Bệnh Nội Khoa Châm Cứu Thực Dụng - Robert Tran Bệnh Nội Khoa Châm Cứu Thực Dụng - Robert Tran Bệnh Nội Khoa Châm Cứu Thực Dụng - Robert Tran Bệnh Nội Khoa Châm Cứu Thực Dụng - Robert Tran Bệnh Nội Khoa Châm Cứu Thực Dụng - Robert Tran Bệnh Nội Khoa Châm Cứu Thực Dụng - Robert Tran Bệnh Nội Khoa Châm Cứu Thực Dụng - Robert Tran
Trang 2Robert Tran received Master of Science degrees in Computer Information System from the University of Phoenix, San Jose, California, He has been studying
Chinese Medicine since 2007, Currently,
he le a graduate student at the University
of East Weet Medicine in Sunnyvale, California, He will camplete the Master
of Selence degree program in Traditional
Chinese Medicine (TCM) at the end of 2011, The Master of Science
in TCM program's curriculum is designed with @ solid foundation in TCM Theory and Diagnosis, Acupuncture, Chinese Merba and Herbal Formulas, Tuina, Acupressure, Tai Ji Quan and Qigong, and advanced
studies such as Traditional Chinese Internal Mediaine, TCM Pediatrics,
TCM Gynecology, TCM Traumatology, and TCM External Medicine, The four Chinese medical classics: Huang Di Nei Jing, Shang Han Lun, Jin Kui Yao Lue and Wen Bing are also taught during the final year At the University of East-West Medicine, he has learned from both traditional
Chinese medicine and Western medical science
KN
authornouse®
Trang 4© 2011 by Robert Tran All rights reserved
No part of this book may be reproduced, stored in a retrieval system, or transmitted by any means without the written permission of the author
Library of Congress Contral Number: 2011912519
Printed in the United States of America
Any people depicted in stock imagery provided by Thinkstock are models, and such images are being used for illustrative purposes only
Because of the dynamic nature of the Internet, any web addresses or links contained in this book may have changed since publication and may no longer be valid The views expressed in this work are solely those of the author and do not necessarily reflect the views of the publisher, and the publisher hereby disclaims any responsibility for them
Trang 5
MỤC LỤC
CHƯƠNG |: Giới thiệu - nen re 1
I0: 077 | | | :.-1 1
So lworc vé Lich SP Cham Ctu c ccececcccescecsecseeseeseseeseers 1
CHƯƠNG II: Bệnh cắp cứu và các hội
chứng gây bệnh do các yếu tố ngoại sinh 8
1 Phong-đột quy - nhe 8
2 Hen suyễn (Asthma) - 0Q S2 cào 48
3 Đau vùng thượng vị nhe 58
4 Buồn nôn và nôn mửa - 5S: c2, 64
13 Chitng phu thong 20.0 eecceccesceeeeteeeeesseeeeenanees 134
12 Dai dam (dai dam ban dém
-Nocturnal enuresis) .- c 141
13 Rối loạn đường tiểu . ¿ S2 -ccccn sec: 146
14 Sự bí tiêu (Retention of Urine) 155
15 Bất lực (Liệt dương) ¿c0 2c cn te seere, 162
16 Mắt ngũ (Insomnia) -i ác co ccoscecececee 168
Trang 6
17 Hồi hộp (Palpitation) ccccccciseecrreiea 178
18 Rối loạn tâm thần-trầm cảm hoặc rối loạn lưỡng cực
4 Đau vùng hạ sườn (ở phần trên của bụng-
hai bên xương Sườn) .- cà cà nhe 236
5 Đau lưng (Low back pain) che 2A4 -
6 Chứng đau khớp (Arthralgia-Bi Syndromes) 251
CHƯƠNG V: Các phan bỏ túc đặc biệt về châm cứu và
GUC thao .e 271
A BAN LIET KE TAT CA CAC HUYET CUA
42 CHÍNH KINH TQ TH Hee, 271 _
1 PHÉ KINH (PHỎI) Q0 TS nen 271 -
2 ĐẠI TRƯỜNG KINH (RUỘT GIÀ) -.- - 272
3 VỊ KINH-DẠ DÀYY Án S S2 512115 1151 me rryeg 275
4 ĐỞM KINH-TÚI MẠTT - (225C 2E zvrrzrrkc 278
5 TY KINH—LÁ LÁCH - - - Ă ST St rrey 283
6 TÂM KINH——TIM -.- -Ă Sc SH TS ni, 286
7 THẬN KINH-THẬN KIDNEY FOOT SHAO YIN 288 8.TIEU TRUONG KINH—RUOT NON SMALL INSTESTINE HAND TẠI YANG ST 211tr, 291
9 TÂM BÀO KINH—MÀNG TIM ào 293
10 TAM TIÊU KINH-BA NÓNG í các 295
Trang 73 Xung Mạch-Chong Mai: the Penetrating Vessel: 309
4 Dai Mach-Dai Mai: the Girdling Vessel: 311
5 Am Duy Mach-(Yin Qiao), the Yin Motility Vessel: 312
6 Duong Duy Mach—(Yang Qiao),
Dương Cược Mạch-(Yang Wei):
the Yang Linking Vessel: c co cẶằằẶằằ 314 Âm Cược Mạch—(Yin Wei): the Yin Linking Vessel: 316
D NHÓM HOI HUYET (Eight Influential Points) 318
E NHÓM GIAO HỘI HUYỆT
(Eight Confiuential Poinfs) .ccàằ 319
F NHÓM DU HUYỆT (Back-Shu Points): 320
G NHOM MO HUYET (Front—Mu Points) 321
H Tên các Bệnh: Việt và English - 322
Phong- đột quy (Stroke)
Hen suyễn (Asthma)
Đau vùng thượng vị (Epigastric Pain)
Nôn mửa (Vomiting)
40 Nắc cục (Hiccup)
11 Đau bụng (Abdominal Pain)
12 Tiêu chảy (Diarrhea)
Trang 819 Đái dầm ban đêm (Nocturnal Enuresis)
20 Rối loạn đường tiểu (Urination Disturbance)
21 Sự bí tiểu (Retention of Urine)
22 Bat lực-Liệt dương (Impotence)
23 Mắt ngủ (Insomnia)
24 Tim hồi hộp (Palpitation)
25 Tram cảm-Rối loạn tâm than
(Manic-Depression disorder)
26 Bệnh động kinh (Epilepsy)
27 Chóng mặt (Dizziness)
28 Chứng u uất ( Melancholia)
29 Đau đầu (Headache)
30 Đau mặt (Facial pain)
