TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA VIỆN KHOA MÔI TRƯỜNG, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐÔ THỊ BÀI TẬP LỚN Môn Triết học Mác – Lênin Đề 2 Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin Căn cứ trên , nêu tiêu chuẩn vậ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA/ VIỆN: KHOA MÔI TRƯỜNG, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU & ĐÔ THỊ
_ _
BÀI TẬP LỚN
Môn: Triết học Mác – Lênin
Đề 2: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin Căn cứ trên , nêu tiêu chuẩn vật
chất mà định nghĩa đã đưa ra, hãy chứng minh năng lượng thuộc về vật chất
Họ và tên : Nguyễn Quang Huy
Lớp : Triết học Mác – Lênin_31 MSV : 11205480
Hà Nội – 2021
Trang 2Mục lục
Trang 3Lời mở đầu
Lênin là một thiên tài kiệt xuất vừa là nhà triết học tài ba vừa là nhà cách mạng lỗi lạc Với một trí tuệ uyên bác bao gồm nhiều lĩnh vực rộng lớn và một nhãn quan chính trị nhạy cảm Những lý luận của ông về triết học đã giải đáp những khúc mắc về mặt lý luận của lịch sử Những lý luận của ông không những quan trọng mà còn mở ra con đường phát triển của nhiều ngành khoa học tự nhiên sau này Theo ông, sợi chỉ đỏ của toàn bộ chủ nghĩa Mac chính là phép biện chứng duy vật – khoa học phản ánh đúng đắn biện chứng khách quan của sự vật hiện tượng
Dựa vào những lý luận xuyên suốt chiều dài lịch sử về vật chất, dưới bài viết này, chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem những đặc tính của vật chất, vật chất có
trước hay có sau và năng lượng có phải vật chất hay không
Trang 4Lý Luận
Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy
vật cũ về vật chất
Chủ nghĩa duy tâm
Các nhà triết học duy tâm, cả chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan, từ thời cổ đại đến hiện đại tuy buộc phải thừa nhận sự tồn tại của các
sự vật hiện tượng của thế giới nhưng lại phủ nhận đặc trưng “tự thân vận động” của chúng và họ cho rằng ý thức có trước và nó quyết định vật chất
Chủ nghĩa duy tâm khách quan: thừa nhận sự tồn tại hiện thực của thế giới tự
nhiên nhưng lại cho rằng nguồn gốc của nó là do “sự tha hóa” của “tinh thần thế giới”
là một lực lượng tinh thần bên ngoài con người quyết định thế giới vật chất Ví dụ như “thượng đế”, “trời”, “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần thế giới”, “số mệnh” mà nổi tiếng là nhà triết học người Đức Eriedrich Hegel
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: cho rằng đặc trưng cơ bản nhất của mọi sự vật
hiện tượng là sự tồn tại lệ thuộc vào chủ quan hay là ý thức cá nhân mà đặc biệt là
tuân theo cảm giác Do đó, về mặt nhận thức luận, chủ nghĩa duy tâm cho rằng con
người hoặc là không thể hoặc là chỉ nhận thức được cái bóng, cái bề mặt của sự vật hiện tượng mà thôi Một số các nhà triết học nổi tiếng ở trường phái này như David Hume, George Berkely hay Immanuel Kant với câu nói bất hủ : “vẻ đẹp không nằm
ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà nằm trong đôi mắt của kẻ si tình”
Như vậy, về thực chất thì các nha triết học duy tâm đã phủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất, do vậy thế giới quan duy tâm rất gần với thế giới quan tôn giáo và dẫn họ đến với thuyết thần học
Trang 5Chủ nghĩa duy vật cũ
Quan điểm từ xưa đến nay của các nhà triết học duy vật vẫn luôn nhất quán đó
là thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới và luôn cho rằng vật chất có trước và
nó quyết định ý thức, lấy bản thân giới tự nhiên để quyết định tự nhiên Tuy lập trường đúng đắn nhưng vẫn chưa đủ để các nhà duy vật trước C.Mác đi đến một quan niệm hoàn chỉnh về phạm trù nền tảng này Dẫu vậy, theo chiều dài lịch sử với những tiến bộ theo từng ngày thì các quan niệm của các nhà triết học duy vật về vật chất cũng từng bước phát triển theo hướng ngày càng sâu sắc và trừu tượng hóa khoa học hơn
Chủ nghĩa duy vật chất phác (cổ đại) : ở thời đại này, chủ nghĩa duy vật với
