Ngày nay, người ta đã ấp trứng nhân tạo hầu hết các loại trứng gia cầm và chim nuôi khác như đà điểu, chim cút… Riêng chim bồ câu, do đặc điểm của loài: quá trình đẻ trứng, ấp và nuôi co
Trang 14.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ẤP TRỨNG NHÂN TẠO
4.1.1 Lịch sử phát triển của ấp nhân tạo
Chăn nuôi gia cầm và chim thời hiện đại nếu như chỉ dựa vào ấp tự nhiên thì khôngthể đáp ứng được số lượng con giống cần thiết Vì vậy con người đã nghiên cứu, thử nghiệmtạo ra môi trường tương tự như của chim khi ấp để thay thế chúng, làm nở ra từ trứng những
cá thể mới mà không cần sự tham gia của chim bố mẹ
Từ trước Công nguyên, cách đây trên 2400 năm ở Ai Cập đã xuất hiện những trạm ấp đầutiên, có thể ấp mỗi lần tới hàng chục nghìn trứng Ở châu Á, ấp trứng nhân tạo cũng đã xuất hiện từrất sớm; ở Trung Quốc từ 250 năm trước Công nguyên Trứng được cho vào các túi nhỏ và bỏ vào
lò Để cấp nhiệt, người ta đốt than củi hoặc ủ đống phân lớn
Sự ra đời của máy ấp công nghiệp cùng với các tiến bộ về khoa học kỹ thuật đã lầnlượt giải quyết các nhược điểm của ấp thủ công, làm cho ấp nhân tạo ngày càng hoàn chỉnh,công suất tới hàng chục nghìn trứng, đảm bảo việc cung cấp con giống với số lượng lớn vàchất lượng tốt
4.1.2 Định nghĩa về ấp nhân tạo
Ấp nhân tạo là phương pháp mà con người tạo ra môi trường tương tự như của giacầm khi ấp, tác động lên trứng đã thụ tinh, làm nở ra các gia cầm con mà không cần đến sựtham gia của gia cầm bố mẹ
4.1.3 Mục đích của ấp nhân tạo
1- Thay thế chim ấp nhằm tăng khả năng sản xuất của chim mái
2- Tạo ra một số lượng lớn con giống trong một thời gian tương đối ngắn
3- Làm tăng tỷ lệ ấp nở4- Nâng cao chất lượng con giống nở ra5- Đảm bảo vệ sinh cho đàn gia cầm mới nở
Ngày nay, người ta đã ấp trứng nhân tạo hầu hết các loại trứng gia cầm và chim nuôi khác như đà điểu, chim cút… Riêng chim bồ câu, do đặc điểm của loài: quá trình đẻ trứng,
ấp và nuôi con rất đặc biệt, gắn liền với sự phát triển và hoạt động của tuyến diều của chim
bố mẹ, mớm “sữa” cho con sau khi nở… nên bắt buộc phải để cho chim bố mẹ ấp trứng tự nhiên Trong chương này, chúng tôi trình bày chủ yếu là kỹ thuật ấp trứng chim cút và đà điểu.
4.2 THU NHẶT, CHỌN VÀ BẢO QUẢN TRỨNG ẤP
4.2.1 Thu nhặt trứng và bảo quản tạm thời
Trứng đẻ ra được thu nhặt ngay sẽ đảm bảo một tỷ lệ ấp nở cao hơn vì:
- Ít có khả năng bị nhiễm khuẩn do thời gian tiếp xúc với đệm lót ổ đẻ (có phân) ngắn,hơn nữa trong vòng 2 tiếng đầu sau khi đẻ, trứng có khả năng ngăn sự xâm nhập của vi khuẩnvào bên trong trứng
- Bồ câu, đà điểu thường có phản xạ ấp ngay sau khi đẻ, nếu không nhặt trứng kịp thời
sẽ làm giảm sản lượng trứng của chim mái, đồng thời làm cho phôi trong trứng phát triểnsớm, nở không đều
Trang 24.2.2 Chuyển trứng tới trạm ấp
Tốt nhất là sau khi thu nhặt, trứng được chuyển ngay tới trạm ấp để tránh bị ô nhiễmbụi ở khu vực chăn nuôi Vì vậy nên chuyển trứng về trạm ấp tối thiểu 4 lần một ngày Nhưvậy trứng vừa sạch hơn và điều kiện bảo quản trứng ở trạm ấp cũng tốt hơn
Nếu dùng xe cơ giới vận chuyển thì khi chạy nên tránh phanh đột ngột, tránh ổ gà,tránh dừng xe lâu ở chỗ có nắng Trong mùa hè, khi nhiệt độ môi trường cao, nếu phải vậnchuyển trứng đi xa thì nên tránh đi vào những giờ nắng để trứng khỏi bị nóng, gây chết phôisớm
4.2.3 Nhận trứng và xông sát trùng
Nhận trứng
Khi trứng tới trạm ấp, tại khu vực giao nhận cần kiểm tra lại toàn bộ các khay trứng,tách riêng các trứng bẩn còn sót, các trứng bị dập, vỡ trong quá trình vận chuyển Sau khinhận, cần ghi vào sổ nhập trứng các số liệu sau: ngày, tháng, giờ nhập trứng, nguồn gốc (xuất xứ)giống dòng gia cầm, số lượng, thời gian thu nhặt
Xông sát trùng trứng
Sau khi giao nhận và loại sơ bộ trứng không đảm bảo yêu cầu vệ sinh xong, trứnggiống sẽ được đưa vào tủ xông sát trùng Tủ xông trứng là một tủ kín hoàn toàn, có giá đỡ đểxếp trứng lên mà không chồng lên nhau Kích thước của tủ tuỳ thuộc vào số lượng trứng màtrạm ấp thường nhận mỗi lần Trứng giống xếp vào các khay và đặt vào các giá đỡ bên trong
tủ Ngăn (thấp nhất) dưới cùng của tủ đặt chậu men hoặc chậu sành để đựng hoá chất xông.Tuỳ theo thể tích của tủ xông mà tính số lượng hoá chất cần thiết theo tỷ lệ 9g thuốc tím và18cc formol cho 1 m3 thể tích tủ Để xông sát trùng, trước tiên đổ lượng formol đã tính vàochậu, sau đó đổ lượng thuốc tím vào formol và đóng cửa tủ Sau 30 phút thì mở cửa tủ cho hơixông thoát hết ra Chú ý khi đổ thuốc tím vào formol phải làm nhanh nhưng nhẹ nhàng tránhbắn lên tay hoặc lên mặt vì cả hai chất này đều có thể gây cháy da
Hàng tuần vệ sinh kho bảo quản Hàng ngày bố trí hố sát trùng ở cửa ra vào Vệ sinh, khửtrùng giá để trứng bằng dung dịch Desinfectol 2,5cc/lít nước
Trứng giống đưa vào trạm ấp phải được xông, trước khi đưa vào kho bảo quản
Nếu khu chăn nuôi ở xa, không có điều kiện chuyển trứng về trạm ấp nhiều lần trongngày thì phải có kho trứng ở khu chăn nuôi Ở kho này cần có tủ xông sát trùng trứng ngaysau mỗi lần nhập trứng
4.2.4 Chọn trứng ấp
Trước khi xếp vào khay ấp, trứng giống phải được chọn lại lần cuối, loại bỏ nhữngquả không đủ tiêu chuẩn Nên tổng hợp số liệu về số lượng trứng bị thải loại theo từng nguyênnhân Ví dụ tỷ lệ hoặc số lượng trứng bị loại do: dị hình, mỏng vỏ, quá nhỏ, trứng bẩn … Khichọn trứng cần dựa vào các tiêu chuẩn sau đây:
Các chỉ tiêu bên ngoài
a/ Khối lượng trứng: tiêu chuẩn khối lượng của trứng giống thay đổi tuỳ theo giống
dòng, mục đích sử dụng cũng như tuổi của đàn chim
Vì khối lượng trứng thay đổi theo tuổi của đàn nên khoảng chọn lọc cho phép khárộng, chỉ chọn trứng có độ dao động xấp xỉ 10% so với khối lượng trung bình của đàn vàothời điểm đó
b/ Hình dáng: trứng chọn đưa vào ấp phải có hình trứng điển hình và đều màu Loại
bỏ các trứng dị hình, quá dài, quá ngắn, méo lệch, thắt lưng…
c/ Chất lượng vỏ: chỉ chọn những trứng có chất lượng vỏ tốt, cứng, nhẵn và đều màu.
Loại bỏ các trứng vỏ quá mỏng, vỏ rạn nứt hoặc sần sùi… vì các loại vỏ này sẽ dẫn đến bayhơi nước nhiều trong khi ấp, làm chết phôi hoặc cho kết quả kém
Trang 3d/ Vỏ trứng sạch: chỉ nên chọn đưa vào ấp những trứng sạch, loại bỏ các trứng bẩn, có
dính phân, có vết máu hoặc dính lòng đỏ, lòng trắng của trứng vỡ trên diện tích rộng Cần loại
bỏ các loại trứng này vì chúng là môi trường tốt cho vi khuẩn mầm bệnh phát triển
Chất lượng bên trong
Nếu có điều kiện trước khi đưa vào ấp nên soi toàn bộ số trứng để loại các trứng cóchất lượng kém
4.2.5 Bảo quản trứng trước khi ấp
Trứng giống đã được xông sát trùng nếu chưa đưa vào ấp ngay, phải đưa vào phònglạnh bảo quản
Phòng lạnh bảo quản trứng cần đảm bảo các điều kiện: nhiệt độ 150C – 180C; độ ẩmtương đối 75 -80%
- Được vệ sinh sạch sẽ hàng ngày và lau sát trùng bằng crezin 3% và formol 2%
- Có trang bị các giá đỡ để xếp các khay trứng lên trên, không đặt trực tiếp xuống sàn
Trong mọi điều kiện, không nên bảo quản trứng ấp quá một tuần vì từ 10 ngày trở đi
tỷ lệ ấp nở sẽ giảm đi rất nhiều sau mỗi ngày bảo quản
4.3 ẤP VÀ VẬN CHUYỂN CHIM NON
4.3.1 Đưa trứng vào máy ấp
Đây là một quá trình bao gồm các bước: chuẩn bị máy ấp, chuẩn bị trứng ấp và đưavào máy ấp, gọi là “vào trứng”
Chuẩn bị máy ấp
Trước khi cho trứng vào ấp, máy ấp cần được kiểm tra cẩn thận từng bộ phận để tránh
bị hỏng hóc khi đang chạy
Chuẩn bị trứng ấp
Trứng đưa vào ấp phải được lấy ra khỏi phòng lạnh bảo quản trước 8 tiếng để trứngnóng dần lên bằng nhiệt độ môi trường và khô dần Trước khi vào trứng phải kiểm tra lại cáckhay trứng ấp, loại bỏ trứng dập, vỡ
4.3.2 Chuyển trứng từ máy ấp sang máy nở
Sau khi trứng đã ấp được 15 ngày với chim cút, 40 ngày với đà điểu thì chuyển trứng sangmáy nở Cố gắng làm nhanh gọn trong thời gian ngắn nhất có thể Cần cẩn thận, nhẹ nhàng vì vỏtrứng giai đoạn này rất giòn, dễ vỡ
Trong thời gian máy chạy thử cần chỉnh nhiệt độ của máy cho thật chính xác Khi bắtđầu chuyển trứng thì tắt công tắc không cho bộ phận tạo ẩm làm việc
Soi loại trứng hỏng và chuyển trứng ấp sang khay nở
Trước khi đưa trứng vào máy nở, người ta soi loại các trứng không phôi, chết phôi,trứng dập …
b.Đưa trứng vào máy nở
Tất cả mọi thao tác phải làm từ từ, nhẹ nhàng Trước khi cầm khay lên tốt nhất nêndồn hết trứng về một đầu khay và cầm hơi nghiêng về phía đó để trứng khỏi lăn va vào nhau.Nếu không dồn trứng về một phía thì phải cầm khay thật cân bằng
Trang 4- Sau khi đã chuyển hết trứng vào máy nở, đóng cửa máy và lỗ thoát khí cho nhiệttăng lên.
- Theo dõi nhiệt độ của máy nở Khi máy đạt nhiệt độ yêu cầu thì cho bộ phận tạo ẩmhoạt động trở lại
- Khi máy đạt cả nhiệt độ và độ ẩm theo yêu cầu, phải tiến hành xông sát trùng chomáy nở có trứng Liều lượng xông là 9g thuốc tím, 18cc formol/1m3 và xông trong 20 phút
Hết thời gian xông phải mở cửa máy và lỗ thoát khí để hơi xông thoát ra hết rồi mớiđóng cửa lại
Chú ý trong trường hợp khi chuyển trứng sang máy nở mà đã có khoảng 10% số trứng(hoặc hơn đã mổ vỏ) thì không được xông sát trùng nữa
4.3.3 Lấy chim con ra khỏi máy nở
Công việc này trong ngành gọi là ra chim Để ra chim, phải chuẩn bị trước một sốdụng cụ và điều kiện cần thiết
Lấy chim ra khỏi máy
- Tắt công tắc cho bộ phận tạo ẩm ngừng hoạt động Nếu mùa đông thì có thể tắt máycòn mùa hè thì nên cho máy chạy và cắt nhiệt để đảm bảo thông thoáng
- Lần lượt rút từng khay nở từ dưới lên trên ra khỏi máy và đặt lên bàn chọn
- Lấy chim ra khỏi khay từng 5 con một (một tay bắt hai con, tay kia bắt ba con) Khibắt chọn những con khoẻ mạnh bắt trước và bỏ vào mỗi ngăn hộp 100 con
- Trước khi thả chim vào hộp, phải quan sát kỹ các bộ phận của chim như lông, mỏ,mắt, chân và lật chim lên để xem rốn có khép kín không Loại bỏ những con có khuyết tật nhưkhoèo chân, hở rốn, mỏ vẹo, mù mắt … xuống gầm bàn
- Nên theo dõi kết quả chi tiết của từng khay và ghi vào biểu: số khay, số trứng không
nở, số chim loại I, loại II
- Khi hộp chim đã đủ 100 con thì đậy nắp lại và ghi các số liệu cần thiết vào nhãn hộp chimcon (dán ở nắp hộp) Các số liệu này gồm: tên trạm ấp, số lượng chim, chim con thuộc giống, dòng,ngày nở, người chọn chim, người chọn trống mái (nếu có) và đã tiêm chủng gì chưa
Phân loại chim con
Khi chọn chim đưa vào hộp xuất đi phải dựa vào các tiêu chuẩn sau để phân loại loại
I và loại II
Tiêu chuẩn chim loại I:
+ Chân đứng vững, thẳng, nhanh nhẹn, các ngón chân thẳng không cong vẹo
+ Mắt tròn, sáng
+ Lông đều, bông, khô, sạch Màu lông đúng màu chuẩn của giống dòng
+ Mỏ lành lặn, đều, không bị lệch, vẹo, dị hình
+ Rốn khô và khép kín, không bị viêm
+ Bụng thon, mềm
+ Khối lượng phải đạt trung bình của giống
Tất cả con không đạt một trong các tiêu chuẩn trên là loại II
- Chim đủ tiêu chuẩn giống thì bỏ vào hộp đựng loại I, đậy nắp và điền mọi số liệu vàomác hộp
4.3.4 Tiêm chủng và bảo quản chim con mới nở
Thông thường sau khi phân loại, chim con loại I được chuyển sang phòng tiêm chủng và bảoquản chim con trước khi xuất đi
4.3.5 Vận chuyển chim con
Những yêu cầu tối thiểu của xe chở chim con
- Xe phải được cọ rửa, vệ sinh sạch sẽ và phun formol 2% trước khi dùng
- Xe phải có bộ phận giảm sóc tốt
Trang 5- Thùng xe phải có mui và thành bao quanh Mặt trước của thùng xe cần có cửa thônggió có thể điều chỉnh độ mở được, nếu không tối thiểu phải có bạt.
- Sàn xe phải có nhiệt độ tốt và kín để tránh khói, hơi nóng, bụi, nước từ gầm xe bốc lên
- Có giá đỡ để xếp các hộp chim con
4.4 KIỂM TRA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÔI TRONG QUÁ TRÌNH ẤP
4.4.1 Kiểm tra khi chim nở và đánh giá chất lượng chim nở
Khi lấy chim ra khỏi máy trước tiên cần quan sát màu của vỏ trứng còn trong khay
Vỏ trứng sạch không có vết bẩn màu xanh hoặc nâu chứng tỏ chim nở tốt, rốn khép kín.Ngược lại vỏ trứng trông nhem nhuốc, mang nhiều viết bẩn màu xanh, nâu, đỏ, vàng và dínhthì chắc chắn có nhiều trứng không nở Chim con nở ra lông dính bết, yếu, rốn hở nhiều
Qua vết mổ vỏ và kích thước của mảnh vỏ trứng cũng có thể đánh giá một phần chế
độ ấp đã được sử dụng vì nó chỉ vị trí phôi nằm và độ bay hơi nước của trứng
Cuối cùng phải giải phẫu các trứng có phôi chết không nở ở trong khay để xác địnhnguyên nhân, tìm cách khắc phục trong các đợt ấp tiếp theo và ghi kết quả vào biểu
4.4.2 Kiểm tra độ giảm khối lượng của trứng trong quá trình ấp
Đặc biệt trong khi ấp cần theo dõi và kiểm soát được độ bay hơi nước từ trứng Trongsuốt quá trình ấp cho tới lúc nở, trứng giảm từ 11 - 13% khối lượng Tuy nhiên không thể chỉchú trọng tới độ giảm khối lượng chung của cả quá trình ấp bởi vì độ giảm khối lượng trứngtrong từng giai đoạn mang ý nghĩa rất khác nhau
Tỷ lệ giảm khối lượng bình quân không nên vượt quá 14%
4.4.3 Theo dõi độ dài của quá trình ấp
Trứng đồng đều về kích thước và chất lượng sinh học tốt thì chim nở sẽ rất đồng loạt
Độ dài của quá trình ấp khi đó sẽ phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất của phôi
Quá trình nở bắt đầu khi trong khay nở xuất hiện những chim con đầu tiên Nở rộ làkhoảng thời gian mà xấp xỉ 70 – 80% số trứng cùng nở Kết thúc quá trình nở là khi có thể lấy
ra khỏi máy nở những con con khoẻ mạnh, lành lặn cuối cùng mà không cần phải tác động đểgiúp chúng tách vỏ ra ngoài
Muốn theo dõi và sử dụng chỉ số này nên đưa các lô trứng vào ấp cùng một giờ nhấtđịnh Ví dụ tất cả các lô ấp đều vào trứng lúc 3 giờ sáng
Khi kiểm tra độ dài của quá trình ấp, cần xét đến một số điều kiện bên ngoài để xêdịch khoảng thời gian chuẩn:
- Độ dài quá trình ấp của tất cả các loài trong mùa đông dài hơn một chút so với mùaxuân và mùa hè
- Trong cùng một nhóm trứng thì trứng to nở chậm hơn trứng nhỏ
- Trứng bảo quản càng lâu thì ấp nở càng muộn
Nếu trứng có chất lượng tốt thì khi vào ấp phôi sẽ phát triển tốt và đồng đều Các cơquan hình thành đúng thời gian và hoạt động tích cực sẽ giúp cho chim nở đúng thời gian và
có chất lượng tốt
4.5 ẤP TRỨNG CHIM CÚT
Vì chim cút có nguồn gốc từ bộ gà (galliformes), gị trĩ (Phasinidae), nên có cấu tạo trứngtương tự như của gà, do đó quá trình ấp trứng chim cút tưng tự như ấp trứng gà
Tuy vậy, khi ấp trứng chim cút, cần chú ý một số điểm sau đây:
Thời gian ấp của chim cút là 17 ngày
Khối lượng trứng trung bình là 10-15 g; có màu đốm nâu (nên khó soi khi ấp), vỏ rấtmỏng, nên dễ nở, chim sẽ nở đồng loạt vào cuối ngày ấp thứ 17 Chuyển trứng sang máy nởvào ngày 15 Nhiệt độ ấp thấp hơn so với trứng gà 0,5-0,8oC, tức là chỉ 37,0 – 37,2oC Vì khối
Trang 6lượng trứng nhỏ nên lượng thông khí cũng thấp hơn trứng, quạt gió tốc độ nhỏ hơn khi ấptrứng gà Đặc biệt, khi chuyển trứng sang máy nở, phải đóng kín phòng, tránh mất nhiệt.Khi trứng sang máy nở, mỗi ngày lấy tay xoa đều lên trứng 2-3 lần để kích thích nở
4.6 ẤP TRỨNG ĐÀ ĐIỂU
Hiện nay, kinh nghiệm cùng những hiểu biết về ấp trứng đà điểu còn rất hạn chế sovới các loại gia cầm khác do nghề chăn nuôi đà điểu còn rất mới, đầu tiên, người ta dùng quytrình ấp trứng gà để ấp trứng đà điểu và nhận thấy nhiệt độ và ẩm độ khi ấp trứng gà quá caođối với trứng đà điểu Nhờ những thành công trong nghiên cứu và kỹ thuật, đến nay việc ấptrứng đà điểu đã có nhiều tiến bộ, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi loài động vật này pháttriển nhanh hơn Sau đây là kỹ thuật ấp trứng đà điểu
4.6.1 Thu nhặt và chọn trứng ấp
Trứng đà điểu nên được thu nhặt hàng ngày (tốt nhất là ngay khi chim đẻ, người côngnhân đã phải nhẹ nhàng thu lấy để tránh cho vỏ trứng tiếp xúc với đất, cát và phân ), sau đó,tẩy trùng rồi chuyển vào phòng bảo quản cho đến khi đưa vào ấp Đảm bảo vệ sinh có ý nghĩahết sức quan trọng Vi khuẩn và nấm có thể dễ dàng xâm nhập vào bên trong trứng, trong điềukiện lý tưởng về nhiệt độ và độ ẩm trong máy ấp, chúng phát triển nhanh, phá hủy trứng, dẫnđến kết quả nở thấp
Về cơ bản, chọn trứng ấp được tiến hành ngay sau khi thu nhặt trứng trong suốt quátrình bảo quản
Tiêu chuẩn trứng đà điểu ấp ở châu Âu như sau:
-Không có biểu hiện bất thường: quá to, quá nhỏ, tròn quá, dài quá, vỏ mỏng, bẩn, có
dị tật
- Khối lượng tối ưu: 1.200 - 1.800 g;
- Độ dày vỏ tối ưu: 1,4 - 2,1 mm;
- Vỏ sạch, bóng không thô;
- Buồng khí nằm ở đầu tù của trứng;
- Độ cao của buồng khí: 1,2 - 1,5 cm (buồng khí không chuyển động và nằm ở đầu to)
4.6.2 Vận chuyển và bảo quản trứng ấp
Vận chuyển trứng phải chống xóc tốt để không làm đứt dây chằng hoặc lòng đỏ bịlệch ra khỏi vị trí trung tâm
Sau khi nhặt trứng và đưa vào phòng bảo quản, trứng phải được kiểm tra cẩn thận,trong trường hợp nghi ngờ, phải soi để loại trứng nứt, vỡ
Tẩy trùng - thường sử dụng hơi formaldehyde trong phòng kín Đối với mỗi 1m3buồng khí, pha 17 g KMnO4, 25 ml formol 40% và 21 ml nước, tiến hành trong điều kiệnnhiệt độ 20 - 250C và không quá 20 phút
Trứng cũng có thể được diệt nấm bằng cách nhúng vào dung dịch virkon hòa tantrong vài giây theo hướng dẫn của nhà sản xuất Sử dụng tia UV cũng cho kết quả tốt nhưngchi tiết về phương pháp này vẫn chưa biết chính xác Đôi khi trứng được tẩy rửa trong dungdịch nhiều chất sát trùng, tuy nhiên, phương pháp này còn rất nhiều tranh cãi Theo 1 số ngườichăn nuôi, rửa vỏ trứng khiến các vi sinh vật xâm nhập vào bên trong trứng (Laing vàStewast ) Trứng bẩn nhưng khô có thể lau bằng giẻ nhúng vào dung dịch KMnO4 (khoảng0,3 g/1 lít nước)
Theo Kreibich và Sommer, nếu tẩy trùng trứng theo phương pháp hóa học “ướt” thìphải tuân thủ các điều kiện sau:
1 Trứng bẩn phải được lau rửa cẩn thận bằng giẻ hoặc chổi sạch Trứng quá bẩnkhông nên đưa vào ấp bởi vì chúng có thể truyền vi sinh vật có hại sang những quả khác
2 Nhiệt độ dung dịch tẩy trùng phải vượt quá nhiệt độ của trứng khoảng 5
-100C
Trang 73 Một liều chất tẩy rửa có thể chỉ dùng để tẩy rửa 1 quả, sau đó vứt bỏ găng taycao su và giẻ rửa đi.
4 Ngay sau khi tẩy trùng, trứng phải được rửa qua bằng nước xối rồi cẩn thận đểkhô - tốt hơn nên để trong phòng sạch, ấm
5 Trong quá trình tẩy rửa, không được phép đột ngột thay đổi nhiệt độ phòng.Sau khi tẩy rửa, trứng được đặt lên giá gỗ, không được chạm vào nhau Mỗi lần, tẩy 40 -
50 quả rồi chuyển ngay vào máy ấp ngay trong ngày, nếu để sang ngày hôm sau, lại phải tẩytrùng lại trước khi đưa vào ấp Những nghiên cứu cho thấy tẩy trùng trứng 1 - 2 lần không ảnhhưởng đến tỷ lệ nở
4.6.3 Bảo quản trứng trước khi đưa vào máy ấp
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản trứng đến kết quả ấp nở
Khử trừng máy ấp, nhà ấp như đã trình bày ở phần trên
Chuẩn bị trứng ấp thường bắt đầu bằng việc phân loại theo khối lượng và hình dạngtrứng Những trứng có cùng kích cỡ và hình dạng được đặt chung trong 1 khay trong máy ấp
Trước khi đưa vào máy ấp, trứng phải được cân và tẩy trùng 1 lần nữa (sử dụng 1/2 sốlượng liều lượng formol nêu trên và 1/4 KMnO4/1 m3 phòng khí)
Trang 8Horbanczuk cho rằng, có thể bảo quản ở nhiệt độ 150C trong thời gian 7 ngày hoặc íthơn Tuy nhiên, trên thực tế, khi số lượng trứng ít thì thời gian bảo quản có thể kéo dài đến 12ngày.
Bảng 4.2 Kết quả ấp trứng đà điểu bảo quản không quá 7 ngày với ẩm độ
70 - 75% ở các mức nhiệt độ bảo quản khác nhau
* Liên quan đến tất cả phôi sống đến ngày ấp thứ 35.
Nguồn: J.O Horbanczuk, 2002
Ẩm độ: kho nên có ẩm độ từ 70 - 75% (tương tự các loài gia cầm khác), nhiệt độ khonên ở mức 15- 200C, thời gian bảo quản không quá 4 ngày
Trước khi vào ấp, trứng phải để 20 - 24 giờ ở nhiệt độ phòng (250C) nhằm cho trứng
nở đều
4.6.4 Nhiệt độ ấp trứng
Theo Deeming và cs (2003), thân nhiệt đà điểu thấp hơn của gà, trung bình chỉ 39,2 oCnên nhiệt độ ấp trứng đà điểu trung bình cũng thấp hơn ấp trứng gà khoảng 1oC
Nhiệt độ mà phôi bắt đầu phân chia (“điểm zero sinh lý”) là 210C
Horbanczuk (2002), đã chỉ ra rằng, kết quả nở tốt nhất ở nhiệt độ ấp là 36,4 - 36,60C.Schalkwyk và cs cho rằng, tỷ lệ nở khi ấp trứng đà điểu tốt nhất ở là 360C và ẩm độ tương đối
là 28% Tỷ lệ nở rất kém khi ấp ở 350C Tại 1 trong những trang trại châu Âu, người ta đã ghinhận rằng khi ấp 48 quả ở 38,40C thì chỉ có 2 con nở ra nhưng rất yếu
Trang 9Bảng 4.3 Sự giảm khối lượng trứng đà điểu liên quan đến nhiệt độ ấp
Thời gian mổ ngoài (giờ) 985 999 1.013 1.039
vì vậy, ẩm độ khi ấp phải rất thấp để làm tăng quá trình thoát hơi nước từ trứng, ẩm độ tươngđối tối ưu vào 20 đến 30%, thấp hơn so với nandu, tương tự emu (không quá 35%)
Trang 10Bảng 4.4 Kết quả ấp trứng đà điểu liên quan đến ẩm độ tương đối
Bảng trên cho thấy, ẩm độ 30 % cho tỷ lệ nở cao nhất
Bảng 4.5 Một số thông số về trứng và ấp trứng của một số loại đà điểu
Trang 11Bảng 4.6 Kết quả ấp trứng đà điểu liên quan đến vị trí đặt trứng
Trang 12Bảng trên cho thấy, đảo 1 giờ/lần cho tỷ lệ nở cao nhất.
Olsen (2002), đếm được gà mái đảo trứng đến 96 lần trong 24 tiếng, cho dù chỉ cầnđảo 1giờ 1 lần là đủ Sau khi làm thí nghiệm, Horbanczuk (2002) kết luận: đảo 1- 2 giờ/lần sẽcho tỷ lệ nở tốt nhất, giảm số phôi nằm sai vị trí
Lượng khí trong máy ấp và độ thông thoáng
Cũng như phôi chim khác, phôi đà điểu trao đổi chất rất mạnh và cần rất nhiều oxy.Lượng khí trong máy ấp nên tương đương với bầu không khí thông thường của môi trường-21% oxy và 0,03% CO2 (không nên vượt quá 0,5% - như trứng gà)
Chuyển trứng sang máy nở
Nên tiến hành vào ngày ấp thứ 35-39 Trứng được đưa vào trong túi nhựa, đậy nắp vàđặt nằm ngang Trong máy nở, không được đảo trứng, nhiệt độ thấp hơn 0,4 - 0,50C, ẩm độtương đối là 45 - 55% Sau khi con đầu tiên nở thì nâng ẩm độ tương đối lên 65 - 70%
Thời gian ấp và thời điểm nở
Thời gian ấp trứng đà điểu kéo dài trung bình 42 ngày, sớm nhất (theo Deeming) là 39ngày, đa số vào 41 – 42, rải rác 43 – 44 ngày Thời gian ấp chủ yếu liên quan đến nhiệt độ
Hạ nhiệt độ 10C sẽ kéo dài thời gian ấp 2 - 2,5 ngày; ở emu thậm chí 5 - 6 ngày
Hình 3.3: Trứng đà điểu trong máy ấp
Trong các nghiên cứu của Deeming và Ayres, từ khi đưa trứng vào máy ấp cho đếnkhi chim mổ vỏ ngoài là 998 giờ và tổng thời gian ấp trung bình là 1.021 giờ, thời gian nở kéodài trung bình 23 giờ
Laing chỉ ra rằng, trứng nặng (trên 1.900 g) sẽ nở muộn hơn Nếu độ dày vỏ trứngvượt quá 2,1 mm thì tỷ lệ nở sẽ kém hơn
Vị trí phôi trong trứng
Phôi đà điểu có vị trí phù hợp là: đầu nằm trên ngón chân, phần trên của mỏ chạm vào chânphải, vị trí đó phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện ấp
Trang 13Đà điểu nở là 1 quá tình phức tạp Đầu tiên, nó đưa đầu và cổ về đằng sau, thân căng
ra, chân phải đưa về đằng trước, bằng 1 cú ”đá ” bất ngờ của chân phải, với sự giúp đỡ của
mỏ, chim đục thủng 1 lỗ có đường kính 20 - 60 mm, sau đó, con non cố gắng chui ra ngoài vỏđồng thời với sự trợ giúp của chân phải và mỏ
Các trường hợp phôi đà điểu nằm sai vị trí điển hình:
I Phôi nằm theo chiều dọc (đúng) nhưng mỏ lại hướng về chân trái
II Phôi nằm theo chiều dọc (đúng) đầu phôi lại hướng về phía đầu nhỏ của trứng.Sai vị trí (II) là trường hợp thường gặp nhất Trong trường hợp đó, chim thường khôngphá được vỏ ở đầu nhỏ (do vùng này có vỏ quá dày) Trong 1 số trường hợp, con non cũng cốgắng phá vỏ bằng chân phải ở phần dưới đường xích đạo của trứng; nếu thai gà nằm ở vị trínày thì chỉ nở được 25%
Phôi nằm sai vị trí do các yếu tố di truyền và kỹ thuật ấp không tốt, chủ yếu là nhiệt độ và ẩm độ
4.6.7 Quá trình phát triển phôi
Ngày 0/1 Khi soi trứng có phôi ta có thể thấy 1 khối đồng nhất với một khoảng xẫm ở
phần trên, buồng khí ở đầu to của trứng Nếu mở vỏ trứng, thấy đĩa phôi nằm trên bề mặt lòng
đỏ có hình 1 chiếc đĩa tròn, đường kính 6 mm Độ cao của buồng khí là 20 - 30 mm, chiếm5% thể tích trứng
Ngày 4 Các mạch máu phát triển tốt.
Ngày 5/6 Có dấu hiệu đầu tiên của tim dưới dạng mạch máu co bóp.
Ngày 7 1/5 phía trên của trứng xẫm hơn Hệ thống mạch máu xuất hiện với 1 vòng
xẫm, đường kính 45 mm Phôi dài 1 cm, chuyển sang hướng trái Bắt đầu xuất hiện chi.Buồng khí chiếm 7 - 8% trứng
Ngày 8 Xuất hiện mắt.
Ngày 14 1/3 phía trên của trứng tối xẫm Phôi bị uốn thành 1“vệt hình chữ S” Hệ
thống mạch máu xuất hiện rõ cùng với túi màng ối bao lấy phôi Hình thành các cơ quan nộitạng, mỏ, phôi dài 3 cm, nặng 2,8 g
Ngày 21 1/2 quả trứng thành màu xẫm Mỏ cứng lại Thân phôi bắt đầu được lông che
phủ Buồng khí chiếm 15 - 16% trứng Phôi dài 8,5 cm, nặng 18 g
Ngày 28 Một bóng xẫm bao xung quanh buồng khí Lông đã nhìn thấy rõ Móng bắt
đầu hình thành trên ngón Phôi xoay và nằm dọc theo chiều dài trứng Buồng khí chiếm 20%trứng Phôi dài 15 cm và nặng 150 g
Ngày 35 Toàn bộ trứng, ngoài buồng khí, có màu xẫm Lòng trắng đã được sử dụng
hết và túi lòng đỏ được hút vào trong xoang bụng Con non xoay cổ về bên phải và đặt đầuvào dưới cách, mỏ chạm vào chân phải; hướng về buồng khí Buồng khí chiếm 20 - 22% thểtích trứng Phôi dài 23 cm và nặng khoảng 250 g
Ngày 42 Sau khi dùng mỏ phá vỡ màng vỏ, chim chuyển từ thở bằng màng sang thở
bằng phổi Buồng khí chiếm 30% thể tích trứng 12 - 24 tiếng sau khi phá vỡ màng (mổtrong), thì phôi sẽ phá vỡ vỏ (mổ ngoài) bằng mỏ và sức mạnh của toàn bộ cơ thể
Con non mới nở nặng từ 850 - 1.100 g
Sau khi cân, cần sát trùng rốn chim bằng dung dịch iodine 7%, khi chuyển chúng sangnhà úm, sát trùng lại lần nữa
Phân loại
Allwright (2002) phân biệt 4 loại đà điểu non như sau:
- Những con nở tự nhiên, không cần giúp
- Những con phá vỏ nhưng không thể thoát ra ngoài nếu không được giúp
- Những con không phá được vỏ và cần phải giúp nở
- Những con bị khiếm khuyết hoặc khối lượng nhỏ hơn 700 g
Mỗi nhóm cần được nuôi riêng
Trang 14Nhiệm vụ tiếp theo là phân biệt giới tính: lộn lỗ huyệt ra, con đực có dương vật hìnhchóp nón và màu đỏ còn con mái xẹp hơn, cạnh hơi dẹt và có màu nhạt hơn
Để xác định được giới tính con non cần phải có nhiều kinh nghiệm Trong các trangtrại châu Âu, việc này được tiến hành khi con non được 2 - 3 tuần tuổi, dương vật lúc đó đãdài 1,5 cm và phân biệt dễ dàng hơn
4.6.8 Giúp nở
Vấn đề có nên giúp hay không giúp con non khi nở đã có 2 ý kiến: ủng hộ và phảnđối Theo nhóm thứ 1, giúp nở là không thể thiếu được nhằm nâng cao tỷ lệ nở, trong khinhững người phản đối lại cho rằng tỷ lệ con non được giúp nở sống được là rất thấp Dựa trênnhững nghiên cứu, Horbanczuk cho rằng nên giúp nở trong những trường hợp sau:
- Nếu từ thời điểm phá màng vỏ (mổ trong) trong 24 tiếng sau đó mà con non khôngthể phá vỡ vỏ, nên dùng khoan mở 1 lỗ có đường kính 1 - 2 cm;
- Nếu sau khi đã phá vỏ (mổ ngoài) mà sau 24 giờ, con non vẫn không ra được, dùngbúa đập nhẹ vỏ xung quanh đường xích đạo, cho đến khi xuất hiện những vết rạn nhỏ, bỏ tất
cả các mảnh vỏ vỡ;
- Tất cả trứng không nở vào ngày ấp thứ 42 - 43 đều phải mở vỏ
Bảng 4.8 Số lượng và tỷ lệ % con non nằm sai vị trí nở được giúp nở và không giúp nở
Nguồn: J.O Horbanczuk, 2002
4.6.9 Phân tích sinh học về quá trình ấp nở
Trứng đà điểu được soi 3 lần, vào ngày ấp thứ 14, 28 và 39 Ta dùng đèn thông thường
để soi trứng đà điểu, hoặc là loại Ovolux hoặc đèn halogen (Pas Reform MR 16 - 12V)
Cân trứng (tiến hành luôn khi soi trứng) nhằm xác định được tỷ lệ giảm khối lượngtheo từng giai đoạn ấp, vì vậy xác định được nhiệt độ và ẩm độ Để làm được điều này thìtrước khi đưa trứng vào ấp, phải cân trứng và ghi khối lượng trứng lên bề mặt vỏ trứng TheoKreibich và Sommer (2005), khối lượng trứng nên giảm từ 2,4 - 2,5%/tuần, nhưng tổng sốkhông được quá 5% Khối lượng trứng giảm trong quá tình ấp có thể dao động từ 12,5 - 15%.Dựa vào khối lượng trứng giảm mà điều chỉnh ẩm độ bên trong máy ấp
Bảng 4.9 Sự giảm khối lượng trứng trong các giai đoạn ấp
Ngày ấp Tỷ lệ giảm so với khối lượng ban đầu (%)
Trang 15Đồ thị 3.1 Sự giảm khối lượng trứng đà điểu khi ấp
Mổ khám: giải phẫu những quả chết phôi hoặc không nở để đánh giá tuổi phôi Dothiếu những dữ liệu nghiên cứu trên phôi đà điểu nên công tác đánh giá độ tuổi phôi chết phảidựa vào các dữ liệu nghiên cứu trên phôi gà Ở gà, thời gian ấp kéo dài 21 ngày và ở đà điểu
là gấp đôi - 42 ngày Vì vậy, ta có thể giả định rằng 1 ngày phát triển phôi gà tương đương với
2 ngày phát triển phôi đà điểu Với những điều chỉnh nhất định, phương pháp xác định tuổiphôi chết là có thể chấp nhận được
Có 2 thời điểm có tỷ lệ chết phôi cao nhất: ngày ấp thứ 6 và 35, khi phôi tìm vị trí phùhợp để nở, đây là giai đoạn nhạy cảm nhất khi xảy ra sự thay đổi quan trọng: chuyển từ thởbằng màng thai sang thở bằng phổi, túi lòng đỏ lọt vào bụng, da “hàn khẩu” lại và cuối cùng
là chim phá vỡ vỏ ra ngoài
4.6.10 Chế độ ấp trứng đà điểu và chim cút
Hiện nay, ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới ta cũng có thể tìm thấy được máy ấp trứng đàđiểu với nhiều loại nhãn mác khác nhau: PasReform, Nature Form, Masalles hoặc Prohatch.Vận hành máy ấp chỉ đơn giản là bật nút khởi động lên rồi kiểm soát trong quá trình ấp, mọiquá trình diễn ra tự động theo chương trình đã được cài đặt sẵn Tuy vậy, không thể thiếu kiếnthức và kinh nghiệm của người điều khiển
(*)Nguồn: Giáo trình Chăn nuôi gia cầm, ĐHNN Hà Nội, 2009
Bảng 4.11 Thời gian soi trứng đà điểu và chim cút khi ấp
Loại trứng Ngày soi lần 1 Ngày soi lần 2 Ngày soi lần 3
Trang 16Bảng 4.12 Các thời điểm nở của trứng đà điểu và chim cút khi ấp
Loại trứng Ngày bắt đầu mổ vỏ Ngày nở rộ Ngày kết thúc nở
4.6.11.Một số kết quả nghiên cứu về ấp trứng đà điểu ở Việt Nam (*)
Bảng 4.13 Một số kết quả nghiên cứu về cấu tạo trứng đà điểu
(*) Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương, Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2007
Bảng 4.14 Một số kết quả nghiên cứu về chế độ ấp trứng đà điểu
(*) Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương, viện Chăn nuôi Quốc gia, 2007
Chú ý: trứng từ phòng bảo quản, trước khi đưa vào ấp, cần nâng nhiệt độ lên 30, 35đến 38oC ứng với thời gian từ 0-8; 8-16 và 16-24 giờ sẽ cho kết quả ấp nở cao
Trang 17Tổng hợp một số biện pháp nâng cao tỷ lệ ấp nở của trứng đà điểu.
Từ thực tiễn chăn nuôi đà điểu, các nhà chăn nuôi nhận thấy:
1 Chất lượng bột cỏ hay cỏ tươi trong khẩu phần cho đà điểu sinh sản có ý nghĩa quantrọng Việc bổ sung bột cỏ, thức ăn xanh chất lượng tốt và hỗn hợp bột ngũ cốc làm tăng tỷ lệtrứng có phôi
2 Vận chuyển trứng từ chuồng nuôi chim sinh sản đến kho và máy ấp cẩn thận sẽ làmgiảm tỷ lệ chết phôi sớm
3 Chỉ nên bảo quản trứng dưới một tuần ở nhiệt độ dưới 180C, 140C nếu bảo quản dàingày; phải để trứng ở nhiệt độ phòng một ngày trước khi ấp
4 Độ ẩm kho bảo quản nên là 60 – 70%
5 Cần soi trứng để phát hiện và loại bỏ trứng không phôi, chết phôi
6 Nên xếp trứng nghiêng hoặc đứng trong khay ấp
7 Máy ấp trứng cần hiện đại và hoàn chỉnh, tránh phát sinh sự cố khi ấp
8 Cần theo dõi cá thể, loại thải kịp thời những con mái đẻ trứng có chất lượng kém.Con lai giữa đà điểu Úc và giống ngoại có thể làm tăng tỷ lệ ấp
9 Tỷ lệ nở có thể tăng ít nhất 10% khi có ẩm độ tốt trong máy ấp
12 Trứng có khối lượng trên 1200g là tốt nhất
13 Độ thông khí có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong suốt quá trình ấp
Trang 18Chương V
CHUỒNG TRẠI,THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ CHĂN NUÔI CHIM
5.1 CÁC PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI CHIM
5.1.1 Phương thức nuôi công nghiệp (thâm canh)
Đó là phương thức chăn nuôi hoàn toàn trong chuồng kín (nền hay lồng) với tiểu khíhậu và thức ăn nhân tạo Chim sống hoàn toàn cách ly với điều kiện tự nhiên
Kiểu nuôi này thích hợp với chim cút, vì chúng đã được thuần hóa cao độ, gần nhưmất hết các bản tính tự nhiên như kiếm mồi, ấp trứng
Ưu điểm: dễ quản lý, chăm sóc, dễ phòng dịch, cho năng suất cao
Nhược điểm: đầu tư ban đầu tốn kém
5.1.2 Nuôi bán công nghiệp (bán thâm canh)
Là hình thức kết hợp giữa chăn nuôi công nghiệp và chăn thả tự nhiên Phương thứcnày rất thích hợp với nuôi đà điểu, do đặc tính hoang dã của chúng Người ta cũng áp dụngkhi nuôi chim bồ câu kết hợp giữa nuôi nhốt, cho ăn thêm với chăn thả để chim tự kiếm mồi
5.1.3 Nuôi quảng canh
Là phương thức hoàn toàn chăn thả tự nhiên, tận dụng Chủ yếu chăn nuôi chim bồcâu trong nông hộ
5.2 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỐI VỚI CHUỒNG TRẠI CHĂN NUÔI CHIM
5.2.1 Yêu cầu chung
+ Địa điểm xây dựng cần có địa hình tương đối bằng phẳng, dễ thoát nước, xa ao hồ,sông ngòi, thuộc vùng khí hậu tương đối điều hoà, lượng mưa thấp, nằm trong khu vực đấtkém giá trị về trồng trọt Gần đường giao thông lớn để có thể vận chuyển thức ăn và tiêu thụsản phẩm Không quá gần chợ, các khu dân cư cũng như các cơ sở chăn nuôi khác Cách xanhững nơi ồn ào, nhiều tiếng động như nhà máy, đường xe lửa…
Đặc biệt là chuồng phải yên tĩnh Các đối tượng chăn nuôi: đà điểu, bồ câu và chim cútđặc biệt cần yên tĩnh Do còn bản năng hoang dã, chúng rất sợ tiếng động mạnh Khi có tiếngđộng mạnh, chúng thường bị kích động, bay chạy loạn xạ, nhiều con bị vỡ đầu, gãy cổ… gâytác hại nghiêm trọng Có nguồn nước sạch dồi dào, nguồn điện đảm bảo ổn định thườngxuyên Có khả năng mở rộng diện tích khi tăng quy mô
+ Chuồng trại phải phù hợp với đặc điểm sinh lý của chim nuôi, đảm bảo cho chúng cótốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng cho sản phẩm cao
+ Thuận lợi cho các thao tác kỹ thuật hàng ngày của công nhân và cán bộ kỹ thuật, giảmnhẹ sức lao động
+ Cho phép áp dụng nhanh và có hiệu quả các biện pháp vệ sinh phòng dịch
+ Giá trị sử dụng cao nhất
5.2.2 Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thực chất công tác xây dựng chuồng trại là tạo ra tiểu khí hậu chuồng nuôi, tức là tạo ranhiệt độ, độ ẩm và sự thông khí thích hợp Nếu những thông số kỹ thuật này được đảm bảo,
sẽ nâng cao sức khoẻ và sức sản xuất của chim Chim không có tuyến mồ hôi, lại có bộ lông
vũ bao phủ nên chim chỉ có thể hạ nhiệt bằng cách xoà cánh, uống thêm nước, vùi mình tronglớp độn chuồng ẩm, mát và dồn máu từ cơ quan nội tạng ra mạch máu ngoại vi, chim há mỏ ra
Trang 19để thở, làm tăng tần số hô hấp, thải một lượng lớn hơi nước và khí CO2, làm giảm lượng
H2CO3 dẫn đến kiềm hoá máu, thay đổi độ pH và áp suất thẩm thấu Những biến đổi này sẽlàm cho chim không thể thực hiện các chức năng sinh lý một cách bình thường
Mặt khác, điều kiện nóng ẩm sẽ làm cho chim ăn kém, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn,giảm tốc độ sinh trưởng và chất lượng thịt, giảm khả năng đẻ trứng và chất lượng trứng, giảm
tỷ lệ ấp nở và tỷ lệ nuôi sống; giảm sức đề kháng và khả năng đáp ứng miễn dịch Tăng hiệntượng mổ cắn nhau, tăng nhu cầu về diện tích chuồng nuôi, nhu cầu về không khí sạch và chiphí làm mát Tất cả những vấn đề này sẽ làm giảm sức sản xuất và giảm hiệu quả chăn nuôi
Vì vậy, tạo ra tiểu khí hậu chuồng nuôi có nhiệt độ, độ ẩm, thông khí thích hợp là kỹ thuật cực
kỳ quan trọng trong chăn nuôi
5.3 YÊU CẦU KỸ THUẬT ĐỐI VỚI CHUỒNG NUÔI CHIM
Hiện nay có hai loại chuồng nuôi chính: nuôi trên nền có đệm lót (dùng nuôi đà điểu con,chim cút con) và chuồng nuôi theo phương thức nuôi trên lồng (dùng nuôi chim cút, bồ câu)
5.3.1 Hướng chuồng
Sau nhiều năm chăn nuôi gia cầm công nghiệp, người ta đã rút ra kết luận:
Nếu chăn nuôi quảng canh, sử dụng hệ thống thông thoáng tự nhiên thì tốt nhất là xâychuồng theo hướng đông nam để hứng được nhiều gió mát trong mùa hè nóng bức, giảm chiphí làm mát
Nếu nuôi trong chuồng kín, điều hòa tiểu khí hậu bằng hệ thống quạt gió và dàn lạnh,tấm làm mát thì tốt nhất là làm nhà có trục song song với hướng gió chính (gió đông nam) đểkhi dùng quạt đẩy khí từ chuồng ra, xuôi với chiều gió thổi, làm giảm chi phí quạt đẩy vàkhông cản bụi
5.3.2 Kích thước chuồng nuôi chim
Kích thước chuồng nuôi phụ thuộc vào đối tượng chăn nuôi, quy mô của trại cũng nhưdụng cụ, thiết bị chăn nuôi và mức độ cơ giới hoá Thông thường các dãy chuồng nuôi chimtheo phương thức công nghiệp có chiều dài 30-50m, chiều rộng 7 – 10m và chiều cao (không
kể mái) là 2,5 - 3,0m Với những vùng khí hậu nóng ẩm, sử dụng chuồng nuôi kiểu thôngthoáng tự nhiên, không nên dùng kiểu chuồng quá rộng (trên 10m), vấn đề thông thoáng sẽgặp nhiều khó khăn Vấn đề này sẽ được trình bày kỹ trong từng chương chăn nuôi chim cụthể ở các phần sau
5.3.3 Những cấu kiện của chuồng nuôi
c Mái và trần
Trang 20Nên làm bằng vật liệu tương đối nhẹ nhưng bền vững và cách nhiệt tốt Độ dốc của máikhoảng 30o để dễ thoát nước mưa, các vật liệu thường được sử dụng làm mái là ngói đỏ, ngói
xi măng, fibroximang, tôn… Mái nên có màu sáng để bức xạ nhiệt tốt hơn Nếu có điều kiệnthì nên làm chuồng 4 mái, 2 lớp mái trên và dưới cách nhau 40-50 cm, lồng vào nhau 1,2-1,5
m để tránh hắt nước mưa Chuồng 4 mái thoát nhiệt rất tốt vào mùa hè
Chuồng phải có trần để cách nhiệt Giữa trần và đỉnh tường nên có khe thoát nhiệt ở phíatrên trần để thường xuyên thoát khí nóng vào mùa hè Vật liệu làm trần tốt nhất là các tấmxốp, những tấm bông thuỷ tinh có độ dầy thích hợp, nếu không có điều kiện thì làm bằng
gỗ dán, cót, cót ép
5.3.4 Khoảng cách giữa các chuồng nuôi
Để giúp cho việc thông thoáng chuồng nuôi thuận lợi, khoảng cách giữa hai dãy chuồnghay còn gọi là khoảng cách giữa hai nhà nuôi gia cầm phải lớn hơn 2, 5 lần chiều rộng chuồngnuôi Thường khoảng cách này tối thiểu từ 20 – 25m
5.3.5 Một số công trình phụ quan trọng
a Kho thức ăn
Ngoài những kho nhỏ bố trí ở từng chuồng nuôi để chứa thức ăn cùng dụng cụ chăn nuôi,thuốc thú y… toàn trại cần phải có một kho thức ăn chung Sức chứa của kho được tính toándựa trên những yếu tố sau:
- Hướng sản xuất, số lượng đầu con và mức thu nhận thức ăn của đàn chim
- Mỗi trại chim cần có lượng thức ăn dự trữ ít nhất là một tuần nuôi
- Cứ 2m3 kho có thể chứa được khoảng 1 tấn thức ăn hỗn hợp đã đóng bao
Kho thức ăn thường có nền lát bằng xi măng để dễ quét dọn và phải có biện pháp chốngđược chuột và côn trùng Trong kho, thức ăn không được đặt trực tiếp xuống nền mà phảiđược đặt trên các giá cao, cách mặt đất từ 25 - 30 cm và cách tường ít nhất 20cm (khi xếpthức ăn cần lưu ý xếp tuần tự một bao hàng dọc, một bao hàng ngang từ dưới lên trên vàkhông nên xếp cao quá 1,7m tính từ nền kho)
Trang 21Hệ thống cấp nước bao gồm giếng khoan, trạm bơm, tháp nước và mạng lưới ống dẫnnước về các bể chứa Mạng lưới ống dẫn nước và các bể chứa cần được thiết kế để không bịánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp vào làm nước bị nóng Trong các chuồng nuôi có chiều rộngdưới 8m chỉ cần đặt 1 đường ống chính giữa, dọc theo chuồng nuôi với các van mở cách nhaukhoảng 6m Không nên đặt ống nước trong chuồng nuôi chìm dưới nền để tiện việc sửa chữa.Các đường ống dẫn nước bên ngoài chuồng nuôi cần đặt chìm sâu dưới đất, để đảm bảo nướckhông bị nóng khi trời nắng.
5.4.2 Hệ thống thông khí và làm mát
Để thiết kế hệ thống thông khí và làm mát, khi xây dựng chuồng nuôi phải tính toán sựcân bằng nhiệt và thông khí Sự thông khí tự nhiên (các lỗ thông hơi bố trí thêm trên tường vàcác lỗ thông kéo dài trên mái) có nhiều hạn chế Biện pháp thông khí tuần hoàn tự nhiênkhông thể đảm bảo theo yêu cầu, nhất là vào mùa hè, khi chênh lệch nhiệt độ không khí bêntrong và bên ngoài chuồng nuôi không lớn
Trong các cơ sở chăn nuôi hiện đại, người ta sử dụng các hệ thống thông khí tích cực đểtạo một tiểu khí hậu theo yêu cầu, đó là hệ thống quạt hút kết hợp với hệ thống phun sương,
5.4.4 Hệ thống rèm che
Rèm che dùng trong chuồng thông thoáng tự nhiên, để che chắn phía bên ngoài chuồngnuôi, phần không xây tường mà chỉ được ngăn bằng lưới thép, rèm che góp phần giữ nhiệtbảo vệ đàn chim khi có những thay đổi về thời tiết như gió mùa, bão, mưa lớn, được làm bằngcác nguyên liệu khác nhau như bạt, vải nhựa, bạt nilon, bao tải, cót ép… Có hai loại rèm làrèm dài dùng cho các chuồng nuôi theo phương thức trên nền và rèm lửng dùng cho phươngthức nuôi trên lồng
5.4.5 Hệ thống lồng, quây, ổ đẻ
Mỗi loài chim cần có hệ thống lồng đặc trưng, phù hợp với kích thước cơ thể, đặc tínhsinh lý của mỗi loài, do đó, sẽ được trình bày trong từng chương, nuôi từng loại chim cụ thể
5.4.6 Hệ thống vệ sinh thú y
a Vành đai trắng và vành đai an toàn dịch
Để đảm bảo an toàn dịch bệnh, các trại chăn nuôi chim phải xây dựng vành đai trắng vàvành đai an toàn dịch theo quy định
- Vành đai trắng là khu vực mà trong đó không được nuôi bất kỳ một loại gia súc, giacầm nào
+ Các trại giống gốc, ông bà và bố mẹ phải có vành đai trắng đảm bảo bán kính từ 500 1000m (tính từ hàng rào bảo vệ)
-+ Các trại thương phẩm phải có vành đai trắng đảm bảo bán kính từ 200 - 300m
Trang 22- Vành đai an toàn dịch là khu vực mà trong đó các loại gia súc, gia cầm phải được tiêmphòng đầy đủ các loại vacxin phòng bệnh truyền nhiễm theo định kỳ.
Với tất cả các trại, vành đai an toàn dịch phải có bán kính từ 3 - 5km
Đối với các trang trại chưa có khả năng đầu tư hiện đại, hệ thống tiêu độc này thường baogồm các hố lớn và các hố nhỏ chứa thuốc sát trùng để tiêu độc đối với người và phương tiện
ra, vào trại Các hố lớn để tiêu độc đối với các loại ôtô ra vào trại Kích thước của các hố nàytuỳ thuộc vào loại xe mà cơ sở chăn nuôi sử dụng Chiều dài của hố phải lớn hơn 2, 5 lần chu
vi bánh xe cỡ lớn nhất của mỗi cơ sở Các hố nhỏ hơn dùng để tiêu độc đối với người và cácphương tiện thô sơ
Trước cửa mỗi chuồng nuôi có một hố sát trùng để tiêu độc trước khi vào chuồng nuôi
c Hệ thống lò thiêu và hố chôn
Hệ thống lò thiêu và hố chôn rất cần thiết cho mỗi trại chăn nuôi chim, nhất là chăn nuôitheo phương thức công nghiệp Hệ thống này được sử dụng để loại bỏ xác những con gia cầmchết hoặc các loại rác, chất thải có nguy cơ gây bệnh hay đe doạ tới sức khoẻ của đàn chim vàngười chăn nuôi Hệ thống lò thiêu và hố chôn cần được bố trí ở phía sau trại, cuối hướng gió
và tốt nhất là cách xa khu vực chuồng nuôi trên 500m
5.5 CƠ KHÍ HOÁ VÀ TỰ ĐỘNG HOÁ CHUỒNG TRẠI CHĂN NUÔI CHIM
5.5.1 Hệ thống cung cấp thức ăn
Cơ khí hoá và tự động hóa khâu cho ăn để tiết kiệm được rất nhiều sức lao động Hệthống cung cấp thức ăn kiểu dây truyền gồm một tháp đựng thức ăn và những máng ăn nốivới tháp đựng thức ăn tạo thành một vòng khép kín Thức ăn được vận chuyển vào máng ănđều đặn nhờ hệ thống xích đẩy Tháp chứa thức ăn từ 200 - 250 kg thức ăn hỗn hợp Trongtháp có một thiết bị rung, tránh hiện tượng thức ăn không rơi xuống được Tốc độ chuyểnđộng của dây truyền khoảng 3 - 5 m/phút, có thể chuyển thức ăn liên tục hoặc trong thời giannhất định
Máng ăn tự động hình trụ: đưa thức ăn vào máng hình trụ bằng một ống rót nối với thápchứa thức ăn Ống hút thức ăn được bố trí trên trần, từ trần có máng rót nhỏ hơn đi xuốngmáng ăn
5.5.2 Hệ thống cung cấp nước uống
Hệ thống máng uống tự động là những máng uống có thể nối liền trực tiếp với đường ốngdẫn nước chính và có thể tự động điều chỉnh việc cấp nước uống cho chim Có nhiều hệ thốngmáng uống tự động khác nhau
Trang 23- Máng uống tự động đơn giản
Máng uống tự động đơn giản nhất là loại máng chảy Loại này gồm một rãnh lòng máng,nước lấy trực tiếp từ vòi nước hoặc từ một ống cao su nối liền với vòi nước Mức nước cầnthiết trong lòng máng được giữ cố định nhờ một ống tràn Hệ thống máng uống được đặt phíangoài lồng, dưới nó có máng thu nước rơi vãi để không làm ướt nền chuồng Nói chung,người ta không cho chim tiếp xúc trực tiếp với máng nước mà chỉ để chim thò đầu ra uống màthôi (trừ hệ thống máng tắm khi nuôi chim bồ câu)
- Loại máng uống có van
Có hai loại máng uống có van là loại có phao nổi và loại có lò so Loại máng có phaonổi, mức nước trong máng được giữ cố định bằng phao Phao này tác động lên van Loạimáng uống kiểu van có lò so được đóng mở bằng chính trọng lực của nước Khi máng hếtnước van được mở ra nhờ lực của lò so Nước sẽ chảy qua chỗ có van cho tới khi khối lượngnước có áp lực lớn hơn lực của lò so thì van sẽ đóng lại Máng uống kiểu van có lò so thường
sẽ chảy ra Khi chim rời mỏ khỏi núm, nước sẽ tự động ngừng chảy
5.6 SÁT TRÙNG CHUỒNG TRẠI, THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ CHĂN NUÔI
Sát trùng chuồng trại, thiết bị và dụng cụ chăn nuôi có nhiều loại và theo qui trình nhất định
Có loại làm thường xuyên, có loại làm định kỳ, bao gồm 5 loại chính:
- Sát trùng trước khi nhập chim vào trại (trước 1 ngày)
- Sau khi đàn chim xuất chuồng
- Sát trùng định kỳ: khoảng 15 – 20 ngày phun thuốc sát trùng trực tiếp vào đàn chim 1 lần(có thể dùng thuốc virkon theo hướng dẫn của nhà sản xuất)
- Sát trùng trước và sau khi tiêm vacxin 1 ngày
- Sát trùng khi có bệnh xảy ra
5.6.1 Qui trình vệ sinh tiêu độc chuồng nuôi
a Khu vực xung quanh chuồng nuôi
- Thường xuyên cắt cỏ, phát quang xung quanh chuồng nuôi trong khoảng cách tối thiểu là 4 m
- Quét dọn vệ sinh hàng ngày
- Định kỳ mỗi tuần một lần vệ sinh tiêu độc xung quanh chuồng nuôi bằng một trong cácloại hoá chất sau: formol 2 – 3%, xut (NaOH) nồng độ 2 – 3% với liều lượng 0, 65 – 1 lít/m2 Cóthể dùng các loại hoá chất khác như chloramin, prophyl, virkon, biocid, farm fluid, longlefe …theo hướng dẫn của nhà sản xuất
- Định kỳ mỗi tháng 2 lần tổ chức diệt chuột, phun thuốc diệt ruồi, muỗi, côn trùng
b Sau khi kết thúc mỗi đợt nuôi (xuất chuồng)
- Đưa toàn bộ trang thiết bị và dụng cụ chăn nuôi ra ngoài
- Đưa toàn bộ lớp độn chuồng cũ ra ngoài
- Quét dọn và rửa sạch sẽ trần, tường, lưới, nền, nạo vét cống rãnh thoát nước
Trang 24- Để khô ráo, tiến hành sửa chữa những phần hư hỏng (nếu có) Sau đó tiến hành tiêu độctheo các bước:
+ Phun dung dịch foocmol hoặc xút (NaOH) nồng độ 2 - 3% với liều 0,65 - 1lít/ m2( có thể
sử dụng các loại hoá chất khác như như chloramin, prophyl, virkon, biocid, farm fluid, longlefe
… theo hướng dẫn của nhà sản xuất
+ Dùng vôi bột sống rắc lên nền chuồng dày khoảng 0,5 – 1,0 cm, dùng ôzoa phun nướclên Sau 1 ngày hót sạch bã vôi ra ngoài
+ Quét vôi nền, sàn, tường và khu vực xung quanh chuồng nuôi bằng dung dịch nước vôi20% Quét 2 lần, mỗi lần cách nhau khoảng 1 – 2 giờ
+ Xông hơi formaldehyde (6, 5g thuốc tím + 13ml formol cho 1m2 nền chuồng)
+Để trống chuồng từ 2 – 3 tuần mới tiếp tục nuôi lứa mới
c Trước khi tiếp tục đợt nuôi mới
- Vệ sinh chuồng trại, quét vôi nền, sàn, tường và khu vực xung quanh chuồng nuôi bằngdung dịch nước vôi 20%
- Phun dung dịch foocmol hoặc xút (NaOH) nồng độ 2 - 3% với liều 0,65 - 1lít/ m2.( có thể
sử dụng các loại hoá chất khác như chloramin, prophyl, virkon, biocid, farm fluid, longlefe …theo hướng dẫn của nhà sản xuất
- Xông hơi formaldehyt (6, 5g thuốc tím + 13ml formol cho 1m2 nền chuồng) hoặc phun
thuốc sát trùng Virkon trước khi nhập chim ngày.
5.6.2 Vệ sinh tiêu độc trang thiết bị chăn nuôi
- Máng ăn, máng uống được ngâm, rửa sạch bằng nước lã Sau đó ngâm vào bể thuốc sáttrùng có dung dịch foocmol 1% từ 10-15 phút (có thể sử dụng các loại hoá chất khác nhưiodin, chloramin, virkon, biocid theo hướng dẫn của nhà sản xuất) Sau khi ngâm, lấy ra,tráng lại bằng nước sạch rồi đem phơi khô
- Lau sạch chụp sưởi, sau đó nhúng giẻ lau sạch vào dung dịch foocmol 2%, vắt ráonước rồi lau sát trùng Có thể sử dụng các loại hoá chất khác như iodin, chloramin, virkon,biocid theo hướng dẫn của nhà sản xuất
- Vệ sinh ổ đẻ: rửa sạch, phơi khô, tiêu độc bằng foocmol 2%
- Vệ sinh bể nước: rửa sạch, để khô rồi sát trùng bằng foocmol 2%
- Chất độn chuồng: đảm bảo khô ráo, tơi xốp và không bị mốc; có khả năng hút ẩm vàcách nhiệt tốt Phơi khô, phun foocmol 0,5% hoặc iodin 2%, ủ bạt kín trong 2 tuần
Câu hỏi ôn tập chương 5
1 Các phương thức chăn nuôi gia cầm, ưu nhược điểm của mỗi phương thức?
2 Yêu cầu kỹ thuật và vai trò của lớp độn chuồng trong phương thức chăn nuôi gia cầm trên nền có đệm lót?
3 Yêu cầu kỹ thuật đối với các thiết bị và dụng cụ dùng trong chăn nuôi gia cầm?
4 ảnh hưởng của tiểu khí hậu chuồng nuôi đến sức khoẻ và sức sản xuất của gia cầm?
5 Qui trình tiêu độc chuồng trại, thiết bị và dụng cụ chăn nuôi gia cầm?
Trang 25Chương VI
KỸ THUẬT NUÔI ĐÀ ĐIỂU6.1 HỆ THỐNG CHĂN NUÔI ĐÀ ĐIỂU
Hiện nay, có ba loại hệ thống trang trại chăn nuôi đà điểu:
Hệ thống trang trại chăn thả
Hệ thống trang trại bán công nghiệp
Hệ thống trang trại nuôi công nghiệp
6.1.1 Hệ thống trang trại chăn thả
Loại hệ thống này cần có diện tích đất rộng trên 40 ha, đà điểu được chăn nuôi trongđiều kiện giống với điều kiện tự nhiên, ít chịu tác động của con người nhất
Ưu điểm: giảm đáng kể chi phí chăn nuôi, nếu cho đà điểu tự ấp trứng thì sẽ giảm chiphí hơn nữa, mức đầu tư thấp
Nhược điểm: khó theo dõi và chọn lọc đà điểu cũng như việc thu gom trứng, khôngkiểm soát được các điều kiện chăn nuôi, sinh sản; trứng dễ bị hỏng Tỷ lệ đà điểu chết và mấtcao, nhất là các con non Đà điểu thường nhút nhát, hoang dã, khó gần nên khó chăm sóc,quản lý, năng suất chăn nuôi thấp
6.1.2 Hệ thống trang trại bán công nghiệp
Cần có diện tích đất từ 20 – 60 ha Đà điểu được nhốt chung trong những bãi cỏ rộng,
có rào chắn xung quanh hoặc quây trong trang trại Chúng có thể đi lại tự do trong một phạm
vi nhất định và được ăn cỏ trên bãi (tự kiếm khoảng 40 – 60% tổng lượng thức ăn) Máng cho
đà điểu ăn thức ăn tinh phải đặt ở gần rào chắn xung quanh để chúng dễ lấy thức ăn và giảmbớt sự náo loạn do phải đi lại nhiều trong bãi cỏ
Ưu điểm: dễ dàng chọn lọc những đà điểu tốt, dễ thu gom, vận chuyển trứng (để ấpnhân tạo), tiết kiệm thức ăn và các chi phí làm rào chắn, đồng thời cho phép đà điểu có thể tự
do lựa chọn bạn tình, giúp tạo ra cặp trống mái hợp lý Tuy nhiên, việc nhốt và điều khiển đàđiểu vẫn là một vấn đề khó khăn đồng thời khó thu thập được những số liệu chính xác về khảnăng sinh sản của các cá thể
6.1.3 Hệ thống trang trại chăn nuôi công nghiệp
Yêu cầu diện tích dưới 20 ha, được chia thành các bãi nhỏ, mỗi bãi có diện tích từ 1 –
2 ha, trong đó phân thành các ô chuồng nuôi và sân chơi cho từng "gia đình" đà điểu, mỗi giađình nuôi 1 con đực và 1-2 con mái Đây là phương pháp chăn nuôi đà điểu phổ biến, vì tiếtkiệm đất
Nhược điểm: các chi phí cho thức ăn, đầu tư chuồng trại cao
Ưu điểm: năng suất chăn nuôi cao, kiểm soát được hoàn toàn quá trình ăn uống và sinh sảncủa đà điểu, nắm được chính xác số lượng trứng của mỗi con cái đẻ ra và con của chúng, giúpcho việc đánh giá con giống và hạch toán chính xác Phương thức này cho năng suất cao nhất
6.2 CHUỒNG TRẠI ĐÀ ĐIỂU
Ngoài các quy định chung đã nói đến trong chương V, khi nuôi đà điểu, cần chú ýmột số vấn đề sau:
6.2.1 Thiết kế chuồng trại và sân chơi cho đà điểu
Diện tích chuồng nuôi tối thiểu theo Hiệp hội Bảo vệ động vật Anh như sau:
Trang 26Bảng 6.1 Diện tích chuồng nuôi tối thiểu nuôi đà điểu
đa/nhóm
Diện tích tối thiểu/con (m 2 )
Tổng diện tích tối thiểu/ô (m 2 )
Bảng 6.2 Diện tích sân chơi tối thiểu cho đà điểu
đa/nhóm thiểu/con (m Diện tích tối 2 ) thiểu/sân chơi (m Tổng diện tích tối 2 )
1 Giả thuyết không có khác biệt trong quy mô giữa các cá thể.
2 Cho từng gia đình đà điểu gồm 3 con.
3 Chiều rộng không dưới 10 m.
4 Một chiều ít nhất dài 50 m.
5 Một chiều ít nhất dài 100 m.
6 Với mỗi con mái thêm vào thì phải tăng thêm 200 m 2 ; với mỗi con trống thêm vào thì phải tăng thêm 800 m2 Nguồn: Micheal Y Hastings, 1995
Ở Việt nam, thống nhất tiêu chuẩn như sau:
Bảng 6.3 Tiêu chuẩn về diện tích chuồng và sân chơi cho đà điểu ở Việt Nam
(*) Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương, Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2007
Sân chơi có tác dụng tốt cho quá trình phát triển của chân và đường tiêu hóa, nâng caosức khỏe cho đà điểu Thiếu không gian đối với con trưởng thành dễ làm cho các con trốngđánh nhau để giành giật lãnh thổ trong mùa sinh sản, vì vậy, sân chơi cho các con trống nên
bố trí cách nhau bằng 1 vành đai “đệm”, rộng 2,5 - 3 m, trên đó trồng cỏ hoặc cây
Trang 27Hình 6.1 Giữa 2 sân chơi của đà điểu nên có hành lang "đệm" để
Đề phòng con trống đánh nhau
Sân chơi nên thiết kế theo hình chữ nhật có các góc vuốt tròn Đối với chim trưởngthành, chiều dài đường chạy không phụ thuộc vào số lượng cá thể, ít nhất dài 60 m để đà điểuđược chạy thoải mái và hết đà Sân chơi nên trồng hỗn hợp các loại cỏ, trên đó nên có mộtđường cát để cho đà điểu tắm cát và sưởi ấm dưới ánh nắng mặt trời, đồng thời bố trí một số
"lán trại" đơn giản cho đá điểu trú mưa, nắng khi cần thiết
Đường chạy cho con non nên có kích thước 12 x 6 hoặc 10 x 5 m; 2/3 đường chạy làđất cứng, còn lại là cát, cần kiểm tra kỹ để không có các vật liệu cứng làm tổn thương chân vànên xây áp vào hiên nhà cho khuất gió Mỗi nhóm tuổi khác nhau nên có các loại đường chạykhác nhau Sân chơi cho chim sinh sản nên được bố trí ở những nơi yên tĩnh, để chim không
bị quấy rầy
6.2.3 Hàng rào
Cao ít nhất 150 cm đối với đà điểu 12 tháng tuổi và cao 165 – 170cm với đà điểu lớn
hơn Hàng rào phải đạt yêu cầu sau:
- Dễ nhìn qua
- Đủ khoẻ để có thể chống đỡ khi đà điểu xô vào
- Đàn hồi được để không làm đà điểu bị chấn thương
- Không có các vật sắc nhọn
- Không làm mắc đầu và chân của đà điểu khi chúng xô vào
Hàng rào đơn giản nhất là mắc 5 dây thép song song với nhau (có đường kính 3,1mm),nhẵn bóng, mạ kẽm, kéo căng, được cố định vào cột bê tông tròn, đường kính cột 15cm,khoảng cách giữa 2 cột là 5m Giữa hai cột có hai thanh dọc để chắn đà điểu Các cột ở gócphải là cột tròn, đường kính 20cm Dây thép dưới cùng nên cách mặt đất 25 – 30 cm để chocông nhân có thể nhanh chóng thoát hiểm khi bị đà điểu tấn công, nhất là vào mùa sinh sản
Trang 28Hình 6.2 Hàng rào đà điểu trưởng thành có khoảng "thoát hiểm" ở dưới đáy cho công nhân
Hình 6.3 Lưới rào cho đà điểu
A-Cho đà điểu con; B- Cho đà điểu trưởng thành
Nói chung, đà điểu không thông minh nên chúng thường tự gây chấn thương cho mình
vì những lý do không đâu Chiều cao của hàng rào nên tương ứng với chiều cao của đà điểu.Thông thường, ta sử dụng lưới thép cao 1,8 m Các cọc nên cách nhau 3 - 3,5 m để hàng rào
có đủ khả năng chịu được khối lượng cơ thể trên 100 kg khi chúng xô vào Chiều cao của lướithép là 1,5 m; phía trên có một số thanh gỗ ngang Lưới thép có thể được dùng để ngăn sânchơi thành các ô cho từng nhóm tuổi khác nhau, lưới thép còn có tác dụng không cho chó haycác động vật khác chạy vào sân chơi, làm đà điểu hoảng loạn Không nên sử dụng những loạilưới có mắt cáo to hơn vì đà điểu sẽ thò đầu qua và mắc vào mắt lưới khi rụt đầu lại, sẽ bịthương hay chết treo trên lưới
Trang 29
Hình 6.4 Hàng rào cho đà điểu lớn
Cách thiết kế sân chơi phổ biến nhất là kiểu hình chữ nhật đơn giản: hành lang dàichạy dọc ở giữa bãi quây, hai bên nối với khu vực có mái che, từ đó nối với sân chơi Kiểuthiết kế này đặc biệt phù hợp cho đà điểu từ 3 – 16 tháng tuổi (tuỳ thuộc vào diện tích mỗi ổ)
Hình 6.5 Sân chơi cho đà điểu hình chữ nhật
1-Khu chuồng nuôi có mái che, 2-Kho thức ăn, 3-Sân chơi, 4- Hành lang
Kiểu thứ hai - hình tròn: các bãi quây ở giữa, tỏa ra xung quanh là các bãi chăn thảhình nan quạt
Trang 30Hình 6.6 Sân chơi cho đà điểu hình tròn
1-8- sân chơi, 9-khu đặt thức ăn, 10 - khu nhà có mái che, 11 - Hành lang
Kiểu thiết kế này được dùng cho những con đà điểu trưởng thành cũng như các con non Các nước khác nhau có các mô hình thiết kế khu vực chăn nuôi khác nhau
su cho đà điểu trong bốn tuần tuổi đầu tiên, sau đó dùng mùn cưa thì sẽ giảm được chi phí
6.2.5 Đường chạy
Của con non phải được dọn dẹp sạch sẽ Khoảng 25% đường chạy có thể rải cát Lầnđầu tiên được tiếp xúc với cát, cần quan sát cẩn thận, nếu thấy chúng ăn cát phải đưa ra ngoàingay lập tức
Trong quá trình nuôi dưỡng, phải dọn phân trên đường chạy ít nhất 2 lần/ngày Dọnnhà úm 2 ngày 1 lần cho đến khi kết thúc 3 tháng tuổi và sau đó là 2 lần/tuần Vào thời kỳđầu, một số con hay bị trượt chân nếu nuôi trên sàn trơn, khi đó nên dùng băng buộc chânchúng lại theo độ dài của bước đi trung bình trong vài ngày để chúng khỏi ngã
1011
Trang 31Vào ngày tuổi thứ 30, nên phân chim thành 2 nhóm - phát triển nhanh và chậm đểchăm sóc nuôi dưỡng cho hợp lý nhằm thu hẹp sự khác biệt, tăng độ đồng đều của đàn.