31 Méo mắt và miệng
(Deviation of eye and Mounth)
32 Đau vùng hạ sườn
(Pain in Hypochondriac region)
33 Đau lưng (low back pain)
34 Đau khớp (Arthralgia)
35 Chứng rối loạn cơ bắp
(Paralysis / Muscular Atrophy)
I.Phương pháp do bằng ngón tay 324
J Góc độ của kim châm vào bề mặt da 324
K Chan doan bang lưỡi và mạch - 325
Trang 9CHƯƠNG l: Giới thiệu
1 Mục đích
Cuốn sách này trình bày các ứng dụng lâm sàng về châm cứu Sử dụng những lý thuyết về các nghiên cứu đã có trước đây, các kinh mạch, huyệt đạo và cách chẵân đoán Người học sẽ được giới thiệu về sự tích hợp của tất cả các khía cạnh trong việc tiếp cận các loại bệnh khác nhau và nhận diện các trạng thái của bệnh và nó đã được trình bày trong các bộ sách cơ bản lớn với các nghiên cứu về từng trường hợp của bệnh Bộ sách này bao gồm phần đầu của nghiên cứu về các bệnh nội khoa
Thông qua nghiên cứu của cuốn sách này, người học sẽ được dự kiến và chứng minh khả nang chan đoán và xác định phương pháp điều trị dựa trên công thức chẩn đoán và đánh giá hiệu quả của phương thức điều trị và thực hiện của nó đối với từng bệnh trong phạm vi Châm cứu của
cuốn sách này
2 Sơ lược về Lịch Sử Châm Cứu
Y khoa châm cứu, hoặc sử dụng châm cứu cho mục
đích y tế, là một hình thức chữa bệnh rất cổ xưa mà tồn
tại ngay cả trước khi lịch sử ghi lại Triết lý của nó bắt nguồn từ truyền thống Giáo mà đi trở lại trên 8000 năm Trong thời gian này, người ta đã suy niệm và quan sát
dòng lưu thông của năng lượng (được gọi là Qi) bên
trong cơ thể và bên ngoài của môi trường xung quanh Nhiều người trong thời kỳ này đã quan tâm để quan sát mối quan hệ của con người với thiên nhiên và vũ trụ
Trang 10
Trong thời gian huyền thoại (2953-2336) trước Công
nguyên, Fu shi, (khoảng 2953) trước Công nguyên Là
vị vua đầu tiên và cũng được coi là người sáng lập ra nền văn minh Trung Quốc Ông đã xây dựng định luật tự nhiên thống trị vũ trụ và trái đất Ông cho rằng toàn bộ
vũ trụ đã được quy định bởi sự tương tác của hai yếu tó:
Âm và Dương (2 lực lớn trong vũ trụ để tạo và phá hủy -
sự sống), và định luật Âm-Dương được hình thành như cột trụ của lý thuyết y học Trung Hoa Lý thuyết này sau
do da dan dén Bat quai va 64 Qué cua I-Ching (Book
of Change) va méi cuốn sách có ảnh hưởng trên Y hoc
Trung Quốc là dựa trên triết lý cơ bản này
Nói chung, lịch sử của Trung Quốc được chia thành
hai khoảng thời gian Thời đại đồ đá cũ (hơn 10.000 năm trước) và Thời đại đồ đá mới (10,000-4000 năm trước)
Trong thời kỳ đồ đá cũ, dao được làm bằng đá và được
sử dụng cho một số phương thức y tế Trong thời kỳ đồ
đá mới, đá được tỉnh chế thành kim rất nhỏ và phục vụ như là dụng cụ chữa bệnh Nó được đặt tên là đá Bian-có nghĩa là sử dụng một lưỡi đá sắc nhọn để điều trị bệnh Nhiều kim đá Bian đã được khai quật từ đống đỗ nát ở Trung Quốc nơi đã đánh dấu thời kỳ đồ đá mới
Các mốc quan trọng nhất trong lịch sử của châm
cứu trị liệu xảy ra trong thời gian Huang Di-Hoàng Đế
(2697-2597 trước Công nguyên) Trong một cuộc đối
thoại nỗi tiếng giữa Huang Di và bác sĩ Q¡i Bo của mình,
họ đã thảo luận về toàn bộ phạm vì nghệ thuật Y tế Trung
Quốc Những cuộc trò chuyện sau này đã trở thành các Ì
văn bản vỉ đại-Bộ sách Jing Nei (The Yellow Emperors | Classic of Internal Medicine) Jing Nei là cuốn sách sớm: :
nhát bằng văn bản về Y học Trung Quốc Nó được biên „
Trang 11
soạn khoảng 305-204 trước Công Nguyên và bao gồm hai phần:
1 Bộ sách Wen Su (các câu hỏi giản dị)-9 tập với 81
chương Bộ sách này giới thiệu về giải phẫu và sinh lý học, nguyên nhân của bệnh, bệnh học, chẵn đoán, sự khác biệt của các hội chứng, đề phòng, âm dương, ngũ hành, điều trị, và mối quan hệ của con người với thiên nhiên và vũ trụ
2 Bộ sách Shu Ling (Trục kỳ diệu, Trục tâm linh)-81 chương Bộ sách Shu Ling tập trung về điều trị châm cứu, mô tả các kinh mạch, chức năng của các cơ quan
âm-dương, chín loại kim châm, chức năng của các huyệt
điều trị châm cứu, kỹ thuật châm, các loại khí lực (Qi), vị trí của 160 huyệt
Khoảng 1000 trước Công nguyên, thời nhà Thương,
những chữ tượng hình cho thấy bằng chứng về Châm
cứu và Moxibustion Kim đồ đồng được khai quật từ đống
đỗ nát, nhưng những viên đá Bian vẫn là hình thức chính
của kim châm cứu
Trong thời đại Chiến Quốc (421-221 BC) kim châm
bằng kim loại thay thế đá Bian Bốn kim vàng và năm kim
bạc đã được tìm thấy trong một ngôi mộ cổ có niên đại 113B.C Trục kỳ diệu tên của chín loại kim châm cứu Tài liệu lịch sử ghi nhận nhiều bác sĩ thực hành điều trị châm cứu trong thời gian này Một cột mốc quan trọng cho thời
kỳ này là việc biên soạn bộ sách khảo cổ học Jing Nan
(cuốn sách của các câu hỏi khó khăn) Bộ sách khảo cổ
học Nan Jing thảo luận về những yếu tố lý thuyết ngũ hành, chẩn đoán khó, kỳ kinh bát mạch và các chủ đề quan trọng khác.
Trang 12
Từ 260-265 AD, bac sĩ nỗi tiếng Huang Fu Mi, thiết lập lại tất cả các nền văn học cổ đại vào văn bản cổ điển của mình-hệ thống kinh điển của Châm cứu và Moxibustion
Văn bản được chứa trong 12 tập và mô tả 349 huyệt điều
trị châm cứu Nó được tổ chức theo lý thuyết: cơ quan âm-dương, khí lực (Qi) và máu, các kinh mạch và kinh mạch phụ, các huyệt châm cứu và ứng dụng lâm sàng - Cuốn sách này được ghi nhận là một trong những văn
bản có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử của Y học Trung
Quốc
Châm cứu điều trị rất phổ biến ở miền Nam và Bắc vào triều đại Jin (265-581 AD) Đối với thế hệ của gia đình Xu Xi được gọi là các chuyên gia trong nghệ thuật điều trị bằng châm cứu Trong thời gian này những văn bản quan trọng và các biểu đồ đã giúp nâng cao kiến thức và ứng dụng
Châm cứu điều trị có kinh nghiệm phát triển tốt trong
đời nhà Tùy (581-618 AD) và nhà Đường (618-907 AD) Theo yêu cầu của Chính phủ đời nhà Đường (627-649
AD), bác sĩ nỗi tiếng Zhen Quan sửa đổi các văn bản Châm cứu quan trọng và biểu đồ Một bác sĩ nỏi tiếng khác cũng trong thời gian này là Sun Simio, đã viết toa châm cứu lấy tên là “Toa thuốc ngàn vàng cho trường hợp khan cap” (650-692 AD) Toa thuốc bao hàm chẩn đoán
bắt mạch, toa thuốc dược thảo, châm cứu, moxibusfion
và sự kiêng cử Văn bản này bao gồm dữ liệu về phương pháp điều trị châm cứu từ các học giả khác nhau Trong thời gian này điều trị châm cứu đã trở thành một chi nhánh đặc biệt của y học và các học viên được đặt tên
là thầy châm cứu Trường học dạy Châm cứu xuất hiện,
Trang 13giảng dạy
Triều đại Yuan, 1280-1368 A.D, hai trường học xuất hiện và các học viên của châm cứu và moxibustion được chia ra liên quan đến các khía cạnh lý thuyết và thực tế của y học Một trường học chủ yếu là giữa các viện sĩ, thuốc thảo mộc được ưa thích như là sự lựa chọn điều trị, trong khi châm cứu và Moxibustion hiếm khi được sử dụng, trong trường học khác kinh nghiệm lâm sàng và kỹ năng đã được nhắn mạnh nhưng không phải là nền tảng
lý thuyết của y học Trong triều đại này, Hua Bo Jen, đã viết cuốn sách được gọi là “ “Trình bày mười bốn kinh mạch”, ông đã phân loại lần đầu tiên các kinh mạch ở trước (Nhâm Mạch) và các kinh mạch ở sau (Đốc Mạch)
dé có được tổng cộng mười bốn kinh mạch Khoảng năm
1363 AD, ông Fu Tai Be Le, viết một cuốn sách gọi là
“Sách Vàng Phong Lan”, trong đó có đồ bản vẽ và mô
tả các vị trí giải phẫu của các huyệt châm cứu của mười bốn kinh mạch
Triều đại nhà Minh (1568-1644) là thời kỳ khai sáng cho sự tiến bộ của điều trị châm cứu Nhiều phát triển mới bao gồm:
‹© - Sửa đổi các văn bản cổ điển
‹- - Tinh tế của các kỹ thuật châm cứu và thao tác
Trang 14
Phát triển gậy Moxa để điều trị gián tiếp
Phát triển thêm các huyệt ngoài kinh mạch chính Công trình Bách Khoa của 120 tập-Nguyên tắc và
thực hành Y khoa được viết bởi bác sĩ nổi tiếng
Wang Gendung
dJizhou Yang đã viết Zhenjin Dacheng (Nguyên tắc châm cứu và Moxibustion) đây là một luận án to - lớn về y tế châm cứu tăng cường các nguyên tắc
của Jing Nei và Nan Jing Đề án này là nền tảng
giáo lý của G Soulie de Morant người đã giới thiệu châm cứu điều trị đi vào Châu Âu
Từ thời nhà Thanh đến các cuộc chiến tranh nha
phiến (1644-1840), thảo dược y học đã trở thành
công cụ chính của các bác sĩ và điều trị châm cứu
khỏe của quân đội Do đó Mao Trạch Đông, lãnh
đạo của Đảng Cộng sản, cho rằng châm cứu điều trị vẫn là một yếu tố quan trọng trong hệ thống y tế
của Trung Quốc Năm 1950, Chủ tịch Mao chính
thức thống nhất truyền thống Y học Trung Quốc
với Y học phương Tây, và phương pháp điều trị châm cứu đã được thành lập tại nhiều bệnh viện Trong cùng năm đó ông Chu De củng cố y học cổ
Trang 15
truyền Trung Quốc với cuốn sách Châm cứu mới
của mình
Trong cuối những năm 1950 tới năm 1960 châm cứu tiếp tục-nghiên cứu thêm các văn bản cổ đại,
hiệu quả lâm sàng trên nhiều bệnh khác nhau, gây
mê châm cứu, và ảnh hưởng của châm cứu vào
Các cơ quan nội tạng
Từ năm 1970 đến nay, châm cứu điều trị tiếp
tục đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống y tế
của Trung Quốc Mặc dù điều trị châm cứu đã trở
thành hiện đại hóa, nhưng nó sẽ không bao giờ bị
mắt triết lý nguyên thủy đã được thành lập hàng
ngàn năm trước.
