1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Châm Cứư Học Thực Hành - Thượng Trúc

479 3 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 479
Dung lượng 31,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Châm Cứư Học Thực Hành - Thượng Trúc Châm Cứư Học Thực Hành - Thượng Trúc Châm Cứư Học Thực Hành - Thượng Trúc Châm Cứư Học Thực Hành - Thượng TrúcChâm Cứư Học Thực Hành - Thượng Trúc Châm Cứư Học Thực Hành - Thượng Trúc Châm Cứư Học Thực Hành - Thượng Trúc Châm Cứư Học Thực Hành - Thượng Trúc Châm Cứư Học Thực Hành - Thượng Trúc

Trang 1

CHAM CUU HOC THUC HANH |

rat LIỆU THN KINH HỌC

Sean “4

Thượng-Trúc

Trang 3

Sean Gid Thượng-Trúc

Trang 4

“WL * 989

Trang 5

8ogmGiá ‹Obưdng¬Ôcdc

Trang 7

THAY LỲ1 TỰA

Trong thời-gian theo hoc tap Déng-Y, vi qué ham mộ Khoa-học Chẩm Cứu nên tôi đã nghiên-cứn tường tận, Lúc bây giờ Sư-pht tái chỉ đùng Cứu thuật,

a phối hợp với dược-liệu trị bệnh va cấp cứu các bịnh ngay-hiềm rất kiến-hiệt

Trong hơn 15 nấm lâm sản trị bịnh tối được nhiều Cụ lão» gia truyền dạy thêm, lúc bẩy giờ chỉ dùng những kim chế bằng bạc và thé sơ nhưng cũng giải quyết được rốt nhiêu bịnh tật hiểm nghề ở vùng thon quá thiến thầy thiếu thuốc

hận thấy khoa Châm-Cứu rất thần diệu, tôi tìm học thêm trong bộ Noi-kinh,

bộ Y-học Nhập.Môn tà Chẩm-Cứu Đại thành Tuy chưa được hoàn toàn theo sự tìm hiều, nhưng cũng đÄ giúp rất nhiều trong việc trị bịnh phối-họp với được-liệu, Những năm sau Tôi cố gắng tìm tòi tdi-lidu hoc tập, đọc được các bệ sách Trung-Hoa giúp tôi lần lần chuyền qua Chêm-Cứa đơn phương đề giải quyết

nhiều binh không cần đến được-liệu Nhứt là gần đây sau khí học được trong quyền Tân-Biên- Thiệt-Dụng Châm Cứu học và Chẳm.Cứu Hạc của chẳm sơ Thừa-đẹm

Am, nhận thấy giải lj về chần-kính triliểu được mình-xác, với sự tham-khúa

co-thé vé Thần-kinh-hệ Tôi dem áp dựng trịdiệt thấy được nhiều hiểu nghiệm

Đến hai năm trước đây, đọc bệ sách của châm sư Trần-tồnNhơn-Trùng Hoa, thấy ghí lội cuộc Hội-nghị Nghiên cứu Châm-Cứn-học Quấcdế nằm 1952

có đến 350 nha Chdm-Ciru etia 16 qude-gia tham dy làm cho tôi rốt ngạc nhiên,

vì nhận thấy hiện nay thếgiới đương theo đuồi nghiễn-cứu mà nhìn lại nước

ta thì xàua chẩm-cứu lợi lụ mờ chìm đấm,

Cần đẩy có mới ít bdo-chỉ lại cồ và vẽ khoa Châm-cứa Tái tự xết sức

học thiểu kêm, tài sơ đối uới khoa-hpc huyền-diệu không thề nào giải lj cho hoàn

bị, nhưng tôi cổ tâm phiên-dịch và sưu-tầm tài liệu nghiên cứu mãi trong gần 2

nấm viết xong quyền sánh này, cốt dé gép phần nhỏ trong khoa Chdm-citu hiện tại cồn rất thiếu sút È: nước td,

Trang 8

Với mge-dich chứa bình cứu nhân tagú tài không rúng gì né Đông Ý cũng cứn đến chủm-d¿u đó phối hợp vời dược-liêu, mù Tây-Ý cũng rất cần, vì cử hai phương thức trí bính (Dượcdiệt va Chim-citu) khi 1a dã được tên động: sông hành với nhau thì nhứt định tắc cả bịnh (út dâu khú khẩn dến dâu cũng có thề chữa trị được

Với hiện tình kinh-tể chêm tiến của nướt tạ, đối với sự chữa trị bình

phần đông đồng bào không dù sức đề có thè dùng thuốc nhiều tiên mà trị chữa

cho lành hẳn, thì khoa Chẳn-cứi cũng có thề giải quyết trỡng xứng nước

Nhật-bản trước kia khóa Chàm-Cứa bắt dầu phát-uiền mạnh cũng vì cần giải quyết chữa bịnh theo như cầu với túL tiên của đẫn chủng trong lúc cồn nghều nàn, hơn nữa không phải vÀ thế kháng bừ tuyệt được bình tật, mà lại cồn giải quyết

được tên gốo hịnh,

Vì căn Bản Chẳm-cứu hạ là Thần Kinh trị-liệu học, nên tật sưu tầm ghí

chếp một it về phần Thân-Kinh Hệ đề có thề tham khảo phần tồ chức Thần-Kinh-

Cứ thề hạc đối với Kinh lạc của Đông-V,

Vậy quyền sách này nhận xứt không dược đầy đả lâm, nhưng cán bản không phải quá mà mờ, nên có Đề giúp cho quý bạn đọc muốn theo học Chẩm- cứtu một cách có hiệu quả, căng cá thề nhờ đó mủ giúp vào oiệc trị bình it tn

kém cho đồng bào trong hoàn cảnh hiện tại, và căng có thẻ giúp quy bạn Đáng V

và Têy-Ÿ, muốn nghiền-cứu khoa Chẩm-cứu dé phối hợp tí bịnh Và Kỳ-

tọng sau này khoŒ Chám.cứu sẽ dược nghiên cứu học lập ngày trong Y-khoa Đại~

học, thì là một vinh dự cho Khoa Chẩn-cứu nước nhà tÀe2 kịp với thế gì

Thật vì quả ham mộ khoa-học cực kỳ huyển-diệu, nên tôi mợo muội

tổ bày j kiến trên đẩy và vì thế mà trong lúc đều tiên viết quyền sách này tốt nhiền cồn rất nhiều thiếu sét, rdt mong quy Ngai Chim-sw va Bac-st uyén-tham

cả Đồng lần Túy trong nước miền chấp và chỉ giáo thêm cho đề có thể cải thiện

oàn hảo hơn

Toi xin da tạ trước

Châm-Y

tổ hương-(Ô cúc

Trang 9

© pie

$} Ngạch nội lrộc Thon Kinh 7) Quyền diện Thần Kinh 9) Diện Thồn Kink he ham 11) Điện Thần Kinh chi, 13) Blan Than Kinh giáp cơ

14) Nhi Đợi Thần Kinh

} Điện quyền chỉ Thần Kinh

16} Ch§m tiều Thền Kinh

IB} MhÏ nhiấp thần Xinh.

Trang 10

Huyệi Tỉnh Minh & Thél Duong Kinh Bang-Quang

Huyệt Bều duy

Huyệt Thờa Khấp, Huyật Gióp Xa

ở Kinh Dương-Minh VỊ (Dạ dey)

Huy$t Phong TH, Huyệt Thịnh Hội,

Huyệt Đồng tử Nếu

ở Kinh Thiêu Dương Đởïn (Một,

Huyệt Bách Hội ở Đắc Mẹch Kinh, Tícn-Tũy

+

*1%

Trang 11

CHƯƠNG THÊ NHẤT

Nguồn gúc (hâm (ứu

Le ĐỊCH-SỬ Y-HỌC VỀ KHOA CHÂM CỨU

Khoa Châm«cứu gốc ở Trung-Hoa, là một phương-pháp;chữa bịnh

tối cồ Một bộ sách Đông-y ra đời cách đây khoảng sooo măm về trước, bộ Y-thự xửa nhất đã nói sẽ khoa Châm-cứu, Einb-huyệt, (Bộ INội-kinh)

Y-học Trung-Hoa và Việ-Nam ta Zưa nay vẫn dừng hai phương pháp trị bịnh: Một là thuật Châm-cứửu, hải là Phương-được, đầu thang

ding thuốc (được liệu) Hai phương pháp này từ, mấy ngàn năm vẫn

thường song bình với nhau, nhưng về su và biện nay gin hư bổ

quên nhất l3 ở nước Việt Nam ta, từ trước đến na chưa có điều kiện

tÈ chức thành một khoa trị bịnh như ở Nhậtbẩn, ở Pháp hay nhiều

nước ở Âu-Mỹ nâng cao giátj khơahọc huyền-diệu của nó

Cham và Cứu thường đi đôi với nhau hồ trợ lấn nhau đề trị

bịnh mà khỏi phẩi đùng được-liệu, hoặc dùng được-lệu phối hợp lần

nhau để trị bịnh có nhiều biệu quả,

Khoa Châm-cứu theo tàiliệu lịh-sử thì không phải do nhà khca-

học nào nghỉ ra, mà do sự cầa-thiết giải quyết bệnh hoạn của loài người Từ đời Thượng-cỀ, loài người trong sự sống hằng ngày cần

luôn liôn có Sang kiến chống chối với bịnh tật cũng thế, trong những

phương-thức tự-vệ đề bảo vệ sự sống còn, khoa Châm»cứu phát-sinh từ đó

Thoạt tiền loài người dùng vật cứng nHữ đá nhọn đầm vào

chồ đau trong cơ-thề, khi loài người tịm ra được, thì lạ dòng sức

néng của lửa đề hợ vào chỗ đau, môi, lỗi mgẩu nhiên đã làm dịu được

cơn hịnh hoạn của con người lần lầa trở thành thối quen, lâu ngày

đúc thành kinh nghiệm mà truyền dạy lần chau thành một bà trị bịnh

thông thường và phồ biến thời bấy giờ

Din thờEkỳ kim-kbi loài người dếmbộ hơn, thay vì đồng đá lại

Trang 12

đồng mài nhọn châm bay thich vio cơ-thề đỀ trị bình Khoa Châm

cứ được tiến lên một mức và truyền tụng đầy đứ nhứt là ở Trucg;Hca

Những nhà khẩo-cồề đã tìm thấy dau vét wha bía đã khắc văn-tự

từ thời HoàngĐẾ Kỳ-B4ả truyền tạng về Châm-Cứu cho rgười thời sau,

Ở Việt nam ta theo sử còn lại từ đời Thục vua An-Dương Vương (a37-ao; trước chúa giángsinh) đã có ngài Thôi-Vĩ dùng phương châm-cứu

đề trị bịnh các quan trong triều, một nhà chầm cứu tỉnh ví Qua bao nhiêu thời đại, khi bị Trung-hca đố hệ khi dựng được chủ quyền, khi loan lục đến khỉ Puáp xâm chiếm nước ta, khoa châm cứu lại phải chim dim cũng "với nềa Đểag;Ý, riêng khoa cHẳm, cứu hầu như

bổ quên; rất ít nhà nghiền cứu

LÀ một khoa trị Định xuất phát từ phương Đồng trên mấy nghìa

năm, khoa chẩm-cửu cũng chịu ảnh hưởng chúng bởi tình-tưạng kinh-tẾ văn-hóa chậm tiến của Á-Đông, song song với nguyên nhâu đó chăm -cứu cèn chịu ảnh-hưởng bởi luồng gió khoa học Tày-phương truyền sang thuận- lợi cho khuynb-hướng duy-tân bài cựu vhịnh-bình trên mấy thế-kỳ: nay,

wisp the đó thị trường Âu-đươc và phương phấp trị bịnh tốitân được

sdếch-tương khắp nơi, đó là khoảng thời gian mà khoa châm-cứu gần

như bỊ bên láng hần chỉ còn rải rác một số rất Ít người theo dudi

vá những đấu vết, cất lễ, hút giác của thời kỳ biểm thạch xưa còn thông-dụng ở thdn qué Tuy vậy mà khoa Châm-cứu vẫa tồa tại đếm ngây nay vì:

1) Khoa Châm-cứu đã thực tế ơi được bịnh nhứt là những bịnh

phải được cấp-cứu man lẹ hay những bịnh kinh-giên hoác nan-y, thường

theo lối cồề truyền, thông dụng nhứt đối với các bịnh phong-t, bại-xuội, thời-kbl, ban=cua, cẩm mạo v.v nhật là trong những vùng phương - thức trị bịnh Tây-y chưa cÓ, hoặc có rất niểm

