xa Hình ảnh chợ không làm cho không gian trở nên tràn đầy sức sống hơn mà ngược lại còn tô đậm hơn sự tĩnh lặng, cô tịch Xung quanh lúc bấy giờ cũng chỉ là nắng trên trời, sông trước mặt, thứ xuống thứ lên, thứ dài, thứ rộng mà dường như vốn đã xa nay lại càng xa hơn Cách dùng từ “sâu chót vót” đầy mới mẻ và sáng tạo đã mở ra thêm khoảng cách giữa sông và trời, một không gian thăm thẳm và hun hút Với nghệ thuật đối giữa câu trước câu sau cùng các cặp từ đối lặp: lên – xuống, dài – rộng, khiến cho cảnh sống nước được giãn nở theo nhiều chiều khác nhau Đọc câu thơ ta thấy như mọi vật đang chuyển động ra xa hơn, sông như rộng hơn, trời như sâu hơn Và ở chính giữa bức tranh ấy, tâm điểm vẫn là bóng dáng nhỏ bé tưởng chừng đơn độc, hiu quạnh giữa vũ trụ Nỗi buồn, nỗi sầu của thi nhân vì thế mà nhân lên gấp bội lần Lúc này thi nhân không đơn thuần đối diện với dòng sông như ở khổ trên nữa mà đã hoàn toàn bị choáng ngợp, cảm thấy mình quá nhỏ bé trước không gian vũ trụ như thế Và rồi nhân vật trữ tình đưa mắt nhìn xa xăm như để tìm kiếm cho mình một
Trang 3điểm tựa hay đơn giản hơn là chút sự sống của con người nhưng cái nhận lại cũng chỉ là
sự hờ hững, bơ vơ giữa các sự vật
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Nguyễn Du cũng từng dùng hình ảnh bèo dạt trong “Truyện Kiều” để nói đến thân phận bấp bênh, chật vật của người con gái:
“Phận bèo bao quản nước sa Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh”
Bèo dạt trôi nổi lênh đênh thể hiện sự mất phương hướng của một kiếp người nhỏ bé, lẻ loi, chẳng biết phải đi về đâu Cụm từ “hàng nối hàng” càng diễn tả sự vô định, chông chênh khi hàng này đến hàng khác “nối đuôi” nhau Sự cô đơn, hiu quạnh như đang phủ kín khắp mặt nước mênh mông Không thể tiếp tục chìm trong nỗi miên man bất tận này nữa, nhân vật trữ tình bắt đầu tìm kiếm, mong ngóng một chuyến đò để thấy rằng ít ra sự sống vẫn đang tồn tại nhưng đáp lại vẫn là sự ngậm ngùi Đò ấy không đơn thuần là phương tiện trung chuyển con người mà nó còn là “chiếc cầu” kết nối tình cảm, nhưng rồi tất cả đã bị phủ định một cách tuyệt đối Điệp từ “không” như nhấn mạnh hơn sự thiếu vắng của âm thanh và hình bóng con người, có lẽ đó còn là sự bế tắc không có đường thoát, thi nhân như đang bị lạc vào nỗi buồn và chênh vênh Dường như chỉ có sự ngự trị tuyệt đối của một thiên nhiên cổ sơ, lặng lẽ “Bờ xanh tiếp bãi vàng” như vẽ ra thêm sự mênh mông, vô tận của đất trời Mạch cảm xúc của bài thơ cũng vì thế mà trở nên mãnh liệt hơn ở khổ cuối
Khổ 4
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Bức tranh thiên nhiên buồn lúc bấy giờ cũng bắt đầu hiện lên những tâm tư của nhân vật trữ tình Chỉ với từ đơn “đùn” và từ láy “lớp lớp”, tác giả đã khắc họa nên hình ảnh của những đám mây đang xếp chồng lên nhau, như đang đè lên núi bạc Vũ trụ với những đám mây lớn được phản chiếu dưới ánh mặt trời trở nên thật hùng vĩ và tráng lệ nhưng cũng mang theo cảm giác nặng trĩu lạ kì Đến chim cũng “nghiêng cánh” không vững vàng vì cảm thấy nhỏ bé, bơ vơ và dè dặt trước vũ trụ bao la rộng lớn ấy “Lớp lớp mây
Trang 4cao” đi với “chim nghiêng cánh nhỏ” tượng trưng cho sự đối lập giữa cái vô hạn, cái lớn lao với cái hữu hạn, bé nhỏ Đến câu thứ ba, tác giả đã nói về lòng nhớ quê da diết Từ láy “dợn dợn” gợi lên những nỗi niềm khó nói đang dần dâng trào, đó là cảm xúc nhớ nhung về cội nguồn của mình Cứ mỗi khi nhìn thấy “con nước” là lòng yêu quê hương của tác giả lại dâng lên Tuy nhiên, nét đặc sắc lại nằm ở câu thơ cuối cùng: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Hơn nghìn năm trước Thôi Hiệu cũng từng chạnh lòng nhớ quê mà thốt lên rằng:
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu.”
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?) Cũng đều là nỗi bi ai, là nỗi nhớ quê khắc khoải nhưng Huy Cận đã có cách thể hiện thật mới, thật lạ Ở Thôi Hiệu, do nhìn thấy khói sóng trên dòng sông nên buồn và nhớ về quê nhà, còn ở Huy dù không nhìn thấy khói nhưng nỗi nhớ nhà vẫn dâng lên da diết Nếu như Thôi Hiệu nhớ nhà là do đang xa xứ thì nỗi nhớ của Huy Cận xuất phát từ một người đang đứng trên mảnh đất của mình nhưng bơ vơ, lạc lõng Nỗi nhớ thương cũng xuất phát
từ sự bất lực, ngán ngẩm của bản thân thi sĩ trước thời cuộc
Nghệ thuật
Cả bài thơ mang một âm điệu trầm buồn, vừa dư vang vừa sâu lắng Đặc sắc nghệ thuật trong “Tràng giang” trước hết phải nói tới là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố cổ điển của thơ Đường và yếu tố thơ mới góp phần tạo nên không khí cổ kính hoang sơ nhưng lại rất gần gũi với những hình ảnh cảnh vật của Việt Nam Qua đó, Huy Cận đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên với tầm vóc mênh mông để làm nổi bật sự bơ vơ, lạc lõng của con người nhỏ bé qua những hình ảnh sinh động giàu sức gợi hình gợi cảm
Kết bài
Đọc “Tràng Giang”, ta cảm thấy từng lời thơ, từng âm điệu như những dòng chảy của một con sông, cứ len lỏi nhẹ nhàng nhưng chảy sâu vào tận tâm hồn Bài thơ mở ra một bức tranh thiên nhiên mênh mông hùng vĩ, mà qua đó tác giả nhấn mạnh sự cô đơn của
“cái tôi” trước ngân hà rộng lớn Sự đối lập này phần nào nói lên tình cảnh lẻ loi, sự trôi nổi của những kiếp người Đồng thời tác giả bộc lộ nỗi niềm nhớ quê hương, tình cảm thiết tha với đất nước của mình