Trang 16cả hai mắt mo đi, bất ngờ gặp rắc rối khi đi bộ, chóng
mặt, hay mắt thăng bằng Hoặc đột ngột đau đầu nang không rõ nguyên nhân
B - Có hai dạng đột quy:
4 Thiếu máu cục bộ-sự tắc nghẽn các mạch máu cung cấp cho não,
2 Và xuất huyết-chảy máu vào hoặc xung quanh não
C Xuất huyết trong não (xuất huyết, hoặc tụ
máu nội sọ)
Khi các mạch máu trong não trở nên hư hỏng, nó
có nhiều khả năng bị vở và gây ra xuất huyết Nó là gì? Xuất huyết trong não xảy ra khi mạch máu bị bệnh trong não bị vỡ, để cho máu rỉ vào bên trong não Sự gia tăng đột ngột áp suất trong não có thể gây thiệt hại cho các tế bào não xung quanh máu Nếu số lượng
Trang 17
máu tăng lên nhanh chóng, sự tích tụ đột ngột áp suất
có thể dẫn đến bát tỉnh hoặc chết Xuất huyết trong
não thường xảy ra trong các phần của não bộ, bao
gồm cả các hạch nền, cuống não, tiểu não, hoặc vỏ não
D Đột quy thiếu máu cục bộ
Đột quy thiếu máu cục bộ xảy ra khi một động mạch trong não bị tắc nghẽn Nó là gì? Thiếu máu cục bộ đột quy xảy ra khi một động mạch lên não bị tắc nghẽn Bộ não phụ
thuộc vào động mạch của mình để mang lại
máu tươi từ trái tim và phổi Máu mang oxy
và chất dinh dưỡng đến não, và lấy đi lượng khi carbon dioxide và các chất thải tế bào
Nếu động mạch bị tắc nghẽn, các tế bào não (tế bào thần kinh) không có đủ năng lượng
dưới màng nhện xảy ra khi mạch máu bị vỡ
ngay bên ngoài não Diện tích của hộp sọ bao quanh não (khoảng trống dưới màng nhện) nhanh chóng lắp đầy máu Một bệnh nhân xuất huyết dưới màng nhện có thể bị nhức đầu, dữ dội, đau cổ và buồn nôn hoặc
Trang 18
G
Đột q vong,
nôn mửa Đôi khi điều này được mô tả như
là đau đầu tôi tệ nhất của một đời người Sự tích tụ đột ngột của áp suất bên ngoài não cũng có thể làm mát sự tĩnh táo, hoặc tử vong
Dấu hiệu cảnh báo khác có thê bao gồm:
Thình lình tê ở cánh tay, mặt, hoặc chân, đặc biệt là ở một bên của cơ thế
thình lình nhầm lẫn, nói khó khăn hoặc phát biểu sự hiểu biết
thình tình thấy khó khăn trong một hoặc cả hai mắt thình lình gặp khó khăn đi bộ, chóng mặt, mat thang bằng hoặc cả hai
Đau đầu dữ dội đột ngột không rõ nguyên nhân
‹ Đột quy giết chết 275.000 người vào năm 2002
và
Kỳ
chiếm khoảng 1 trên 15 ca tử vong tại Hoa
‹ Ở mọi lứa tuổi, 40.000 phụ nữ nhiều hơn nam giới bị bệnh đột quy
Trang 19
‹ 28% số người bị đột quy trong một năm là dưới
65 tuổi
‹ So với người da trắng, người Mỹ trẻ gốc Phi có
rủi ro lớn hơn gap ba lan đột quy thiếu máu cục
bộ, và người đàn ông Mỹ gốc Phi và phụ nữ có nhiều khả năng chết vì đột quy
‹Ổ Khoảng 47 phan trăm tử vong đột quy xảy ra
‹ Tỷ lệ trung bình độ tuổi bị đột quy của người Mỹ
tuổi từ 20 tuổi trở lên là 2.2% cho Tây Ban Nha không phải người da trắng và 1.5% đối với phụ nữ; cho người da đen không phải gốc Tây Ban Nha, 2,5% đối với nam giới và 3,2% đối với phụ nữ; và
cho người Mễ tây cơ ở Mỹ, 2,3% đối với nam giới và
1,3% đối với phụ nữ (theo NHANES-National Health and Nutrition Examination Survey, 1988-1994)
- Đột quy là nguyên nhân trầm trọng tạo nên bệnh khuyết tật lâu dài ở Hoa Kỳ
‹ 8-12% chứng đột quy thiếu máu cục bộ và 37-38% kết quả đột quy xuất huyết tử vong trong vòng 30 ngày
° 8% đàn ông và 11% phụ nữ sẽ bị một cơn đột quy trong vòng sáu (6) năm sau khi bị một cơn đau tim
Trang 20* 14% những người bị một lần đột quy sẽ bị lần tới
trong một vòng một năm
¢ 22% nam giới và 25% phụ nữ bị chết vì đột qụy
lần đầu tiên trong vòng một năm
H Nguyên nhân gây ra đột quy?
1 Tất cả các loại đột qụy có nhiều nguyên nhân khác nhau, nó bao gồm:
2 Bệnh về động mạch-các động mạch bị tắc
nghẽn thường là kết quả của xơ vỡ động
mạch (athersclerosis), đóng cặn và thu hẹp của động mạch với một hỗn hợp của
cholesterol và các mảnh vụn khác, được gọi
là atheroma
3 Phình mạch (Aneurysm)-Đây là một điểm yếu trên thành động mạch gây ra, nó căng ra
một chỗ nhỏ như quả bóng Các thành mạch trở nên mỏng và sự căng thẳng làm vỡ và
gây chảy máu vào não bộ
4 Rung tam nhi-Day là một loại nhịp tim không đều (arrhythmia-loạn nhịp tim) Nó có thể gây
ra một cục máu đông hình thành ở trong tim
có thê cắt ra và đi lên não
I Ai có nguy cơ?
a Cac yếu tố về lối sống
1 Một vài nguy cơ đang trong vòng kiểm soát
của bạn Đây là những yếu tố về lối sống như:
2 Hút thuốc-những người hút thuốc có nguy
cơ gấp hai lần đột quy
Trang 21
3 Không hoạt động-những người có thé chat không hoạt động có nguy cơ gấp hai lần đột quy
như những người hoạt động vừa phải
4 Rượu-uống rượu qúa độ và thường xuyên uống rượu nặng, cả hai đều có nguy cơ tăng đột quy
5 Chế độ ăn uống-một chế độ ăn uống nhi èu muối và thức ăn béo có liên quan đến cao huyết
áp và xơ vữa động mạch, làm tăng nguy cơ đột
3 Cac van dé tim mach-dang có bệnh mạch mau, dau thắt ngực hay viêm yết hầu, nhồi máu cơ tim hoặc bị thiếu máu cục bộ từ trước và rung tâm nhĩ (một dạng của nhịp tim bắt thường) làm tăng nguy cơ đột quy
4 Bệnh tiểu đường-bệnh tiểu đường tang gap đôi nguy cơ đột quy
c Các yếu tố khác:
4 _ Một số yếu tố rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của bạn và không thể được điều trị bằng y khoa Chúng bao gồm:
Trang 222 - Tuổi - đột qụy phổ biến ở những người trên 55 tuổi
3 Sex - những người đàn ông có nhiều khả năng bị đột qụy hơn so với phụ nữ, đặc biệt là
đàn ông ở dưới 65 tuổi
