Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật đã được hình thành và phát triển với ba hình thức cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA: BẤT ĐỘNG SẢN
BÀI TẬP LỚN Môn: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề bài: Đề 1
Họ và tên: Đào Thị Mai Hương
Mã sinh viên: 11192257
Lớp
Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2019
Câu 1: Chứng minh chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức
phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật?
Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật đã được hình thành và phát triển với ba hình thức cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật quan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tại là vật chất Nghĩa là về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất, rằng mọi sự kiện quan sát được trong thiên nhiên được giải thích chỉ bằng các nguyên nhân tự nhiên mà không cần giả thiết về sự tồn tại của cái siêu nhiên Trong đó, thế giới duy nhất tồn tại trước, sinh ra mọi quá trình, tồn tại trước, ngoài ý thức con người, vật chất xuất hiện trước ý thức Đây là mối quan hệ hữu cơ,vật chất sinh ra ý thức, trong mối tác động quan hệ qua lại, ý thức có thể tác động lại vật chất
Trang 2nhưng không sinh ra vật chất Qua đó, ý thức phản ánh thế giới bên ngoài, là hình ảnh chủ quan của thế giới quan, con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan vì xuất phát từ quan niệm thế giới có trước, tồn tại độc lập với ý thức con người
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là một hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật, do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I Lênin phát triển Đặc trưng của phương pháp duy vật biện chứng là coi một sự vật hay một hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tượng khác Cốt lõi của chủ nghĩa duy vật biện chứng là chủ nghĩa duy vật kết hợp với phép biện chứng Mác đã kế thừa tư tưởng về phương pháp biện chứng và lý luận về chủ nghĩa duy vật để phát triển nên phương pháp luận này Mác – Lênin lấy phương pháp duy vật biện chứng là cơ sở triết học cho hệ tư tưởng của họ
Khái niệm biện chứng trong lịch sử triết học được dùng theo một số nghĩa khác nhau Nghĩa xuất phát của từ “biện chứng”
là nghệ thuật tranh luận để tìm chân lí bằng cách phát hiện mâu thuẫn trong cách lập luận (Do Xôcrát dùng) Đặc điểm của hình thức biện chứng:
- Nhận thức đối tượng trong các mối liên hệ phổ biến vốn có của nó Đối tượng và các thành phần của đối tượng luôn trong sự lệ thuộc, ảnh hưởng nhau, ràng buộc, quy định lẫn nhau
Trang 3- Nhận thức đối tượng ở trạng thái luôn vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng phổ quát là phát triển Quá trinh vận động này thay đổi về cả chất và lượng của các sự vật,hiện tượng Nguồn gốc của sự vận động, thay đổi đó là
sự đấu tranh của các mặt đối lập của mâu thuẫn nội tại của bản thân sự vật
Quan điểm biện chứng cho phép chủ thể nhận thức không chỉ thấy những sự vật riêng biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả
sự sinh thanh, phát triển và sự tiêu vong của sự vật, không chỉ thấy trạng thái tinh của sự vật mà còn thấy cả trạng thái động của nó Ph.Ăngghen nhận xét, tư duy của nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung nhau được, đối với họ một sự vật tồn tại hoặc không tồn tại, một sự vật không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau Ngược lại, tư duy biện chứng là tư duy mềm dẻo, linh hoạt, không tuyệt đối hóa những ranh giới nghiêm ngặt “Trong những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là…hoặc là” thì còn có cả “cái này lẫn cái kia” nữa, và thực hiện sự môi giới giữa các mặt đối lập” Nó thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định, vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau
Chủ nghĩa duy vật chất phác: là kết quả nhận thức của các
nhà triết học duy vật thời Cổ đại Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này thừa nhận tính thứ nhất của vật chất nhưng đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể của vật chất và đưa ra những
Trang 4kết luận mà về sau người ta thấy mang nặng tính trực quan, ngây thơ, chất phác Nó xuất hiện trong chế độ chiếm hữu nô lệ như ở Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp Về thế giới quan là duy vật có
ý nghĩa chống lại những tư tưởng sai lầm của triết học duy tâm
và tôn giáo; nhưng về mặt phương pháp luận thì chưa có cơ sở khoa học, bởi nó mang tinh trực quan, cảm tinh chủ yếu dựa vào tri thức kinh nghiệm của chính bản thân các nhà triết nhà triết học hơn là những khai quát khoa học của bản thân tri thức triết học
Engels viết: “ Quan điểm về thế giới một cách nguyên thủy, ngây thơ nhưng căn bản là đúng ấy, là quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp thời cổ, và người đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là Héraclite: “ Mọi vật đều tồn tại nhưng đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều luôn ở trong quá trình xuất hiện và biến đi”
