Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. Vận dụng nguyên tắc thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vào việc nghiên cứu các biện pháp chống dịch và chế tạo ra vaccine phòng chống COVID19. Theo Chủ nghĩa Mác Lênin: “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội” Khác với hoạt động nhận thức, trong hoạt động thực tiễn, con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo mục đích của mình. Những hoạt động ấy là những hoạt động đặc trưng và bản chất của con người. Trong bất kì một lĩnh vực hoạt động nào của con người thì những vấn đề về nhận thức và thực tiễn phải được đưa ra xem xét trong mối liên hệ với nhau.
Trang 1ĐỀ TÀI: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Vận dụng nguyên tắc thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vào nghiên cứu biện pháp chống dịch và chế tạo ra Vaccine phòng chống COVID-19.
THỨC
1.1 Nhận thức, nguyên tắc cơ bản của nhận thức……… 2
1.1.1 Khái niệm nhận thức
1.1.2 Nguyên tắc cơ bản của nhận thức
1.2 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức……… 4
1.2.1 Khái niệm thực tiễn
1.2.2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Chương 2 VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN CHÂN
LÍ VÀO VIỆC NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG DỊCH
Trang 2Trang 1
1 PHẦN MỞ ĐẦU
- Theo Chủ nghĩa Mác - Lê-nin: “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội”Khác với hoạt động nhận thức, trong hoạt động thực tiễn, con người sử dụng những công
cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo mục đích của mình Những hoạt động ấy là những hoạt động đặc trưng và bản chất của con người
- Trong bất kì một lĩnh vực hoạt động nào của con người thì những vấn đề về nhận thức và thực tiễn phải được đưa ra xem xét trong mối liên hệ với nhau
- Có như vậy hoạt động của con người mới có thể đi đúng hướng và đạt hiệu quả cao Lịch sử phát triển đã chứng minh rằng phải luôn kết hợp giữa nhận thức và thực tiễn trong mọi hoạt động Nếu có sự vi phạm nguyên tắc này thì kết quả thu được sẽ không như mong muốn
- Đối với Việt Nam, bước vào năm 2020, dịch Covid-19 (được đánh giá là dịch bệnh
tồi tệ nhất trong khoảng 100 năm trở lại đây) bùng phát ở nhiều nước đã tác động sâu rộng tới sức khỏe và đời sống của cộng đồng quốc tế, tới sự phát triển kinh tế - xã hội trên quy mô toàn cầu Tại nước ta, với chiến lược phù hợp và sự vào cuộc quyết liệt của các bộ, ngành liên quan, chính quyền các cấp và cộng đồng dân cư, Việt Nam đã và đang kiểm soát tốt dịch bệnh Việt Nam được Tổ chức Y tế thế giới và cộng đồng quốc
tế đánh giá là một trong số ít quốc gia có hoạt động chống dịch hiệu quả nhất trong bối cảnh là nước có thu nhập trung bình thấp, đầu tư cho y tế còn nhiều hạn chế
- Với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, em đã chọn đề tài: “Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Vận dụng nguyên tắc thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vào nghiên cứu Vaccine phòng chống COVID-19”
- Em xin chân thành cảm ơn cô An Thị Ngọc Trinh và các thành viên trong nhóm
20 đã góp ý và xây dựng hoàn thành bài tiểu luận này
Trang 3- Một cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức được thực hiện với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng Các Mác và Ăng-ghen đã kế thừa khoa học kỹ thuật và thực tiễn xã hội đã xây dựng nên lý thuyết, lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Chính
lý thuyết đó đã giải thích cho chúng ta về nhận thức Không chỉ dừng lại ở đó, nhận thức còn mở ra một hướng mới, đó chính là sự nhận thức chân lý, hiện tại khách quan, quan trọng nhất là quá trình nhận thức đã diễn ra như thế nào? Trong thực tế, quá trình nhận thức chân lý, nhận thức hiện tại khách quan của mỗi người rất khác nhau Cùng một vật chất hình ảnh nhưng đối với mỗi người có thể có cách nhìn nhận, nhận thức không giống nhau Có thể nói, nhận thức hiện tại khách quan là một quá trình hết sức phức tạp Cũng chính vì thế mà từ xưa đến nay, trong lĩnh vực nhận thức luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các trường phái triết học khác nhau
Trang 4dễ đến khó, đi từ đơn giản đến phức tạp, từ rộng đến sâu, từ hiện tượng bản chất cấp một, đến hiện tượng bản chất cấp hai Thế giới vật chất rất rộng lớn có thể có những cái mà con người chưa biết nhưng trong tương lai, với sự phát triển của khoa học, con người dần sẽ khám phá được Với khẳng định trên đây, lý luận nhận thức Mác-xít khẳng định sức mạnh của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới
- Hai là nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan Nhờ có nhận thức con người mới có ý thức về thế giới, ý thức về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thức thế giới Thế giới vật chất tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức của con người tác động vào các giác quan sinh ra cảm giác, từ đó đi tới hình thành ý thức
Con người là chủ thể tích cực sáng tạo và có ý thức nhận thức cải tạo thế giới Chủ thể là sản phẩm có tính lịch sử, xã hội nó kế thừa tri thức của thế hệ trước đồng thời sử dụng phương tiện nhận thức xã hội tạo ra Do đó, khi nhận thức, các yếu tố của chủ thể như lợi ích, lý tưởng, tài năng, ý chí, phẩm chất đạo đức đều tham gia vào quá trình nhận thức với những mức độ khác nhau và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức
Còn khác thể nhận thức là một bộ phận của thế giới khách quan mà nhận thức hướng tới nắm bắt, phản ánh nó nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức Do vậy, khách thể thể không đồng nhất với hiện thực khách quan, phạm vi của khách thể nhận thức được mở rộng đến đâu là tùy theo sự phát triển của nhận thức Như vậy, không chỉ
có chủ thể nhận thức mà cả khách thể nhận thức cũng mang tính lịch sử xã hội Trong quan hệ giữa chủ thể và khách thể thì khách thể bao giờ cũng giữ vai trò quyết định bởi
vì nó quyết định nội dung tri thức của nhận thức Tuy nhiên chủ thể vẫn có tác động tích
Trang 5Trang 4
cực đến khách thể vì sự phản ánh của chủ thể là sự phản ánh có sáng tạo, có mục đích,
có chọn lọc nhằm phục vụ sự vật và thực tiễn
- Ba là nhận thức không phải là một hành động tức thời giản đơn, máy móc và thụ
động mà là quá trình sáng tạo dựa trên hoạt động thực tiễn Có thể nói quá trình nhận
thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn
Vì vậy :"trong lý luận nhận thức cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa
học, cần suy luận một cách biện chứng nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng
ta là bất di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không
hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ
hơn và chính xác hơn thế nào"
Cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn Thực tiễn còn là mục đích
của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra
chân lý của nhận thức Nhận thức là quá trình con người phản ánh một cách biện chứng,
năng động sáng tạo thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sữ - xã hội
1.2 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
1.2.1 Khái niệm thực tiễn
- Theo triết học Mác – Lênin, thực tiễn là toàn bộ
những hoạt động vật chất – cảm tính, có mục đích mang
tính lịch sử - xã hội của con người nhằn cải tạo tự nhiên
và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ
Ví dụ:
+ Trồng lúa, nuôi gà, buôn bán thực phẩm…
+ Xây nhà, sửa ô tô, sửa xe máy, quét rác
+ Làm cách mạng, bầu cử,
xây dựng luật pháp…
Trang 6
Trang 5
- Thực tiễn là hoạt động có mục đích của con người:
+ Hoạt động thực tiễn: là hoạt động bản chất của con người Nói vậy tức là chỉ
có con người mới có hoạt động thực tiễn
Con vật không có hoạt động thực tiễn Chúng chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài
Ngược lại, con người hoạt động có mục đích rõ ràng nhằm cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và làm chủ thế giới
Con người không thể thỏa mãn với những gì có sẵn trong tự nhiên Con người phải tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình Để lao động hiệu quả, con người phải chế tạo và sử dụng công cụ lao động
Như thế, bằng hoạt động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất, con người tạo ra những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên Không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được
Do đó, có thể phát biểu rằng, thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người
và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới
- Thực tiễn là hoạt động mang tính lịch sử – xã hội:
Thực tiễn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài người mặc dù trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn có những thay đổi qua các giai đoạn lịch
sử Hoạt động đó chỉ có thể được tiến hành trong các quan hệ xã hội
Thực tiễn có quá trình vận động và phát triển của nó Trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục tự nhiên và làm chủ xã hội của con người
Như vậy, về mặt nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch
sử – xã hội
- Phạm trù thực tiễn: là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của
lý luận nhận thức mác-xít mà còn của toàn bộ triết học Mác – Lênin nói chung.- Đặc trưng của các hoạt động( hình thức của thực tiễn):
Trang 7Trang 6
+ Hoạt động sản xuất vật chất: là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra những của cải và các điều kiện thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình và xã hội Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn có sớm nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất Sản xuất vật chất biểu thị mối quan hệ của con người với tự nhiên và là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xa hội loài người Không có sản xuất vật chất, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển Sản xuất vật chất còn là cơ sở cho sự tồn tại của các hình thức thực tiễn khác cũng như tất cả các hoạt động sống khác của con người
Ví dụ: trồng lúa, trồng khoai, dệt vải, sản xuất giày dép, ô tô, xe máy…
+ Hoạt động chính trị - xã hội: là một trong những hoạt động thực tiễn quan trọng, hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển;
là hoạt động thể hiện tính tự giác cao của con người với mục đích phát triển các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội…
Trang 8Trang 7
Ví dụ: Hoạt động đấu tranh giai cấp; đấu tranh giải phóng dân tộc; đấu tranh cho hoà bình, dân chủ, tiến bộ xã hội; đấu tranh cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội sẽ tạo ra môi trường xã hội dân chủ, lành mạnh, thuận lợi cho con người phát triển
- Thiếu hình thức hoạt động thực tiễn này, con người và xã hội loài người cũng không thể phát triển bình thường
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học: là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn, vì là hoạt động được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu Ngày nay, khi mà cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ báo, “Khi mà tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hoá đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp” thì hình thức hoạt động thực tiễn này ngày càng đóng vai trò quan trọng
Ví dụ: Hoạt động nghiên cứu, làm thí nghiệm của các nhà khoa học để tìm ra các vật liệu mới, nguồn năng lượng mới, vắc xin phòng ngừa dịch bệnh mới
Trang 9
Trang 8
1.2.2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận thức chân lý:
1.2.2.1 Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức
- Từ thực tiễn, đặc biệt hoạt động sản vật chất, con người thu nhập được những tài liệu, những chất liệu , những dạng vật chất, vật liệu cần thiết cho hoạt động nhận thức của mình
- Từ thực tiễn xuất hiện những tình huống có vấn đề, xuất hiện những thất bại, sai lầm trong hoạt động của con người, vì vậy thực tiễn trở thành cơ sở, động lực thúc đẩy con người đề ra nhiệm vụ và phương hướng phát triển nhận thức Tổng kết thực tiễn để nâng cao trình độ lý luận, nhận thức của con người là một trong những nguyên tắc quan trọng quyết định thành công trong hầu hết các hoạt động của con người