4 — Dân tộc - Nam châu Á, châu Phi và châu Phi Caribbeans có nguy cơ cao hơn về chứng - đột quy
5 Di truyén - nếu bạn có một người thân
trong gia đình đã bị đột quy ở tuổi trẻ (dưới 50) bạn có nguy cơ bị đột qụy rất cao
J Nguyén nhan va Bénh ly
* Theo Đông Y học-Gan, Tim, Thận Gió
(phong), Đờm, Lữa (hỏa), có thể gây ra sự
bất hòa giữa Âm và Dương, sự điều hòa của khí lực và máu kém và tâm thần không thể kiêm soát khí lực của cơ thể Hoặc các kinh mạch bị xâm nhập, hay các cơ quan nội tạng bị ảnh hưởng
dương Năm cơ quan âm là trái tim (bao gồm cả
các màng ngoài tim-Tâm Bào), phổi, lá lách, gan
và thận Sáu cơ quan Dương là Túi mật, dạ dày, ruột già, ruột non, bàng quang và tam tiêu Zang
và fu được phân loại theo các tính năng khác nhau của nó Năm cơ quan Âm chủ yếu là sản xuất và
Trang 23lưu trữ các chất: khí, máu, dịch cơ thể Sáu cơ quan Dương chủ yếu là tiếp nhận và tiêu hóa thức
ăn, hấp thụ các chất dinh dưỡng, truyền tải và bài
tiết chất thải
‹ Gây ra bởi gió (phong) và lửa (hỏa) tần công các
cơ quan nội tạng, điều này rất nghiêm trọng hơn khi các kinh mạch bị xâm nhập
A Hội chứng đột quy căng thẳng:
Té xuống và bắt tỉnh hai tay co lại, hai hàm răng cắn lại, mặt đỏ, thở hụt, khỏ khè trong cé hong, bi tiểu, táo
bón, lưỡi đỏ có lớp màu vàng, hay có lớp màu đen xám, mạch chuỗi-căng và mạnh
1 Phân giải: Phong (gió) làm rối loạn và gan dương xông lên, đưa khí và máu trở lên, cộng với đờm-hỏa tích tụ phá rối tâm thần, tạo nên sự bất tỉnh do đó bệnh nhân co tay , cắn răng, mặt đỏ, thở hụt, bí tiểu và táo bón Phong, đờm qua thai tao nên khò khè trong cỗ họng, lưỡi đỏ và có lớp màu vàng dày hay đen xám, mạch chuỗi-căng và mạnh, hay trơn,
đó là những dấu hiệu của phong (gió) kết hợp với
đờm hỏa
2 Phương pháp trị liệu: Những huyệt của ĐÓC
MẠCH, CAN (gan) MẠCH, và 12 Tỉnh huyệt
(Jing-Well) được chọn là những huyệt chính để thúc đẫy hồi sức, hạ phong, hạ hỏa và tan dom Một trong hai phương pháp làm giảm hoặc giác (chích vào 12 huyệt (Tỉnh Huyệt) ở đầu các ngón tay) được áp dụng
Trang 24ST 45), TUC KHIEU AM (Gallbladder GB-44) , - | CHI AM (Urinary Bladder UB 67)
4 Toa thuéc: BACH HOI! (DU-20), THUY CAU (DU-26), PHONG LONG (ST-40), THA] XUNG (LIV-3), DUNG TUYEN (KID-1) va 12 (Jing-Well)
Tỉnh huyệt trên hai tay THIẾU THƯƠNG, THIẾU
XUNG, THƯƠNG DƯƠNG, QUAN XUNG, THIẾU TRẠCH
1 Phân giải: Năng lực chính qúa suy nhược, âm dương bị phân ly và các cơ quan nội tạng âm bị kiệt quệ, gây ra há hốc mồm, mắt nhắm lại, ngáy, nhưng hơi thở yếu ớt, tứ chi mềm nhẽo, đái tháo Lưỡi mềm, mạch yếu và nhỏ do máu suy hay thiếu và
Trang 25———-
tình trạng suy nhược của thận dương Trong trường hợp nặng, tay chân lạnh, mặt đỏ và nhám, có mạch qúa yếu hoặc nỗi Đây là trường hợp rất nguy cập, cho thấy sự kiệt quệ của bộ phận Âm ở dưới cơ thể
và phần trên Dương của cơ thế bị cô lập
Phương pháp trị liệu: Áp dụng phương pháp
Moxibustion ở kinh mạch Nhâm Mạch để khôi phục dương khí đã bị suy sụp
Toa Thuốc: huyệt THẦN KHUYÉT, KHÍ HAI, Gian
tiếp moxibustion với muối, QUAN NGUYÊN
Tấn công vào các kinh mạch và các mạch phụ thuộc: có hai loại, một loại là các kinh mạch và mạch phụ thuộc bị tân công nhưng những cơ quan nội tạng âm dương không bị liên hệ, loại thứ hai là sau khi cơ quan nội tạng âm dương được hồi phục
do ảnh hưởng của phong-đột quy, để lại máu và
khí lực ứ đọng ở các kinh mạch và các mạch phụ thuộc
1 Biểu hiện chính: Bệnh liệt nửa người (hemiplegia), tay chân bị tê, méo miệng, khó khăn khi nói chuyện, cộng với đau đầu, chóng mặt, co giật cơ bắp, mắt đỏ và mặt đỏ hừng, khát nước, khô cổ, khó chịu, mạch trơn trượt và chuỗi-căng và mạnh
2 Phân giải: Phong-Đờm đi vào các kinh mạch
và mạch phụ do sự thiếu cân bằng của Âm và
Dương, hoặc sau khi chữa trị, chức năng của các cơ quan nội tạng bi ảnh hưởng được hồi
Trang 26phục nhưng Phong-Đờm vẫn còn chặn các kinh mạch và mạch phụ làm cho sự lưu thông của khí lực và máu chậm lại do đó tạo ra bệnh liệt
nửa người (hemiplegia), tay chân bị tê, méo
miệng, khó khăn khi nói chuyện Trong trường
hợp phức tạp, Gan dương bùng phát, và trở
lên để gây rối phong dương, tạo ra các triệu:
chứng như đau đầu, chóng mặt, co giật cơ bắp
Trong trường hợp thái qúa của Hỏa ở Tim và
Gan, có các triệu chứng như mắt đỏ và mặt đỏ hừng, khát nước, khô cổ, khó chịu Sự ứ đọng của Phong Đờm ở các kinh mạch và mạch phụ thuộc gây ra mạch trơn-trượt hoặc chuỗi-căng
và mạnh
Phương pháp trị liệu: Dùng những huyệt ở ĐÓC MẠCH và các kinh mạch Dương ở phần thân thể bị liệt để điều hòa khí lực và máu, đả thông những tắc nghẽn các kinh mạch và các mạch phụ thuộc Châm kim theo lối di chuyền
bằng phẳng ở phần cơ thể không bị ảnh hưởng
(không bị liệt) trước, rồi sau đó châm ở phần bị
ảnh hưởng
Toa thuốc: huyệt BÁCH HỘI, THÔNG THIÊN,
PHONG PHỦ
¢ Phần trên của tứ chỉ: KIÊN NGUNG (LI-15),
KHUC TRI (LI-11), NGOẠI QUAN, HỢP CÓC
- _ Phần dưới của tứ chỉ: HOÀN KHIÊU, DƯƠNG LANG TUYẾN, TÚC TAM LÝ, GIẢI KHÊ
¢ Huyét bé tuc:
Trang 27
1 Sự quấy rối đi lên của Phong Dương: Dùng phương pháp giảm ở huyệt PHONG TRÌ, THÁI XUNG và dùng phương pháp gia cố
ở huyệt THÁI KHÊ, TAM ÂM GIAO
2 Hỏa (thái quá) ở Tim và Gan: Dùng
phương pháp giảm ở huyệt ĐẠI LĂNG,
HÀNH GIAN, và dùng phương pháp gia
cố ở huyệt THÁI KHÊ
3 Méo miệng: ĐỊA THƯƠNG, GIÁP XA
2 Sự bắt tỉnh
A Nguyên nhân gây ngất xỉu?