2) Khoa Châm-cứu tự bản thần nó có một giá trị và tác dụng

căn bản khoa-học, mặc đù tiềm tàng chưa được tận dụng khai thác Nói một cách khắc, khoa châm-cứu tự nó có một tính chÃ: hoàn toàn khoa học tự nhiên với tác đọng thỏa - mắn như cầư trÌ

người trong lúc chưa có được-liệu đà Đông hay “Tây

Đó là lý do tồn tại của khoa châm-cứu, vì đô cũrg ÏÀ một lý:

do mà la lượt trong 3 thế kỷ này có những nhà khoa bọc Đểng, Tay chú tâm nghiên cứu, thừa nhận phát buỹ đến mức nó trở thành soột khoa học trị bịnh, mà ngành Y-hoe Quée-t di thira nhận Thực trạng

đẻ đã tạo cho khoachim cứu một cơsở lý-luận khoahọc mặc dù chưa đây đủ lắm, nhưng cũng tạm đủ đề cho loài cgười lbụ hưởng

và tiếp tục phát hưy tương lai rực rỡ của nó đúng mức hơn

Vậy ngày nay, các bácal oghitn-cirs v2 khoa chìm cứu đã xác

nhận là khoa Trị-lệu Tần - kinb - học Trang khi chưa được ánh sáng

1

Trang 13

khoa học rọi vào khoa châm cứu (nghĩa l cách nay trên bái ghể kỷ), ffl khaa chảm-cứu ngày nay vần là khoa châm cứa ngày xưa để được nghiện cứu và dic At Ign

SỰ TỒN-TẠI VÀ PHÁT-TRIỂN CUA KHOA

CHÂM-CỨU QUA CÁC THỜI-KỲ

ĐÈ chứng mình một cách chắc chẩn, khoa Châm-Cứu chẳng những tồa

tại mà côn phát triền không ngừng trèn địa hạt khoa-học, chúng ta thử tìm

lại lịch trình tiến triền từ thời phát sinh ra nó đến bây giờ

1) Thời Thượng-cả và Đhoag kiến phồn-thịnh :

Khoa châm-cứu đã phát sinh từ đời thượng-cồ lúc triều-đại Tarm-Hoàng sgbĩa là khoảng 3.3oo năm trước Thiêu-Cbúa giácg-sinh, lúc đò con người chưa có chữ viết mà phải dùng những dấu tượng hình đề gbỉ nhớ Khoa

châm-cứu được tiếp tục nghiên-cứu và áp dụdg qua các Triều-đại : Phục-Hy

(2a5o năm trước Thiên-chúa giáng-sinh), Ngủ-Để (z6o; năm trước Thiên-chúa

gidng-sinh) Dén đời Vũ.Vương nhà Châu có Ngài Biến Thước đã soạn bộ Nạn-kinh và Ngọc-long-Ca dạy khoa chàm-cứu, qua đời Tấn, Chiêu:Vương, đến Tần-thủy-Hoàng, đất sách chếa học trò (zoo năm trước T.C Giảng sinh), mặc dầu loạn lạc khoa châmecứu vẫn được ứng-dụng Qua đời Hán (zoo năm trước Thiên-chúa giáng-sinh), khoa châm-cứu bị cấm xử-đùng trong dân chúng

mà chỉ dùng trong triều -đình Đến đời Tam-quốc Ông Ioa-Đà độ nồi tiếng danh-sư về khoa chim-citu, Déo đời Đường (go¿ dương-lịch, thêm bộ Thiên~ kim-Phương ra đời, đặc biệt đến đời nhà Tống, khoa chẩm-cứu có địp pbit- triền mạnh, vua Téng-nhon-Tén (905-1275 D.L) tập bop cát vị châm son-

thảo quyền «Bi-quyết thần-phương› và năm toz7 có đúc ra pho tượng đồng bằng hình người, ghỉ chú tất cả các kinh huyệt Đến nấm re68, dưới triều-đại

vua Tống-nhơn-Tôn, Viện Đại-học chỉm-cứu đã được thành lập Đến đời Nguyên, nhà Minh (r268-1628), thì sách chàm-cứu đã có trên 2oo bộ, có giá-tri

phồ-biến nhứt la quyền qCHÂM-CỨU ĐẠI-THÀNH: về sau được bồntúc và chú-thic: bằng bộ «‹CHÂM-GỨU-CHÁNH.,LUẬN? (năm 1798)

Sau 4soo năm khoa chầm-cứu đã được các đanh.sư Trung-hoa đưới các triều đại vua chúa phong.kiến sưu tẫm nghiêa-cứu theo kinh-nghiệm di-

truyền súc tích trong dân-chúng, viết thành sách lưu truyền về sau Tất cả

sách viết ra trong thời kỳ đó vì hoàn cảnh phát-mainh khoa-học nhứt là về cơ thể học, thần-kinh-bọc chưa được bao nhiềa ở Trung-hoá nên khoa châm-

cứu tuy vẫn có tác đụng trị bịah bite nghiệm, nhưng vẫn còn trong vòng

sự phát triền của nó còn bị đồng khung trong điều-Kiện dến-triỀn Web sir vine

mình của thời đại,

a

Trang 14

9) Thời kỳ phát triển theo khoa-học cận đại

Trước và sau ngày Trong-Hea đân-quốc được thành - lập và đến

thồi ‡y Họa Nhực cLiến-tranh, Sự pháttrềa của khea chầm-cứu đến một ngã

TẾ Quận, trỢI

2) Hướng phát-tiỀn về phía Au-chiu

b) Hướng pháttriền, về phía fihựi-bần

Hai hướng phát-triền này mổ đầu một kỳ-nguyên dem khoa-hge (con thề họ-, thần-kinh hệ, bịnh-[ý học} sof roi vào cuộc nghiên-cửu khoa-học châm» cứu #2 nâng để lên thành một ngành trị bịnh khea-học Quốc-tế,

4) HƯỚNG PHÁT-TRIỀN Ở AU-CHAU.*

Đến thế-hý thứ + lần lượt các nhà truyền-giáo, ngoạisgiao, khoa-họe Tây-phương sang công cán ở Trung-hơa mới sưu-tẩm nghiêncứu khoa-học bi-tuyền huyền-diệu này về phồ-biến ở châu trời văú-mình Âu-châu

Đầu tiên linh-mục Harvieux xuất bẩn tại Grenobls năm 187: cudn sách

đầu tiên về khoa chảm-cứu đã làm chío-động dư luận thời bấy giờ, kế đến bác-si giải phầu Hòa-lan Ten Ruyu (18¿e) xuất bản tại Luâa-đồa bằng tiếng La-tinh và tiếng Đức quyền sách « Luận về khoa bọc coim-cứu» cũng một

địp làm sối aồi đư luận Âu-châu

“rạn thể.kỷ thử 18 hai mươi nhà bác-bọc viết sách về khoa châm-cứu

trong số đó có những nhà bác.học đanh tiếng nhơ : Valsalva (1707) Kaem-

pfer (1712), Du Halde (1735), Cardonae (177), Dujardin (1774), Stekbold (4781), Vig-Axyr (1787)

Sang đến thếkỳ thứ 19 cé dén 142 vị béc-si vide va phồ -biến phương-pháp trị -liệu băng -khaa chim-cứu Năm 1826, bic-si Berlioz nồi danh nhờ cuốn « Bịnh kinh-niea và khoa chàm-cứu s„

Xế đến bácgi Demours, Churchill, Remusat, Lavy (t8to-rôz4), Năm yRaš cuốn điện châm và cứu cử; Nhựt tại Phía làm chía động V-khoa Tây- phương,

Năm 1863 ông Dabuy lĩnh sự Phíp ở đất Tàu viết cuốn sách đầy

đã chỉ tiết «&Y-khoa Trung-qué:» đã giúp rất nhiều cko các bác-sĩ Âu-châu

muốn nghiên-cứu về khoa châm-cứu và lẫn lượt cá: chà bác-học khác viết sách ca từng tác dụng trị liệu của nó, trong đó có quyền « Phương:pháp địch xắc về khoa châm-cứu Trung-Quốc ©Prếcis đe la vraie acuponcture chinolse » của ông Soulié de Meraat đã làm cho các nhì khoa-học Âu-thầu nhận thức

đầy đủ và chú tầm nghiễn-cứu kỹ-lưỡng khoa chim-cửu hơn,

Mật bước tiến mới là Bác? Thếyếết Marday ĐÀ: đầu, đeẹm khoa

chim cứu vào qhực-nghiệm (ại bịnh viện Bichat,

13

Trang 15

Cuối cùng hội châm-cứu Pháp (Acupdncturt fảeciise) được think’

lập với z.soo hội viên, có những vị nồi tiếng hiện tại như: Đác-sĩ Roger

de la Fuge, A Champan, A Prince, GŒ, Marting, Lavier, Ngoài ra còn

những Ủácsi người Việt: Bácai Nguyễn Auguwe, Bác Nguyễn-rần- Huận, Bácsi J.Huibon-ho, Bácsi Võ-văn-Quý Jacque, Bácsi H3-vinb-

Thông, Bac-si Nguyễn-văn-Lưng, gần đấy hơn hết 2 bộ sách « CHâm-cứu

khái lược» xuất bản năm 1956; lần đầu được đưa qua Thủ đồ Ba-ié

trìah bày,

Bì HƯỚNG PHÁT-TRIỀN Ở NHAT-BAN

Nước Nhựt cũng có khoa chỉm cứu từ đời Tiungtcd, nhưng

phong-trào nghiên-cứu được thịah-hành nhứt từ đời vua Minh-Trị Thiện

Hoàng theo cao trào canh tân Nhựt-bảu, ốc say mê nghiễền-cứu của cÁc nhà khoa-học Nhựt không bố qua cơ-hộ, trong cuộc NNt-Hơa chiến tranh, họ swu-tim tải liệu, sach nổi về chấm-cứu ở đất Tìu đem về nước Lúc đồ quân đội Thiếd-Hoàng thiểm Bắckinh hợ đã đooạt pho

tượng đồng ghi chú các huyệt chàm-cứu đúc ra dưới trite đại nhà

Tổng đem về Nhựt, hiện nay còn -trình bày tại Bìo-tàng viện Đông-kinh,

Năm 1884: Nhựtbẩn xây dựng trường Đạthọ: Y-khoa Chữm-cứu đào tạo nhiều Bác-si chuyên kho Chẩm-cứu nồi tiếng vang lừng Ngoài tả nhu cầu trị bịnh của dân chúng Nhựt vừa với túi tiền của

họ, họ đã dùng kùoa Chầm-cứu cảng ngíy cảng nhiều Các nhà khoa-

học ra công pghiên-cửn với tính cách khoa-hoc trên ghương-điện Gone hoc, Thia-kinh học, Bịah-lý học, lập thình khoa CHăm cửu theo quan

niệm Y-hợc hiện đại Những kếcgui khả quan đều được công bố và

Giải nghĩa rất rành mạch với nhiều chứng bịnh mà Y-kioa đành bó tây

Ua thé cia khos Chin-ctre gậy nay cing rổ rệt ở Nhựt, thậm chí ngây nay đã thành một lệ mỗi khi nổi đến khoa Cham-cou thì

phải nói lA khoa Chảm-cứu Nhựt-bản Các Bácsl: Savade, Hakayama,

Sakerayama, Moida Ki:oshita, Sado, Otabe Isaburo Fiskiya đã gia tâm

nghiên cứu đề làm vững chai thm Khoa Chảm-cứu tình vi để có HIẾM

4.000 sim; theo phương-thức khoa-học hiện tại

5) Thời kỳ có cơ-sở tổ-chức khoa-học Quổc-tÉ vững chắc: Ngoài bai nước Pháp và Nhựt đã có công bồi đẩp mot công trích

+khôa-học 4s thế kỷ kinh nghiệm về khoa Chầm-cửu của nước Tầu, cồn có

nhiều nước : Đạíhàn, Phi-luật-thn, Nam-dương, Tân-giaba, Viật-Nam, Aah

các nước Mỹ-châầu vive cũng nghiền-cứu thoa Y-học huyền-điệpu này, Nhờ

"thể mà uy thể-tốa lối chữa Dịah bằng khoa Châm-cứu cing: ughy càng

được nền Y-học tối tân ngày nay nhÌa nhận và cồ sủy Hiện nay trên thể giới

6 tắt cễ 36 nước đã tồ hựp thình vHội Quốc-lế nghiên-cứa khoa lýhọc Đông phương và khoa-học Châm-cứu» Socittế Internationale d‘Beude de la Médecine

8

Trang 16

Orientale et d*Acuponcture), có nhiều tạp chí cồ võ cho nó (flevue internatiỏ^

nsle d‘acuponcture)

Tung 5 dol nim tg60, tai Paris dai hoi Châm-cứu quốctế nhóm lần

thử Ạ mà hội tưởng là Bác-si Pháp Roger dc la Fugc

Neiy 6-10-1962, Dai hội Châm-cứu quốctể hợp ở Đài-bắc,

Nói tóm lại khoa Œbâm-cửu trên coo nim nay đã chuyều từ thời Đim-hạch cũ kỳ qua thời bệ thống kinh lạc theo lối Âm-dương nay chuyền qua hoàn toàn theo Khoa-học hiện-đại; vẽ mật lý-thuyết cũng như về roặt tồ~ chức Các tàiliệu Châm-cứu từ xưa đến ndy đã sói rất nhiều đến lý-thuyết căn bản đề giải thích giá trị trƑliệu của khoa Chìm-cửu qua các phần đại-

a) Các nhà bảc-học đã chứng nhận khoa Cham-ciru 1a mé¢t khoa-hoc

tự nhiên rất đúng với căn bản Gơ-thề học đặc biệt về Thần-kính hệ

b) Cô những lan thuyết xác định khoa Chảm-cửu học là khoa trị

£€) Dựa vào sự trực tiếp phát huy tìm lực của cơ-thề đề chống chối với áp lực thời tiết bay vi-ưùng (đó cũng là vấn đề căn bản mà khoa

Chẩm-cứu trị được bịnh có vi-trùng)

đ) Đi sâu vào tồ chức và quy-luật thần kinh bệ; chầm và cửa đổi

với các loại tồ chức tế bào trong khắp cơ thề con người nói chung và

từng tạng phủ nói riêng đề trị bịnh cũng rhư đề giữ vững thăng bằng sinh

lực cơ-thề của ngủ-tạng lực phủ, như trường hợp sau đây : phối hợp

châm-cúu trị bịnh lao phồi, cùng với dược liệu, mà trong ức tiếng dược lẻu không còa hiệu lực phá vỡ các công sự vitường lào, (sau khi bị thuốc tấa công, vi-trùng rút vào biểu huyệt xây công sự tú ìn) Các bic-si hợc Chăm-cứu lại dùng phương pháp Châm-cứu dựa theo quy luật điều khiến

Phế.giao cảm thần-kinh mà kích thích đề tăng sự chiến đấu của vi-rùng

la đề dược liệu có điều kiện thâm nhập vào tận dơi mà diệt vi-trùng như thế là tác dụng Châm-cứu còn có thề tăng cường sức chiếa đấu tại chỗ của

từng bộ phận cơ-thề đề trị bịnh thích hợp với như cầu của cơ-thề,

Dựa trên các cơ sở căn bản néi trên, có thề nói khoa chằm-cứu jấ

một phương thức trị bịnh boàn toàn khoa bọc đầy đủ tính cách trị-liậu độc lập Cz số lý thuyết cấu bản lấy cơ thề làm chủ yếu đề phát huy cơ măng

và tiềm lực của chính cơ thề bắng kỷ thuật Châm-cứu đề chóng bình và vị

trùng (ưừ một số trường hợp phải phối hợp được liệu)

Qed thi khoa bọc trị bịnh bằng Châm-cứu học có đủ tất cả điều

kiện phát tiền trong thời đại nguyên-tử này song song với ngành trị bịnh khác,

ĐỀ kết luận phần này chúcg tôi ría nêu lời của Bác! Hội trưởng

hội Chăm-cứu Quée-té Roser de là Fuge:

44

Trang 17

«Người ta cổ thề ngạc nhiên mà nhận rằng khca Châm-cứu vẫn còn

đượa nòi mãi và vẫn được áp dựag ngay trong thời đại nguyên tử này đều đó

chứng mình khoa Châm cứu là một Y-học vững chắc mà chính vì sự vững chắc ấy rà nó được sát nhập vào nền Y-học hiện đại

Oa peut done s’étoaner que l'on en parle encore et que cette théra- peutique soit pratiqué de ptus en plus dans notre ére atomique Cela prowess seulemnt lextréme solidicité explique son intégratios a la médecine moderne

(Docteur Roge de la Fuge)

Vay Lich st Chim Cou được phát mình từ thời Thượng C3,

một khoa trị bịnh Á-đông, bắt đầu từ sự ngấu nhiền phát huy tiêm

lực cắn bẩn của sự sống còn; chiến đấu bản thân chỗag với bịnh tật, qua

bao nhiều thời đại vẫn được nghiên cứu, từ đúc kết những kính nghiệm thd sơ đến lý luận theo Díchlý Âm-dương, mãi đến thời đại nguyên

tử này mà lại được các nước văn mỉah trên thể giới nghiên cứu phát buy

thành một khoa trị bịnh rất khoa boc; Dem nhitag chứng mình thực tiền về Cơ thề học, Thần kinh học soi rợi vào làm thêm phong phú

Như thế chúng tả nhận thấy công trích xi dựng cho một nền

Ý học Quốc tế cứu nhơn loại tất cả cát nước văn mình đều chú trọng

và luôn luôn tìm cách phít triền không ngừng; trải lại ở nước ta chưa được

phổ biến sâu rộng, mà còn cho là xa lạ ngờ vực đề đến lu mờ mãi,

lam cho Khoa Chim Cứu chim dim hin tong bing lối

i

Ngày nay tủy mới được một vải tia ánh sảng, nhưng rất côn

nhiều thiếu sốt, vậy trách nhiệm chúng của chúng ta nên làm thế nào

đề phác huy nhất là nghiên cứu, dp dụng khea bọc thực tiễn chứng

mich gdp cong cic nude làm cho Khoa chim cứu nước nhà được

tiga kip véi các khox Lrị bịnh khác dau Đông hay Tây,

Một kbca trị bịah về Thần kinh rất huyền tất khoa học đúng

theo căn bản của Thần kính học; đố là nguồa gỗ: tồn tại của khoa châm cứu mà tiềa nhơn đã đầy công sưu tầm đúc kết kính nghiệm trị liệu công như lý luận Câu hết luạn của Đác sĩ Roget de la Fuge trên đầy thật

lỀ một tia sáng đánh tan sự ngờ vực, xa lạ của chúng ta; mà thúc

đầy chúng ta cố công nghiều cứu thèm cho khoa châm cứu càng ngày

càng tiến tiền mạnh; vì lịch sử chằm cứu từ nghìn xz4 ở nước tạ

6% bao lin chim đẩm, cũng vẫn giữ được tuãi đến ngìy nay,

Trang 18

IL CO-S@ KHOAHOC CAN-BAN CUA KHOA

CHÂM.CỨU

Vấn đề trở ngại cán bãn cho những người muốn nghiên cửu khea-

hoc Châm-cứu là hiện nay việc thực hành thì theo kiuh nghiệm Đông-

Ý còn phần lý thuyết phải dựa thee kHoa-học Tảy-Y

Những để, bây giả các nhà Châm cứu bọc chưa nghin-cứu được tần diện về mặt áp dụng Cơ thể hoc, Thần-kish-bệ, Dịnhlý học vào

sự phâu tách lý luận cho khoa Châm-Sứu một cách có hệ-thống Quan trọng nhứt là sự đối chiếu r4 đường kinh lạc "của Đông- Ý với hé- thống Thần-kình theo Cơ thề bọc đề đổi chiếu liên cả vị trí các huyệt

tren các đường thắn kinh một cách có mạch lạc theo Giảipbầu bọc,

Vấn đề xây dựng một be thing toln điệu cho khoa trị bịnh Thầa-kinh học này được đầy đủ từ phần lý-thuyết khoahọc căn bản mơi chung đến phần chuyến môn nói riếng, đến phần kỳ thuật khoa-học

thực hành của nó còn là vấn đề phức tạp lâu dài Đó cũng là cái

,khả của người muốn học khoa Châm-cứu mà muốn thoát ra khỏi vòng

lý luận Âm-dương dịch lý của Đông-Y,

Dem cái khó kinh nghiệm thực hành của khoa trị liệu Châm.cứu

-—-ÝÏ mà nghiên-cứu tồng kết đúc thành lý luận khoa học cho khoa

hâm-cứu còn là vấn đề thới giáu và là trách nhiệm của tất cả V -sĩ chuyên khoa trong nước và thế giới

Ñỏi như thế đề thấy tương lại phát triền của khoa Châm - cứu, còn rất tỉnh vi tứ chiều rộng đến chiểu sâu Tuy shiên ngày nay các nhì Háchọc chuyến khoa Châm-cứu cũng đã nẻu r4 được tương đối

cá cơ sở cắn bản khoa học của khoa Châm -cứu làm nền móng cho người muốn tìm biểu và thực bành khoa Châm -cứu, nhứt là về luận thuyết Cuâm-cứu trị liệu là Thần-kinh tri liệu,

A) SUC DE KHANG CUA CƠ - THÊ,

Tri biah bằng Chimodu tic Ik trực tiếp phát huy tím lực của

cơ thề dề chống với áp lực thời tiết hay vi trùng gây ra bệnh tật

Về sinh lý Cơ thề có mệt bản nắng tự vệ mĩnh liệt luôn luồn

đủ sức chống với mọi bịak tật xậm nhập vào, ấy là sức đề kháng của cơ thể là vấn đề sinh lý học tỉnh vì phức tạp Đơn giản hơu bết là chúng ta thấy hằng ngày cơ thề chúng ta có các tuyến dưới da hoạt-động không aging trước ấp lực thời tiết nó-g hay lạnh bên ngoài: khỉ trời nốrg nực, mồ hồi

tự nhiên chấy ra nếu chú ý kỳ hơn ở da chúng ta thấy lồ chơn lông mở

rông ra đề mồ hôi để tiết ra ngoài lâm cho sức nồng trong người chúng ta

không tăng ltn được Ngược lại khi khi trời bên ngoài lạnh thì lỗ sbơa lâng

khít lại các sợi làng cũng đựng lên d1 hơi lạnh không đật nhập vào cơ thề rà

Trang 19

sức aóng trong cơ thể không bị giảm xuống vì sức lạnh bên cgoài Hiện

tượng sinh lý ấy của lớp da và các tuyến nội da phải rất nhạy cảm giác như ống bànthử-biều đo nhiệt-độ, nhưng hàn-thử-btểu chỉ là cái mấy ghỉ nhiệt

độ lào xuống mà cơ thề giữ nhiệt độ ở luôn một mức quận bình go đặc thời tiế bên ngoài qná nóng hay quá lạnh đề giữ sức khỏc cho con người

nên troág cơ thề nếu nhiệt độ lên cao, thân người bị bịnh, mà nhiệt độ

xuẩng thấp, thâu người cũng bị bình

Hiện tượng tỉnh lý ấy gầa như tự nhiên, nhưng ý muốn khôc thề điều khin được mà tự lần da của tà có một sink hoat đội tự làm nhiệm

vụ hề hấp hằng ngày đề chống với áp lực thời tiết giữ vững quân bình

nhiệt độ cho cơ thề,

Ví đụ sau đây: Nếu chúng ta có một mat ghé dem thử máu lấy tạì

chế ghẻ thì bác-sĩ cho chúng ta biết rằng số bạch-huyếtcầư được Huy đồng

tắng gia nhiều hơn gấp bội, cốt đề chống chọi lại với vi tràng lự: bên ngài

vào cơ thề, đề lành mụt phể đồ là sức đề kháng của cơ thể, sức đề kháng

ấy là năng lực tự động, tự nhiên của cơ thề

Sức ấy giảm là con người bị bịnh, mắt là con người chết, mạnh thị sức khỏe dồi đào, -

Như thế bằng ngày sức đề kháng ấy đều phải làm việc không ngừng

đề giữ quân bình cho cơ thề, sức khắc vậy sức để kháng do do ngay trang

cơ thể không phải do bên ngoài tạo ra, thêm mộ: ví dụ mỗi người có hai trái thận đề lọc chất do bần cho bài tiết ra ngoài bằng đường tiền, nếu có trường hợp người bị thương tích lầm cho wit thin bèa trái bị hư bông

không làm nhiệm vụ của nó được, thì tự nhiên trấ thậu Đèn mặt sẽ tơ

lần lên đề đủ sức làm nhiệm vụ gấp đổi:

