1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa

320 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 320
Dung lượng 19,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản phẩm ngành chăn nuôi hiện có vai trò to lớn trong cung cấp thực phẩm, dinh dưỡng cho trên 90 triệu người dân Việt Nam và tiến tới xuất khẩu, tuy nhiên, muốn đứng vững và phát triển đ

Trang 1

PGS TS TRẦN THANH VÂN (Chủ biên)

TS NGUYỄN THỊ THÚY MỴ, TS MAI ANH KHOA, TS BÙI THỊ THƠM

TS NGUYỄN THU QUYÊN, ThS HÀ THỊ HẢO, ThS NGUYỄN ĐỨC TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

GIÁO TRÌNH

CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA

Trang 3

Lời cảm ơn ����������������������������������������������������������������������������������������������������������������v

C hương 1 MỘT SỐ gIỐng TRÂU, BÒ PhỔ BIẾn Ở VIỆT nAM 7 1.1 Đặc điểm một số giống trâu, bò nội 7 1.2 Đặc điểm một số giống trâu, bò nhập nội 12

2.1 Chăn nuôi trâu, bò đực giống 23 2.2 Chăn nuôi trâu, bò cái sinh sản 32

3.1 Kỹ thuật chăn nuôi bê nghé 41 3.2 Chăn nuôi trâu, bò thịt 47 3.3 Chăn nuôi bò sữa 54 3.4 Chăn nuôi trâu, bò cày kéo 71

4.1 Đặc điểm một số giống lợn nội 85 4.2 Một số giống lợn nhập nội 94

5.1 Những vấn đề chung trong chăn nuôi lợn nái sinh sản 101 5.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn cái hậu bị 115 5.3 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái có chửa 119 5.4 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái đẻ 125 5.5 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con 130 5.6 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái từ khi cai sữa đến khi phối giống trở lại 137

Trang 4

C hương 6 KỸ ThUẬT ChĂn nUÔI LỢn COn ThEO MẸ 139 6.1 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 140 6.2 Các thời kỳ quan trọng của lợn con 146 6.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 147 6.4 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ 154 6.5 Cai sữa cho lợn con 163

7.1 Đặc điểm năng suất và phẩm chất thịt lợn 172 7.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt 175 7.3 Kỹ thuật nuôi lợn thịt 186 7.4 Kỹ thuật chăm sóc và quản lý lợn nuôi thịt 194

C hương 8 MỘT SỐ gIỐng gIA CẦM PhỔ BIẾn Ở VIỆT nAM 203 8.1 Một số giống gà nuôi phổ biến ở Việt Nam hiện nay 203 8.2 Một số giống thủy cầm nuôi phổ biến ở Việt Nam 221 8.3 Một số giống gà tây, đà điểu, chim cút, bồ câu nuôi ở Việt Nam hiện nay 230

9.1 Cơ sở sinh học của ấp trứng gia cầm 235 9.2 Ảnh hưởng của các yếu tố trong máy ấp tới sự phát triển của phôi 238 9.3 Kỹ thuật ấp trứng nhân tạo bằng máy ấp 242 9.4 Kỹ thuật kiểm tra sinh học trong quá trình ấp trứng 255 9.5 Thực hiện an toàn sinh học trong ấp nở trứng gia cầm 259

10.1 Kỹ thuật nuôi gà broiler theo phương thức thông thoáng tự nhiên 263 10.2 Kỹ thuật nuôi gà broiler theo phương thức chuồng kín 270 10.3 Kỹ thuật nuôi gà broiler theo phương thức bán nuôi nhốt 275 10.4 Kỹ thuật nuôi gà giống trứng – bố mẹ và thương phẩm 278

11.1 Kỹ thuật nuôi vịt 287 11.2 Kỹ thuật nuôi ngan thịt 300 11.3 Kỹ thuật nuôi ngỗng 301

Tài liệu tham khảo chính ���������������������������������������������������������������������������������309

Trang 5

Trong quá trình biên soạn, các tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu của các cơ quan

nghiên cứu, công bố của các nhà khoa học, tài liệu hướng dẫn quy trình kỹ thuật của ngành, công ty gia súc, gia cầm trong nước và thế giới Giáo trình cung cấp nhiều thông tin đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của bản thân các tác giả và người chăn nuôi.Giáo trình nhận được góp ý, phản biện sâu sắc của các thầy cô thuộc Bộ môn Chăn nuôi động vật, Khoa Chăn nuôi thú y, Phòng Đào tạo, Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng giáo trình không tránh khỏi những khiếm khuyết, sai sót, tập thể tác giả mong nhận được góp ý, phản biện của độc giả để hoàn thiện hơn cho lần tái bản sau

Tập thể tác giả xin trân trọng cảm ơn!

TẬP THỂ TÁC GIẢ

Trang 7

1 Ý NGHĨA CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI

Chăn nuôi gia súc, gia cầm của Việt Nam đang phát triển mạnh kể cả về số lượng và chất lượng, có nhiều cơ hội song cũng nhiều thách thức trong bối cảnh và xu thế toàn cầu hóa, hợp tác đa phương, hợp tác khu vực, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) từ năm 2007; Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA –ASEAN Free Trade Area) từ năm 2006 Sản phẩm ngành chăn nuôi hiện có vai trò to lớn trong cung cấp thực phẩm, dinh dưỡng cho trên 90 triệu người dân Việt Nam và tiến tới xuất khẩu, tuy nhiên, muốn đứng vững và phát triển được, ngành chăn nuôi phải sản xuất

ra sản phẩm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng nhưng vẫn phải đảm bảo cạnh tranh với khu vực và thế giới về tiêu chí ngon, rẻ, đặc trưng, đặc sản của vùng miền và quốc gia.Theo Cục Chăn nuôi (2015), mức tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam, bình quân/người/năm 2014 ước đạt: 50,0 kg thịt hơi các loại (tăng 1,4% so 2013), 88,7 quả trứng (tăng 2,7%), 5,8 lít sữa (tăng 14,2%) Xã hội càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên một cách tuyệt đối so với các sản phẩm nông nghiệp nói chung

Chăn nuôi là ngành cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quý cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu như: Chế biến thịt, chế biến sữa, chế biến trứng gia cầm, thuộc da, chế biến lông, mỹ phẩm, sản phẩm sinh học, dược liệu

Ngành chăn nuôi cung cấp nguồn sức kéo quan trọng cho ngành trồng trọt Ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay khoảng trên 50% sức kéo trong nông nghiệp vẫn do trâu,

bò đảm nhận và ngựa là phương tiện đi lại, vận chuyển hàng hóa quan trọng

Ngành chăn nuôi cung cấp một lượng lớn phân bón hữu cơ cho trồng trọt, mỗi con trâu bò trưởng thành có thể cung cấp 3–4 tấn phân hữu cơ nguyên chất, góp phần tăng

Trang 8

năng suất cây trồng Mặt khác ngành chăn nuôi còn sử dụng các sản phẩm của ngành trồng trọt kể cả các phế phụ phẩm, thúc đẩy ngành trồng trọt phát triển.

2 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

CHĂN NUÔI CỦA VIỆT NAM

(1) Đàn bò sữa: Tăng bình quân trên 11%/năm, trong đó 100% số lượng bò sữa được nuôi thâm canh và bán thâm canh

(2) Đàn bò thịt: Tăng bình quân 4,8%/năm, trong đó bò lai đạt trên 50%

(3) Đàn trâu: Ổn định với số lượng đàn trâu hiện có, nuôi tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên

(4) Chăn nuôi lợn: Phát triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một số vùng

(5) Chăn nuôi gia cầm: Đổi mới và phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng trang trại, công nghiệp và chăn nuôi chăn thả có kiểm soát

Rà soát, điều chỉnh, xây dựng quy hoạch các sản phẩm chăn nuôi, trước hết là các sản phẩm chủ lực: Lợn, gia cầm, bò sữa, bò thịt

Phát triển chăn nuôi lợn, gia cầm trọng điểm ở những nơi có điều kiện về đất đai, nguồn nước ngọt và bảo vệ môi trường sinh thái như Trung du, Duyên hải Bắc và Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và một số vùng ở đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ

Chăn nuôi bò sữa tập trung ở các vùng cao nguyên Lâm Đồng, Mộc Châu và các tỉnh

có điều kiện đầu tư, kinh nghiệm chăn nuôi Chăn nuôi bò thịt tập trung ở Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một số vùng có kinh nghiệm chăn nuôi và khả năng đầu tư

(2) Về khoa học và công nghệ

Đổi mới công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ chăn nuôi theo hướng kết hợp nghiên cứu với chuyển giao, xã hội hóa đầu tư nghiên cứu, đồng thời ưu tiên đầu tư

Trang 9

nghiên cứu cơ bản, bảo tồn và khai thác hợp lý các nguồn gen, giống gốc vật nuôi trong nước, nhập mới các giống có năng suất, chất lượng cao để chọn lọc, thích nghi đưa nhanh vào sản xuất.

Triển khai có hiệu quả chương trình giống vật nuôi và thực hiện tốt việc nuôi giữ giống gốc Tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung sau:

• Cải tiến nâng cao tầm vóc đàn bò theo hướng Zêbu hóa trên cơ sở phát triển nhanh mạng lưới thụ tinh nhân tạo và sử dụng bò đực giống tốt đã qua chọn lọc cho nhân giống ở những nơi chưa có điều kiện làm thụ tinh nhân tạo

• Chọn lọc trong sản xuất các giống bò Zêbu, bò sữa cao sản và nhập nội bổ sung một

số giống bò có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái trong nước để tạo đàn cái nền phục vụ cho lai tạo giống bò sữa và bò thịt chất lượng cao, cung cấp bê đực cho nuôi vỗ béo bò thịt Nhập bổ sung tinh bò thịt cao sản, bò sữa năng suất cao và một số bò đực cao sản để sản xuất tinh

• Bình tuyển chọn lọc đàn trâu, đàn dê, cừu trong sản xuất tạo đàn cái nền và đực giống tốt cung cấp cho nhu cầu cải tiến, nâng cao chất lượng đàn giống trong sản xuất, thực hiện tốt giải pháp đảo đực giống giữa các vùng

• Quản lý giống lợn, giống gia cầm theo mô hình tháp giống gắn với từng vùng sản xuất, từng thương hiệu sản phẩm

• Chọn lọc, cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng các giống lợn, gia cầm địa phương

có nguồn gen quý Nhập nội các giống lợn, gia cầm cao sản chưa có hoặc còn thiếu

• Xây dựng và sử dụng các công thức lai giống phù hợp cho từng vùng sản xuất, từng nhóm sản phẩm để cung cấp sản phẩm đồng nhất cho nhu cầu sản xuất

• Mở rộng mạng lưới thụ tinh nhân tạo và tiêu chuẩn hóa các cơ sở chất lượng đực giống lợn, tổ chức đánh giá bình tuyển chất lượng giống hàng năm

4 GIỚI THIỆU MÔN HỌC CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA

Môn học Chăn nuôi chuyên khoa với 03 tín chỉ nhằm cung cấp cho sinh viên ngoài ngành chăn nuôi – thú y phần kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm Đây là những kiến thức quan trọng, nền tảng để các sinh viên học tập, nghiên cứu các môn học liên quan khác cũng như làm việc sau khi ra trường

Để hiểu được bản chất của kỹ thuật chăn nuôi, sinh viên cần có kiến thức về các môn khoa học cơ sở liên quan như: Sinh lý động vật; sinh hóa động vật; giải phẫu động vật; di truyền, giống vật nuôi; thức ăn dinh dưỡng cho gia súc – gia cầm

Nhóm các thầy, cô thuộc bộ môn Chăn nuôi động vật, Khoa Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã biên soạn Giáo trình Chăn nuôi chuyên khoa, gồm 03 phần với 11 chương

Trang 10

Phần I Chăn nuôi trâu, bò (từ Chương 1 đến Chương 3); do TS Mai Anh Khoa và Ths Nguyễn Đức Trường biên soạn.