quan niệm chất phác về thế giới tự nhiên , về vật chất đã xuất hiện tại ba nơi : Hy
lạp-La mã, Trung Quốc và Ấn Độ Nhìn chung các nhà duy vật thời cổ đại quy vật chất
về một hay một vài dạng cụ thể của nó và xem chúng là khởi nguyên của thế giới, tức quy vật chất về những vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài ví
dụ như ở Hy Lạp - La Mã: vật chất là nước (thales), lửa (Heraclitus), không khí (Anaximenes) ; ở Trung Quốc thì vật chất là nhiều chất cụ thể với quan niệm ngủ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; ở Ấn Độ: vật chất là tứ đại gồm 4 yếu tố: đất, nước, lửa và không khí
Ở cuối thời đại này xuất hiện một bước tiến mới trên con đường xây dựng quan niệm duy vật về vật chất qua thuyết nguyên tử của Lopxip và Đemocrip theo thuyết
này thì thực thể tạo nên thế giới là nguyên tử, nó là phần tử nhỏ bé nhất và không thể
phân chia được, không thể xâm nhập và quan sát được, chỉ có thể nhận biết được bằng tư duy Các nguyên tử không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hình dạng,
sự kết hợp giữa các nguyên tử khác nhau sẽ tạo nên vật thể khác nhau Có thể thấy ở cuối giai đoạn cổ đại này thì tư duy triết học bắt đầu cao hơn
Quan niệm này không những thể hiện một bước tiến khá xa của các nhà triết học duy vật trong quá trình tìm kiếm một định nghĩa đúng đắn về vật chất và còn có ý
Trang 6nghĩa như một dự báo khoa học tài tình của con người về cấu trúc của thế giới vật chất nói chung
Chủ nghĩa duy vật siêu hình (cận đại): khoa học tự nhiên phát triển đặc biệt là
cơ học, công nghệp và chứng minh được nguyên tử thật sự tồn tại, nó cấu tạo nên thế
giới và còn nhỏ nhất, từ đó càng làm cho quan niệm thuyết nguyên tử được củng cố
thêm theo góc độ hóa học và được quy ước rằng nguyên tử là vật chất Đặc biệt
những thành công kỳ diệu của Newton trong vật lý học cổ điển cũng chỉ ra rằng vật
chất (nguyên tử) - lượng chất chứa trong vật chính là khối lượng.
Lúc bấy giờ, người ta lấy nguyển tử và khối lượng là tiêu chuẩn để phân biệt
vật chất và ý thức của thời cận đại, tiêu chuẩn là không đổi và nhỏ nhất Tuy gặt hái được nhiều thành tựu nhưng vẫn có mặt hạn chế trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật cũ
Hạn chế trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật cũ
Do chưa thoát khỏi phương pháp tư duy siêu hình nên nhìn chung, các nhà triết
học thời kỳ cận đại đã không đưa ra được những khái quát triết học đúng đắn Họ
thường đồng nhất vật chất với một dạng cụ thể của vật chất hay một thuộc tính của vật chất ví dụ như vật chất là nước, nước là một dạng cụ thể của vật chất Bên
cạnh đó việc coi những định luật cơ học như những chân lý không thể thêm bớt và giải thích mọi hiện tượng của thế giới theo những chuẩn mực thuần túy cơ học, xem vật chất, vận động, không gian, thời gian như những thực thể khác nhau dẫn đến một sai lầm đó là đồng nhất vật chất với khối lượng hay vật chất là khối lượng
Mặc dù còn nhiều hạn chế trong quan điểm, tuy nhiên nó có ý nghĩa to lớn đối với sự định hướng cho sự phát triển khoa học nói chung đặc biệt là lĩnh vực vật lý sau này, đồng thời nó có tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thần học, tôn giáo
Trang 7Phân tích cuộc khủng hoảng thế giới quan trong các nhà khoa học tự nhiên và triết học cuối thế kỉ 19 – đầu thế
kỉ 20
Cuối thế kỉ thứ 19 đầu thế kỉ thứ 20, giai đoạn này đánh dấu sự ra đời của hàng loạt khoa học tự nhiên:
+ 1895: Ronghen phát hiện tia X
+ 1896: Beccoren phát hiện hiện tượng phóng xạ của nguyên tố Urani
+ 1896: Thomson phát hiện ra điện tử
+ 1898-1902: Nhà nữ vật lý học Balan Mari Scolodopsca cùng chồng là pie-nhà hóa học người Pháp đã khám phá ra chất phóng xạ mạnh là Poloni và Radium
+ 1905 + 1916: Anhxtanh tìm ra thuyết tương đối rộng và hẹp
+ 1901: Kauphman đã chứng minh được khối lượng của điện tử tăng theo vận tốc của nó
Nhưng đặc biệt hơn, những phát hiện của Ronghen, Beccoren, Thomson, Scolodopsca và pie đã nói lên electron mới là nhỏ nhất, nguyên tử không phải nhỏ nhất mà nó có thể bị phân chia và chuyển hóa Không những vậy, những phát hiện của Anhxtanh và kauphman cũng đã nói lên được rằng có những thứ không đổi thì lại thay đổi
Lúc này cái quan niệm suốt 200 năm đó là cái tiêu chuẩn về vật chất là nguyên
tử thì nhỏ nhất và khối lượng thì không đổi lại đối lập hoàn toàn với những quan niệm mới phát hiện ra Chính sự đối nghịch này đã tạo nên sự hoang mang và khủng hoảng trong giới các nhà khoa học và triết học Không ít trong số họ đang đứng trên lập trường duy vật tự phát, siêu hình, họ hoài nghi tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật Họ cho rằng nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất mà có thể bị phân chia, tan rã và bị “Biến mất” do đó vật chất cũng có thể biến mất, có hiện tượng không có khối lượng cơ học, hạt chuyển thành trường cũng có nghĩa vật chất cũng chỉ còn năng lượng dẫn đến quy luật cơ học không còn tác dụng gì trong thế giới lúc này nữa, vì lẽ
Trang 8đó đã dẫn đến sự đảo lộn toàn bộ thế giới quan trong trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Và lúc này thì mọi khoa học xuất hiện cũng thành thừa và nếu có thì cũng chỉ là sự sáng tạo của tư duy con người mà nếu không giải thích được sự đối nghịch này thì thế giới quan duy vật không tồn tại nữa, nhường chỗ cho cái gọi là chủ quan lên ngôi
Đứng trước nguy cơ đó, nghiệm vụ của chủ nghĩa duy vật bắt đầu phải chỉ ra:
+ Sai lầm của chủ nghĩa duy vật cũ
+ Bác bỏ chủ nghĩa duy tâm
+ Phát triển chủ nghĩa duy vật
Chính những áp lực này đã đưa ta đến với những nhận định vô cùng quan trọng của V.L.Lênin Trong tình hình nhiều nhà chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình đã chuyển sang chủ nghĩa tương đối rồi rơi vào chủ nghĩa duy tâm V.L.Lênin gọi đó là
“chủ nghỉa duy tâm vật lý học” và coi đó là “một bước ngoặt nhất thời”, là “thời kì
ốm đau ngắn ngủi”, Là “chứng bệnh của sự trưởng thành”, là “một vài sản phẩm chết, một vài thứ cặn bã nào đó phải vứt vào sọt rác” Để khắc phục cuộc khủng hoảng này; V.L.Lênin cho rằng : “tinh thần duy vật cơ bản là vật lý học, cũng như tất cả các khoa học tự nhiên hiện đại, sẽ chiến thắng tất cả mọi thứ khủng hoảng, nhưng với điều kiện chủ nghĩa duy vật biện chứng phải thay thế chủ nghĩa duy vật siêu hình”
1 Phân tích định nghĩa của Lenin
Định nghĩa về vật chất của Lenin
Trong tác phẩm “chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy vật phê phán” Lênin
đã đưa ra đinh nghĩa về “vật chất” như sau: “vật chất là một phạm trù triết học dùng
để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Phân tích định nghĩa
Trang 9Cách định nghĩa: Phạm trù vật chất là phạm trù rộng, mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận chưa qua được Khi định nghĩa phạm trù này không thể quy nó về vật thể hoặc một thuộc tính cụ thể nào đó, cũng không thể quy về phạm trù rộng hơn phạm trù vật chất Do vậy chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với ý thức phạm trù đối lập với nó và trong quan hệ ấy, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai
Trong định nghĩa này, Lênin phân biệt hai vấn đề:
Thứ nhất: cần phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan
niệm về khoa học tự nhiên về cấu tạo và các thuộc tính cụ thể của các đối tượng, các dạng vật chất khác nhau Vật chất với tư cách là phạm trù triết học nó chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn Vì vậy, không thể quy vật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với các dạng cụ thể của vật chất như các nhà triết học duy vật trong lịch sử Cổ đại và Cận đại
Thứ hai: là trong nhận thức luận, khi vật chất đối lập với ý thức, cái quan trọng
để nhận biết vật chất là thuộc tính khách quan Khách quan theo Lenin là “cái đang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người” Trong đời sống xã hội,
“vật chất là cái tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người” Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất chính là “thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức của con người và được con người phản ánh”
Tiêu chuẩn để phân biệt giữa vật chất và ý thức
+ Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người nhận thức được hay chưa nhận thức được
+ Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hay trực tiếp tác động lên giác quan của con người
+ Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh vật chất
Trang 10Với những nội dung cơ bản trên, phạm trù vật chất trong quan niệm của Lênin
có ý nghĩa vô cùng to lớn
Ý nghĩa của định nghĩa
+ Chống chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức
+ Chống thuyết “bất khả tri” cho rằng con người chỉ nhận thức được cái bề ngoài của sự vật hiện tượng chứ không nhận thức được cái bản chất của
sự vật hiện tượng Lenin khẳng định: “con người có thể nhận thức được bản chất của thế giới”
+ Khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác (đó là quan điểm siêu hình máy móc, quy vật chất nói chung về những dạng cụ thể của vật chất)
+ Là thế giới quan, phương pháp luận cho các ngành khoa học tự nhiên hiện đại tiếp tục phát triển
Liên hệ và vận dụng
Khi phân tích, vật chất là cái tồn tại thực và tồn tại khách quan, vật chất là cái
có trước, ý thức là cái có sau và là cái ảo thì để tìm xem năng lượng có phải vật chất hay không trước tiên ta phải tìm hiểu xem năng lượng có tồn tại thực hay không và
nó có trước hay có sau ý thức
Mốc thời gian, khi nào con người có những lý thuyết đầu tiên về năng lượng
Những lý thuyết đầu tiên về năng lượng đã xuất hiện từ lâu Các nhà triết học
cổ đại thời xưa như Thales (550 TCN) có nói về sự bảo toàn của một chất cơ bản nào
đó mà từ đó, mọi thứ được tạo ra Tuy nhiên không có lý do cụ thể để xác định lý thuyết của họ với những gì chúng ta biết ngày nay về “khối năng lượng” ( ví dụ Thales nghĩ rằng chất đó là nước ) Empedocles (490-430 TCN) đã viết rằng, trong hệ thống phổ quát của mình, bao gồm bốn nguyên tố ( đất, không khí, nước và lửa)
Trang 11“không có gì tự tạo ra hoặc bị diệt vong” thay vào đó, các yếu tố này phải chịu sự sắp xếp lại liên tục Epicurus (350TCN) đã tin rằng mọi thứ trong vũ trụ bao gồm các đơn
vị vật chất không thể chia cắt – tiền thân của “nguyên tử” và ông cũng có một số ý tưởng về sự cần thiết của bảo toàn, nói rằng tổng số của vật chất vốn luôn là như vậy
Từ đó ta có thể thấy con người lúc này đã bắt đầu biết đặt ra vấn đề và tìm hiểu xem năng lượng có trước hay có sau ý thức
• Hiện tượng tự nhiên chứa năng lượng
Thế giới của chúng ta có vô vàn những hiện tượng tự nhiên và một điều chắc chắn rằng thế giới tự nhiên đã có trước ta bằng chứng là chúng ta đã tìm ra hóa thạch của loài mà chúng ta gọi là “khủng long” nhưng thực tại thì không có loài vật nào giống như hóa thạch mà chúng ta đã tìm thấy hay cũng như hóa thạch (bộ xương) của nhiều loài sinh vật cổ đại khác ví dụ: voi ma mút, cá mập Megalondon
Vậy ta có một câu hỏi là những hiện tượng tự nhiên có chứa năng lượng hay không ?
Để trả lời được, ta phải nêu ra những hiệnn tượng tự nhiên như: Mặt trời, Gió, sóng, địa nhiệt, thủy triều, nhiên liệu, sét, mà hiện nay chúng ta đã tìm ra được các dạng năng lượng của các hiện tượng tự nhiên ví dụ như:
+ Năng lượng của mặt trời: Nhiệt năng
+ Năng lượng của gió: Động năng giữa những luồng không khí chuyển động trong khí quyển
+ Năng lượng của sét: Điện năng
+ Năng lượng của sóng và thủy triều: Đều được tạo ra dựa trên cơ sở lực hấp dẫn từ quỹ đạo mặt trăng
+ Năng lượng của địa nhiệt: Là nhiệt năng được tạo ra từ lòng đất
Như vậy hiện tượng tự nhiên nào cũng có năng lượng và điều đó đã chỉ ra rằng thế giới tự nhiên nó đã có sẵn các năng lượng như thế rồi và đến thời điểm này con