Tom lại chỗ nào trong cơ thể bị a nai thương tích, suy yếu thì cơ- thề tập trang sức đề kháng vào đẩy đề đối phố đồng thời cu, dưỡng làm cho

chỗ ấy phục hồi lại bình thường Sức đề-kház la ngsên sish bực tự VỆ thường

trục giúp cho cơ thể chống dd moi anh hưởng ngoại xâm Lay nội phát gây

bịnh tật cho con người, Hiệa tượng sinh ly sanh tử ấy l4 một sức hoạ động

tự động thường trực tiếp diễn không ngừng chạy luôn khấp chậu thân từ ngoài da đếa tận xương tủy đề giữ quân bình cho sức khốc con ngườic Và cơ-thề học và Siah-lý học đã tìm ra được lúc bẩy giờ huyết địch ở những bộ phing bj bjah ấy được táng gia đề nuôi đường các cơ cấu tồ chức

tẾ bào nhiều hơn để đạt được mục đích kéo lại mức boạt động sinh-

lý bìah thường của cơsnăng dính dưỡng cơ th, nhứt là ở vàng bị

tần thương

Ê Đfngyy cũng có nói: Vich-khi và Vệkhý cVính-khi là chất bồ thim nhuồa từ trong tạng phủ đếu cả những thứ thịt chưng quanh đề nuôi đưếcg cơ-tht, Vệ-khí thấm nhuần tất cả các tờ chức đề trừ chất độc phá hoại cơ thề tức là thứ khi bảo: rệ cơ-thề (sở gái rõ mục sau)

Ww

Trang 20

B) CAI GÌ ĐIỀU-KHIÊN SUC DE KHANG CUA co’ THE,

Sức đề-kháng của cơ-thề là đối quần thường trực đưc buy-động chiến dấu khấp chầu ;hân, từ ngoài da déu tận xương tủy, đề bồi dưỡng chỗ nào của cơ thề bị suy yếu, chống trà và tiêu diệt ví trùng khi cố điều kiện đột nhập vào cơ th đề gì? rz bịnh tật Hiện-tượng sinh lý

Ấy theo quy luật tự nhiên tự động xuất phát từ sự phát huy sinh lực của cơ-thề nhự phần trên đã nói,

Nhưng điều cần chủ ý là bộ phận nảo trong cơ thề chỉ huy

huyết dich ting gia và tập trung? Đây lÀ một vấn đề mà khoa châm

cứu qui quyết là chính Thần-kình hệ mà trung tầm Thầm-kinh Não là nơi tập trung và điềukhiền các mối thầm-kinh Nói một cách khác là

tồng hành dinh của Thần-kính hệ nhận và chỉ huy các luồng Trực-giao

cỉn và đối giao cầm (giáa cẩm âm và giao cầm đương), là mỘt sự thống nhất liên lạc nhanh hơa điện (nhận tỉn và truyền lịnh) dược bố trl chia chị: khắp nơi trong cơ thé, từ dưới lớp da mông din siu

trong xương tủy và ngủ tạng lực phủ, một cách rất tinh vi và phức tap

Một thi dy thge + Kai hai tay ta đẹng nhằm lửa, điều đâu tiên

ta biết cảm giác nóng rồi tự nhiên cầu thiết ta phải đưa tay ra (báo tin

và truyền lịnh), tuy là một cử độcg rất tự nhiên, thật mau lẹ, biều hiện

bản năng tr-vệ của cơ-chề, nhưng sự thật do Thẩn-kinh hệ điều khiền Nếu tường hợp da của ta bị bỉah mất cảm giác thì việc báo động và

đổi phó ấy không có hoặc rất chậm chạp, Như thế cái gì cho ta biết

nóng và cấi gì bảo phải dợt tay, nếu không có Sự điều khiền của hệ thống Thần-kinh

Mot vide khde: Tit toi tanh, chúng ta ấn thức ăn sống sit

về đâm, bộ phận tiếu hóa lâm nhiệm vy bìna trường không nỗi, ta lại sia bụng HỆ thần kỉnh phụ trách đứu khiểm các loại tế bào, Sát vung bao ti (daday), bio động về trung tẩm thin-kich não Não hạ tan huy động huyết địch tập trung trực tiếp vùng bạo tử ngoài ra thăn kính trung tâm não bộ côi chải huy động các lực lượng lin quaa kế cận như Mậu Gan, lại lách ting ga sức hoạt dong

kb ug cao bao từ làm việc “Nếu sức huy động ấy đầy đủ

cho bộ phận bao -tử đủ sức ti hóa thức ăn thì ta thấy vừog bang

trên không sình hay căng trướng nữa, mì sức khốc con người trừ lại

bình thường Ngược lại sức huy động ấy yếu hay bất lực thì bao tử

st bj dau; ỉnh hưởng đến toàn bộ cơ the,

Ở đây chúng tôi không trình bay toàn b‡ 3¿ thần kinh về mặt

cơ th bọc mà chỉ cố nêu lén việc thần kinh hệ trực tiếp điều khiền

các Hiện tượng sink lý của toần bộ cơ thề cũng như các bộ máy thuộc ngủ tạng lục phủ Các ví dụ kề tên dẫn giải một phần nào hệ - thống

chỉ huy thản kinh hệ trong nhiệm vụ điều khiền cơ năng dịch diỡng

18

Trang 21

ite cơ thể, Điều cần thiết quan trọng là một chổ nào thìa kình suy

yếu hoặc bất lực không làm nhiệm vụ điều khiu tự nhièa và bìaa

thường của nó thì bộ phận cơ thề ấy bị bịnh

„Vậy căn cứ vào những biến đồi, sich lý của thầu kinh hệ trong

cơ thể, nen Châm-cứu quyết định nhất thiết bệnh tật gi cũng đều do

Sơ năng Thần kinh biều hóa phát sinh, (Về sinh lý thần kinh phần sau

® nói :õ hơn),

C) TÁNH CHẤT TRỊ BỆNH CỦA KHOA CHÁM-CỨU

, Về ainh lý cơ thề có một lực lượng đề kháng cán bản sinh-lÝ tủa cơ năng đề đối phó với ngoại giới bất kỳ trường hợp nảo,

sv đề kháng ay cũng luôn luôn boạt động không ngừng, đề duy trì

sự sống cồn của thề chất, ấy là bản năng tự vệ của cơ thể, nếu như

khí bị đánh đập, cơ thề Hồn biết đau và sức để kháng phát sinh ngay sức chống đổi lại, cơn đau lần läa tiêu giảm nhưng néu chế bị đánh

ẤY lại bị tồa hại, thì cơ thể lại tập trung sức đề kháng vào đẩy đề

đối phó, đồng thời nuôi dưỡng lâm chơ chỗ ấy phục hồi lại bình thường

các cơ bản của thề chất Nhờ vậy mà thề lực cơ thề có thề chống đỡ đối với tất cả mọi cảnh huổng ogoai xâm, hay uội phát biện tượng Sink may là do bản năng ly nhiên của cơ thề

Về Cơ th học thì trong cơ thề có một Hệ thông Thần kỉnh do bộ

Não chỉ hay điều khiền Đại não thống suất tắt cả quyền nắng của mọi hoạt

động như sự cẩm xúc đau đớn bịnh tật hay vận động sức đề kháng cũng

đều do sự dẫn truyền và vận động của Thầu kinh hệ, ví thể nên cơ thề

bị bịah tật, bất luận về tính chất gì, hoặc vị bên ngoài do vi trùng xăm nhập vào, hay vì bèn trong bị tồn hại, phát sinh, nếu sức để kháng sung túc thì bịa! tạng bị tiêu trị, nếu không đưc: sung túc bệah thế phát triền, không thề chế ngự được, mà đến miạngvong

Nhưng khỉ phát sinh bệnh tật nếu sức đề kháng không được sung

túc mà củ được sự hồ trợ đề lâm tăng cường sức đề kháng ấy, thì chiến

thẳng được bệnh tật ngay; vì thế khí bên trong đử điều kiện đình dưỡng

kiện todn, hay nhờ sự cứu giúp bền ngoài vào làm cho tíng gia kháng lực thì dẫu bệnh tật có gây thương hại cho thề chất cũng phải tiêu

giầm, và duy trì được thề lực của bản năng cơ thề, như thể trị bẩn được đít cj bệnh tật,

Vậy chống với bệnh tật, tít yến lÀ có sự đề kháng của bẩn

năng cơ thỀ, mà sự phủ to ban ngoài là phương thức trị bịnh,

Và phương diện tị bịnh có 4 phương thức:

XÌTr| bằng Hóa-học

-8) Tj bìng Lƒ-hkón;

19

Trang 22

Tr} bang Héa-boe 1 dang dược-liệu,

Trị bằng cách Châm-cứu là trị bằng Lý-bọc

Hai phương thức đều ứng đựng vào sự bồ sung sức đề thẳng

cla co thề chống lại với bịnh tậ: như: tiểu dịch, sát trùng, tiếu viêm đỉnh dưỡng, cường tráng, thâu liễm, phát hạng, lợi đại tiều tiện-V.v,

Tất cả các thứ thuốc có hiệu lực thì châm cứu cũng đồng hiệu lực nhưng hai phương toức khác nhau là vì được Hậu “eS Xật chất cũng ứng bồ suog, châm cứu không có vật chất cung ứng Đồ sung mà

là trực tiếp kích phát ngay hệ thống thần kính dẫm đến đại não thổng guất sự chỉ huy đề kháng cơ bản, vì thế nên công hiệu cũng nhự ahau chỉ khác về phương thức

Vậy Châm Cứu là một khoa học trị bịnh trực dếp về Tuần kính

CHỈM+ của Cồ-nhân xưa nói không phải là lời nói ngoa

Tất cà các sách xưa của các vị tiền bối chủng ta cũng nhự các

chăm-y hiện nay ở Pháp, Đức; Nhựt bản, Truag.hos đều đã dùng Châm

cứu đề đối phó với vô số bịnh tật

Theo bộ Châm-cứu Đại-Thành và Tạp-chí Chầm-cứa QUẾcHẾ, trừ

những bịah về ngoại thương cơ hồ như không có mấy chứng bịnh người

ta không th trị bằng châm cứu được Và còn có thề trị được các bịnh

x NHUNG BINH DO VI TRUNG: Th3-t bode loan (cholésa) Djch-bach (pest), Phong đồn gánh (cétanos) v

a NHỮNG 8ỊNH VỀ THẦN KINH: Điền cuồn, (Folie, démen-

ce), Si-vngSc (Idiotie) v.v

3 NHONG BINH VỀ TÂM LÝ: Thất tỉnh

4 NHOSG BINH NOI TANG Bl HU HAI: lao phồi Tim thdog, Bao ti tryt Ya lại nếu có trường hợp Châm cứu trị chưa làuh

hin được là vì thiểu sự dinh dưỡng hoặc trị không đượcthích đáng

là vì thiếu sự kính nghiện phối hợp đúng huyệt đối trị &hiều: chứng

trạng phối hợp trosg một bịnh, và phần nhiều thiếu sự áp dụng pháp

trị châm cứu làm căn bản và trợ giúp bằng được-lieu bồi đường, hoặc

giả trường hợp Bịnh thể thời kỳ mạng tính; trường cÊn mà không

biết dàng them được liệu phối hẹp phù trợ, bay trong okững'tơn bạo

phát cấp tánh nguy hiểm không biết áp dụng trực tiếp cẤp cứu từng

phần (nghĩa (à nén biết tị chứng gì trước chứng gỉ sau); nến khống thề

đạt được kết qua mong muda (dt cd sé nói rõ ỡ đoạn sau về phần Trị liệw)

20

Trang 23

Nhưng trên thực nghiệm đã có những Chim-y cứu chữa được những bịnh trong lúc làm nguy, không thề trống mong gi thuốc men

được, mà chỉ ít mũi kím bay Ít mồi ngại mà hoàn toàn cứu được bịnh

ngay tấr máu lệ (rường hợp trị chứng Phong đòn gánh, (Phá thượng

phong) nối trên và các chứng Trúng phong Nšo xuất huyết, đứt gin

xmảu), mà ở thôn quê nhiều khi thấy có wường hợp cứu trị kịp thời một cách rất thần điệu,

© Vay những câu ngạn ngữ: « CHẤM ĐÁO BINH TRỪ, ĐOẠT DƯỢC CHI CÔNG », của tiền nhần, ngày say còn nhắc ngờ là rất đồng,

Tánh chất về V-lý khoa-học ngày nay các Bácsi ở Nhựt-bản nghiên-

cứu đã công nhận Châm-cứu có tác dụng-đết với -huyết đường, huyết

dịch, hing huyéticiu; bạch-huyẾt-cầu, nhứt lÀ tác dụng sắt tròngy thi

có đủ bằng cớ cụ thầu chứng, míng đội -yới; khoa-bọc

Nine thé các nhà Bác-học: đã chứng: nhận Châm Cứu là một khoA- học tự nhiên đối với căn bản cơ thề học và Thần - kinh hệ cho nên

có nhiều luậnthuyết nhức định cho rằng C//ÌM¬-CỨU HỌC LÀ TRị-

LIỆU THẦN KINH HỌC, vì vậy mà các nhà Bfchọc Tây - phương đã

thừa nhận sát nhập vào khoa-học Y-i€ Quicté, 42 cong nghiên cửu phất huy ‘trong thời ký khoz-Học nguyên tử này,

21

Trang 24

CHUONG THO IT

Phan hệ thống than kinh

t— SƠ LƯỢC VÊ HỆ-THÓNG THẦN-KINH

Học Châm Cứu mà không biểu rõ vềtồ chức Hệ-thống Thần-kinh

trong cơ thề thì thật l3 một sự thiếu sốt rất lớn, nhưng về thiềe-

học, Thằn-kinh bọc, phạm vi quyền sách này chúng tôi không thề đề cập đến, mà chỉ tốm tất sơ lược về hệ-thổng thần-kinh trong cơthÈ đề có một quan niệm tồng quất về vấn đề thần kinh đối với Châm-Cứu,

Vé Co-th® hoe thì trong cơ-thề có một hệthống thần-kinh gồm

nhữug cơ quan có nhiệm vụ chỉnh-lý các sự vận động, điều dường các

sự vận động, điều đường các cơ năng và liên lạc với ngoại giới

Hệ thần kinh gồm có:

z) Hệ Nẩo-tủy điều khiền các cơ năng,

2J Hệ Dinhdưởng điều hành các cơ nặng Dinh-dưỡng,

Hai hệ lHênlạc chặcchể với shau

H.~_ HE NAO-TUY (systéme ceré brospenal)

Hệ Nảotủy gồm có những Trung-khu nỉotủy hợp thành trọc Nảo

tủy: Tủy sống Hành-củy, Nảo bộ Và những day thần-kinh chạy tir

các trun -khu đến các cơ-quan

Diy thần-kinh cẩu tạo bởi những nơsrom tế bào, trong tếbảo có

những chất dự trử gọi là thần kinh dịch đề đỉnh đường cơ-thề Những tiều sợi thần-kinh rất nhỏ ở tải rác trong tế bào chất có nhiện vụ dẫn truyền luồng thần-kinh

Luồng thần-kinh dẫc truyền thee bai chiều ly-tâm và hướng-tâm Luồng bướng-tâm (centripére) din truyền từ ngoại biển thần thÈ

về các trung khu, tức là luồng cẩm giác thầnnkinh

a

Trang 25

Luồng ly-tddm (centilsga) dẫn trayền từ trang khu ra che co-quan

ngoại biên tức là luồng vận-động thầa-kinh

Hệ Nảo ở trong thành xương zo, be Tủy ở trong ổng tủy xương

sống bai hệ giao tếp với nbau, chồ đầu phía trên tủy sống, chồ giao thea của các sợi thầnkinh gọi là Hành-tủy

Thần-Kinh tủy: Thầa-kinh tủy là thần kinh ở wong thy xương sống, từ'trên cb xuống tới xương cùng có 21 đối giấy thắn kính chia ra:

8 đổi cồ, + đổi lưng, 4 đổi thắc lưng, ạ đôi mông, + đôi cùng

Mỗi đôi đều do dây thằn-kình phát xuất từ Ủa sống bằug hai tía rỄ,

rÈ sau dẫa cảm giác rề trước dẫn vận động bai rÈ họp lại thành đầy

thằa kinh tủy hồa hợp (pha) gồm có hai sợi đẩn cảm giác và vận động

Di thia-kinh cồ thử nhứt phát xuất giữa xương chim (ở đầu)

và Kương chống (xương sống) các đôi khắc phác xuất từ lỗ tiếp hợp các đốt xương sống

Ra khổi xương sống thần-kinh chia làm 2 nhách, nhánh sau đi đến tấc cz (bip thị) và da ở miền lưng, nhánh trước chạy tối cơ và

miền bụng cùng tay châu,

Các nhánh trước kế: hợp thành những tùng ở các miền phân ra:

Tùng cồ có 4 đôi thần-kỉnh cồ và ¡ đòi lưng, từ đố phát xuất

tác đây thần kinh cách.mô, chạy đến cách-mô

Tùng tay có ¿ đổi thần kính cồ và một đổi thần-kinh lưng, từ

đồ phát xuất các đây thần-kinh chạy đến hai cánh tay

Tang thắc lưng, gần Thận có 4 dai giấy thần kinh thắc lưng,

từ đố phát xuất thần kinh đòi chạy xuống phần dưới đủi,

Tùng Hông có thần kinh thắc lưng, và thần kinh Lông từ đã phát xuit thầa-kiah tpa-cét đi xuống Hai chân

Ở miễn lưng cách nhánh trước chạy bao quanh xương t§ỰC,

thành đôi thần-kinh giao sườn

THẦN KÍNH HỆ NÃO TỦY : Thần - kính não phát xuất từ

dưới Não có ta đổi the thứ tự từ Não đến Hành tủy và trước r4 sau

1) Thần-kinh khửu-giác (merf okfrctif) chạy tới môi,

2) Tuầa-kính thịgiác (nerf optlque) phát xuốt từ não đến một

trạm thứ nhấi là tầng thịgiác rồi từ đó phân đối, một nữa chạy tới mắt củng bên, một nửa giao thoa với thầa -kinh đối điệa đó là sự giao thoa với thần-kinh đối diễn đố là sự giao thoa thị giác

3) Thần-kinh vận nhẩn chung (nerf moteur cculiire commun) phdt

xuất từ cuốa nâo chịy tới các cơ vận động mắt (ưừ cơ ngoại trực

và cơ đại tì

23

Trang 26

4) Thắn-kinh cảm động (strf pathểtique) chạy từ cầu varole tổi cơ đại tà của mắt, cũag là thin kink veda động mắt,

5) Thầu-kính tam thoa (aerf trjamau), chỉa rs là 3 nhánh :

a) Nhánh nhắn là một thần-kỉnh cẩm giác đãa lên não những cằm

giác, từ miền trắng, mỉ mắt, màng rmũi, về tuyến nước mit,

ˆð) Thần-kinh hầm treo cũng là thần-kinh cẳm giác dẫn lên no những

cẳm-giác từ miễn gò má, môi trên, màng mủi và hàm tăng trên,

©} Thần-kính hàm đưới là một thần-kinh hồa-bợp (pha) chia lam 2

abánh nhỏ x nbdeh cim giác là thần-kinh lưởi, dẫn lên no những cẲm

giác từ hàm tăng dưới, “hái dương, môi dưới và phần trước của lưỡi, £

nhánh đãu vận dộng đến các cơ nhai và tuyến nước bọt mang tái

6 Thần kinh vậo nhảa ngoài (nerf moteur oculaire xterne) đẫu vận động

đến các cơ ngoại trực của mắt,

7 Thần-kính mặt (aerf facial) điều khiền các cơ ngoài mặt đa miền

đầu và cồ; các cơ này khi co rút làm cho mặt ta biển đồi, có một nhánh

goi la day ming trống qua giữa tại rồi bợp với thần =kinh lưỡi chạy tới

lưổi và tuyến nước bọt dưới hàm

8) Thằa-kinE thính

giác từ hai tai đến náo,

9) Thầu-kinh thiệt-hầu (nerf glosso-pharymgim) là thần-kinh vị-giác,

1o) Thần-kinh nhế-vị (seff pneumagastrique) phát xuất từ hình tủy là

thần-kinh hếa-bợp (pha) nerf mix, có những sợi đẫn cảm và vận động

chạy đến tÍm, phỗi, dạ day

11} Tbần-kinh sống lung {uerf spécial) điều khiển các cơ của thanh

quản đó là thần-kinh của sự phát thanh,

12) Thần-kinh đại hạ tuiệt (nurf grand hyphoglosse) điều khiền các cơ

ác (nerf auditf) dẫn những cảm-giác về thỉnh

SINH -LÝ CỦA HỆ THẦN KINH NÃO -TỦY ;

Day thần-kiah có tính cảm ứng và dẫn Wuyền, khi bị kich-thich diy

thần-kinh liền phẩn ứng phát sinh một luồng thần-kinh lan truyền suốt doc dặy Sự lan truyền ấy lâm tắng cường độ hô hấp của đây, và truyền từ tế bao này qua tế bào khác; bay từ sợi dây thần-kính qua một cờ hay một tuyến Trong khi lan truyền day thằn-kinh tiết ?a những chất đặc biệt gợi là chất môi giới hóa-học, tức là thỀo-kinh địch (médiateur chimique), cf the dụng

24

Trang 27

kich-thích các phân từ tiếp cận khiến luồng thằn-kinh truyền sang phần tử ấy,

Sự dẫn truyền ấy phản làm 3 loại:

11 Thăn-kinh ly tam bay là vận động dẫn luồng thần-kinh vận độcg từ

các trung-khu ra pgoại biển như s3 đổi: thần-kinh vậa nhản chung, thần-kinh cảm động, thảa-kinh vận nhản ngoài, thầs-kinh sống lưng, thầa- kinh đại hạ

thiệt

2) Thăn-kinh hướng tâm :.hay.là cảm giác dẫn luồng thần-kinh cầm giác

từ ngoại biên về trung khư nhữ ba đôi: Thần kinh khứu-giác, thần-kinh thị-

giác, thần-kinh thính giác

3) Thần-kính hỗn-hợp (pha, mixte), gồm + sợi vận động và + sợi cảm-

giác như + đôi : Thầa-kinh phế-vị, thần-kinh tam thoa, thần-kính mắt, thần- kinh tổy (aerf rachidieo)

Nhiệm-vụ của các trung-khu :

Trung-khu tủy sing: Thy sống din luồng thần-kinh cỉm-giác (cảm-giác, xúc giác nhiệt và cẩm giác đan) từ các cơ quan ngoại biên lên náo, qua sé sau

của thần-kinh tủy, và dẫn luồng thằn-kinh vận động từ não đến các cơ qua rề

sau của thần-kinh tủy,

Đường đi của luồng thầu kinh từ ngoại biên vào tủy sống và từ tủy

sống qua các cơ là cũng phần xq (atc réflexe)

Tủy sống có những trung-khu phần xạ :

a) Trung-kbu vận động chỉnh lý và cử động,

b) Trung-khu gia tốc nhịp tim, gia-tốc các dây trực giao cảm dẫn đến

tìm

€) Trung-khu điều-hòa sự bài-tiết mồ hôi,

đ) Trung-khu cổ-động bàng-quang và hậu môn,

©) Tru: g-khu phẩn xạ đầu gối co, đực

f\ Trung-khu duy trị tá-h cường cơ giử khỏi tê liệt toàn thân,

Trung-khu hành-tủy :

ˆ Hành-tủy cũng như tủy sống, din cdm-gide tir thy sống lên nảo sau khí

giao-thoa ở hành tủy, và dẫa vận động từ não xuống tũy sống sau khi gÏao-thoa chùi thần-kính cảm-giác và thần-kinh xậa-độc g ở-bành-lây, quan trọng, nếu

bị đứt thì nửa thân thề đối diện sẽ hoàn toàn tế liệt và vô cảm giác; Xì-Bàchs

tủy là một trung-khu phẩm xạ chỉ phổi qhững cơ năng định dường ở cÁc trung

khu:

25

Trang 28

-1) Trung-khu hô-hấp phát xuất THăn-kính phế-v] (rung-khu này bị

thương thi sự hô-hấp bị ngừng ngay)

3) Trung-khu Tiết chế tim: Trung khu này bị kích thích thì tim bị

ử huyết, ngừng đậy

3) Trung-khu bài-tiết, Trung.khu điều-bòa cơ năng ở gan, nước tiều,

và nước bọt,

4) Trung-khu của sự nhai, nuốt, ói, mữa, họ,

5) Truag-kbu vận mạch làm trương hay cò các tiều động mạch

6) Trung.khu phẩn xạ mí mắt,

Trung-khu não bộ : Não bộ có : Tiều-não, Eo-não và Đại.näo

Tiều-não duy-trì tính cưởng cơ, tăng cường sự co rút của cơ chỉnh lý

các cử động

Eo-nio lién lạc tủy sống với các phần trên của Đại-não,

Đại-não giữ nhiệm vụ tồng quất, là trung-khu của Trí-tuệ, ký-ức, vận-

động, cảm xúc, tóm lại là trung-khu của các cơ-năng Tâm-linh,

#) Đẹi-não có những Trung khu :

1) Truag-khu cảm-giác: Thị-giác, thính-giác, xúcgiác, khứu-giác và

vi giác,

43) Trung-kbư vận-động sai khiến các cơ vận-động của cơ thÈ toán

thân, chân tay, mặt, lưỡi v.V

3) Truag-khu tâm-lính phổi-hợp liên kết cẳm-giác và vận động

4) Trung-kbu liên hợp có nhiệm vụ chỉnh lý các cơ năng trí-tuệ, Trung-

khu này cổ chức phận chế ngự các phẩn xạ tủy sống và kiềm soát công việc đối với ngoại-giới

Hệ Dinh Đưỡng (Système VégétatiÐ)

Hệ Thần-kinh dịch đưởng tức là hệ giao cầm thin kính điều

bành các cơ quan dianđưởng abu: Dạ-đầy, tim, phồ, mạch máu, và

Trang 29

A.—-HE TRUC GIAO-CAM (systéme grand sympatique)

cảm, những day hững hạch ngoại biến

Tất cả có 2z đôi hạch phân ra 4 miễn ¿

1) Miền cB có z đổi bạch cổ

2) Miền ngực có ta đôi hạch lưng (hay ngực)

3) Miễn bụng có 4 đôi hạch thắc lưng (bay bụng)

4) Miễn mông cổ 4 đổi hạch mông (hay lưng)

Ở mỗi bên các hạch liên lạc với nhau nhờ những sợi thần kinh

trực giao cảm, những sợi này phát xuất từ hạch giao-cầm tới các cơ-

quan đỉnh-dưởng (phủ-tạng) và các mach mau

Đến các cơ quan ấy những sợi thần-kinh kết hợp thành những tùng (pléxus} có nhiều hạch nhỏ (hạch phủ tang) cùng với những sợi

đối giao-cim (parasympatique)

1) Thần-kinhk miền cỗ :

Từ hạch cồ thứ nhứt có những sợi chạy lần mạch mấu ở đầu

và xuống mắt, từ 3 hạch cd phát xuất những dây thằn-kinh tim chd gần quai động-mạch chủ, các thần-kinh tim hợp với các nhánh của thần kinh phế-vi thành tùng tím (plšxus cardiaque) từ đố có những nhánh nhỏ chạy tới tâm-thất và tâm-nhỉ,

2) Than-kinh mién ngực :

Từ s hạch lưng thứ nhứt có những sợi giaocảm chạy tới thực

quản, cuống phồi, động mạch chủ và tất cả các động mạch ở miền Ấy,

Từ hạch lưng thứ 6, 7, 8, ọ, phát ra những sợi hợp thành đại thần kinh nội-tạng (grand nerf splanchsique) chạy tới hạch bán nguyệt trên đạ-dây,

Từ hạch thứ lo, ri, tz, phát ra những sợi hợp thành tiều thần-Eỉnh nội-tạng (petit nerf splanchaique) chạy tới hạch động mạch chủ, cách-rnô,

da-day, gan, tỳ, thận, ruột con, ấy là nơi hạch bấn nguyệt và tùng mit tdi (plexus soleil),

3) Thần-kinh miền bụng:

Những dây phát xuất từ 4 bạch thắc lưng hop think ting tring

he (pléxus mésentérique) từ đó có những sợi chạy tới ruột giả, thận,

bằng quang và các mạch máu ở miền ấy

27

Trang 30

4) Thừn.kinh miền món?

Cae hạch mông phát ra những sơi thần kỉnh hợp thình từng bạ

vị (pláxus hypcgaetrique) từ đó có những nhánh nhỏ chạy tới trục-trằng barg-quang và cơ quan sinh-dục

Sự liên lạc giữa hệ trựcgiao cẩm với tủy sống bằng cách từ

hạch lưng thứ nhức đếa hạch lưng thử ba mỗi hạch gizo-cảm cùnggồm

những đương ly tảm (vận-động, bảitiết, cendftgs) và những đường hướng tâm (cảm giao centrifuge)

B._— HỆ ĐỐI GIÁO CẢM (gystờme parasymatique)

Hệ đối-giao-cảm gồm những sợi thắn-kinh phát xuất từ các trung khu rão tủy chạy đến các cơ-quan đỉnh-dưỡng (phủ-tạng)

Đường đối-giao-cảm cũng có hai sợi gọi lÀ sợi tiền hạch và sợi hậu hạch, Sợi tiền hạch phát xuất từ trạc não-tủy chạy tới hạch ngoại bien (hạch tạng phử) dùng làm trạm tigp-v4n sit gần phủ tạng hay trong thành phủ tang

Tày theo khởi điềm của các sợi tiên hạch người ta phân biệt

ba đoạn trong hệ đổi“gizn-cẢm :

1) Đoạn đối 3a) Đoạr-đối-giao-cảm hành-tủy

3) Đoạn đốigiao-cảm mông,

Sinh-lý hệ thần-kinh dinh-dưỡng :

Hệ thắn-kinh dỉnh-dưỡng trực-giao-cim không trực tiếp chỉ huy

các cơ-duan dỉnh đưng mà chỉ điều hành chỉnh-lý công việc của cơ

quan ấy, hệ chỉ phối sự tuần-hoàn, sự bài-tiết sự diều nhiệt,

Sự hoạt động của hệ đỉnhcđưỡng có tính cách phản xạ là tủy sống và hành tủy, hạch giao-cm, là những trạm đề luồng thần-kinh

đi qua

Ở dọc tủy sống có cdc trung-khu giao-cim, co mạch, vận mạch

bài-tiết mồ-hôi

Miễn cồ có trung-khu dia mi mit, gia tốc tìm; miền cuối lưng

và thắt lựng có trung khu chế-agự da dày và ruột, miền mông có trung khu đối giao cim chỉ phổi trực tràng, hậu môn, bằag quang,

Trang 31

4) Quả tim: Tím tự động đập được, nhưng chuyển động của tim

được gia tốc bồi thần-kinh tím (trợa giao-cim) và chế ngự bởi thần-

kính phế-v} (đổi-giao-cảm)

b) Ong tiêu hóa: Những vận-động của ống tiêu-hóa (đạ đầy, ruột

được gia tốc bởi thin-kinh phé-vj (đối giao-cảm) và chế-ngự bởi thần-

kinh nội-tạng (trực-giao-cảm)

@ Mềng mắt và con ngươi điều khiền bởi các sợi đổiglao-cim

của thầnkiah mắt và dây trực-giao-cim ob

đì Mạch máu có những thằn-kinh vận mạch tủy lúc làm cho mạch

mia trường nở hay co hẹp mục-đích điều hòa lượng mẫu chạy tới một

cơ-quan Thành mạch máu có những sợi thần-kinh trực-giao-cäm làm cho trương mạch, tức là biết tiết chế kìm hẳm hay có khi triệt tiêu tác dụng của các dây thảu-kinh co mạch Trung khu vận-mạch ở hàuh tủy và tủy sống

Bài-iết: Thầa kính bàitiết tác dụng vào tế bào bài-tiết của các tuyến,

a) Dây trợc-giao-cảm khi bị kích thích tuyến tiết ra một thứ nước bot sánh đặc, ấy là dây trực-giao-cảm tiết chế sự bài-tết, b) Dây đối-giao-cảm khi bị kích thích thì nước bọt tiết ra foang

và trong, ấy là dây đốigiáccầm gia tốc sự bài tết

Thế quân-bình của trực giao-cảm và đổi giao-cảm

Cơ -quan dinh-đưỡng nào cũng có những diy thin - kink trực giaocằm va thio-kinh đối giaocäm đổi lập nhau, nhưng sy đổi lập của bai hệ trực-giao<cảm và đối-giao-cäm tạo nêu một thể quân-bình

rất cần thiết cho sự chuyền vậm điều hòa của các cơ-quan và làm

cho sự hoạtđộng của cơ-quan luôn luộn thích ứng với như -cầu của

cơ thề, nếu vì một lẽ gì thế quâm-bịnh ấy mất thì không khỏi sanh

ra những sự rối loạn sÌnh lý

Kết luận về hệ-thống thần kinh :

lệ ibần-kinh não tây và thần kinh dinh dưỡng Hiến lạc mật thiết

với nhàu, vì bệ não tây không những chỉ huy cáccơ-săng mà lại còn kiềm

2

Trang 32

soát các cơ-náng dinh dưỡag (phủ-tang) Như vậy thần kinh hệ trong

toàn cơ thề đều tồ"hyp theo hệthổag đa thầa-kinh nảo tủy điều khiển

mà nhiệm-vụ tồng quất là ĐẠại-nấo như ta đã thấy ở truag-khu Não-bộ

I.— VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH CỦA THẲN-KINH ĐỐI VỚI

SINH LÝ CỦA CÁC CƠ NĂNG

Tất cả các cơ-năng tạng phủ trong cơ-thề đều có hệ trực giao-

cảm và đốigiao-cảm, đổi lập nhau đề giữ thế quân bình cho sinh lý

sinh hoạt cơ-năng, nhờ vậy mà cv năng được điều hòa, cơ thề khóc mạnh, nếu thể quân bình ấy mất thì sanh rối loạn trong cơ thề tức

là sanh bịnh tật

Thí dụ: Hệ-trực giao-cầm mỡ rộng con người, gia tốc nhịp tím, làm tăng huyết áp và tiết chế sợ chuyền động của ruột v.v

Trái lại hệ đốigiao-cm thu hẹp coa ngươi làm nbip tim đập

chậm, hạ huyết áp, và gia tốc những chuyền động của ruột v.v

Vì vậy nên sinh lý sinh-hoạt cơ năng tạng phủ thì thần - kỉnh git vai trò quyết định, nên trị bịnh bằng châm cứu cũng tức giúp cho vai trò của thằn-kinh giữ thế quân-binh ấy, khỏi thiên lậch, nói một cách khác là kbi thần-kinh của các cơ-năng biến đồi nên sanh rối loạn làm bịch thì phải được giúp đỡ (sửa trì đề đem lại thế quân bình

như thế là làm cho hết bịnh tat «Vai tro của châm cứu làm việc ấy»

Thầnkinh quyết định vai trò sinh-Ì? sau đây :

Đôi với bộ tiêu-hóa :

— Những củ-động trong yếthầư và thực quãng đều là cử-động

phần xạ của thần-kỉnh tam-thoa và thần-binh phé-vi

— Dạ đầy co rút hoạt động biến-hóa đồ ăn và đưa xuống ruật do

tácdụng của thần-kinh phế-vị (đối giao-cim thẳn-kinh) và thần.kinh nội tạng (trực giao cẩm thầm-kinh),

— Tey tạng và Gan tiết chế hbỏa-chất giúp sự tiêu hóa do thần- kinh tụy tạng và gan,

~— Những sự củ-động của ruột non đổi với sự tiêu-hóa được gia tốc do thần.kinh đối-giao-cảm và tiế chế đỏ thần-kinh trực-giao-cảm

Đối với sự tuần-hoàn :

~ Tiết chế nhịp tìm đập do tác-dụng của hệ đối giao-cảm (pbé-vi)

— Gia-tốc nhịp tìm đập do hệ-rực giao-cầm (thần kinh nội tạng)

— Thần kỉnh đối giao-cim bị kích thích vừa phải thì làm cho tìm đập chậm, bị kích-thích mạnh sẽ làm cho tím trương nở và ngưng đập

30

Trang 33

—~ Thần kinh trực-glao-cim bj kich-thich she [im chợ tỉm đập nhanh

— Mạch máu, thầu‹kinh trực giáocẩm có mạch, thắn-kinh đối

giao cảm làm trương mạch,

Đổi với sự hà-hấp,

Phồi vận-động hô-hấp nhờ các dây thầm kinh din từ phồi lên

trung-khứ nhờ thầu-kinh phế-vị và từ trungkhu đến phồi nhờ thẳn-kính vận-động trong trường hợp các phế bào giản nở

— Thần-kinh cách mô chạy tới cách mở

— Thần-kinh tủy chạy tới cơ hô-hấp

~ Ho và hắc hơi, nắc là những cử-động hô-hấp đặc biết do cử-

động phăm-x¿ của thần-kinh

— Những kích thích ngoại biên nhận ở ngoài mặt da và thần-kinh

tam-thea dẫu lên hành-tủy cũng làm biến đồi sự hô-bấp

Đối nứi nhiệt-độ cơ-thể :

Sự điều-nhiệt hay biến nhiệt-độ trong cơ thề cũng do thin-kinh

— Các kichthich nóng lạnh ngoài được các thần kỉnh tủy din lên

trung-khu, trung-khu phát sinh một luồng thằn-kinh, phẩn xạ kích thích trung-khu hô-hấp ở bành tñy làm cho thở gấp, gây sự run ; co mack;

tương mach bay bai tiết mồ-hối (do các thềa-kinh cảm-giác)

Đổi với sự bàitiết :

— Thịn không có thần-kinh bài-riết riêng nhưng nhờ thắn-kinh ảnh hưởng giản-tiếp đếa sự bàitiết bằng cách cơ mạch hay trương mạch

đề biến đồi buyết-áp các động-mạch và tỉnh mạch của tuyến nội-tiết của thận

—~ Ở bàng quang hệ trực giao-cảm làm giản bàng quang, hệ đổi

giao-cảm làm co bàng-quang, tác dụng hai hệ thần kinh làm cho bàng quang

bài-tiết

— Ở tuyến mồ hôi, hệ thằn-kinh có tác dụng trực tiếp vào tuyến

mồ hôi, các thần-kinh cẩm giác nhận sự kích thích nhiệt ngoài đa dần

lên trung-khu bài-tiết mồ hội ở hành tủy và tủy sống rồi tiếp đó các thần-kinh bài tiết từ trung-khu chạy đến tuyến rmồ-hôi

Chủng tôi tóm tắt hệ thống thin kink đề biết qua vậy

(Muốn hiểu rõ Thăn-Kinh cần phải bọc khoa Thần Kinh-Học>»

BL

Trang 34

CHUONG THO HE

Phan Kinh -Huyệt trong (ơ - Thê

Phần trên chúng ta đã hiều qua về thần-kinh hệ, nhưng thực-hành khoa châm cúu phải cần hiều rành mạch về kinh huyệt của đông-y

từ trung-khu đến co-quan hay ngược lại

Sách Nội kinh déng-y gọi lä chồ hội thần khí, xuất nhập du hành chỉ sở, có thề gọi là những hạch giao cảm những huyệt là những điềm nhứt định, vì huyệt có khi ta tìm thấy, như có một tạng phủ bị bịnh thì có một hay nhiều điềm nhứt định nằm tại một vị-trí có sở quan

với tạng phủ ấy trở nên mãn cảm, nếu de ngay giữa điềm ấy thì bịnh

nhơa cảm thấy đau, “nếu đề trật ngoài độ s m/m thì họ không cảm thấy

gị, mà khi bịnh khỏi thì mẫn cẩm tính ấy tiếu mắt, đông-y gọi là thiên

ứng huyệt, hay anthi-huyệt, tức là những cẩm ứng điềm

Huyệt nằm liên tiếp trần một đường kinh lạc của một cơ quan tạng phủ, có nhiệm-vụ dãa‹cảm, tiết chế vận-chuyền, tắng-cường tiếp trợ

đến tận các tồ-chức cơ năng đề phốihợp điều-chỉnh sinh hoạt của cơ thề,

Huyệt còn có nhiệm vụ bảo-vệ cơ-thể, vì khi bị bịnh cảm nhiềm từ ngoài vào, mới phạm ở: lớp biều bì nếu huyệt nhận được sự tác dụng

kich-hích phù hợp là có điều kiện ứng phó với bịnh ngay, còn nếu

bị bịnh bên trong, vì tổ chức cơ năng bị tồn bại, mà huyệt nhận được

sự kíh-thích phù hợp thì phát sinh ngay điều kiện chỉnh lý cơ năng

Vì vậy trên những huyệt ta dòng đề kich-thích bằng sức nồng của ngại (cứu) hay kich-thích bằng kim riêng (châm) là lợi dụng tắc động trực-dếp dẫn truyền cẩm-ửng phẩn-xạ của hệ thần-kinh kích phát và chéng với bịnb tật, bay là khỏi.phọc lại sinh-iý siuh=hoạt của tạng phủ Huyệt

32

Trang 35

trêa những đường kỉnh lạc có têa riêng

Tong số huyệt trên các kinh là 365 huyệt va có những huyét rit

rát không thuộc vào các đường kinh chảnh gọi là kinh ngoại kỳ luyệt

Mi huyệt đều có sự ứng dụng trịliệu như được liệu Theo các

sách xưa tuy ghỉ tồng số huyệt như thế nhưng sự áp dụng trị-lệu nhiều khí không th dòng hết được

Theo sự tham khảo, luận thuyết cồ kim chúng ta nhận thấy khỉ

xử dụng triliệu thì đối với buyệt cũng như 'ránh được; vì khi áp-dụng

châm cứu đối với bịnh-tật có những huyệt (chánh-yếu) huyệt (thứ yếu)

cũng như tính được trong thang thuốc

mà chỉnh cần phải nghiên-cứu cho tường tận mới hiểu thầu triệt sự huyền điệu của kinh huyệt

Kinh: Kinh là những đường độc nổi bền huyệt này với huyệt khác trên cơ thề theo mộc chiều nhứt định, từ trong chạy ra ngoài tay chân gọi là đường ly tâm hay từ ngoài ty chân chạy vào trong gọi là đườ:g hướng tắm làm thành những đường liên-lạc tuyến của tạng phủ

Những đường kink có tính cách da truyền giốpg như những

đường dấn điện đề đem chất dính-dưởng ở các tạng phủ nuôi khảo các

tò chức của cơ thề

Vậy kinh còa có thề gọi là những đường phản-xạ của điềm kích

thíh cũng như những đường ghẩuxạ của dây thần-kinh của thắn kinh bệ

Lạc: Lạc là phững đường nhánh tại các kinh chạy ngang ra nối kinh này với kinh khác liên tiếp với nhau, thấm nhuần ra tới các tô

chức, bủa khắp châu thân có nhiều vỉ ty lạc nhỏ gọi là tôa-lạc

Nội-kinh có câu: Kinh mạch thập nhị, lạc mạch thập ngủ ngoại

bố nhứt thân vi huyết khí chỉ đạo lộ, nghĩa là 1a kinh mạch và ¡ý lạc mạch phân bủa khắp thân (hề làm đường lưu thêng khí huyết,

Kỹỳ-Bá nói răng: nhơn hữu lưởng thủ túc, các hữu tam Âm rnạch

tam dương mạch ví hiệp thập nhị kính lạc mạch gi, hành huyết khi

38

Trang 36

thăng Ám-đương vf dinn w thaa oghia là thân thể người ta có 3 tay

vi a chin 48u cé 3 mach Am vÀ 3 mạch đương Í3 Âm, sdương & ty

và 3 âm 3 dương ở chân) cộng là ¡2 kình lạc mạch chạy khắp châu

thần triều miên không đứt, lưu hành khí huyết thông suốt âm đương đề

nuôi đưởng cơ the,

Vậy tồ chức kính lạc trên cơ thề theo đông-y, từ trong các cơ

quan dinh đường déu phan bia hing ngang (lac) hàng độc (kinh) như màng lưới tua tủa những đường to bơn rồi hợp thình những đường

lớn là 1z đường kinh chánh ở tay chin và 2 đường kinh trước bụng sau lưng; tất cả đều phối hợp với nhau rất cần đối có âm có dương đem chất đỉnh-dưỡng thấm nhuần tất cả các tồchức luân chuyềa luôn

luôn không ngừng, đề nuôi cơ thề, như thế ta nhận, thấy sự hoạt động

của kinh lạc rất lưu-loát, ứng-chuyền, thích bợp với như cầu cho sự sống mạnh của các cơ năng, tồ-chức trong cơ thề,

Nếu vì một lẽ gì mà các cơ năng tồ chức bi đỉnh tre hay mot

nơi nào ở nơi, dây kinh lạc bị khích động thì các hoạt-động phải bị

ngin nghẹn bay đẩy trướng lâm ảnh hưởng đến sinh lý của cơ thể, Vậy về tỉnh cẩm eng ddn-truyén phẩn-xạ kinh lạc không khác tính

cách giao cảm, vận.động của diy thin-kioh

Về cân đối âm dương quân-bình điều hợp chúng ta nhận thấy ở

hệ thần-kính đỉnh-đưởng cơ quan tạng phủ nào cũng có 2 hệ trực-giao

cảm và đối-giao-cảm đối lập nbau đề giữ thế quân bình cần thiết cho

sự hoạt động của các cơ-quau thích-ứng với như cầu của cơ-thề, như thế là sự hoạtđộng của thần kính hệ phù hợp với 14 đường kỉnh lạc của tạng phủ,

III.— SỰ PHÂN LOẠI CỦA CÁC KINH LẠC

Như: trên đã nói theo nội - kính thì kinh lạc phân bủa khắp

trên cơ thề, nhưng cất cân đối có âm có đương vậy phân loại sau đây :

x) Những đường kinh ở phía trước ngực, bụng, những đường chạy đọc theo hai cánh tay ở troag lòng bản tay

Những đường chạy đọc theo hai chân phía trong; đều là những

kinh Âm

2) Những đường kinh ở phía sau lẾng lên đến bộ phận ở đầu,'những

đường kinh chạy dọc theo hai cánh tay ở phía ngoài lưng bàn tay Những

đường kinh chạy dọc theo hai chân phía ngoài trên mu bàn chân, đều là những đường kinh Dương

3) Đường kinh tuyến chạy ngay giữa bụng từ Âm khiêu lên đến roặt là kinh Âm,

31

Trang 37

4) Đường kính tuyển chạy ngay giữa nỗng lưng tờ cuỗi xương cụt, les

giữa đầu mặt là kinh Dương,

1a đường kinh ở 2 tay và 3 chân cộng với 4 đường kinh giữa bụng

và giữa sống lưng là ¡4 kinh lạc chánh phân ra 7 đường kinh Dương và

7 đường kinh Âm

đường kinh đương ở tay là: Thủ-Thải-Dương (Ruột non), Thủ-Thiểu¬

Dương (Tạm-tiêu), Thủ-Dương-Minh (Đại-trường)

3 đường kinh đm ở tay là: Túc-TháiÂm (phdi), Thi-Quyét-Am (mang

bao tìm), Thủ-Thái-Âm (Tim)

‡ đường kinh Dương È chân là : Túc-Tbái-Dương (bọng đái) Túc.Thiểu~ Dương (Mật), Túc-Dương-Minh (Bao-tử)

2 đường kinh Âm # chân là: Túc-Quyế-Âm (Gan), Túc-Thá-Âm (li tách) Túc-Thiếu-Âm (Thận, Cật)

¡ đường kinh tuyến ngay giữa sống lưng là kinh Dương (Đốc-mạch)

1 đường kính tuyến ngay giữa bụng là kinh Âm (NhÂm-mạch)

ÍV SỰ SINH-HOẠT CUA CAC KINH LAC

1a kinh thủ túc chạy trên cơ thề theo chiều hướng tắm bay Íy tâm,

tiếp giao với nhau, nối liều kính này với kinh khác nhờ những đường lạc

lớn theo thứ tự sau đầy :

Thủ-Thái-Âm phế-kinh khởi từ huyệt Trung-Phi & ngực chạy theo chiều

ly tầm đọc thee mé trong cánh tay mà ra tổi mé ngón tay cái chỗ huyệt Tbiếu~

Thương, Kiah này có lạc nhánh tại huyệt Liệt khuyết ở cườm tay chạy ra ngón

tay trõ giao nối với kinh Thủ-Dương.Minh Đại-trường, ở huyệt Thương-

Đương (có sách nói kinh này từ huyệt Thiếu-thường giao tiếp với huyệt

Thương-Dương của kính Đại-trường)

Kinh Thú-Dương-Minh Đại Trường: Khởi từ huyệt Thương-Dương ở

mẻ ngôn tay trỏ chạy theo chiều hưởng tầm chạy đọc theo mẻ ngoài xương

cánh tay lên vai đến mặt, mũi tới huyệt Nghiah-hương, kinh này có lạc nhánh

từ huyệt Thiên-lịch chạy lên cánh tay lên vai nơi huyệt Kiên ngung gắn huyệt Khuyết-Bền của Vị kỉnh chạy lên mặt nơi miệng mũi lên gốc trắng giao nối

với kinh Túc Dương Minh Vị tại huyệt Đầu-Duy (có sách nói kinh này từ

huyệt Nghinh-hương giao tiếp với huyệt Thừa-khấp chạy lên Đầu-Duy, Kinh Túc-Dưrơng-Minh Vj (bao cờ): khởi từ buyệt Đầu-Duy nơi mé

tóc bên gốc trấn chạy theo chiều ly tâm xuống dưới mặt, miệng đến cd

ngực, bụng thẳng xuống chân phía trước qua đầu gối, ống quyền đến bàn chân tới huyệt Lệ-Đoài, mé ngón chân trõ, kinh này có lạc nhánh ở huyệt Phong-Long chạy xuống bản chân đến đầu ngón cái giao nối với kinh Túe- Thái - Âm Tỳ aơi huyệt Ần ¬ Bạch (có sách nói kinh nàÿ'-có nhánh chạy

35

Trang 38

(Œ huyệt Xung - Dương ra đếc ngộn cải gay tiếp với huyệt Ân ~ Bạch

Kinh Túe-Thái-Âm Tỳ (14-lách) ¡ cÍạy theo chiều hướng tâm khởi từ

huyệt Äu-bach nơi đầu ngón chân cdi dec theo mé trong bàn chân lén

háng, lên bông đến Châu-vinh nơi ngực quanh xuống huyệt Đại Bảo

chế hông dưới nách, kiab này có lac nhánh từ huyệt Công-lôn chạy lên cùng lạc Dương minh Vị đến chỗ tâm giao nối với kinh Thủ-Thiếu

Am Tâm nơi huyệt Cực-Tuyền tại nách giao tiếp với huyệt Cực-tuyến Kinh Thủ-thiếu 4m Tam : chạy theo chiều ly tầm từ nách nơi huyết

cựctuyền đẹc phía trong cánh tay r2 lồng bàn tay đến mé trong ngón

út nơi huyệt Thiếu xung, kính này có lạc nhánh tại huyệt Thông Lý

theo kinh chạy ra đầu ngón tay ÁC giao nối với kinh Thủ.-Thái-Dương

Tiểu trường tại buyệt Thiếu Trạch (có sách nói kỉnh này từ huyệt

Thiếu-Xung giao tiếp với huyệt Thiểu-Trạeb)

Kinh Thủ-Thái-Dương Tiểu-trường (tuột gòn) chạy theo chiều hướng

tâm từ huyệt Thiếu-trạch đầu ngón út phía ngoài bàn tay đến cùi chố

lên mặt đến huyệt Thính-Cung trước lỗ tai kinh này có lạc nhánh

từ huyệt Chỉ-Chánh chạy theo tay lên má đến quanh mắt giao nổi với kinh Túc-TháiDương Bàng Quang nơi huyệt Tính-Mnh (có sách nối kinh này từ huyệt Thính-Cung giao tiếp với huyệt Tính-Minh

Kinh Túc-Thái-Dương Bàng-quang (bọng đái) chạy theo chitu ly tâm,

từ huyệt Tỉnh.Minh nơi khoẻ mất gần sống mũi ln trấn vòng qua một bên đầu xuống bến ót, xuống lưng (cách xương sống) xuống đến xương cụt vò"g lên một vòng ở lưng phía pgoài rồi chạy đọc xuống

đì, xuống châu phía sau thẳng giữa nhượng chân đến bếp ngoài bàn chân ra đầu ngót châu Gt nơi huyệt Ch-Âm, kính này có lạc nhánh

tại huyệt Phidương chạy xuống phí ngoài ngón chân út giao nối với

kinh Túc-Thiếuäm Thậu nơi huyệt Dũng tuyến (có sách nói kinh này

từ huyệt Chidm giao tiếp với huyệt Dữag-tuyền)

Kinh Tủc-Thiếu âm thận (cật) chạy theo chiều hướng tâm từ huyệt Dãngtuyền giữa lòng bàn chân chạy dọc lên một bên phía trong ống chân

lêu háng thẳng lên bụng (một bên rúa) lên ngực (phia trong vú) đến

huyệt Duư-Phủ chế xương đòa gánh, kinh này có lạc nhãnh chạy từ

phôi quanh ngực ra giao nổi với kỉah Thủ-khuyểt-äm-tâm.bảo-lạc nơi

huyệt Thiền Trì gần vớ (có sách nói kink nay chạy đến huyệt Du-phử

giao tiếp với huyệt Thiên-trì),

Kinh Thủ-Khuyết âm Tâm bào lạc (màng bao tâm) chạy theo chiều ly

tầm từ huyệt Thiên-tì phía ngoài vú chạy doc từ nich theo mé trong

cánh tay Viến lòng bàn tay'ra đầu ngón tay giữa nơi huyệt Trung-Xung kinh này có lạc nháah chạy từ huyệt Nội-quang theo bàn tay ra đến

mẻ đầu ngón áp-út nối với kính Thủ-Thiểu-Dướng Tam tiếu noi huyệt

36

Trang 39

Quang.Xong (có sích nói kỉah này chạy đếa huyệt Trang-xung giao tiếp

với huyệt Quang-Xung),

Kinh Thủ-Thiếu-Dương Tam-tiêu chạy theo chiều hướng tâm từ buyệt Quang-Xung theo rau bản tay đọc phía ngoái cánh tay lên vai vồøg sáu

tai din huyệt Nhi môn chế 18 tai, kink mày có lạc ahánh chỗ sau tai

chạy đếm chả lỏm mất giao nối với kinh Túcthiếu dương nơi huyệt

Đăngtử-aiao (có sách nói kinh này chạy đến huyệt Nbi-mén giao

tiếp với huyệt Đẳng-tử-giao

Kinh túc thiếu đương mật (đỡm) chạy theo chiều ly tâm từ huyệt đồng-từ-giao lên bên trấn, quanh qua bên đầu xuống vai thẳng xuống bên hông theo chân mẻ ngoài xuống bàn chin teén mắt cá rả đến ngón chân áp út noi huyét Khigu-am, kink nảy có lạc nhánh chạy từ trên

bàn chin ra đến ngón chân cái gần móng nổi với kinh Túc khuyết âm

Can avi huyệt Đại-đôn (có sách nói kinh nảy chạy đến huyệt Khiểu-âm

giao tiếp với huyệt Đại-đôn)

Kinh Túc-Khuyết-âm Can (gan) chạy theo chiều hường tâm từ

huyệt Đại-Đôn lên bàn chân độc lên châu phía trong thẳng lên báng,

lên bên bụng đến huyệt Kỳ-Môn chỗ kẹt xương sườn thử 8 kinh này

e6 lạc nhánh từ gan chạy lên tại phồi giao nối với kính Thú-Thất âm Phế nơi huyệt Trung-Phủ ở kinh phồi tại ngực (có sách nói kỉiph này

từ huyệt Kỹ-môn giao tiếp với huyệt Trung-Phủ ở kinh phồi) Kinh Phối lại theo chiều chạy như trên,

Như thế ta kinh lạc cử tiếp tục luân lưu mãi như vòng không mổi vận hành khí huyết, lưu thông Âm dương triền muêu không đứt đề nuôi đưởng tất cả cơ năng t® chức trong cơ-thề,

Đốc mạch: Đốc-mạch là kính-đô của kính lạc thuộc về dương khởi từ huyệt Trường-Cường trên tận củng xương cụt chặy lên ngay chích giữa sống lưng thẳng lên đầu vòng qua trước mặt ngay giữa sống mũi đến huyệt ậgân-giao tại lợi hàm răng trên Kinh nảy có lạc

nhánh chạy quanh sau đi ra vế hiệp với kinh lạc Thiếuâm Than noi thy sống với Thận, có nhánh hiệp với kính lạc thấi-đưỡng Bảng-

quang ở quaah mắt thẳng lên đỉnh đầu Hên kết ớ não bộ rồi xuống

cồ, xuống vai vào tủy sống đến chỗ co-lưng hiệp cùng lạc Thận, rồi

có nhánh chạy vào tiều-phúc (bụng dưới) thẳng giữa rúa lên tâm, chạy

luôn Yeo mie, mất

Đốc mạch chạy thành ruột đường tuyến trung wong giữa tủy sống vào não có nhánh liên lạc đến tâm, thận, bằng quang, và các cơ-

quan ở tiều phúc tỳ, vị, đại trường, tiều trưởng, làm chủ cả Ếác kinh

dương nên Nộikinh nói rằng thuộc Dương mạch chỉ hải (bỀ của các

mạch Dương)

37

Trang 40

Nhâm mạch Nhâm mạch lÀ mạch thuộc âm khởi từ huyệt Hội-âm

tận cùng xương giao-vốt của âm-kbiểu chạy thẳng lên làm một đường

kinh tuyến giữa bụng đến cồ hầu lên tới huyệt Thừatương

đườởi môi dưới, mạch này có nhánh cùng với ÄXung-mạch đều khởi

từ Bào trung theo phía trong xương sống làm chỗ chứa kinh lạc (g2i

l3 kinh mạch chỉ hải, vì thuộc Âm nến cũng gọi là Âm mạch chỉ LHải

bề của mạch Âm) có lạc nhánh chạy ra bụng, theo bụng chạy lên đến

cồ bầu theo lạc riêng bao quanh môi miệng,

Tất cả trên đây là rạ kinh mạch chíah trong cơ thề,

Tham khảo Thầa-kinh sinh lý nhận thấy Kính mạch trong cơ th? thì Đốc mạch cũng chạy trong tủy sống lên não bộ, nhự Thần kinh não thy, Hên hệ với các cơ quan cũng như các Trung khu não tủy chỉnh

lý các cơ năng nội tạng Đối với các Kinh âm và Kinh dương ở tay

cũng như các thần kinh: Xich-thần kinh, Nhiều thần kinh và chính trung thin kỉnh ở tay cũng như kinh cốt, phì cốt và tọa cốt thần-kinh ở chân Tuy tồ chức hơi khác về giải phầu cơ thề nhưng về sinh lý thì

giống nhau,

V- ÂM DƯƠNG, VÀ VINH VỆ (VINH KHÍ VÀ VỆ KHÍ

Thực hành châm cứu, thì phần thần kỉah-hệ và kinh lạc trên chúng

ta đã nhận rõ, nhưng theo Déng-y nên chúng ta không th không tìm

hiểu lý thuyềt Âm-Dương

1) Âm-Dương là gì? Tại sao Đông-y lại căn cứ và phân ra âm đương Đồng-phương nhận rằng vũ-trụ vạn vật sở dì luôn luốn sinh hóa

là dosự phối hợp và phân hóa của hai kbí am-duong {thee Dịch-lý)

Âm dương như bai luồng điện kbí trái nghịch hẩn nhau, nhưng luôn

luôn phối bợp với nhau, vạn vật sinh hỏa không ngừng do sự phối

bợp và phân hóa của âm dương, hề phối hợp điều hòa thì sinh, không

điều hòa thì hư bỏng, mà nếu âm dưởng phan ly thì tan rỉ, (chúng tôi

không đề cập nhiều ở đây 2È Dịch-lý),

Déng-y cho ring co thề coa người lì tiều thiển địa, hay là một

nhục vủ-rụ, nghĩa là trong cơ thề cũng có những sự biến chuyền của

khi âm khi đường; phủ tạng trong cơ thề cũng phối hợp chuyền hóa

với sbau theo luật âm dương, vì thế nên ¡4 kinh cháah trong cơ thé

cũng phân ra 7 âm, 7 dương, đổ là đề chỉ rõ vj-trl béa trong bên agoài; nhưng chủng ta nên hiều rõ là luôn luôn sự phối hợp âm dương

trong Kinh lạc tạng phủ là trong #m cũng có dương mà trong dương củng có âm, luôn luôn âm dương trong cơ thề tạng phủ giữ mức thăng

bằng điều hòa phổi hợp đề điều chỉnh cơ năng tạng phủ, giữ gìa sức

khỏe, nuôi đường tất cả các tồ chức trong cơ th, như thể nếu vì lẽ

gi mA am dương không điều hòa thì cơ thề phát sanh bịnh-tật,

38

Ngày đăng: 17/08/2022, 14:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w