Chương 1 Một số giống trâu, bò phổ biến ở Việt Nam

Chương 2 Chăn nuôi trâu, bò sinh sản

Chương 3 Chăn nuôi trâu, bò sản xuất

Phần II Chăn nuôi lợn (từ Chương 4 đến Chương 7); do TS Bùi Thị Thơm và Ths Hà Thị Hảo biên soạn.

Chương 4 Một số giống lợn phổ biến ở Việt Nam

Chương 5 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản

Chương 6 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ

Chương 7 Kỹ thuật chăn nuôi lợn thịt

Phần III Chăn nuôi gia cầm (từ Chương 8 đến Chương 11); do PGS.TS Trần Thanh Vân, TS Nguyễn Thị Thuý Mỵ và TS Nguyễn Thu Quyên biên soạn.

Chương 8 Một số giống gia cầm phổ biến ở Việt Nam

Chương 9 Kỹ thuật ấp trứng gia cầm

Chương 10 Kỹ thuật chăn nuôi gà

Chương 11 Kỹ thuật chăn nuôi thủy cầm

Trong quá trình biên soạn, các tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu của các cơ quan nghiên cứu, công bố khoa học của các nhà khoa học, tài liệu hướng dẫn quy trình kỹ thuật của công ty gia súc, gia cầm nổi tiếng trên thế giới Giáo trình cung cấp nhiều thông tin đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của bản thân các tác giả và người chăn nuôi

Trang 11

Phần 1 CHĂNNUÔITRÂU,BÒ

Trang 13

Chương 1 MỘTSỐGIỐNGTRÂU,BÒ

PHỔBIẾNỞVIỆTNAM

1.1 ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ GIỐNG TRÂU, BÒ NỘI

1.1.1 GIỐNG BÒ VÀNG

Bò vàng Việt Nam thuộc nhóm Bos Indicus Giống bò vàng của ta hiện nay có nguồn gốc

từ nhiều giống bò của các nước lân cận như: Lào, Campuchia, Myanmar, Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng chủ yếu được hình thành từ 2 giống bò Trung Quốc và Ấn Độ Qua nhiều đời tạp giao giữa các giống bò trên đã hình thành nên giống bò vàng Việt Nam Đó là kết quả của quá trình chọn lọc, thích nghi tự nhiên

Đàn bò vàng Việt Nam hiện nay gồm nhiều nhóm bò được nuôi ở các vùng khác nhau trong cả nước và được gọi theo địa phương như: Bò Thanh Hóa, bò Nghệ An, bò Lạng Sơn, bò Mèo Hà Giang, bò Phú Yên Do đó, tuy cũng có các đặc điểm của giống nhưng mỗi nhóm vẫn có các đặc điểm riêng về ngoại hình, tầm vóc và khả năng sản xuất Nhìn chung bò vàng Việt Nam có ưu điểm: Thành thục sớm, mắn đẻ, khả năng thích nghi cao, chịu đựng kham khổ tốt, ít bệnh tật Tuy nhiên, bò vàng có một số nhược điểm rất cơ bản như: Thấp, ngắn, mình lép, mông lép, ngực lép, chân chữ X, trán lõm; tầm vóc quá nhỏ, không thể dùng để làm nền để lai tạo với các giống bò chuyên dụng thịt hoặc sữa được Khả năng sản xuất thấp về mọi mặt, giá trị kinh tế thấp Vì vậy, cần được cải tạo một cách

Trang 14

h ình 1.1. Bò Thanh Hóa

* Đặc điểm ngoại hình

Bò Thanh Hóa đa số có màu lông vàng

tươi, bụng, yếm và bên trong đùi màu vàng

nhạt Da mỏng, lông mịn

Bò Thanh Hóa có tầm vóc trung bình,

phát dục cân xứng, toàn thân hình chữ nhật

dài Đầu con cái thanh, đầu con đực thô,

sừng ngắn, trán phẳng hoặc hơi lõm Con

đực mõm ngắn, mõm con cái tương đối dài,

mạch máu và gân nổi rõ, mắt to lanh lẹn, cổ

bò cái thanh, cổ bò đực to, dầy, lông đen;

yếm kéo dài từ cổ đến ức, cổ có nhiều nếp

Bò cái 20–24 tháng tuổi có thể phối giống lần đầu, sản lượng sữa thấp, năng suất sữa khoảng 2 kg/ngày, thời gian cho sữa 5–6 tháng, tỷ lệ mỡ sữa cao, đạt 5% Lượng sữa này chỉ đủ cho bê con bú Sức kéo yếu nhưng dai sức

Bò Thanh Hóa có thể chịu đựng được kham khổ tốt, sức chống chịu bệnh tật cao, chịu nóng tốt

Cổ bò cái thanh dài, cổ bò đực dày và tròn, có yếm cổ kéo dài Con đực có u vai cao 3–4

cm Đa số lưng thẳng, bắp thịt lưng hông nổi rõ Mông dài, hẹp, hơi xuôi, bốn chân cứng cáp, 2 chân trước thẳng, 2 chân sau hình chữ X Móng chân nhỏ, đen và khít Bầu vú nhỏ

Trang 15

* Khả năng sản xuất

Bò Nghệ An mắn đẻ, đa số đẻ 1 năm 1 con hoặc 3 năm 2 lứa Khối lượng trưởng thành ở con cái 200 kg, con đực 275 kg Khối lượng sơ sinh 14–15 kg Tỷ lệ thịt xẻ ở con cái 42–43%, ở con đực 53–55% Khả năng cày kéo tương tự bò Thanh Hóa Bò Nghệ An chịu được kham khổ, thích nghi cao với điều kiện địa phương

Kích thước của bò Phú Yên lúc trưởng thành:

Con đực: Cao vây = 105,8 cm; dài thân chéo = 114,4 cm; vòng ngực = 149,4 cm Con cái: Cao vây = 101,7 cm; dài thân chéo = 111,1 cm; vòng ngực = 143,4 cm.

Nhìn tổng thể bò Phú Yên thấp, mình ngắn, ngực rộng và sâu

* Khả năng sản xuất

Bò Phú Yên thành thục muộn: Tuổi phối giống lần đầu: 2,5–3 tuổi; tuổi đẻ lần đầu là 44–45 tháng Đẻ thưa, khoảng cách lứa đẻ là 20 tháng Khả năng cho thịt khá: tỷ lệ thịt xẻ 44–45%, tỷ lệ thịt tinh 33–35%

1.1.1.4 Bò Lạng Sơn

* Nguồn gốc và phân bố

Bò Lạng Sơn có nguồn gốc từ tỉnh Lạng Sơn Bò được nuôi nhiều ở Lạng Sơn và một

số tỉnh miền núi phía Bắc

Con đực: Cao vây = 106 cm; dài thân chéo = 117 cm; vòng ngực = 141 cm

Con cái: Cao vây = 101 cm; dài thân chéo = 113 cm; vòng ngực = 132 cm

Bò Lạng Sơn có khả năng vỗ béo nhanh, khả năng cho thịt thấp nhưng thịt ngon Khả năng cho sữa cao hơn bò ở các địa phương khác, khoảng 3–4 kg/ngày, tỷ lệ mỡ sữa 5%

Trang 16

h ình 1.3. Bò Lai Sind

h ình 1.2. Bò Mèo Hà Giang

1.1.1.5 Bò Mèo Hà Giang

* Nguồn gốc và phân bố

Bò được nuôi nhiều tại vùng Đồng

Văn, Mèo Vạc nơi các dân tộc H’Mông, Lô

Lô sinh sống

* Đặc điểm ngoại hình

Bò Mèo Hà Giang có màu lông đa số

màu vàng nhạt, sẫm hoặc cánh gián, một

số ít mầu đen nhánh hoặc loang trắng, da

mỏng, lông mịn

* Khả năng sản xuất

Bò có tính nết thuần thục, chịu kham

khổ, tầm vóc tương đối to thô Khối lượng trưởng thành ở con đực: 250–300 kg, ở con cái 220–280 kg, khối lượng bê sơ sinh: 15–16 kg

Đầu bò cái thanh, đầu bò đực thô, đỉnh trán dài có u gồ hoặc phẳng (91%), một số ít trán lõm (9%)

Tai to đưa ngang, lưng hơi võng, mông dài nhưng hơi lép, ngực sâu, chân cao, cao khum lớn hơn cao vây

Nhìn chung bò Mèo Hà Giang có tầm vóc to, cao nhưng mình hơi lép, kết cấu chưa chặt chẽ Bò Mèo đẻ rải rác quanh năm, đa số đẻ 3 năm/2 lứa, tỷ lệ nuôi sống: 90–95% Khả năng cày kéo tốt: 1.000–1.500 m2/ngày

1.1.2 GIỐNG BÒ LAI SIND

* Nguồn gốc và phân bố

Bò Lai Sind là giống bò hình thành do

kết quả tạp giao giữa bò đực Red Sindhi

với bò cái vàng Việt Nam Hiện nay đàn

bò được phân bố ở hầu hết các tỉnh, nhất

là ngoại thành Hà Nội, thành phố Hồ Chí

Minh, An Giang, Long An, Ninh Thuận, Hà

Nam, Nam Định, Hải Dương và số lượng

ngày càng tăng

* Đặc điểm ngoại hình

Bò Lai Sind có tầm vóc trung bình so

với các giống bò ở nước ta, đa số khỏe mạnh, mầu lông vàng hoặc đỏ sẫm Đầu hẹp, trán

gồ, tai to, cụp xuống, yếm và bao da rốn rất phát triển, u vai nổi rõ, lưng ngắn, ngực sâu, mông dốc, bầu vú phát triển, âm hộ có nhiều nếp nhăn, đa số đuôi dài và đoạn chót không

có xương Những đặc điểm ngoại hình này mang tính di truyền của bò Red Sindhi

Trang 17

h ình 1.4. Trâu Việt Nam

Bò hậu bị 18–24 tháng tuổi có thể phối giống lần đầu, khoảng cách lứa đẻ bình quân