Tuy hạn chế do trình độ nhận thức thời đại về chất và cấu trúc vật chất, chủ yếu dựa vào quan sát trực tiếp, chưa dựa vào thành tựu của các bộ môn khoa học chuyên nhanh, nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác thời Cổ đại về cơ bản là đung vì nó đã lấy bản thân giới tự nhiên để giải thích thế giới, không viện đến Thần linh, Thượng đế hay các lực lượng siêu nhiên
Ví dụ Thales quan niệm toan bộ thế giới của chúng
ta được khởi nguồn từ nước Nước là bản chất chung của tất cả mọi vật, mọi hiện tượng trên thế giới Mọi cái trên thế gian đều khởi nguồn từ nước và khi bị phân hủy lại biến thanh nước Hay
Trang 5cao hơn là Đê-mô-crit, nếu đất, nước, lửa, không khí tương tác nhau, ở chúng có cái gì chung làm nền, là đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật cổ đại: Thuyết nguyên tử luận
Chủ nghĩa duy vật siêu hình: là hình thức cơ bản thứ hai
trong lịch sử của chủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và điển hình là ở thế kỷ thứ XVII, XVIII Siêu hình là thuật ngữ triết học phản ánh
khuynh hướng phát triển của triết học duy vật từ thời kỳ phục hưng đến thời cận đại Xét về mặt thế giới quan là duy vật, nhưng phương pháp luận lại ảnh hưởng bởi phương pháp
nghiên cứu của khoa học tự nhiên Chủ nghĩa duy vật siêu hình chủ yếu quan sát sự vật, hiện tượng ở trạng thái tinh của nó, không trong sự vận động phát triển
Thời kỳ hưng thịnh nhất là XVII, XVIII Đây là thời kỳ
mà cơ học cổ điển đạt được những thành tựu rực rỡ nên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm chủ nghĩa duy vật thời Cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, cơ giới – phương pháp nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên thế giới
đó về cơ bản là ở trong trạng thái biệt lập và tĩnh tại Đặc trưng
cơ bản của chủ nghĩa duy vật siêu hình:
- Đánh giá sự vật phiến diện, một chiều, từ một bộ phận kết luận toàn thể, xem xét sự vật một cách hoàn toàn
cô lập, tách rời với các sự vật khác;
- Xem xét sự vật trong trạng thái tĩnh tại không vận
động, không biến đổi, vĩnh viễn cố định;
Trang 6- Mọi sự vật tồn tại độc lập riêng biệt, không có mối liên
hệ với sự vật khác;
- Quá trinh phát triển được xem như là sự tăng trưởng đơn thuần về mặt số lượng chứ không có sự thay đổi về mặt chất lượng;
- Tìm nguồn gốc của sự vận động và phát triển ở bên ngoài sự vật( ở Thượng đế, cái hích đầu tiên,…), chứ không tìm sự đấu tranh giữa các mặt đối lập ở ngay trong lòng sự vật;
- Có quan điểm cứng nhắc chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung hợp được; nói có là có, không
là không, cái gì vượt ra ngoai phạm vi đó chẳng có giá trị gì hết
Tuy không phản ánh đung hiện thực trong toàn cục nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình đã góp phần không nhỏ vào việc đẩy lùi thế giới quan duy tâm và tôn giáo, đặc biệt là ở thời kỳ chuyển tiếp từ trường Trung cổ sang thời Phục hưng Là chủ nghĩa sinh ra trong lòng chủ nghĩa duy vật cổ đại, kế thừa và phát triển chủ nghĩa duy vật cổ đại nhưng cũng đồng thời phủ định chủ ngĩa duy vật cổ đại
Chủ nghĩa duy vật biện chứng: là hình thức cơ bản thứ ba
của chủ nghĩa duy vật, do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I Lênin phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và
sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ
Trang 7nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình và là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh hiện thực đúng như chính bản thân nó tồn tại mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp những lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy
Các nguyên lí của phép biện chứng được giải thích trên lập trường duy vật:
- Mỗi kết cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật và hiện tượng, quá trinh khác của hiện thực;
- Tất cả các sự vật cũng như sự phản ánh của chúng vào trong đầu óc con người đều ở trạng thái biến đổi, phát triển không ngừng
Phép biện chứng duy vật còn bao gồm lí luận nhận thức Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người, nhưng đó không phải là sự phản ánh đơn giản, trực quan, hoàn toàn, mà
là quá trình tư duy không ngừng tiến gần đến khách thể Cơ sở, động lực và mục đích của toàn bộ quá trinh này là thực tiễn Chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để, chưa có tính khả thi sâu sắc, thiếu sự biện chứng khách quan, chỉ nhấn mạnh đến cái chủ quan, chưa tập trung, chưa thừa nhận các mối quan hệ giữa sự vật với sự vật hay con con người với hiện thực khách quan, có cách nhìn nhận chưa chinh xác và không cụ thể các vấn đề Chủ nghĩa duy vật trước Mác
Trang 8chỉ tập trung vào việc phản biện chủ nghĩa duy tâm mà quên đi nhiệm vụ của mình