- Ngắt xỉu, còn được gọi là ngắt, bát tỉnh có thể
liên quan đến nhiều thứ khác nhau Có nhiều
van đề có thê là nguyên nhân gây ra Ngat xiu
Đôi khi không tìm thây một nguyên nhân cụ thể
nào gây ra ngắt xỉu
Ngất xỉu có thể xảy ra khi lượng oxy không đủ đi qua
máu để vào trong não của bạn Bạn bị mắt trí nhớ, hoặc
bị ngất đi trong một thời gian rất ngắn-chỉ một vài giây
hoặc vài phút
1 Bạn đứng lên qúa nhanh
2 Bạn làm việc hay chơi thể thao qúa sức, đặc
biệt là khi trời đang nóng
3 Bạn bắt đầu hít thở quá nhanh (gọi là
hyperventilating)
4 Ban thay bực bội, rất khó chịu Bực bội hay
khó chịu có thể ảnh hưởng đến dây thần kinh kiểm soát huyết áp của bạn
5 Bạn đang uống thuốc cao huyết áp
Trang 28Ho hay đi tiêu và kéo dài cũng có thể làm
cho dòng oxy không đủ tới não và có thể là
nguyên nhân gây ra ngắt xỉu Nếu bạn ngất xỉu một trong các trường hợp này, bạn không nên lo lắng Nhưng nếu điều đó xảy một vài lần, bạn nên tham khảo với bác sĩ
Nếu bạn ngắt xỉu khi bạn quay đầu sang một
bên, xương ở cỗ của bạn có thể kẹp vào một trong các mạch máu dẫn đến não của bạn Nếu điều này xảy ra với bạn, bạn phải tham khảo với Bác sĩ về trường hợp này
Sự sụt giảm đường trong máu của bạn cũng
có thể làm bạn ngắt xỉu Điều này có thể xảy
ra nếu bạn bị bệnh tiểu đường, nhưng nó cũng có thể xảy ra nếu bạn nhịn ăn trong một thời gian dài
Một số thuốc tây có toa của bác sĩ có thể gây
ngất xỉu Nếu bạn nghĩ rằng ngất xỉu có liên quan đến một loại thuốc bạn đang dùng, nên cho bác sĩ biết Rượu, thuốc phiện, cocaine
và cần sa cũng có thể gây ngất xỉu
Nguyên nhân Nghiêm trọng hơn gây ra ngất:
xỉu bao gồm chứng động kinh và các vấn dé trở ngại với trái tim hoặc với các mạch máu dẫn lên não
B Nguyên nhân và bệnh lý
1 Loại suy yếu: Bát tỉnh của loại này là do
sự suy yếu chính của khí lực và sự hư hại
của dương khí không đi lên được do sự qúa
|
Trang 29
căng thẳng, sự buồn rầu, lo sợ, hay sự kiệt
quệ của khí lực sau khi bị ra máu quá nhiều
Sự Khác biệt: Hơi thở yếu ớt, miệng
hở, mồi hôi ra liên tục, sắc mặt tái, tứ
chỉ lạnh, mạch sâu và chuỗi-căng
Phân giải: Chóng mặt, bất tỉnh, hơi
thở yếu ớt là do sự hư hao Suy yếu
chính của khí lực, sự đảo lộn đột ngột
của chiều hướng khí lực, khí lực tỳ và
dạ dày bị đắm chim, mat khả năng đưa
Dương khí sạch đi lên Tứ chi lạnh do
khí lực Dương hư hao Khí lực chính
suy yếu và khí lực quan trọng của sanh
mạng bát lực không kiểm soát được
lễ chân lông để mồi hôi ra liên tục và
miệng hở Mạch sâu và chuỗi-căng do
khí lực sống còn của cơ thể bị suy yếu
Phương pháp trị liệu: Những huyệt ở
BOC MACH va TAM BAO KINH duoc
xử dụng như những huyệt chính dé lam
bệnh nhân tỉnh lại, gia cố khí lực, tiếp
sinh lực Dương Áp dụng phương phá
gia cố và moxibustion (Moxibustion là
một cánh dùng nhiệt cháy, kích thích các
huyệt châm cứu của cơ thể Thuật ngữ
này bắt nguồn từ “mogusa” Nhật Bản
có nghĩa là loại thảo dược (mugwort)
và “bustion” tiếng Latin có nghĩa là đốt
cháy)
Trang 30
IV Toa thuédc: THUY CAU, BACH HOI, |
NOI QUAN, KH/ HAI, TUC TAM LY -
THUY CAU, BACH HOI, NOI QUAN
những huyệt để làm bệnh nhân tỉnh lại, -
KHÍ HẢI, TÚC TAM LÝ, dùng dé gia cố -
khí lực và tăng thêm sinh lực Dương ị
Loại thái qúa: Do sự xáo trộn về tình cảm như giận dỗi, sợ hãi, dẫn đến rối loạn sự
lưu thông của khí lực, vội vã trở lên Tim và
ngực, làm tắc nghẽn khí quản, và làm tinh i than bat an hay làm bộc phát Gan Dương, | dòng khí lực đi lên cùng với sự đảo lộn của dòng máu sau một cơn tức giận làm quấy
rối tâm thần và làm bát tỉnh
¡i Sự khác biệt: Thở hỗn hễn, cứng chân tay, quai hàm siết chặt, mạch sâu và loại quá xung khí lực bị sai lạc sau một cơn giận dữ, làm những hoặc động của khí lực bị cản trở, máu cùng khí lực đi ngược lên quấy rối tam than dẫn đến
Sự SUY sụp, bất tỉnh, quai hàm siết chặt, cứng chân tay Sự ứ đọng khí lực ở phổi tạo nên hơi thở thô Mạch sâu và loại
thái quá là dấu hiệu của hội chứng dư
thừa (quá thái) Bất tỉnh thể hiện qua sự thình lình ngất xỉu nên được phân biệt giữa phong-đột quy và bịnh trúng phong
(động kinh), Phong-Đột quy: ngắt xỉu, nó
phức tạp với triệu chứng liệt nửa người
và méo miệng, thường bị dị tật sau khi được hồi phục Bị trúng phong (động
Trang 31kinh): Bát tỉnh đi đôi với chứng co giật, nước bọt tràn ra miệng hay la hét Khi con bat tinh được hồi phục, bệnh nhân
trở lại bình thường
¡ Phương pháp chữa trị: Phương pháp giảm được áp dụng cho các huyệt ở
ĐÓC MẠCH và TÂM BÀO KINH, để thúc
đây cho bệnh nhân tỉnh lại và điều hòa lưu lượng khí lực
iii Toa thuốc châm cứu: THỦY CÁU, HỢP CÓC, LAO CUNG, TRUNG XUNG, ÁI XUNG, DŨNG TUYÊN
3 Nắng-đột qụy
| - Nắng-đột quy là một tình trạng có thể đe
| dọa đến tính mạng, do hệ thống điều nhiệt
của cơ thể bị mất kiểm soát, bởi tiếp xúc với nhiệt độ cao
‹ Nắng-đột quy có thể xảy ra khi cơ chế của
cơ thé không còn khả năng để loại bỏ nhiệt
dư thừa ở môi trường rất nóng hoặc ẩm ướt,
hoặc cơ thể hoạt động không ngừng
a Nguyên nhân gây nắng-đột qụy?
- Nắng-đột qụy thường xảy ra sau khi tiếp xúc với nhiệt độ cao, ví dụ làm việc trong một môi
trường rất nóng, đặc biệt là bạn chưa bao giờ
làm trong mội trường này; tập luyện quá sức, đặc biệt là vào mùa hè, hoặc khi bạn bị lên cơn
Trang 32sốt có liên quan với bệnh tật Thời tiết 42m ướt |
sẽ làm cho cơ chế làm mát của đỗ mồ hôi ít :
hiệu quả Mặc áo qúa dày, ăn quá nhiều và
uống quá nhiều rượu có thể là yếu tố góp phần
cho chứng nắng-đột quy
° Các nguyên nhân chính của các triệu chứng -
la mat chat sodium and chloride (chất tạo nên ¡
muối), hơn là số nước bị mát
b Ai bị nắng-đột qụy và những người có nguy cơ
‹ Bất cứ ai tiếp xúc với nhiệt độ cao có nguy cơ nắng-đột quy, nhưng các nhóm sau đây có nguy
cơ đặc biệt cao và phải có biện pháp phòng ngừa đặc biệt để tránh nóng, những nơi kém thông thoáng và nỗ lực trong thời tiết nóng:
« Trẻ em
- Người cao tuổi
c Những người có tình trạng mãn tính như:
° Xơ cứng động mạch và suy tim sung huyết
‹ Bệnh tiêu đường (diabette mellitus), thường
chỉ đơn giản gọi là bệnh tiểu đường, là một nhóm các bệnh chuyễn hóa, trong đó một người bệnh có lượng đường trong máu cao, hoặc vì
cơ thể không sản xuất đủ insulin, hoặc bởi vì các tế bào không đáp ứng với insulin được sản xuất
Trang 33° Những người dùng một số thuốc tây có thé
ảnh hưởng đến sự điều hòa nhiệt độ của cơ
thể Một số thuốc bao gồm:
‹ - Thuốc tiêu hóa có chứa atropine (ví dụ như
Donnatal),
‹Ổ Thuốc chống trằm cảm hoặc thuốc chống
loạn thần (ví dụ như Thorazine, Haldol,
Prozac),
* Thuốc kháng sinh-dị ứng (ví dụ như
Benadryl),
- - Thuốc tim mạch (ví dụ như Blocadren)
‹ - Thuốc lợi tiểu (Diuril)
‹ - Các loại thuốc cho bệnh Parkinson
‹ồ Những người tham gia các hoạt động thể
thao như chạy đường dài hoặc ởi xe đạp
‹ - Những người dễ bị tác động khi nhiệt độ lên
qúa cao
Các triệu chứng của nắng-đột qụy có thế
bao gôm:
s Nóng, da khô
«Ổ Không ra mò hôi (nh ững ng ư ời thường
thường không ra mồ hôi)
° Da mặt thay đổi, lần đầu tiên da mặt đỏ, sau
đó nhạt hoặc đổi sang màu tím
«ồ Thở nhanh và sâu hơn bình thường
(Hypervetilation)
¢ Mach mau đập nhanh, dội lên (sự luân chuyển
giữa một cường độ cao hơn bình thường, sau
đó biến mắt nhanh chóng)
‹ Nhiệt độ cơ thể tăng lên nhanh chóng đến 40
° € hoặc cao hơn
Trang 34- Nhức đầu
« Chuột rút cơ bắp
‹ Tròng đen mắt tăng kích thước (dilated pupil)
là vòng tròn, màu đen trung tâm của mắt Sự
giãn nở của Tròng đen là một phản ứng bình
thường đối với các mức thấp của ánh sánghay | bóng tối Phản ứng này giúp người ta nhìn thấy | tốt hơn trong các tình huỗng ánh sáng thấp
e Dấu hiệu về rối loạn tâm thần có thể bao
° Co giật
f Cac triệu chứng của kiệt sức vì nóng có thể
bao gồm:
« Suy nhược và mệt mỏi
‹ Căng thẳng hoặc đau cơ bắp
‹ Buồn nôn va ói mửa
‹© Da tái nhợt, lạnh và âm ướt
- Mạch máu đập yếu, nhanh
‹ Lẫn lộn, mập mờ
« Có nhiệt độ cơ thể bình thường (thường thường
có nhiệt độ bình thường, không thay đổi)
« Nhiệt chuột rút
° Ra mồ hôi nhi ều
‹ Chóng mặt hoặc đau đầu nhẹ
Trang 35¢ Ngat xỉu
« Nudéc tiéu vang dam hoadc mau da cam
‹ Nhức đầu
g Nguyên nhân và Bệnh ý: nóng mùa hè, một
yếu tố gây bệnh, được phổ biến trong thời gian
mùa hè khi thời tiết nóng Tiếp xúc với ánh
nắng mặt trời trong thời gian dài và một môi
trường có nhiệt độ cao, thường làm hư hao khí
lực Gây bệnh do hơi nóng mùa hè thường làm
hư hao khí lực chính và mắt nước trong cơ thể,
dẫn dén sự cạn kiệt khí lực và âm lực
h Sự khác biệt và chữa trị:
4 Loại nhẹ: Đau đầu, chóng mặt, ra mô hôi
nhiều, da nóng, hơi thở thô, khô miệng và
lưỡi, khát nước nhiều, mạch đập nhanh, bề
ngoài và lớn
a Phân giải: Gây bệnh nhiệt mùa hè có
xu hướng tần công vào đầu, đưa đến
đau đầu và chóng mặt Da nóng là kết
qủa của sự tích tụ của chứng gây bệnh
nhiệt mùa hè ở trên mặt của cơ thể Ra
mồ hôi nhiều, hơi thở thô, khô miệng và
lưỡi, khát nước nhiều, tất cả là do nước
trong cơ thể bốc hơi do nhiệt mùa he
Mạch đập nhanh, bề ngoài và lớn là dấu
hiệu của chứng bệnh nhiệt mùa hè
b Phương pháp chửa trị: Phương pháp
giảm được áp dụng ở các huyệt của
ĐÓC MẠCH, TÂM BÀO KINH và ĐẠI
TRƯỜNG KINH để loại bỏ nhiệt mùa
Trang 36
hè
c Toa thuốc: ĐẠI CHÙY (DU-14), NỘI QUAN (PC-6), KHUC TRi (LI-11), Y HY (BL-40)
2 Loại nặng: Dau dau, khác nước nhiều, hơi thở ngắn, bắt đầu thở hụt hơi, và sau đó ngã quy và bắt tỉnh, ra mồ hôi, mạch sâu
và không có lực
a Phân giải: Triệu chứng này thường xãy |
ra vào mùa hè trời nóng và làm việc bằng |
chân tay ngoài trời Qúa mệt mỏi, cộng với |
cơn nóng mùa hè làm cho kháng thể của |
cơ thể thấp xuống, và yếu tố gây bệnh quá |
thái do sự mất mát của khí lực và nước | trong cơ thể, do đó gây nên đau đầu, khát - nước nhiều và thở hụt ở ban đầu Và | nhanh chóng nó thắm sâu vào trong cơ | thé, Anh hưởng đế Tâm Bào Kinh và quấy | rối tam than Vi thé bat tỉnh xảy ra Mạch | sâu và yếu cho thấy sự kiệt quệ của khí |
lực và dung dịch trong cơ thể |
b Phương pháp chữa trị: Phương pháp
giảm được áp dụng ở các huyệt của ĐÓC Ì MẠCH giúp cho bệnh nhân tỉnh lại và làm |
hạ nhiệt
c Toa thuốc: THỦY CÁU (DU-26), BÁCH
HỘI (DU-20), ShiXuan (huyệt đặc biệt):
chích vào đầu mười ngón tay (Tỉnh Huyệt)
Trang 37hết sẽ bị nhiễm trùng nhiều lần trong mỗi năm Nó được ước tính rằng người lớn bị cảm lạnh 2 tới 5 mỗi năm, và các em học
sinh có thể bị 7 tới 10 cảm lạnh mỗi năm
a Cảm lạnh là gi?
Cảm lạnh thông thường là một tên đặt cho bat ky
một số bệnh nhiễm trùng ngắn hạn của mũi và
cổ họng Tát cả đều rất dễ lây Nó có các triệu chứng tương tự giống nhau Đôi khi chúng được gọi bằng các tên khác, đơn giản cho bạn dễ hiểu
là một phần trên của đường hô hấp bị ảnh hưởng:
viêm mũi (rhinitis), ảnh hưởng tới mũi, viêm họng
(pharyngitis), cỗ họng hoặc viêm thanh quản (laryngitis) b6 phan cua giọng nói
b Những vi rút gây cảm lạnh Các triệu chứng của hội chứng cảm lạnh thông thường được gây ra bởi hơn hai trăm loại virus
khác nhau Rhinoviruses (virus mũi) chiếm khoảng 30-50% người lớn bị cảm lạnh Những loại Virus khác, chẳng hạn như coronavirus, virus tạo đàm
ở hệ hô hấp, adenovirus, parainfluenza virus và virus bệnh cúm cũng gây ra hội chứng cảm lạnh
Không có cách nào xác định bản chất của sự lây
Trang 38nhiễm virus từ các triệu chứng vì nó rất tương ty |
d Cảm lạnh kéo dài bao lâu?
Toàn bộ chứng cảm lạnh thông thường tự nó sẽ
hết trong vòng 7 ngày, triệu chứng cảm lạnh sẽ | kéo dài thêm một tuần nữa như bị ho, v.v Nếu nó ¡| kéo dài lâu hơn, hãy xem xét một vần đề khác, chẳng hạn như nhiễm trùng xoang mũi hay bị dị
iii Tay cần phải tránh xa từ mũi, mắt và miệng và :
nên che miệng khi ho hoặc hắt hơi
iv Không nên tiếp xúc gàn gũi với những người đang bị cảm lạnh
v Những người hút thuốc nên ngừng hút thuốc
Trang 39en
f Nguyên nhân và bệnh lý
Cảm lạnh thường do thé chat va strc dé kháng cơ thể
suy yếu làm cho cơ thể không thích ứng với thời tiết lạnh
hay nóng bất thường, sau đó là gió (phong) gây bệnh
xâm nhập vào cơ thể qua các lỗ chân lông, miệng, da và
mũi, dẫn đến những triệu chứng liên quan đến phổi và
các chức năng phòng thủ của cơ thể Thường Thường
gây bệnh do cảm lạnh kết hợp với các yếu tố gây bệnh
khác như hội chứng cảm lạnh (phong —hàn), hoặc với
nhiệt gây bệnh gây ra hội chứng (phong-nhiệt) cảm nóng
Sự xâm nhập của gió gây bệnh ngoại sinh và lạnh có thé
chậm phát triển chức năng phân tán của phổi và ngăn
chặn các lỗ chân lông Trong khi đó, sự xâm nhập từ bên
ngoài do phong và nhiệt có thể làm giảm chức năng của
phổi để nhiệt bay hơi và dẫn đến chức năng không bình
thường của các lỗ chân lông
Ngoài ra, mỗi cơ thể của bệnh nhân xây dựng khác
nhau và các nguyên nhân gây bệnh từ bên trong và bên
ngoài ảnh hưởng lẫn nhau Các biểu hiện sau sự xâm
nhập của các yếu tố gây bệnh rất đa dạng Những bệnh
nhân có thể chất Dương Suy, hội chứng Phong Hàn
(cảm lạnh) là chủ yếu nhìn thấy, trong khi đó với những
người Âm Suy thường hay bị hội chứng Phong-Nhiệt
Trang 40
5
Phân tích: Sự xâm nhập của phong hàn vào bề - mặt của cơ thể làm giảm chức năng phân tán | của phổi và ảnh hưởng đến mũi, gây ra nghẹt ;
mũi, và chảy mủ Bệnh PHONG-HÀN-cảm lạnh :
có tính chất Âm, nên có khả năng làm hư hại :
dương Sự suy giảm của Dương được thể hiện |
bằng các triệu chứng bên ngoài như ớn lạnh, :
sốt, không ra mồ hôi, nhức đầu, đau nhức, và ,
đau ở chân tay, lưỡi có lớp trắng mỏng phủ và ;
Mạch căng, xung bề ngoài là những dấu hiệu ; của phổi và hệ thống phòng thủ bên ngoài bị |
Phương pháp chữa trị: Phương pháp giảm được áp dụng ở Kinh Đốc Mạch, Bàng quang
Kinh, và Đại Trường Kinh để hạn chế phong
hàn và làm giảm bớt các triệu chứng xâm nhập |
từ bên ngoài Phương pháp Chuyển động cân bằng kết hợp với phương pháp moxibustion : được áp dụng cho bệnh nhân với thể chất suy : yếu
Toa thuốc: PHONG PHỦ (DU-16), PHONG |
MÔN (BL-12), PHONG TRÌ (GB-20), LIỆT: KHUYÉT (LU-7), HỢP CÓC (LI-4), :
Giai thich:
Phong phủ (DU-16) dùng để giảm bớt các ngoại
chứng, trừ khử phong, và đau đâu
PHONG MÔN (BL-12) là huyệt của Bàn Quang
Kinh, mà Kinh mạch này chiếm rắt nhiều huyệt trên :