15 tháng

Bò lai Sind thích nghi tốt với khí hậu nóng ẩm, chịu đựng kham khổ, ít bệnh tật Hiện nay bò cái lai Sind đang được sử dụng để làm cái nền phục vụ cho chương trình lai tạo với các giống bò chuyên dụng sữa, thịt để tạo ra con lai có sức sản xuất sữa hoặc thịt cao

1.1.3 GIỐNG TRÂU VIỆT NAM

* Nguồn gốc

Trâu Việt Nam thuộc loại hình trâu

đầm lầy (Swamp Buffalo) về cơ bản trâu nội

thuộc về một giống, nhưng tùy theo điều

kiện nuôi dưỡng của từng nơi mà trâu được

gọi theo tầm vóc là trâu ngố (to) và trâu gié

(nhỏ hơn) Tuy nhiên sự phân biệt này cũng

không có ranh giới cụ thể

* Đặc điểm ngoại hình

Trâu có ngoại hình vạm vỡ Đầu hơi

bé; trán và sống mũi thẳng, tai mọc ngang

Sừng dài, dẹt, hình cánh cung, hướng về

phía sau và hơi vểnh lên trên Cổ con đực to tròn, con cái nhỏ và hẹp Trâu không có yếm, không có u vai Lưng thẳng, mông xuôi, ngực nở Đuôi dài đến khoeo, tận cùng có chòm lông Bốn chân chắc khoẻ nhưng 2 chân sau thường chạm khoeo (chữ X) Màu lông chủ yếu của trâu là màu tro sẫm, dưới hầu và ức có khoang lông màu trắng Có một số trâu (3%) có lông da màu trắng (trâu bạc)

* Khả năng sản xuất

Nghé có khối lượng sơ sinh 29–30 kg, khối lượng trưởng thành 350–400 kg đối với con cái, 400–450 kg đối với con đực Tỷ lệ thịt xẻ của trâu cái là 42%, trâu đực thiến là 45% Nuôi dưỡng tốt 2 năm tuổi có thể đạt 48%

Khả năng sinh sản của trâu nói chung là kém Động dục biểu hiện không rõ ràng

và mang tính chất mùa vụ Thông thường trâu đẻ 3 năm 2 lứa Năng suất sữa thấp (500–

700 kg/5–7 tháng) chỉ đủ nuôi con Tỷ lệ mỡ sữa cao khoảng 7–8%

Trang 18

1.2 ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ GIỐNG TRÂU, BÒ NHẬP NỘI

1.2.1 NHÓM BÒ ZEBU NHẬP VÀO VIỆT NAM

Bò có màu lông đỏ cánh gián hay nâu

thẫm Bò này có thân hình ngắn, chân cao

mình lép, tai to và rủ xuống, có yếm và nếp

gấp da dưới rốn rất phát triển Bò đực có u

vai rất cao, đầu to trán gồ, rộng, sừng ngắn,

cổ ngắn, vạm vỡ, ngực sâu nhưng không

nở Bò cái có đầu và cổ nhỏ hơn, phần thân

sau phát triển hơn thân trước, vú phát triển, núm vú to, dài, tĩnh mạch vú nổi rõ Đặc biệt

da ở âm hộ có nhiều nếp nhăn

* Khả năng sản xuất

Đây là giống bò kiêm dụng sữa – thịt – cày kéo; khối lượng trưởng thành của con đực 450–550 kg, con cái 340–370 kg Sản lượng sữa trung bình khoảng 1.400–2.000 kg/chu kỳ 270–290 ngày Tỷ lệ mỡ sữa 5–5,5% Tỷ lệ thịt xẻ đạt 48–50%

Bò được nuôi tại Trung tâm tinh đông lạnh Moncada (Ba Vì – Hà Nội) để tham gia

chương trình “Sind hóa” đàn bò Vàng Việt Nam nhằm tạo ra đàn bò cái lai làm nền cho

việc gây tạo bò sữa và bò thịt tiếp theo

1.2.1.2 Giống bò Brahman

* Nguồn gốc

Bò Brahman là giống bò thịt nhiệt đới

(Bos primigenius indicus) có nguồn gốc từ

Ấn Độ Bò được tạo ra bằng cách lai 4 giống

bò Zebu với nhau (Guzerat, Nellore, Gir và

Krishna Valley) vào cuối thế kỉ 19 đầu thế

kỉ 20 Bò được đặt tên theo vị thần Bà La

Môn tôn kính của tôn giáo Ấn Độ

Trang 19

h ình 1.7. Bò Sahiwal

* Đặc điểm ngoại hình

Bò có màu lông trắng, xám nhạt, đỏ, đen hoặc trắng đốm đen, đực trưởng thành màu lông sậm hơn con cái Bò có thân dài, lưng thẳng, tai to, u, yếm phát triển Hệ cơ, xương phát triển

Đặc điểm nổi bật của bò là khả năng chống chịu bệnh tật tốt, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng Khả năng sinh trưởng của bò ít bị ảnh hưởng trong điều kiện thời tiết nóng bức, đồng cỏ khô hạn

Việt Nam đã nhập bò Brahman từ Australia để nhân thuần và cho lai với bò cái Lai Sind để tạo ra giống bò hướng thịt

1.2.1.3 Giống bò Sahiwal

* Nguồn gốc

Bò Sahiwal là một giống bò u của

Pakistan Bò Sahiwal có nguồn gốc từ

tỉnh Montgomery (nay gọi là Sahiwal)

của Pakistan

Bò này cũng được nuôi nhiều tại các

vùng Punjab, Biha, Una của Ấn Độ Bò có

màu lông nâu đỏ hay vàng thẫm

* Đặc điểm ngoại hình

Cơ thể cân đối, da mềm So với bò Red

Sindhi thì chúng đồng nhất hơn về ngoại

hình, dài hơn Màu từ vàng sẫm đến nâu đỏ, đôi khi cũng có những vết trắng Mõm và lông mi có màu sáng Cũng giống bò Red Sindhi, bò Sahiwal có u cao, yếm thõng, nhưng con đực có u cao hơn, con cái có bầu vú phát triển hơn

* Khả năng sản xuất

Khi trưởng thành bò cái có khối lượng khoảng 360–380 kg, bò đực khoảng 470–

500 kg

Sản lượng sữa khoảng 2100–2300 kg/chu kỳ 9 tháng Tỷ lệ mỡ sữa 5–5,5%

Tương tự như giống bò Red Sindhi, bò Sahiwal được nuôi tại Trung tâm Tinh đông lạnh Moncada và Nông trường bò giống miền Trung (Ninh Hòa – Khánh Hòa) để tham gia cải tiến đàn bò nội

Trang 20

h ình 1.8. Bò Holstein Friesian – HF

1.2.2 MỘT SỐ GIỐNG BÒ SỮA NHẬP VÀO VIỆT NAM

1.2.2.1 Giống bò Hà Lan (Holstein Friesland – HF)

* Nguồn gốc

Bò Holstein Friesland (HF) là giống bò chuyên sữa nổi tiếng thế giới được tạo ra từ thế kỷ thứ 14 ở tỉnh Friesland của Hà Lan, là nơi có khí hậu ôn hòa, mùa hè kéo dài và đồng cỏ rất phát triển

* Đặc điểm ngoại hình

Bò HF có ba dạng màu lông chính là

lang trắng đen (chiếm ưu thế), lang trắng

đỏ (chiếm tỉ lệ thấp) và toàn thân đen, riêng

chót đuôi và trán trắng Các điểm trắng đặc

trưng là điểm trắng ở trán, vai có vệt trắng

kéo xuống bụng, bốn chân và chót đuôi

trắng Về hình dạng, bò HF có thân dạng

hình nêm đặc trưng của loại hình sản xuất

sữa Đầu con cái dài, nhỏ, thanh; đầu con

đực thô, có sừng nhỏ, ngắn, hướng về phía

trước Trán thẳng hoặc hơi lõm, cổ thanh

dài vừa phải, không có yếm Vai lưng, hông–mông thẳng, ngực sâu Bốn chân thẳng, hai chân sau hơi doãng Bầu vú rất phát triển, tĩnh mạch vú ngoằn ngoèo, nổi rõ Da mỏng, lông mịn, toàn thân phát triển dạng như hình nêm

* Khả năng sản xuất

Bò HF có tầm vóc khá lớn: Khối lượng sơ sinh khoảng 34–45 kg, khối lượng trưởng thành của bò cái 450–750 kg, bò đực 750–1.000 kg Giống bò này thành thục sớm, tuổi phối giống lần đầu 15–20 tháng tuổi Khoảng cách lứa đẻ 12–13 tháng Năng suất sữa trung bình 5.000–8.000 kg/chu kỳ 10 tháng, tỷ lệ mỡ sữa thấp, bình quân 3,3–3,6% Năng suất sữa biến động nhiều tùy thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng và thời tiết khí hậu, cũng như kết quả chọn lọc của từng nước Bò HF chịu nóng và chịu đựng kham khổ kém, dễ cảm nhiễm bệnh tật, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng đường máu và bệnh sản khoa Bò HF chỉ nuôi thuần tốt ở những nơi có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ bình quân năm dưới 21oC

Ở nước ta bò Hà Lan thuần đã được nuôi ở vùng Mộc Châu (Sơn La), Tam Đường (Lai Châu), Than Uyên (Lai Châu), Đức Trọng (Lâm Đồng) Sau khi có chủ trương phát triển đàn bò sữa trong cả nước năm 2001 của Chính phủ, nhiều tỉnh đã nhập một số lượng lớn bò thuần về nuôi như tỉnh Tuyên Quang, Nghệ An, TP Hồ Chí Minh…

Bò đực Hà Lan hiện nay đang được nuôi tại Trung tâm Tinh đông lạnh Moncada (Ba

Vì, Hà Nội) để sản xuất tinh đông lạnh phục vụ lai tạo với bò cái nền lai Sind tạo ra con lai hướng sữa

Trang 21

h ình 1.9. Bò Jersey

1.2.2.2 Giống bò Jersey

* Nguồn gốc

Bò Jersey là giống bò sữa của Anh được tạo ra từ gần 300 năm trước trên đảo Jersey

là nơi có khí hậu ôn hòa và đồng cỏ tốt quanh năm Đó là kết quả tạp giao giữa giống bò Bretagne (Pháp) với bò địa phương, về sau có thêm máu bò Normandie (Pháp) Từ năm

1970 nó đã trở thành giống bò sữa nổi tiếng thế giới

Năm 1960, Việt Nam nhập 174 bò Jersey thuần nuôi tại Bến Cát (Lưu Trọng Hiếu, 1962) Năm 2001 đến 2005, nhập từ Mỹ bò Jersey thuần, đực và cái, nuôi tại Mộc Châu để xây dựng đàn hạt nhân cái và sản xuất tinh bò đực

* Đặc điểm ngoại hình

Bò có màu sáng hoặc sẫm Có những

con có đốm trắng ở bụng, chân và đầu Bò

có kết cấu ngoại hình đẹp, đặc thù của bò

hướng sữa Đầu nhẹ, mặt cong, mắt lồi, cổ

thanh dài và có yếm khá phát triển Vai cao

và dài Ngực sâu, xương dài Lưng dài, rộng

Mông dài, rộng và phẳng Bụng to, tròn Bốn

chân mảnh, khoảng cách giữa hai chân rộng

Đuôi nhỏ Bầu vú phát triển, tĩnh mạch vú to

và dài

* Sức sản xuất

Bò Jersey có tầm vóc tương đối nhỏ: Khối lượng sơ sinh 25–30 kg, khối lượng trưởng thành của bò cái: 300–350 kg, của bò đực 450–500 kg Năng suất sữa bình quân đạt 3.000–5.000 kg/chu kỳ 305 ngày Đặc biệt bò Jersey có tỷ lệ mỡ sữa cao (4,5–5,5%) mỡ sữa màu vàng, hạt mỡ to thích hợp cho việc chế biến bơ Vì thế giống bò này được dùng

để cải tạo những giống bò sữa có tỷ mỡ sữa thấp Bò Jersey thành thục sớm, 16–18 tháng tuổi có thể phối giống lần đầu tiên, khoảng cách lứa đẻ là 12 tháng Bò đực có thể cho tinh dịch lúc 12 tháng tuổi Do bò Jersey có tầm vóc nhỏ bé (nhu cầu duy trì thấp) lại có yếm nên có khả năng chịu nóng tốt nên nhiều nước đã dùng bò Jersey lai tạo với bò địa phương nhằm tạo ra giống bò lai hướng sữa thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới Tuy nhiên, cũng giống như bò HF, trong điều kiện nhiệt đới năng suất sữa bò Jersey cũng

bị giảm sút rõ rệt

Bò Jersey nuôi tại Việt Nam có năng suất là 2.038 kg lứa đầu và 2.400 kg ở lứa sữa thứ 3

Nước ta cũng đã nhập tinh đông lạnh của bò Jersey về để lai với bò cái Lai Sind (LS),

bò Vàng, bò cái lai F1, F2 (HF × LS) Tuy nhiên, do năng suất sữa của con lai kém hơn so với bò lai HF, hơn nữa bò có màu lông vàng chưa phù hợp với thị hiếu người nuôi, do vậy

số lượng chưa bằng bò HF

Trang 22

h ình 1.10. Bò Drought Master

h ình 1.11. Bò Hereford

1.2.3 MỘT SỐ GIỐNG BÒ THỊT NHẬP VÀO VIỆT NAM

1.2.3.1 Giống bò Drought Master

* Nguồn gốc

Bò Drought Master là một giống bò thịt nhiệt đới được tạo ra ở Australia bằng cách lai giữa bò Shorthorn với bò Brahman

Bò Drought Master được Việt Nam nhập

đực giống từ Australia năm 2006 để khai thác và

sản xuất tinh cọng rạ

* Đặc điểm ngoại hình

Bò có lông màu đỏ đến vàng sậm, u thấp,

yếm thõng, mình tròn ngực sâu, mắt sâu, chân

thấp, cơ bắp nổi rõ Gương mũi và niêm mạc

mắt màu nâu, lông thưa và ngắn Con đực có u

cao hơn con cái, một số con có màu đỏ tối như

màu mận chín Con cái bầu vú khá phát triển,

âm hộ có nhiều nếp nhăn, núm vú to

* Khả năng sản xuất

Lúc trưởng thành con đực có khối lượng 820–1000 kg, bò cái nặng khoảng 550–

680 kg Lúc 1 năm tuổi con đực nặng 450 kg, con cái nặng 325 kg Bê đực 6–12 tháng tuổi nuôi dưỡng tốt cho tăng khối lượng 1.000–1.200 g/ngày và cho tỷ lệ thịt xẻ 55–60% khi giết thịt lúc 14–16tháng tuổi Bò Drought Master có khả năng kháng ve và các bệnh ký sinh trùng đường máu tốt, có khả năng gặm cỏ và thích nghi tốt với điều kiện nóng ẩm hoặc khô hạn

Việt Nam đã nhập bò Drought Master từ Australia để nhân thuần và cho lai với bò cái Lai Sind nhằm tạo con lai hướng thịt phù hợp với điều kiện khí hậu của nước ta

1.2.3.2 Giống bò Hereford

* Nguồn gốc

Bò Hereford được tạo ra từ thế kỉ 18 ở đảo Hereford của Anh bằng phương pháp nhân giống thuần chủng, chọn lọc và tăng

cường dinh dưỡng

Nước ta đã nhập tinh đông lạnh về cho lai

với bò cái Lai Sind để thăm dò sức sản xuất của

con lai F1

* Ngoại hình

Hereford mang đặc điểm tiêu biểu của một

giống bò chuyên thịt Đầu không to nhưng rộng

Cổ ngắn và rộng Ngực sâu và rộng, lưng dài và

rộng Cơ bắp rất phát triển Chân hơi thấp Da

Trang 23

h ình 1.12. Bò Charolais

h ình 1.13. Bò Limousin

dày và hơi thô Bộ xương vững chắc Bò Hereford có màu lông đỏ; riêng ở đầu, ngực, cổ

và bốn chân, đuôi có đốm trắng Sừng có màu sáng, cong ra hai bên, hướng về phía trước hoặc xuống dưới

* Khả năng sản xuất

Bò đực trưởng thành có khối lượng 850–1.100 kg, bò cái có khối lượng 600–700 kg Nếu nuôi dưỡng tốt, bê đực 1 năm tuổi nặng 500 kg, bê cái nặng 364 kg Tốc độ tăng khối lượng trong giai đoạn 6–12 tháng tuổi khoảng 1.300–1.500 g/ con /ngày Tỷ lệ thịt xẻ lúc 14–16 tháng tuổi 65–70% Chất thịt tốt, thịt ngon, mềm, thường có mỡ giữa các lớp cơ.Năng suất sữa của bò cái 1.200–1.800 kg/chu kỳ; tỷ lệ mỡ sữa từ 3,9–4,0%

1.2.3.3 Giống bò Charolais

* Nguồn gốc

Bò Charolais là giống bò chuyên thịt của

Pháp, được hình thành ở vùng Charolles

Nước ta đã nhập tinh đông lạnh về cho lai

với bò cái Lai Sind để thăm dò sức sản xuất của

con lai F1

* Đặc điểm ngoại hình

Bò có màu sắc lông trắng ánh kem Ngoại

hình phát triển cân đối Thân rộng, mình dày,

mông không dốc, đùi phát triển

* Khả năng sản xuất

Khi trưởng thành bò cái có khối lượng 700–800 kg, bò đực đạt 1.000–1.200 kg Nếu nuôi tốt, lúc 12 tháng tuổi bê đực đạt 450–540 kg, bê cái đạt 380 kg Trong giai đoạn 6–12 tháng tuổi bê có thể tăng khối lượng 1.450–1.550 g/con/ngày Giết thịt lúc 14–16 tháng tuổi tỷ lệ thịt xẻ dao động trong khoảng 65–70%

Bò Charolais được nuôi ở nhiều nơi trên thế giới không chỉ để nhân thuần mà nó còn được sử dụng để lai tạo với các giống bò địa phương nhằm nâng cao khả năng cho thịt Nước ta cũng nhập tinh đông lạnh về để lai tạo với bò Lai Sind nhằm tạo ra con lai có sức sản xuất thịt cao

1.2.3.4 Giống bò Limousin

* Nguồn gốc

Bò Limousin là giống bò chuyên thịt của

Pháp Đây là giống bò nổi tiếng, thịt có chất

lượng cao

Nước ta đã nhập tinh đông lạnh về cho lai

với bò cái Lai Sind để thăm dò sức sản xuất của

con lai F1

Trang 24

Khi trưởng thành bò đực có khối lượng 1.000–1.300 kg, bò cái có khối lượng 650–

800 kg Nếu nuôi dưỡng tốt 12 tháng tuổi bê đực có khối lượng 500 kg, bê cái 350 kg Bê 6–12 tháng tuổi tăng khối lượng 1.300–1.400 g/con/ngày Bê đực nuôi tốt giết thịt lúc 14–16 tháng tuổi có tỷ lệ thịt xẻ 68–71%

Khối lượng sơ sinh của bê lai (Limousin × cái Lai Sind) khoảng 20 kg, nuôi chăn thả như bò lai Sind khối lượng lúc 12 tháng tuổi đạt 126–139 kg và 24 tháng tuổi đạt 211–265 kg

1.2.3.5 Giống bò Santa Gertrudis

* Nguồn gốc

Bò Santa Gertrudis là giống bò chuyên

thịt được tạo ra năm 1910 ở vùng Santa

Gertrudis thuộc bang Texas của Mỹ là nơi

có khí hậu khắc nghiệt, nóng và khô Bò

được tạo ra do lai giữa bò Shorthorn và bò

Brahman với tỷ lệ máu bò Brahman 3/8 và

Shorthorn là 5/8

Nước ta đã nhập tinh đông lạnh về cho

lai với bò cái Lai Sind để thăm dò sức sản

xuất của con lai F1

cỏ bê đực 1 năm tuổi nặng 300–350 kg Bê đực nuôi nhốt giết thịt lúc 14–16 tháng tuổi cho tỷ lệ thịt xẻ 60–66%

Bò có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới, kháng bệnh và kháng

ve tốt Tuy nhiên, khả năng sinh sản của giống bò này còn hạn chế, bò thành thục muộn Chất lượng thịt chưa cao Việt Nam đã nhập tinh đông lạnh về cho phối với bò cái Lai Sind

để phục vụ cho công tác phát triển đàn bò thịt

Trang 25

h ình 1.16. Bò Blanc Bleu Belge

h ình 1.15. Bò Simmental

1.2.3.6 Giống bò Simmental

* Nguồn gốc

Bò Simmental được hình thành từ thế kỷ

18 ở vùng Berner Oberland của Thụy Sỹ và hiện

nay được nuôi ở nhiều nước khác nhau

Nước ta đã nhập tinh đông lạnh về cho lai

với bò cái Lai Sind để thăm dò sức sản xuất của

Bò Simmental có thể khai thác sữa Nếu chọn lọc và nuôi dưỡng tốt có thể cho 3500–

4000 kg sữa/chu kỳ 300 ngày Tỷ lệ mỡ sữa 3,9–4,0%

Nước ta đã nhập tinh giống bò này và lai tạo với bò cái lai Sind Con lai cho khả năng sinh trưởng khá tuy nhiên một số con lai Simmental có màu lông vằn như hổ nên không được người chăn nuôi ưa chuộng

1.2.3.7 Giống bò Blanc Bleu Belge (BBB)

* Nguồn gốc 

Bò Blanc Bleu Belge (BBB) là giống bò thịt

đặc biệt của thế giới được tạo ra bằng cách lai

tạo giữa bò lang đỏ và lang trắng của Bỉ với bò

Shorthorn của Pháp được nhập qua Anh từ

trong giai đoạn 1850 đến 1890 Giống bò này

được chính thức công nhận vào những năm đầu

của thế kỷ 20 Lúc đầu giống bò này được chia

thành hai dòng là dòng sản xuất thịt và dòng sản

xuất sữa Giống bò này ngày nay được chọn lọc

theo hướng sản xuất thịt

Trang 26

h ình 1.17. Trâu Murrah

Giống bò BBB là thành quả của công tác di truyền và tạo giống mới của Bỉ Sau hơn

50 năm nghiên cứu tạo giống bò BBB là giống bò thịt đặc biệt có cơ bắp phát triển siêu trội (hệ thống cơ đôi), ngoại hình đẹp, khả năng sử dụng thức ăn tốt, thịt thơm ngon, hiệu quả kinh tế cao

Nước ta đã nhập tinh đông lạnh về cho lai với bò cái Lai Sind để thăm dò sức sản xuất của con lai F1

* Đặc điểm ngoại hình

Bò BBB có tầm vóc to lớn với hệ cơ phát triển cân đối Cơ bắp vùng đầu, lưng, hông

và mông phát triển Lưng dài, mông dốc, đuôi dài và da mịn Chân cao, cứng cáp

Bò BBB có 3 màu lông cơ bản: Trắng, loang xanh và đen do sự phân ly của gen

bò Shorthorn

* Khả năng sản xuất

Khối lượng sơ sinh bình quân 44 kg/con Khối lượng lúc 12 tháng tuổi con đực là

470 kg, con cái là 370 kg Khối lượng lúc 24 tháng tuổi con đực là 700 kg, con cái là 500 kg Khối lượng trưởng thành của con đực 1100–1250 kg, con cái 850–900 kg

Tỷ lệ thịt tinh/thịt xẻ đạt: 82% Sinh trưởng tuyệt đối giai đoạn 7–13 tháng tuổi đạt 1,6 kg/con/ngày, giai đoạn 14–18 tháng tuổi đạt 1,2 kg/con/ngày

Tuổi động dục lần đầu của bò BBB sớm hơn các giống bò thịt khác Tuổi động dục lần đầu trung bình là 29–30 tháng tuổi Nhiều cá thể có biểu hiện động dục lần đầu khi được

24 tháng tuổi, thời gian mang thai trung bình 280 ngày Tỷ lệ thai đôi là 2,3%, khoảng cách lứa đẻ trung bình 14 tháng, tỷ lệ đẻ hàng năm 75%

Nhược điểm của bò cái BBB là sự đàn hồi của cơ xương chậu kém khi đẻ, do đó một

số bò cái BBB khi đẻ phải mổ để lấy thai

Việt Nam đã nhập tinh đông lạnh về cho phối với bò cái Lai Sind để phục vụ cho công tác phát triển đàn bò thịt Kết quả cho thấy con lai có khả năng sinh trưởng tốt và thích nghi với điều kiện chăn nuôi của nước ta

1.2.4 GIỐNG TRÂU MURRAH

* Nguồn gốc

Trâu Murrah xuất phát từ vùng Haryana

của Ấn Độ Nước ta bắt đầu nhập trâu Murrah

năm 1960 từ Trung Quốc và chính thức nhập

vào những năm 1976–1977 bằng con đường

ngoại giao giữa hai nước Việt Nam – Ấn Độ

* Đặc điểm ngoại hình

Trâu Murrah toàn thân đen tuyền Nhìn

tổng thể hình nêm Đầu thanh, cổ dài Sừng

cuốn như sừng cừu Trán và đuôi thường có

đốm trắng Trán gồ Mắt con cái lồi, mũi rộng

Trang 27

Tai to, mỏng, thường rủ xuống Bốn chân ngắn, to, bắp nổi rõ Bầu vú phát triển, tĩnh mạch vú ngoằn ngoèo và nổi rõ.

Sản lượng sữa trung bình 1400–2000kg/chu kỳ Tỷ lệ mỡ sữa cao (7%) Trâu Murrah

có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu ở nước ta Trâu Murrah có hướng sản xuất kiêm dụng sữa – thịt, không thích hợp với cày kéo

Hiện nay trâu Murrah đang được nuôi giữ giống tại Trung tâm Nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi – Viện Chăn nuôi để sản xuất tinh đông lạnh phục vụ công tác giống trong cả nước

Trang 29

Chương 2 CHĂNNUÔI TRÂUBÒSINHSẢN

2.1 CHĂN NUÔI TRÂU BÒ ĐỰC GIỐNG

2.1.1 GIẢI PHẪU CƠ QUAN SINH DỤC TRÂU, BÒ ĐỰC

Dịch hoàn Bò đực có hai dịch hoàn treo phía sau cơ thể trong bao dịch hoàn Dịch

hoàn có hai chức năng là sản xuất tinh trùng và tiết hormone Nơi sản xuất tinh trùng trong dịch hoàn là các ống sinh tinh Tế bào kẽ (Leydig) là nơi sản xuất hormone sinh dục đực androgen (Testosteron có hoạt lực mạnh nhất)

Dịch hoàn hàng ngày sản xuất một lượng rất lớn tinh trùng Vách ống sinh tinh là một màng dày một số lớp tế bào sau này sản sinh tinh trùng Cùng với các tinh nguyên bào có hàng loạt tế bào lớn hơn nhiều gọi là tế bào Sertoli có chức năng hỗ trợ và nuôi dưỡng tinh trùng đang hình thành khi chúng chuyển từ vách ra xoang ống sinh tinh Ống này cũng tiết nhiều dịch vào xoang ống Dịch này có vai trò quan trọng việc vận chuyển tinh trùng khỏi dịch hoàn

h ình 2.2. Mặt cắt dọc của bao dịch hoàn và dịch hoàn

h ình 2.1. Vị trí các cơ quan sinh dục đực ở bò

Trang 30

Tinh trùng sau khi được sinh ra trong các ống dẫn tinh sẽ đi qua một hệ thống các ống dẫn ra Trong dịch hoàn các ống sinh tinh cùng đổ vào 15 ống dẫn ra để đưa tinh trùng và dịch tiết của ống sinh tinh đến phần ngoài của dịch hoàn Các ống dẫn ra nổi lên trên bề mặt ở phần đỉnh của dịch hoàn và đổ vào dịch hoàn phụ.

Dịch hoàn đặc biệt tăng nhanh về kích thước khi bò đực sắp đến tuổi thành thục, kích thước các ống sinh tinh tăng do tác động của hormone sinh dục Dịch hoàn của trâu, bò tiếp tục tăng sau khi thành thục, mặc dù rất chậm và đạt đến kích thước trưởng thành khi trâu, bò đạt đến 4–5 tuổi Sau 7–8 năm dịch hoàn giảm dần kích thước Sự giảm dần này chủ yếu là do sự lão hóa

Dịch hoàn phụ Các ống dẫn ra từ dịch hoàn tập trung lại hình thành nên một ống

đơn gọi là dịch hoàn phụ Mỗi dịch hoàn có một dịch hoàn phụ Cấu tạo dịch hoàn phụ gồm có đầu, thân, đuôi và có thể sờ thấy qua bao dịch hoàn Mặc dù chỉ có một ống nhưng dịch hoàn phụ gấp khúc và có chiều dài 40–60 m

Dịch hoàn phụ có một số chức năng chính là hấp thu, dịch chuyển, làm trưởng thành

và dự trữ tinh trùng Phần đuôi của dịch hoàn phụ như một kho chứa tinh trùng Tinh trùng trong đuôi dịch hoàn phụ hầu như không vận động và dường như ở trạng thái tiềm sinh, có nghĩa là chúng cần rất ít năng lượng hoặc dinh dưỡng để sống Khi con vật không khai thác tinh hay phối giống thì quá trình sản xuất tinh trùng vẫn không ngừng, do vậy tinh trùng bị bài tiết qua tự phóng tinh hoặc thải

chậm qua bóng đái và ra ngoài qua nước tiểu

Ống dẫn tinh Ống dẫn tinh là một ống

có cơ chắc chạy từ đuôi dịch hoàn phụ ở đáy

dịch hoàn ngược theo dịch hoàn đến phồng ống

dẫn tinh

Khác với dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh là

một ống thẳng và khá ngắn Hai ống dẫn tinh

hợp lại với nhau thành phồng ống dẫn tinh, gặp

ống dẫn nước tiểu từ bàng quang cùng với chất

tiết của một số tuyến sinh dục phụ đổ vào ống

dẫn chung gọi là niệu đạo

Các tuyến sinh dục phụ Có 3 tuyến sinh

dục phụ đóng góp vào thành phần của tinh thanh đó là:

Tuyến tinh nang: Tuyến này nằm ở hai bên thành và kết thúc ở phần kết thúc của ống

dẫn tinh Tuyến tinh nang tiết vào tinh thanh một thành phần quan trọng đó là fructoza

và axit xitric

Tuyến tiền liệt: Tuyến này nằm ở phần cuối ống dẫn tinh, đầu niệu đạo và vắt ngang

qua cổ bàng quang và được chia thành hai thùy Tuyến này có nhiều lỗ đổ vào niệu đạo với dịch tiết giàu axit amin và các enzym khác nhau

Tuyến củ hành: Tuyến củ hành hay còn được gọi là tuyến Cowper, là một tuyến có lỗ

tiết gần dương vật nhất, dịch tiết của nó đổ vào ống niệu đạo dưới van u ngồi, dịch tiết

h ình 2.3. Mặt cắt ngang của ống sinh tinh

Trang 31

này được tiết ra ngay trước mỗi lần phóng tinh có tác dụng rửa (vệ sinh) đường sinh dục con đực và con cái.

Tinh dịch Tinh trùng có nồng độ cao từ dịch hoàn phụ đổ vào ống dẫn tinh sẽ hỗn

hợp với các chất tiết của các tuyến sinh dục phụ để hình thành tinh dịch

2.1.2 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỨC SẢN XUẤT TINH

Giống Tùy từng giống, tầm vóc to hay nhỏ, cường độ trao đổi chất mạnh hay yếu,

khả năng thích nghi với thời tiết khí hậu tốt hay xấu mà có số lượng và chất lượng tinh dịch sản xuất khác nhau Ví dụ, bò đực ôn đới (800–1000 kg) mỗi lần khai thác tinh có thể cho 8–9 ml hay thậm chí 10–15 ml, còn bò nội của ta chỉ cho được 3–5 ml Bò ôn đới nhập vào nước ta do thích nghi với nhiệt độ mùa hè kém nên lượng tinh dịch giảm và tính hăng cũng kém

Thức ăn Thức ăn đối với trâu, bò đực giống đòi hỏi phải cần phải đầy đủ cả về số

lượng và chất lượng Tiêu chuẩn ăn hợp lý, khẩu phần ăn cân bằng thì chất lượng tinh dịch

sẽ tốt Nếu tiêu chuẩn ăn không hợp lý sẽ ảnh hưởng tới con vật và phản xạ tính sẽ kém nên chất lượng tinh không tốt

Giá trị sinh vật học của protein và nồng độ protein trong khẩu phần có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng tinh dịch Tỷ lệ protein/bột đường có ảnh hưởng đến tiêu hóa nên ảnh hưởng tới tinh dịch Đối với bò đực giống thường yêu cầu tỷ lệ này là 1/1,2–1,5

Khẩu phần thiếu vitamin, đặc biệt là vitamin A, có ảnh hưởng nhiều đến phẩm chất tinh dịch Thí nghiệm với khẩu phần chứa 120–130 mg caroten/đơn vị thức ăn (ĐVTA) cho tinh trùng yếu và ít, dịch hoàn thoái hóa, con vật kém hăng Khi nâng lên 640–774 mg/ĐVTA thì sau 21 ngày phẩm chất tinh dịch được phục hồi Vitamin C cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm chất tinh dịch Tinh dịch tối đa có 3–8 mg vitamin C/100 ml Nếu chỉ có 2 mg/100ml thì nhiều chỉ tiêu tinh dịch có biểu hiện xấu

Các chất khoáng, đặc biệt là Photpho, có ảnh hưởng nhiều đến tinh dịch, bởi vì Photpho cần cho sự trao đổi đường Mặt khác, nó còn là thành phần của axit nucleic

và phosphatit hay lipophosphatit là những chất có nhiều trong tinh trùng Vì vậy thiếu Photpho thì quá trình hình thành tinh trùng sẽ giảm, tỷ lệ hấp thu thấp

Cấu trúc khẩu phần và loại hình thức ăn cũng có ảnh hưởng rất rõ rệt đến chất lượng tinh dịch Khẩu phần ăn của đực giống phù hợp với các loại thức ăn toan tính và dung tích nhỏ như thức ăn hạt, cám, khô dầu, bã đậu và các loại thức ăn có nguồn gốc động vật

Chăm sóc Cách cho ăn, tắm chải, vận động, thái độ của người chăm sóc và lấy tinh

sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng, chất lượng tinh khai thác Có thể không lấy được một chút tinh nào trong một thời gian dài và có thể làm hỏng đực giống nếu chăm sóc quản lý không tốt

Chế độ lấy tinh Khai thác tinh quá mau hoặc quá thưa đều không có lợi, vì: Quá

trình hình thành tinh trùng là liên tục, nếu khai thác thưa quá chất lượng tinh giảm và có

Trang 32

thể con đực tự phóng tinh ra ngoài Ngược lại, nếu khai thác tinh quá mau, tinh trùng non nhiều, khả năng thu tinh kém.

Thời tiết – Khí hậu Ở các nước ôn đới chất lượng tinh dịch kém nhất vào mùa

đông, tốt nhất là vào mùa hè và mùa thu, nguyên nhân chủ yếu là do ánh sáng Nhưng ở nước ta tinh dịch kém nhất vào mùa hè do quá nắng nóng Bò đực dưới 4 tuổi chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh rõ rệt so với bò lớn tuổi, nhất là nhiệt độ Lượng tinh dịch tốt nhất

là vụ đông xuân, mùa hè giảm nhiều, mùa thu lại tăng lên

Tuổi Tuổi thọ của bò đực giống có thể đạt 18–20 năm, nhưng do nhiều nguyên

nhân khác nhau nên thường chỉ được sử dụng đến 7 năm tuổi, càng già phẩm chất tinh dịch càng kém

2.1.3 NUÔI DƯỠNG TRÂU, BÒ ĐỰC GIỐNG

2.1.3.1 Tiêu chuẩn và mức ăn

Thức ăn không đầy đủ hoặc không cân bằng cũng như quá thừa sẽ làm giảm hoạt tính sinh dục, chất lượng tinh dịch và rút ngắn thời gian sử dụng bò đực Trao đổi chất của đực giống cao hơn bò đực thiến 15–20% Do đó khi nuôi dưỡng bò đực giống phải căn cứ vào cường độ sử dụng, mức nuôi dưỡng phải đảm bảo cho bò đực giống khỏe mạnh nhưng không được tích mỡ nhiều, phải có tính hăng cao và chất lượng tinh dịch tốt Nếu chất lượng tinh dịch giảm sút cần kiểm tra lại chế độ nuôi dưỡng

Nhu cầu năng lượng và protein Theo phương pháp tính hiện hành ở nước ta, nhu

cầu năng lượng cho bò đực giống có thể tính theo bảng 2.1 Bò đực tơ hoặc bò đực gầy mỗi ngày tăng thêm 5,22–10,45 MJ Nếu mỗi ngày bò đực lao tác 2–3 giờ thì phải tăng thêm 5,22–10,45 MJ nữa

Bảng 2.1 Nhu cầu năng l ượng và protein của bò đực giống

Khối lượng cơ thể (kg)

Nhu cầu năng lư ợng (MJ) Mức độ khai thác

Trang 33

Nhu cầu khoáng Việc cung cấp đầy đủ nhu cầu về khoáng có ý nghĩa to lớn trong

việc duy trì khả năng sinh dục tốt của trâu, bò đực giống Nếu thiếu khoáng sẽ làm giảm

số lượng và chất lượng tinh dịch, gây nên nhiều bệnh khác nhau Nhu cầu khoáng cụ thể như sau:

Ca: 0,67–0,77 g/MJ, P: 0,57–0,67 g/MJ, NaCl: 7–8 g/100 kg P

Các chất khoáng vi lượng như: Co, Cu, Zn, I, Mn cũng rất quan trọng đối với trâu,

bò đực giống Hàm lượng các chất khoáng này trong thức ăn tùy thuộc vào mùa vụ, đất đai, phân bón Khi bổ sung các muối khoáng này cần chú ý bổ sung thêm các vitamin cho trâu, bò

2.1.3.2 Thức ăn và khẩu phần ăn

Nguyên tắc phối hợp khẩu phần ăn cho trâu, bò đực giống

• Khẩu phần ăn phải được phối hợp từ nhiều loại thức ăn khác nhau để đảm bảo tính ngon miệng

• Cần sử dụng các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dung tích nhỏ để đảm bảo cho bụng đực giống thon gọn

Các loại thức ăn và mức sử dụng

■ Cỏ khô: Về mùa đông có thể cho ăn 0,8–1,2 kg, mùa hè 0,4–0,5 kg/100 kg khối

lượng cơ thể

■ Thức ăn nhiều nước: Loại thức ăn này gồm có thức ăn ủ xanh, củ quả Đối với thức

ăn ủ xanh thường sử dụng vào mùa đông khi không đủ cỏ tươi Lượng thức ăn ủ xanh từ 0,8–1 kg/100 kg khối lượng cơ thể Thức ăn củ quả đặc biệt cần thiết khi sử dụng thức ăn

ủ xanh Lượng thức ăn củ quả là 1–1,5 kg/100 kg khối lượng cơ thể Có thể cho ăn từ 6–10

kg thức ăn củ quả/bò/ngày đêm Vào thời kì phối giống nặng thì việc sử dụng cà rốt trong khẩu phần ăn của đực giống có tác dụng tốt cho quá trình sản xuất tinh dịch, tăng cường tiêu hóa, thúc đẩy quá trình trao đổi chất Trong cà rốt rất giàu caroten và có thể cho ăn 4–6 kg/con/ngày Để cân bằng tỷ lệ đường/protein, có thể cho ăn các củ, quả giàu đường Không nên cho trâu, bò đực giống ăn bắp cải vì trong bắp cải có chứa các chất gây rối loạn chức năng tuyến giáp và trao đổi iod trong cơ thể Không nên cho ăn thức ăn ủ xanh trong một thời gian dài vì trong đó chứa nhiều phytoestrogen có ảnh hưởng xấu đến hoạt tính sinh dục và quá trình hình thành tinh trùng

■ Cỏ tươi: Chỉ nên cho đực giống ăn cỏ tươi với một lượng nhất định Lượng cỏ tươi

thích hợp là từ 2–2,5 kg/100 kg khối lượng cơ thể/ngày đêm Tốt nhất 50% lượng cỏ xanh khi cho ăn đã được phơi tái

■ Thức ăn tinh: Lượng thức ăn tinh tính cho 100 kg khối lượng cơ thể khoảng 0,4–0,5

kg/ngày đêm Chỉ cho đực giống ăn những thức ăn có chất lượng tốt, không được sử dụng nhiều bỗng rượu, bã bia, khô dầu bông Chỉ đưa vào khẩu phần thức ăn có nguồn gốc từ động vật khi khẩu phần gồm các loại thức ăn thực vật, không đầy đủ dinh dưỡng hoặc sử dụng đực giống ở mức độ cao

Trang 34

■ Các thức ăn bổ sung: Khoáng và vitamin được đưa vào trong khẩu phần thường

xuyên theo tiêu chuẩn ăn Để đảm bảo cân bằng về vitamin cần thường xuyên bổ sung thêm giá đỗ hoặc thóc mầm (0,3–0,5 kg/con/ngày) và các chế phẩm vitamin khác vào trong khẩu phần Các loại khoáng thường được bổ sung vào trong khẩu phần dưới dạng hỗn hợp hoặc tảng đá liếm

2.1.3.3 Chế độ cho ăn

Trâu, bò đực giống thường áp dụng phương thức nuôi nhốt tại chuồng là chính, kết hợp với vận động hợp lý

Chế độ ăn uống có thể áp dụng cho bò đực giống là cho ăn 3 lần/ngày Nguyên tắc cho

ăn là không cho lẫn lộn mà phải cho ăn theo trình tự: tinh – thô xanh – thô khô

• Buổi sáng: cho ăn 1/2 lượng thức ăn tinh, một phần củ quả, 2–3 kg cỏ khô Cho ăn vào khoảng 9 h sau khai thác tinh hoặc phối giống

• Buổi trưa: Cho ăn cỏ tươi (về mùa hè) hoặc thức ăn ủ xanh, ủ héo (về mùa đông) và phần củ quả còn lại Cho ăn vào lúc 11h30