Ví dụ như Hegel là nhà triết học duy tâm nhưng triết học của ông lại mang tinh biện chứng Còn Feuerbach là một nhà triết học duy vật song triết học của ông mang tính chất siêu hình máy móc, ông phê phân tôn giao và thần học nhưng chinh ông lại đưa ra một thứ tôn giao mới: Tôn giao tinh yêu Đây là lí luận ngược, là không tưởng, thiếu biện chứng Chủ nghĩa duy tâm đã dùng phép biện chứng khách quan để giải thích sự vật hiện tượng, chủ nghĩa duy vật lại cho rằng phép biện chứng đó
là duy tâm nên không sử dụng, kết quả là đi vào con đường đúng nhưng không thuyết phục được Mác và Enghen đã kế thừa quan điểm lập trường duy vật của Feuerbach cùng với phép biện chứng sâu sắc của Heghen để hoàn thiện chủ nghĩa duy vật, tạo thanh một thể thống nhất là Phép duy vật biện chứng Và chủ nghĩa duy vật biện chứng đó trở thành chủ nghĩa khoa học biện chứng triệt để như ngày nay
Trong đó, lí luận duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất đó làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lí luận khoa học Nhờ đó, triết học Mác – Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng duy vật không chỉ là lí luận về phương pháp mà còn là lí luận về thế giới quan Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát điểm của phương pháp luận
Trang 9Đây còn được coi là hệ thống các nguyên lí, phạm trù, quy luật cơ bản của phép biện chứng và sự vận dụng nó trong việc nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu con người Cho nên triết học Mác – Lênin còn được gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Nó không chỉ giải thích về thế giới vật chất và vai trò con người về mặt lí luận mà chủ yếu là sự vận dụng nó trong hoạt động thực tiễn xã hội để khẳng định vai trò của triết học đối với đời sống xã hội Sự hình thanh và phát triển của phép biện chứng duy vật Mác – Lênin đã bao hàm sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận khoa học
Triết học Mác – Lênin giải quyết mối quan hệ triết học và khoa học hiện đại trên cơ sở nghiên cứu của triết học Song nó cũng là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân thế giới, là cơ sở lí luận cho sự hoạt động của đảng cộng sản trong quá trinh đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân thế giới và quá trinh xây dựng chủ nghĩa xã hội Triết học Mác ra đời đã làm thay đổi mối quan hệ giữa triết học và khoa học; sự phát triển của khoa học tạo điều kiện cho sự phát triển của triết học Ngược lại, triết học Mác – Lênin đem lại thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển của khoa học
Câu 2: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất trong thời kì cách mạng công nghệ 4.0( trí tuệ nhân tạo, chuỗi giá trị toàn cầu)
Trang 10Ở mỗi giai đoạn lịch sử con người tiến hành sản xuất theo một cách thức nhất định, tức là có một cách sinh sống, cách sản xuất riêng của mình, đó là phương thức sản xuất Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là các khái niệm chỉ hai mối quan
hệ “song trùng” của nền sản xuất vật chất xã hội, đó là quan
hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất “Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất” (Trích C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, t 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội tr.552)
I Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
a) Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội
Về cấu trúc, lực lượng sản xuất được xem xét trên cả hai mặt, đó là kinh tế - kỹ thuật (tư liệu sản xuất) Và mặt kinh tế -
Trang 11xã hội (người lao động) Lực lượng sản xuất chính là sự kết hợp giữa “lao động sống” với “lao động vật hóa” tạo ra sức sản xuất, là toan bộ những năng lực thực tiễn dùng trong sản xuất của xã hội ở các thời kỳ nhất định Như vậy, lực lượng sản xuất
là một hệ thống gồm các yếu tố (người lao động và tư liệu sản xuất) cùng mối quan hệ (phương thức kết hợp), tạo ra thuộc tính đặc biệt (sức sản xuất) để cải biến giới tự nhiên, sáng tạo
ra của cải vật chất theo mục đích của con người Đây là sự thể hiện năng lực thực tiễn cơ bản nhất – năng lực hoạt động sản xuất vật chất của con người
Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội Người lao động là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất xã hội Đây là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất Ngày nay, trong nền sản xuất xã hội, tỷ trọng lao động cơ bắp đang có xu thế giảm, trong đó lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ ngày căng tăng lên
Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiện lao động Công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất, là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế xã hội trong lịch sử, là thước đo trình độ tác động, cải biến tự nhiên của con người và tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau Chính vì vậy C.Mác khẳng định:” Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra