1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NỘI DUNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁC-LÊ NIN

18 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 65,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại giữa tinh thần với tự nhiên, giữa ý thức với vật chất.. Ý thức và vật chất tồn tại độc lập với nhau, không quyết định

Trang 1

NỘI DUNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁC-LÊ NIN Nội dung 1: Triết học và vấn đề cơ bản của triết học.

- Triết học ra đời khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên, triết học có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

- Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí con

người trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại (giữa tinh thần với

tự nhiên, giữa ý thức với vật chất)

Vấn đề này có hai mặt:

Mặt thứ nhất (mặt bản thể luận): tư duy có trước tồn tại hay tồn tại có trước tư duy (ý

thức có trước vật chất hay vật chất có trước ý thức)

Mặt thứ hai (mặt nhận thức luận): tư duy có nhận thức được tồn tại? (con người có

nhận thức được thế giới không?)

Ta có thể giải quyết mặt thứ nhất 3 cách sau:

1. Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định đến ý thức

2. Ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định đến vật chất

3. Ý thức và vật chất tồn tại độc lập với nhau, không quyết định lẫn nhau

Hai cách giải quyết đầu tiên tuy có đối lập nhau về nội dung, tuy nhiên điểm chung là

đều thừa nhận một trong hai nguyên thể (ý thức hoặc vật chất) là nguồn gốc của thế

giới Cách giải quyết thuộc về triết học nhất nguyên

Triết học nhất nguyên bao gồm hai trường phái: trường phái triết học nhất nguyên duy

vật và trường phái triết học nhất nguyên duy tâm

Cách thứ ba thừa nhận ý thức và vật chất tồn tại độc lập với nhau, cả hai nguyên thể (ý

thức và vật chất) đều là nguồn gốc của thế giới Cách giải thích này thuộc về triết học

nhị nguyên

Giải quyết mặt thứ hai: Vấn đề cơ bản của triết học có hai khuynh hướng đối lập

nhau là thuyết khả tri và thuyết bất khả tri Học thuyết triết học khẳng định khả năng

nhận thức của con người được gọi là thuyết Khả tri Học thuyết triết học phủ nhận khả

năng nhận thức của con người được gọi là thuyết bất khả tri

Nội dung 2: Những tích cực và hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác quan

niệm về vật chất Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận định nghĩa vật chất của

Lênin.

Lấy bản thân giới tự nhiên để

giải thích thế giới, không viện

đến thần linh, thượng đế hay

các lực lượng siêu nhiên

( Chủ nghĩa duy vật chất

phác)

Đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể của

vật chất và đưa ra những kết luận mà về sau người ta thấy mang nặng tính trực quan, ngây thơ, chất phác

• Chưa thoát khỏi phương pháp tư duy siêu hình

Nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ

phận tạo nên thế giới đó về cơ bản ở trong trạng thái biệt

Trang 2

Góp phần không nhỏ vào việc

đẩy lùi thế giới quan duy tâm

và tôn giáo

lập và tĩnh tại, không phản ánh đúng hiện thực trong toàn cục

Định nghĩa vật chất của Lênin

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho

con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và

không lệ thuộc vào cảm giác

Những nội dung cơ bản

1 Vật chất là một phạm trù triết học.

“Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù rộng

nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn không sinh ra

và cũng không mất đi mà chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác

2 Vật chất là thực tại khách quan.

Vật chất tồn tại khách quan trong hiện thực, nằm bên ngoài ý thức và không phụ thuộc

vào ý thức của con người “Tồn tại khách quan” là thuộc tính cơ bản của vật chất, là

tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất

Dù con người đã nhận thức được hay chưa, dù con người có mong muốn hay không thì

vật chất luôn tồn tại vĩnh viễn trong vũ trụ

3 Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác.

Vật chất, tức là thực tại khách quan, là cái có trước cảm giác (nói rộng ra là ý thức)

Do tính trước – sau như vậy, vật chất không lệ thuộc vào ý thức, nhưng ý thức lệ thuộc

vào vật chất

Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặc gián tiếp

lên giác quan (mắt, mũi, tai, lưỡi…) của con người Đây là ví dụ cho thấy ý thức lệ

thuộc vào vật chất

Như thế, ý thức là sự phản ánh của vật chất

4 Vật chất được giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản ánh.

Tuy rộng đến cùng cực nhưng được biểu hiện qua các dạng cụ thể (sắt, ánh sáng, cái

bàn, quả táo…) mà giác quan của con người có thể cảm nhận được

Chúng ta có thể chép lại, chụp lại, phản ánh sự tồn tại của vật chất, tức là nhận thức

được vật chất Điều này càng rõ ràng, sắc nét thì nhận thức của con người về vật chất

càng sâu sắc, toàn diện

Nói rộng ra, tư duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ là sự

phản ánh, là hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người

Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, đồng thời

chỉ ra rằng, vật chất phải được hiểu là tất cả những gì tồn tại khách quan bên ngoài ý

thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được.

Ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I Lênin

- Giải quyết triệt để hai mặt trong vấn đề cơ bản của triết học

Trang 3

- Bác bỏ thuyết bất khả tri, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, khắc phục được tính chất máy móc, siêu hình của chủ nghĩa duy vật trước Mác

- Khắc phục sự khủng hoảng của vật lý học và triết học trong quan niệm về vật chất, định hướng, mở đường cho khoa học - kỹ thuật phát triển

- Bảo vệ và phát triển triết học Mác, cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội

- Đưa ra một phương pháp định nghĩa mới về vật chất

Nội dung 3: Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức và mối quan hệ giữa vật chất, ý thức.

Quan điểm duy vật biện chứng về ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, sự hình thành và phát triển của ý thức chính là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên và xã hội

Nguồn gốc tự nhiên:

Như vậy, bộ óc cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc, đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

- Ý thức là kết quả của quá trình tiến hóa của thuộc tính phản ánh có ở mọi dạng vật chất

- Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý thức là

hình thức phản ánh chỉ có ở con người Ý thức là đặc tính riêng của một vật

chất có tổ chức cao là bộ óc người

Nguồn gốc xã hội:

Nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ

- Lao động là quá trình diễn biến giữa con người và tự nhiên, trong đó con

người đóng vai trò là môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên Lao động là hoạt động đặc thù của con người, lao động luôn mang tính tập thể.

- Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng.

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trong xã hội, để trao đổi tri thức, kinh nghiệm…; là phương tiện để tổng kết thực tiễn, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực.

b Bản chất của ý thức

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người một cách năng động

và sáng tạo Điều này được thể hiện ở:

- Ý thức cũng là “hiện thực”, nhưng đó là hiện thực trong tư tưởng Đó là sự thống nhất giữa vật chất và ý thức Trong đó, vật chất là cái được phản ánh, còn

ý thức là cái phản ánh

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, bởi vì ý thức con người mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn

- Phản ánh ý thức là sự phản ánh sáng tạo Tính sáng tạo của ý thức rất đa dạng, phong phú Tuy nhiên, đó là sự sáng tạo dựa trên sự phản ánh

Quá trình ý thức được thống nhất bởi các mặt sau:

- Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh

Trang 4

- Mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần.

- Chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan

- Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng

xã hội Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người

c Kết cấu của ý thức:

− Theo chiều ngang, ý thức gồm:

+ Tri thức: là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực Tri thức là yếu tố quan trọng nhất

+ Tình cảm: là sự cảm động của con người trong mối quan hệ với thực tại xung quanh và với chính mình

+ Các yếu tố khác như niềm tin, lí trí, ý chí,…

− Theo chiều dọc, ý thức bao gồm:

+ Tự ý thức: là ý thức về bản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngoài

+ Tiềm thức: là những tri thức mà con người đã có được từ trước nhưng gần như trở thành bản năng , thành kĩ năng trong tầng sâu ý thức

+ Vô thức: là trạng thái tâm lí ở chiều sâu, điều chỉnh suy nghĩ, hành vi, thái

độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận nội tâm, chưa có sự truyền thông tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lí trí…

Mối quan hệ giữa ý thức và vật chất.

Vật chất quyết định ý thức

vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức Bộ não người được xem là một dạng vật

chất có tổ chức bao

vật chất quyết định nội dung của ý thức Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất

có tổ chức cao là bộ óc người Ý thức phản ánh thế giới hiện thực khách quan, các quy luật khách quan, hoạt động thực tiễn chính là cơ sở cho sự hình thành các quan điểm, quan niệm, ý chí, tình cảm xã hội

vật chất quyết định bản chất của ý thức Trong tồn tại xã hội, ý thức chỉ là sự phản

ánh tồn tại xã hội, tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội sớm muộn cũng phải thay đổi theo Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội

vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức Ý thức xã hội không tồn tại

tự nó, nó chỉ có thể hình thành và phát triển trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người

Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất

tính độc lập tương đối ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất Ý thức một khi ra đời thì có tính độc lập tương đối, tác động trở lại thế giới vật chất

sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người Nhờ đó, ý thức có thể làm biến đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm

Trang 5

chí còn tạo ra “thiên nhiên thứ hai” phục vụ cho cuộc sống của con người Còn tự bản thân ý thức thì không thể biến đổi được hiện thực

vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành động của con người; nó

có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại

xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Như vậy, tri thức khoa học giúp con người hiểu biết được những mối liên hệ và quy

luật khách quan nhờ đó mà cải tạo được tự nhiên và xã hội Trình độ nhận thức quy luật càng cao thì khả năng cải tạo tự nhiên và xã hội càng lớn

Nội dung 4: Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý mối liên hệ phổ biến, nguyên lý phát triển.

Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến

Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy

định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau.

Mối liên hệ phổ biến: dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới mà ở đó các sự vật, hiện tượng hoặc các mặt bên trong sự vật có mối liên hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau.

Tính chất của các mối liên hệ phổ biến

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, tính chất của mối liên hệ phổ biến bao

gồm: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng.

Tính khách quan

Nhớ tính thống nhất vật chất mà các sự vật, hiện tượng, không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau Biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, tác động qua lại lẫn nhau

Tính phổ biến

Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ Mối liên hệ cũng có ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy

Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, tuỳ theo điều kiện nhất định Tuy nhiên, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất

Tính đa dạng, phong phú

Mối liên hệ mang tính đa dạng, phong phú, vì thế hình thức liên hệ giữa chúng cũng rất đa dạng Tuy nhiên, tùy vào vị trí, phạm vi, vai trò, tính chất mà phân chia thành những mối liên hệ khác nhau Sự phân chia này cũng chỉ là tương đối

Trang 6

Ý nghĩa phương pháp luận

Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể thống

nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó

- Thứ hai, phải rút ra được các mặt, mối liên hệ tất yếu của chủ thể và nhận thức

chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại Từ đó, nhận thức mới có thể phản ánh

được sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ và tác động qua lại của đối tượng

- Thứ ba, xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và với môi

trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian

- Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy

mặt này mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật nguỵ biện và chủ nghĩa chiết trung

Khi xem xét sự vật, hiện tượng cần phải có quan điểm toàn diện: cần phải xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật và các khâu trung gian của nó;

phải nắm bắt và đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ trong quá trình cấu thành sự vật.

Trong quan điểm toàn diện bao hàm cả quan điểm lịch sử cụ thể Vì vậy, khi xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt sự vật, hiện tượng vào không gian, thời gian cụ thể…

Nguyên lý về sự phát triển

* Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức

tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.

Như vậy, phát triển không phải là bản thân sự vận động, phát triển chỉ là

khuynh hướng tất yếu của vận động, phát triển nó chỉ khái quát những sự vận động đi lên, đó là quá trình không ngừng gia tăng về trình độ, về kết cấu phức tạo của sự vật và do đó làm nảy sinh tính quy định cao hơn về chất Nói cách khách phát triển là quá trình làm xuất hiện cái mới, cái tiến bộ thay thế cái cũ, cái lạc hậu.

Nội dung của nguyên lý phát triển

- Phép biện chứng duy vật khẳng định, phát triển là quá trình diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người

+ Trong giới hữu sinh sự phát triển biểu hiện ở khả năng tăng cường thích nghi của cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng sản sinh và hoàn thiện chính mình, ở khả năng hoàn thiện về quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sống với môi trường.

+ Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức, cải biến

tự nhiên và xã hội theo quy luật thông qua hoạt động thực tiễn của con người

+ Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn về tự nhiên, xã hội và nhận thức chính bản thân con người.

Trang 7

- Phép biện chứng duy vật khẳng định, phát triển là khuynh hướng chung của các

sự vật hiện tượng nhưng không diễn ra một cách trực tiếp mà nó quanh co, phức tạp theo hình “xoáy ốc”, trong đó có thể có những bước thụt lùi tương đối.

- Quan điểm siêu hình, phủ nhận sự phát triển, tuyệt đối hóa mặt ổn định của sự vật,

hiện tượng Phát triển ở đây chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về mặt lượng, chỉ là sự tuần hoàn, lặp đi, lặp lại mà không có sự thay đổi về chất, không có sự ra đời của sự

vật, hiện tượng mới và nguồn gốc của sự “phát triển” đó nằm ngoài chúng.

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay

trong bản thân sự vật, từ cấu trúc của sự vật, do mâu thuẫn bên trong của sự vật quy

định Do đó, phát triển là tự thân phát triển, là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên

trong của sự vật Phát triển là quá trình cái mới ra đời phủ định cái cũ, đồng thời

kế thừa những giá trị của cái cũ, tạo ra vòng khâu liên hệ giữa cái cũ và cái mới, tạo ra khuynh hướng phát triển theo đường xoáy ốc, nghĩa là, trong quá trình phát

triển dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát nhưng trên một cơ sở cao hơn

Tính chất cơ bản của sự phát triển

Tính khách quan: do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định và quá trình giải quyết

liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật Không phụ thuộc vào ý muốn, ý thức của con người, sự vật vẫn luôn phát triển

Tính phổ biến: nó diễn ra trong mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy Ở bất cứ sự

vật và hiện tượng nào của thế giới khách quan

Tính kế thừa: trên cơ sở có sự phê phán, lọc bỏ, cải tạo và phát triển, không kế thừa

nguyên xi hay lắp ghép từ cái cũ sang cái mới một cách máy móc, hình thức

Tính đa dạng, phong phú: khuynh hướng phát triển là của chung mọi sự vật, hiện

tượng, nhưng quá trình phát triển khác nhau, tồn tại ở không gian thời gian khác nhau

Nó còn chịu tác động của các sự vật, hiện tượng khác, có thể thúc đẩy hoặc kìm hảm, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển thậm chí có thể làm sự vật thụt lùi

Ý nghĩa phương pháp luận

- Khi nghiên cứu, cần đặt đối tượng vào sự vận động, vạch ra xu hướng biến đổi chuyển hóa của chúng

- Phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm phương pháp tác động phù hợp để hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển đó

- Phát hiện sớm, ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật, tạo điều kiện phát triển; chống lại quan điểm bảo thủ

- Trong quá trình thay thế cũ bằng mới phải giữ lại yếu tố tích cực cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới

Nội dung 5: Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.

Quy luật thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập

Khái niệm mâu thuẫn: chỉ mối liên hệ, thống nhất, đấu tranh và chuyển hoá giữa

các mặt của sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Trang 8

Khái niệm mặt đối lập: để chỉ những mặt, những thuộc tính có khuynh hướng vận động trái ngược nhau, bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau nhưng tồn tại gắn

bó với nhau trong một thể thống nhất hợp thành mâu thuẫn.

Tính chất chung của mâu thuẫn

- Tính khách quan, phổ biến

- Tính đa dạng và phong phú.

Trong tự nhiên, đó là mâu thuẫn giữa điện tích dương và điện tích âm; giữa

sức hút và sức đẩy; đồng hóa và dị hóa ; di truyền và biến dị; giống đực và giống cái; sống và chết.

Trong xã hội: mâu thuẫn giữa giai cấp bị bóc lột với giai cấp bóc lột; giữa

thiện và ác; giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa hòa bình và chiến tranh.

Trong tư duy, đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm;

giữa biện chứng và siêu hình; vô thần và hữu thần; chân lý chân lý và sai lầm.

Quá trình vận động của mâu thuẫn: Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống

nhất vừa đấu tranh với nhau

+ Mặt đối lập có thể là bản thân những thuộc tính, khuynh hướng đối lập, cũng có thể

là những yếu tố, bộ phận, sự vật trong đó chứa những thuộc tính, khuynh hướng đối lập

+ Một mâu thuẫn bao gồm hai mặt đối lập có mối liên hệ với nhau

Thống nhất: là sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau, quy

định lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau của các mặt đối lập.

Đấu tranh: là sự bài trừ gạt bỏ, phủ định, chống đối nhau của các mặt đối lập.

Quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh

+ Thống nhất là tương đối Đấu tranh là tuyệt đối

+ Thống nhất và đấu tranh có quá trình phát triển từ thấp đến cao

+ Việc giải quyết mâu thuẫn không chỉ phụ thuộc vào bản chất và trình độ chín muồi của mâu thuẫn, mà còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể nhất định của sự tồn tại của nó

Ý nghĩa phương pháp luận

- Giúp ta hiểu được nguồn gốc, động lực của sự tự thân vận động, tự thân phát triển của sự vật, hiện tượng Chống quan điểm duy tâm, siêu hình tìm nguồn gốc vận động, phát triển từ bên ngoài, từ những nguyên nhân thần bí

- Xác định mâu thuẫn là hiện tượng tất yếu khách quan

- Nắm vững mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu để xác định nhiệm vụ chiến lược cũng như nhiệm vụ trung tâm trước mắt cho từng thời kì cách mạng

- Có cách giải quyết thích hợp với bản chất của từng mâu thuẫn, trình độ chín muồi và điều kiện tồn tại của mâu thuẫn

Trang 9

Nội dung 6: Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận quy luật chuyển hóa từ

những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại.

Chất: là tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật đó là cái phân biệt

nó với sự vật, hiện tượng khác

Chất xuất phát từ cấu trúc bên trong của sự vật và biểu hiện ra thông qua các thuộc tính của sự vật.

Lượng: là tính quy định tính khách quang vốn có của sự vật, hiện tượng về mặt quy

mô, cường độ, trình độ, tốc độ, vv

Phân biệt chất và lượng

- Sự vật sẽ không còn là nó khi chất thay đổi, ngược lại lượng có thể thay đổi

trong một giới hạn nhất định, sự vật chưa thành cái khác Do đó, có thể thấy mức độ hữu cơ khác nhau trong sự gắn bó giữa chất và lượng với sự vật Chất

là cái tương đối ổn định, còn lượng là cái thường xuyên thay đổi.

- Chất trước hết nói lên sự khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng, lượng là đặc trưng cho những mặt đồng nhất, giống nhau giữa các sự vật trong cùng một nhóm, một loại Chúng ta chỉ nhận thức được lượng của một nhóm, một loại khi tạm thời trừu tượng những sự khác biệt, chỉ giữ lại những cái giống nhau, đồng nhất giữa các sự vật trong nhóm đó.

- Mỗi sự vật có nhiều chất do đó có nhiều lượng tương ứng Hơn nữa, mỗi đặc trưng về chất có nhiều mức độ khác nhau về lượng.

Chúng ta cần chú ý rằng, sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có tính tương đối.

Mối quan hệ:

Tính thống nhất: Chất và lượng là hai mặt thống nhất hữu cơ với nhau Chất nào có

lượng đó; lượng nào có chất đó Chất và lượng có sự phù hợp với nhau Danh giới giữa

cũ và mới do chất quy định Sự thay đổi bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng

Sự biến đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất của sự vật có nhiều hình thức

+ Sự tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng.

+ Sự dung hợp giữa các lực lượng cá biệt để tạo thành “hợp lực” mà về cơ bản “hợp lực” này khác về chất so với lực lượng cá biệt.

+ Sự thay đổi về tổ chức, về kết cấu, về quy mô (đặc biệt trong lĩnh vực xã hội).

Ảnh hưởng của chất mới đến lượng mới trong sự biến đổi

Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất

và ngược lại

Sự tác động ngược lại đó diễn ra theo 3 hướng sau ảnh hưởng:

+ Quy mô biến đổi của lượng.

+ Tốc độ phát triển của lượng + Tính chất biến đổi của lượng

Bước nhảy và các hình thức của bước nhảy

Bước nhảy là sự thay đổi về chất từ chất cũ sang chất mới

Các hình thức của bước nhảy diễn ra rất đa dạng phong phú tùy theo bản chất của sự vật và điều kiện tồn tại của sự vật

+ Bước nhảy trong tự nhiên và bước nhảy diễn ra trong xã hội (tự phát đến tự giác)

Trang 10

+ Bước nhảy đột biến và bước nhảy từ từ (Khác nhau về nhịp điệu) + Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy bộ phận (khác nhau về quy mô)

Nội dung quy luật lượng chất

Quy luật lượng chất là quy luật về tác động biện chứng giữa lượng và chất Chất là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt luôn biến đổi Lượng biến đổi mâu thuẫn với chất cũ, chất mới được hình thành với lượng mới, lượng mới lại tiếp tục biến đổi, đến một giới hạn nhất định nó lại phá vỡ chất cũ đang kìm hảm nó Qúa trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt chất và lượng tạo nên

con đường vận động liên tục, từ biến đổi dần dần tới nhảy vọt rồi lại biến

đổi dần dần để chuẩn bị cho bước nhảy tiếp theo, cứ thế làm cho sự vật

không ngừng biến đổi và phát triển.

Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn khi muốn thay đổi về chất thì phải không ngừng tích luỹ về lượng

Khi tích luỹ đủ về lượng phải thực hiện bước nhảy để chuyển sang chất mới

Để chuyển sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất chúng ta phải linh hoạt trong việc thực hiện những bước nhảy

Phải nhận thức được sự thay đổi về chất còn phụ thuộc vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật, hiện tượng; từ đó, phải biết lựa chọn phương pháp phù

hợp để tác động.

Nội dung 7: Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của các cặp phạm trù: Cái chung và cái riêng, Nguyên nhân và kết quả, nội dung và hình thức.

Cái riêng và cái chung

Cái riêng: là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiệng tượng nhất định Cái đơn nhất: là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ vốn có ở

một sự vật, hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác

Cái chung: là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không

những có ở một sự vật, một hiện tượng nào đó, mà còn lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng (nhiều cái riêng) khác nữa

Cái đặc thù: là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những đặc điểm,

những bộ phận giống nhau chỉ tồn tại ở một số sự vật, hiện tượng

Tính chất và mối quan hệ:

- Phái duy thực cho rằng, cái chung tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào cái riêng.

- Phái duy danh cái chung không tồn tại thực trong hiện thực khách quan.

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn

tại và khẳng định:

+ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu hiện sự tồn tại của

mình

Ngày đăng: 08/09/2022, 09:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w