• Buổi chiều: Cho ăn lượng thức ăn tinh và phần cỏ khô còn lại, ăn vào lúc 17h

2.1.4 CHĂM SÓC VÀ QUẢN LÝ TRÂU, BÒ ĐỰC GIỐNG

2.1.4.1 Chuồng trại

Chuồng trại nuôi trâu, bò đực giống cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

• Vị trí xây dựng: Vị trí xây dựng chuồng nuôi trâu, bò đực giống phải tuân thủ các quy định chung về vệ sinh phòng dịch, chuồng nuôi phải đặt xa các khu dân cư, các khu công nghiệp nhằm đảm bảo yếu tố cách ly, hạn chế lây truyền dịch bệnh, ô nhiễm môi trường

• Thực hiện nghiêm túc các quy định khi ra vào khu chăn nuôi

• Chuồng nuôi đực giống nên được xây dựng ở đầu hướng gió gần chuồng trâu, bò cái tơ lỡ và cái sinh sản

• Chuồng trại phải được thiết kế hợp lý giữa các khu: nuôi nhốt, vận động, chăn thả, bệnh xá, khu khai thác, pha chế tinh dịch

• Dóng chuồng phải được làm bằng các vật liệu chắc chắn

• Chuồng trại cần phải đảm bảo thông thoáng, mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông

• Yêu cầu về kích thước và diện tích chuồng nuôi: Mỗi đực giống được nhốt ở một ô chuồng riêng, thông thường các ô chuồng được thiết kế đảm bảo diện tích cho một đực giống trưởng thành khoảng 10–12 m2/con cùng với diện tích sân chơi khoảng 18–

20 m2/con Đặc biệt rào ngăn cách giữa các ô chuồng phải đảm bảo độ cao từ 2–2,2 m

• Nền chuồng phải chắc chắn, khô ráo, không trơn trượt, có độ dốc vừa phải, không đọng nước, dễ vệ sinh Tốt nhất là láng bằng xi măng hoặc lát gạch chống trơn Trong chuồng có đầy đủ hệ thống máng ăn, uống, điện, nước

Trang 35

2.1.4.2 Chăn thả

Đối với các trại nuôi đực giống theo phương thức chăn thả hoặc bán chăn thả thì cần phải quy hoạch, thiết kế và xây dựng đồng cỏ cho đực giống Các bãi chăn này có thể ở xa chuồng 0,5–1 km để có thể kết hợp cho đực giống vận động khi đi chăn Phải quản lý tốt trâu, bò đực giống trong quá trình chăn thả

Bãi chăn nên được phân lô để áp dụng chăn thả luân phiên, đồng thời phân lô riêng cho từng đực giống, nhóm đực giống để thuận tiện cho việc quản lý Chất lượng đồng cỏ chăn thả phải tốt, đảm bảo cung cấp cỏ xanh non cho đực giống Theo dõi, ước tính được năng suất đồng cỏ, ước tính được lượng thức ăn thu nhận của từng đực giống, cân đối với nhu cầu để xác định lượng thức ăn cần thiết phải bổ sung tại chuồng cho trâu, bò đực giống Thời gian chăn trên bãi chăn tùy thuộc vào điều kiện của từng trại chăn nuôi như: Diện tích bãi chăn, chất lượng đồng cỏ, khả năng bổ sung thức ăn tại chuồng mục đích cuối cùng là phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thức ăn cho trâu,

bò đực giống

2.1.4.3 Vận động

Vận động kết hợp với chăn thả Bãi chăn thả được thiết kế xa chuồng khoảng 1–1,5

km Khi đuổi đực giống đi chăn phải đuổi dồn nhanh, tránh đực giống la cà vừa đi vừa ăn

cỏ dọc đường

Vận động xung quanh trục quay Người ta chôn 1 cột có kích thước 20 × 20 cm,

cao 1,8 m Đỉnh cột có trục quay gắn với 2–6 đòn, ngay mỗi đầu đòn buộc một đực giống, con nọ sẽ dắt con kia đi xung quanh trục quay, mỗi buổi đực giống đi 60–80 vòng tương đương với 1,5–2 km

Vận động kết hợp với lao tác nhẹ Có thể sử dụng trâu, bò đực giống kéo xe, bừa

nhẹ, với thời gian làm việc khoảng 2–3 giờ/ngày Tuy nhiên, không được quá lạm dụng, đồng thời khi sử dụng phải thận trọng do đực giống thường rất hung dữ

Xây dựng đường vận động Thiết kế đường vận động xung quanh chuồng trại hoặc

bãi chăn với độ dài từ 1,5–2 km để hàng ngày đuổi đực giống vận động cưỡng bức trên đường riêng này

Tắm chải, gọt móng Chải là biện pháp được áp dụng nhiều trong mùa đông Trâu

bò được chải đều trên toàn thân, đầu tiên dùng bàn chải cứng quét sạch những chỗ dính đất, phân sau đó dùng bàn chải lông Tốt nhất xoa chải ở ngoài chuồng sau khi vận động, trước khi ăn Mỗi ngày chải ít nhất 1 lần sau khi vận động

Tắm: Trong những ngày nắng ấm nên tắm cho trâu bò, kết hợp với việc kỳ cọ sạch

những vết bẩn trên da Tốt nhất là dùng vòi phun hoặc có thể cho đầm tắm ở ao hồ, sông suối sạch (đối với trâu) Cần dùng vải xô lau sạch cơ quan sinh dục, tránh thô bạo, làm xây xát cơ thể đực giống

Ngâm, gọt móng chân: Đây là biện pháp kĩ thuật đặc biệt cần thiết đối với đực giống

nhằm phòng tránh hiện tượng vỡ móng, thối móng, Có thể dùng dung dịch CuSO4 để ngâm gọt móng từ 3–4 lần/năm

Trang 36

2.1.4.4 Kiểm tra sức khỏe

Việc kiểm tra sức khỏe là cần thiết để đảm bảo rằng bò đực có sức khỏe và thể trạng tốt Cần phải định kì kiểm tra khối lượng hàng tháng để kịp thời điều chỉnh khẩu phần ăn nhằm cho đực giống không bị quá gầy hoặc quá béo

Phải thực hiện đúng quy định vệ sinh phòng bệnh, tiêm phòng và diệt ký sinh trùng ngoài da Mặt khác, đực giống nên được kiểm tra một cách có hệ thống, cả quan sát lẫn thăm khám một số bộ phận quan trọng như: Mắt, răng, hàm, chân và đặc biệt là cơ quan sinh dục

Kiểm tra dáng đi Cần kiểm tra dáng đi lại của trâu, bò đực từ hai bên và từ phía

sau Bình thường, khi đi lại trâu, bò đực cần đặt bàn chân sau trùng với dấu bàn chân trước và hàng dấu chân phải thẳng khi đi tự do ngoài trời Khi nhìn từ đằng sau, những cẳng chân phải thẳng từ trên xuống và không vòng kiềng

Hiện tượng bước chân sau dài hơn hoặc ngắn hơn bước chân trước có liên quan đến năng lực phối giống của bò đực Bò đực có bước chân sau ngắn hơn bước chân trước thường có chân sau thẳng đứng như cột nhà và khó đưa dương vật vào âm đạo con cái hoặc khó khăn khi thúc tới trước để xuất tinh Những khuyết tật này kéo dài gây nên viêm khớp và giảm năng lực giao phối Móng bị vẹt chứng tỏ bò kéo lê móng thể hiện chân sau thẳng đứng như cột nhà Những chân khấp khểnh có thể do viêm khớp háng hoặc khớp khác

Kiểm tra dương vật Có thể sờ khám toàn bộ bao dịch hoàn và bao dương vật Chú

ý những bất bình thường về độ sâu bao dương vật và hiện tượng lộn bít tất của bao dương vật Những hiện tượng như bao dương vật lộn bít tất, hoặc lủng lẳng có thể cản trở việc giao phối hoặc làm cho bò đực dễ bị tổn thương

Kiểm tra dịch hoàn Sờ khám cẩn thận dịch hoàn và những bộ phận sinh dục bên

trong cơ thể bằng cách sờ nắn dịch hoàn sau khi bò đực đã cố định cẩn thận

2.1.5 SỬ DỤNG TRÂU, BÒ ĐỰC GIỐNG

2.1.5.1 Tuổi đưa vào sử dụng

Tuổi thành thục về tính ở bò đực khoảng 9–12 tháng tuổi, còn ở trâu đực khoảng 15–18 tháng tuổi Trong những điều kiện bình thường, nếu nuôi dưỡng tốt thì 18–24 tháng tuổi

ở bò đực, 30 tháng tuổi ở trâu có thể cho phối giống hoặc khai thác tinh Chỉ bắt đầu sử dụng đực giống khi khối lượng của trâu, bò đực đạt 2/3 khối lượng trưởng thành

2.1.5.2 Sử dụng đực giống cho phối giống trực tiếp

Có hai hình thức cho phối giống trực tiếp:

Nhảy phối tự do: Trâu, bò đực giống và trâu, bò cái được nuôi nhốt chung với

tỷ lệ 2–3 đực/1 đàn cái (50–80 con) Khi trâu, bò cái động dục thì trâu, bò đực tự phát hiện và nhảy phối một cách tự do, không có sự kiểm soát, quản lý hoặc điều khiển của con người

Trang 37

Ưu điểm: Tỷ lệ phối giống và sinh sản cao.