- Hoạt động thực tiễn còn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc mới hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức, chẳng hạn như kính hiển vi, kính thiên văn, hàn thử biểu, máy vi tính, trí tuệ nhân tạo,…giúp mở rộng khả năng của các khí quan nhận thức của con người Thông qua hoạt động thực tiễn rèn luyện, các giác quan của của con người ngày càng nhạy bén hơn, chính xác hơn, tinh tế hơn, đồng thời thúc đẩy tư duy lý luận, làm cho năng lực tư duy của con người phát triển hoàn thiện hơn
- Như vậy, thực tiễn chính là nền tảng, cơ sở đề nhận thức của con người nảy sinh, tồn tại, phát triển, đồng thời thực tiễn cũng là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển
Ví dụ: Từ sự đo đạc ruộng đất, đo lường vật thể mà con người có tri thức về toán học
Trang 10Trang 9
1.2.2.2 Thực tiễn là mục đích của nhận thức
- Con người nhận thức thế giới luôn nhằm mục đích để cải biến thế giới khách quan, cải biến xã hội, phục vụ hoạt động thực tiễn của con người Nếu không vì thực tiễn, nhận thức sẽ mất phương hướng, bế tắc Nhận thức của con người là nhằm phục vụ thực tiễn, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn chứ không phải để trang trí, hay phục vụ cho những
ý tưởng viển vông Mọi tri thức khoa học – kết qủa của hoạt động nhận thức chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào đời sống thực tiễn một cách trực tiếp hay gían tiếp để phục vụ con người Vì vậy, nhận thức từ thực tiễn mà ra, phải quay về phục vụ thực tiễn Tri thức chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào đời sống thực tiễn Tri thức chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào đời sống thực tiễn một cách trực tiếp hay gían tiếp để phục vụ con người
Ví dụ: Việc học tập đặt ra yêu cầu học sinh phải giải bài tập và học kiến thức mới, khó? khi giải quyết được những bài tập khó đó thì nhận thức của em sẽ được nâng cao hơn - Các tri thức khoa học chỉ có giá trị khi nó được vận dụng vào thực tiễn
1.2.2.3 Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
- Tri thức của con người là kết quả của quá trình nhận thức, tri thức đó có thể phản ánh đúng hoàn toàn, đúng một phần hoặc không đúng hiện thực khách quan, cho nên không thể lấy tri thức để kiểm tra tri thức, cũng không thể lấy sự hiển nhiên, hay sự tán
thành của số đông hoặc lợi ích để kiểm tra sự đúng, sai của tri thức Vì vậy, chỉ có thể dựa vào thực tiễn để chứng minh, kiểm nghiệm chân lý, chỉ có thực tiễn mới có thể vật chất hoá được tri thức, hiện thực hoá tư tưởng, qua đó mới khẳng định được chân lý hoặc phủ định một sai lầm nào đó Có nhiều hình thức thực tiễn khác nhau, do vậy cũng
có nhiều hình thức kiểm tra chân lý khác nhau, có thể bằng thực nghiệm khoa học, có
Trang 11Trang 10
thể áp dụng lý luận xã hội vào quá trình cải biến xã hội Thực tiễn có tính tương đối và tuyệt đối, vì vậy chân lý cũng có tính tương đối và tuyệt đối Tính tuyệt đối của thực tiễn với tư cách tiêu chuẩn chân lý thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra, khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Thực tiễn trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể sẽ chứng minh được chân lý, bác bỏ được sai lầm Tính tương đối của thực tiễn với tư cách tiêu chuẩn chân lý thể hiện ở chỗ, thực tiễn có quá trình vận động, biến đổi, phát triển, do đó không bao giờ có thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu tượng ấy là thế nào chăng nữa
Ví dụ:
+Bác Hồ đã chứng minh: không có gì quý hơn độc lập tự do
+Nhà bác học Ga-li-lê rất coi trọng thí nghiệm, ông thường dùng thí nghiệm
để chứng minh lập luận của mình Một lần nghe người ta dạy cho học sinh: Các vật nặng bao giờ cũng rơi nhanh hơn vật nhẹ Nhà bác học liền phản đối: Làm gì có chuyện vô lí thế! Ga-li-lê đã làm một thí nghiệm thả hai hòn đá nặng, nhẹ khác nhau cùng từ trên một tháp cao xuống Kết quả ông đã phát hiện ra không khí có sức cản Khi thả rơi những vật trong ống đã rút hết không khí thì quả nhiên tốc độ rơi của các vật nặng, nhẹ đều bằng nhau