Nhược điểm:

• Thời gian khai thác trâu, bò đực giống ngắn;

• Dễ lây lan bệnh tật, không quản lý theo dõi được công tác giống;

• Dễ gây nên hiện tượng giao phối đồng huyết, cận huyết;

• Các đực giống hay đánh nhau làm ảnh hưởng đến đàn gia súc

Nhảy phối có hướng dẫn: Theo hình thức này thì con đực và con cái được nuôi

nhốt riêng, khi có trâu, bò cái động dục thì mới đưa con đực đến cho nhảy phối Phương pháp này khắc phục được những nhược điểm của phương pháp cho nhẩy phối tự do Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện động dục và phối giống sẽ thấp hơn do có sự tham gia của con người trong quá trình này

2.1.5.3 Sử dụng đực giống trong truyền giống nhân tạo

Truyền giống nhân tạo là quá trình con người tổ chức khai thác và sử dụng các dạng tinh đông lạnh (tinh viên, tinh cọng rạ) và tinh pha loãng của trâu, bò đực giống để phối giống cho con cái động dục bằng các dụng cụ chuyên dùng Đây là phương pháp truyền giống hiện đại, hiệu quả, phát huy cao nhất tiềm năng của những con đực giống tốt Tính bình quân một đực giống có khả năng phối giống cho 4.000–5.000 con cái Đây là phương pháp truyền giống được sử dụng phổ biến hiện nay Bằng phương pháp này, các dạng tinh viên, tinh cọng rạ có thể bảo quản được nhiều năm và dễ dàng vận chuyển, phát huy được phẩm chất di truyền tốt của con đực giống Tinh dịch sau khi khai thác được tiến hành kiểm tra theo các chỉ tiêu sau:

Màu sắc: Tinh dịch phải có màu trắng đục hoặc vàng ngà Nếu có màu bất thường

cần phải kiểm tra lại sức khỏe của đực giống

Dung lượng tinh dịch: Cần đạt tiêu chuẩn của giống Nếu lượng tinh giảm thấp thì

cần phải tìm hiểu rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục

Mùi: Tinh dịch trâu, bò không có mùi đặc trưng như tinh dịch lợn hoặc loài gia súc

khác, do đó nếu thấy có mùi lạ thì phải kiểm tra, tìm hiểu nguyên nhân ngay

Độ vẩn của tinh dịch: Kiểm tra trên vi trường, nếu thấy mẫu tinh có vẩn đục như

mây mù thì là mẫu tinh tốt và được đánh giá là (+++); mức trung bình (++) được đánh giá cho các mẫu tinh có mức độ vẩn ít hơn và thấp nhất là mức (+)

Nồng độ tinh trùng: Xác định bằng cách kiểm tra trên vi trường Loại đặc: Khi

mẫu tinh có tinh trùng dày đặc, không có khoảng cách giữa chúng, khó nhìn rõ từng con Loại trung bình: Mật độ tinh trùng không dày lắm có thể phân biệt từng con Loại loãng: Tinh trùng thưa thớt, từng con hoạt động riêng biệt

Hoạt lực tinh trùng được chia ra làm nhiều cấp, trong đó: Cấp 5 khi tất cả tinh trùng đều tiến thẳng, quan sát trên vi trường thì thấy như những đám mây mù chạy Cấp 4: Qua đánh giá và ước tính tỷ lệ tinh trùng tiến thẳng đạt khoảng 80% Chỉ những mẫu tinh dịch đạt từ cấp 4 và 5 thì mới được đưa vào pha chế bảo tồn và sản xuất tinh đông lạnh

Trang 38

2.2 CHĂN NUÔI TRÂU, BÒ CÁI SINH SẢN

2.2.1 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU CƠ QUAN SINH SẢN CỦA TRÂU, BÒ CÁI

Nhìn chung các loại gia súc đều có cấu tạo

giải phẫu cơ quan sinh dục cái giống nhau,

riêng đối với bò cái sinh sản, sự khác nhau

cơ bản về giải phẫu cơ quan sinh sản ở bò

cái là hình dạng của tử cung Cơ quan sinh

dục của trâu, bò cái gồm có các bộ phận:

Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung và

âm đạo

Buồng trứng Buồng trứng vừa có

chức năng nội tiết (phân tiết hormone sinh

sản: Oestrogen, Progesterol ), vừa có chức

năng ngoại tiết (sản sinh ra tế bào trứng)

Buồng trứng có hình bầu dục Khi bê, nghé mới sinh buồng trứng nặng 0,3 g, khi trưởng thành buồng trứng có hình hạt đậu, kích thước 0,8–1,2 × 2–3 cm

Cấu tạo buồng trứng gồm 2 lớp:

• Lớp vỏ: Gồm các noãn bào phát triển

ở các thời kỳ khác nhau Tầng ngoài

là những noãn bào sơ cấp nhỏ, phân

bố tương đối đều, tầng trong là các

noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng,

khi chín thì nổi dần ra ngoài

Noãn bào chín sẽ lồi lên mặt buồng

trứng, đến một giai đoạn nhất định

thì vỡ ra, trứng rụng vào loa kèn và

đi xuống ống dẫn trứng Nơi trứng

rụng sẽ hình thành thể vàng Nếu

trứng không được thụ tinh thì sau

10–15 ngày thể vàng sẽ tiêu biến

• Lớp tủy: Gồm các sợi chun, có rất nhiều mạch máu và dây thần kinh Động mạch ở

lớp tủy hình xoắn ốc

Bê cái 3–4 tháng tuổi có khoảng 75.000 noãn bào, nhưng đến 1,5–3 tháng tuổi chỉ còn khoảng 21.000 noãn bào

Ống dẫn trứng Ống dẫn trứng dài khoảng 10–30 cm, nằm gọn trong màng treo tử

cung Cấu tạo gồm 3 lớp: Màng nhầy, màng cơ và màng tương Một đầu ống dẫn trứng nối với sừng tử cung, 1 đầu tạo thành loa kèn

h ình 2.6. Cấu tạo cơ quan sinh dục cái

Trang 39

Ống dẫn trứng có chức năng như một chiếc ống để tế bào trứng di động và đồng thời cũng là nơi tế bào trứng và tinh trùng gặp nhau để tạo thành hợp tử ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng.

Tử cung Trâu, bò có tử cung đơn có 2 sừng Hai sừng tử cung có hình ống dài

30–40 cm, hơi cong, 1 đầu nối với ống dẫn trứng, 1 đầu nối với thân tử cung Sừng tử cung

là nơi thai làm tổ Ở bò sừng tử cung phải lớn hơn sừng tử cung trái và thai thường nằm

ở sừng tử cung phải

Tử cung trâu, bò được cấu tạo từ 3 lớp: Niêm mạc, màng cơ và tương mạc

Cổ tử cung Cổ tử cung ở trâu,

bò có thành rất dày, rãnh cổ tử cung rất

hẹp Ở trâu, bò cổ tử cung lồi về phía

âm đạo tạo thành 3 nếp (gọi là 3 lần hoa

nở) Kết cấu này có ý nghĩa rất quan

trọng trong việc bảo vệ thai, tránh sảy

thai, hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn

vào đường sinh dục cái Cổ tử cung chỉ

mở khi động dục, phối giống và khi đẻ,

ngoại ngừ trường hợp bệnh lý (viêm

nhiễm đường sinh dục )

Âm đạo Âm đạo là cơ quan giao

cấu hình ống dài 20–30 cm Ở âm đạo

có nhiều dịch nhờn do các tế bào niêm mạc tiết ra giúp cho quá trình giao phối được dễ dàng Bên ngoài niêm mạc là lớp cơ gồm 2 lớp cơ vòng và cơ dọc Màng ngoài cùng gồm nhiều tổ chức liên kết, có nhiều mạch máu và dây thần kinh đi qua

2.2.2 HOẠT ĐỘNG SINH DỤC Ở TRÂU, BÒ CÁI

Tuổi thành thục về tính Tuổi thành thục về tính (TTVT) là tuổi và cơ quan sinh

dục đã phát dục hoàn thiện, buồng trứng có noãn bào chín có khả năng thụ thai

Tuổi TTVT đến sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Tuổi TTVT ở bò Hà Lan là 401 ngày, bò Jersey là 359,6 ngày, bò Việt Nam động dục lần đầu lúc 15–18 tháng tuổi

Theo Bhattacharya (1954): Trâu Murrah có những dấu hiệu động hớn đầu tiên ở 34 tháng tuổi

Theo Hafez (1952): Dấu hiệu động dục lần đầu của trâu vào khoảng 2 năm tuổi, cá biệt có con động dục lúc 18 tháng

Khi mức độ dinh dưỡng thấp, tuổi TTVT thường muộn do sinh trưởng bị kìm hãm

Sự còi cọc thường đi kèm với sự thành thục về tính muộn Trâu, bò tơ thường phải đạt đến

về khối lượng nhất định mới động dục lần đầu

Chu kỳ động dục Chu kỳ động dục là khoảng thời gian giữa 2 lần động dục.

h ình 2.9. Mặt cắt dọc cổ tử cung

Vòm mù âm đạo

Lỗ cổ tử cung Nếp gấp

Trang 40

Chu kỳ động dục ở bò tơ là 19–21 ngày, bò cái trưởng thành là 21–23 ngày (bình quân

21,14±0,72 ngày, trâu Bungari

là 21 ngày, trâu Murrah là

19,3–21,4 ngày

• Song chu kỳ: 31–60 ngày

• Tam chu kỳ: 61–90 ngày

• Chu kỳ dài: >90 ngày

Trong thực tế phổ biến là các

loại song chu kỳ, tam chu kỳ và chu

kỳ dài Ở trâu Ai Cập, song chu kỳ là 43,94 ngày, tam chu kỳ là 69,28 ngày

Các biểu hiện động dục Thời kỳ động dục được chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn I (trước chịu đực): Tính từ khi trâu, bò cái bắt đầu có biểu hiện động dục

đến khi chịu đực Bộ phận sinh dục có nhiều biến đổi, âm hộ có niêm dịch trong suốt và loãng chảy ra, càng gần thời điểm chịu đực dịch chảy càng nhiều và độ keo dính cũng tăng dần lên và chuyển sang màu đục Âm hộ sưng do sung huyết, niêm mạc âm hộ màu hồng nhạt sau đó chuyển dần sang màu hồng đỏ Thời gian của giai đoạn này là 6–10 giờ (ở bò), 24,45 giờ (ở trâu)

Giai đoạn 2 (chịu đực): Niêm dịch trắng đục như hồ nếp, độ keo dính tăng, số lượng

nhiều Cuối giai đoạn này niêm dịch vẩn đục, độ keo dính kém nên thường bị dứt đoạn

Âm hộ, âm đạo màu hồng đỏ, sưng mọng, cuối giai đoạn thì giảm dần Khi bắt đầu chịu đực thì cổ tử cung hé mở 1–2 mm, sau đó là 4–5 mm Đây là thời điểm phối giống tốt nhất

Ở bò giai đoạn này kéo dài 7–12 giờ, ở trâu là 12,45 giờ

Giai đoạn 3 (cuối động dục): Tính từ khi kết thúc chịu đực đến khi con vật trở lại trạng

thái bình thường Biểu hiện động dục giảm Sau khi hết chịu đực 6–10 giờ (ở bò), 12,2 giờ (ở trâu) thì trứng rụng

Biểu hiện động dục ở trâu không mạnh bằng ở bò, khoảng 60% trâu động dục thầm lặng, khó phát hiện

Thời gian mang thai Ở bò thời gian mang thai trung bình là 280–285 ngày, ở trâu

Việt Nam trung bình là 325 ngày

Động dục trở lại sau đẻ Động dục trở lại sau đẻ thường gắn liền với sự hồi phục của

tử cung sau đẻ Trung bình 1 tháng sau đẻ có 20% bò cái động dục Khoảng 60 ngày sau khi đẻ có 75% bò cái có cơ quan sinh dục phục hồi, 75 ngày có 87% có cơ quan sinh dục phục hồi Ở bò sữa cao sản thời gian động dục trở lại là 80 ngày

h ình 2.10. Chu kỳ động dục ở bò cái

Ngày 7 Ngày 4

Ngày 1

Ngày 0 Ngày 20

Ngày 19 Ngày 18

Ngày 16

Ngày 13 Ngày 11CHU KỲ ĐỘNG DỤC

Ngày đăng: 15/08/2022, 22:51

w