6.3 CÁC GIỐNG ĐÀ ĐIỂU NUÔI Ở VIỆT NAM
6.3.1 Đà điểu Zimbabwe
Đà điểu Zimbabwe sống ở vùng đồng bằng bán sa mạc rộng lớn châu Phi Chúng thíchghi với vùng khí hậu từ 550C vĩ bắc đến 350C vĩ nam Đà điểu trống nặng 120 – 140kg, cao2,5 – 2,75m; con mái nặng 90 – 110kg và cao 1,75 – 1, 9m, thành thục khi 30 tháng tuổi Conmái đẻ 60 – 80 trứng một năm, mỗi quả trứng nặng 1,3 – 1, 5kg Nếu ấp và nuôi tốt, mỗi conmái cho 50 con đà điểu con, nếu nuôi sống 90%, tỉ lệ thịt xẻ là 50% thì có thể sản xuất 2 tấnthịt/mái, đây là một chỉ tiêu sản xuất cao
Đặc điểm ngoại hình Khi mới nở, thân đà điểu con phủ một lớp lông xoăn sọc xám,
đến ba tháng tuổi có một lớp lông vũ màu xám mọc ra Sau 6 tháng tuổi, ở đà điểu trống bắtđầu mọc những lông đen, mảng lông màu trắng ở cánh và đuôi Con mái có màu lông xám.Lông ít thay đổi màu cho đến khi trưởng thành Bộ lông mọc hoàn chỉnh ở tháng thứ 12 và batháng sau đà điểu thay lông lần đầu
Mỏ và chân con trống có màu nâu nhạt và vàng đậm, con mái có màu xám đen
Đặc tính thành thục Con trống chín tháng tuổi có biểu hiện rõ đặc tính của con đực,
hăng hái hơn, có sự phân chia ngôi thứ trong đàn Khoảng một năm tuổi nó có động tác đùalượn gần con mái Con mái đến tháng tuổi thứ 15 đã có biểu hiện tính dục: thích gần contrống, lông mượt hơn, hai cánh dang rộng khi vận động, thu mình vươn cổ dài nằm chờ phốigiống, vào lúc này, con mái nặng 130kg Đà điểu Zimbabwe đẻ quả trứng đầu tiên vào lúc 16tháng tuổi
Khả năng phát triển cơ thể: khối lượng mới nở là 0,926kg; nuôi đến 13 tuần tuổi
nặng 22,18kg, độ đồng đều trong đàn không cao, cần hạn chế tốc độ sinh trưởng ở giai đoạnnày bằng cách cho chúng vận động để chân đủ khoẻ mới nâng được cơ thể lên, cần hạn chếbằng khẩu phần ăn hợp lý hơn Đà điểu nặng 100kg vào khoảng 10 – 12 tháng tuổi, đến 16tháng tuổi nặng 124 kg, trong đó con mái nặng 115kg; con trống nặng 130kg
Kết quả mổ khảo sát đà điểu trống và mái ở 17 – 18 tháng tuổi cho thấy: đùi chiếm tới80% tổng khối lượng thịt Tỉ lệ thịt xẻ đạt 36 – 38%, tỉ lệ xương từ 16,7 – 20%
Hàm lượng protein của thịt là 22%, mỡ thô 0,34%, khoáng tổng số 1,15%
Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng đến 10 tháng tuổi: thức ăn tinh 3,7kg, thức ănxanh 4,5kg; đến 16 tháng tuổi: thức ăn tinh 5,5kg, thức ăn xanh 5,4kg
Tỉ lệ nuôi sống đến 16 tháng tuổi 72,9%, tỉ lệ mắc bệnh khớp xương liên quan đếnxương ống chân rất cao, 41% (tỉ lệ chết do nguyên nhân này là cơ bản)
Số trứng nhập về có phôi là 65%; tỷ lệ nở chỉ đạt 38%, thời gian ấp kéo dài từ 41-45 ngày
6.3.2 Đà điểu Úc
Khả năng sinh trưởng: nhìn chung, đà điểu Úc có khả năng sinh trưởng tốt, 12 tháng
tuổi con trống nặng 105kg, mái nặng 91kg Kết thúc giai đoạn nuôi hậu bị, 20 tháng tuổi, contrống nặng 128kg, con mái nặng 101kg; tương đương với các chỉ tiêu tại Úc
Chi phí thức ăn/1 kg tăng trọng: đà điểu mái ở 12 tháng tuổi tiêu tốn 10,95 kg thức ăntinh và 5,05 kg thức ăn xanh; đà điểu trống tương tự là 8,99 kg và 2,64 kg Đến tám thángtuổi, mức tiêu thụ thức ăn thấp, nhưng sau đó tăng rất cao, vì vậy người ta cho rằng nên giếtthịt ở thời điểm 10 – 12 tháng tuổi là thích hợp
Khả năng sinh sản: tuổi đẻ trung bình là 22-25 tháng Đà điểu đẻ tập trung vào
khoảng 14 – 19 giờ trong ngày, từ sáng đến trưa đà điểu mái chỉ đẻ 5% trong đàn Khoảngcách giữa các lần đẻ trứng đầu đến quả thứ hai trung bình là 15 ngày, sau đó rút ngắn dần,chúng đẻ mau hơn và giữ khoảng cách đều từ quả thứ năm là 6 ngày Khoảng cách này có sựsai khác đáng kể ở từng con mái
Trang 32Khối lượng trứng: quả trứng đầu tiên nặng 1162g và tăng dần, ổn định ở khối lượng
trung bình là 1286g (bình quân của 535 trứng trong đàn) Tỉ lệ trứng có phôi đạt 67,27%, caohơn so với trứng đà điểu nhập từ Zimbabwe năm 1996 (65%)
Tỉ lệ nở/ trứng có phôi là 42,41%, nếu so với tổng số trứng vào ấp là 23,26% Đó làmột kết quả rất thấp nếu so với gia cầm khác
Tỉ lệ nuôi sống đà điểu con cả trống và mái đều cao, từ 97 – 98%
Sản xuất trứng: mùa vụ đẻ trứng từ tháng 12 năm trước đến tháng 8 năm sau Sản
lượng trứng của một con mái là 13,89 quả/năm
6.3.3 Đà điểu nhà - Struthio c domesticus ( đà điểu thương mại)
Trên cơ sở các giống hoang dã, bản địa nguyên thủy, các nhà chăn nuôi đã lai tạo ra nhiều
giống, dòng mới, đó là đà điểu nhà (Struthio c Domesticus, được gọi với các tên khác nhau
như đà điểu đen, xanh Đây là các giống đà điểu thương mại chính hiện nay trên thị trường)
6.4.THỨC ĂN CHO ĐÀ ĐIỂU
Cũng như các loài chim khác, đà điểu cần được cung cấp đủ protein, chất bột đường, lipit, vitamin và khoáng, đồng thời đủ nước uống Đặc điểm dinh dưỡng của đà điểu so với các loài gia cầm khác là chúng có thể ăn nhiều cỏ, các loại thức ăn giàu xơ hơn vì có hệ vi sinh vật phân hủy xơ trong manh tràng và ruột già rất phát triển (tương tự như động vật nhai lại)
6.4.1.Nhu cầu dinh dưỡng chung cho các loại đà điểu
Như đã trình bày ở phần đầu, chăn nuôi đà điểu là một ngành mới, các tài liệu hướng dẫn về chăn nuôi nói chung, dinh dưỡng cho đà điểu nói riêng không có nhiều như chăn nuôi các vật nuôi truyền thống khác, vì vậy, chúng tôi chỉ giới thiệu một số tài liệu tổng hợp sau đây về dinh dưỡng đà điểu
Bảng 6.4 Nhu cầu dinh dưỡng cho đà điểu ở các giai đoạn tuổi khác nhau
Giai đoạn sinh
trưởng
Protein (%)
ME (MJ/kg)
Ca (%)
Phốt pho tổng số (%)
Muối tổng
số (%)
Mg (%)
Tối thiểu
Tối đa
Trang 33Mức dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của đà điểu non, dò và sinh sản
Bảng 6.5 Mức năng lượng và dinh dưỡng cho đà điểu non, dò và sinh sản
Nguồn: Kreibich và Sommer, 2004
Nhu cầu năng lượng hàng ngày của đà điểu phụ thuộc vào hệ thống chăn nuôi, độ tuổi,khối lượng cơ thể cũng như cường độ và giai đoạn đẻ
Đà điểu non có khả năng tiêu hóa chất béo thấp có lẽ do thiếu túi mật Đà điểu hơn 4tháng tuổi có khả năng tiêu hóa trên 90% chất béo, nhưng hàm lượng chất béo trong thức ănkhông được vượt quá 6 - 8%
Bảng 6.6 Khẩu phần ăn cho các loại đà điểu Thành phần
(g/kg trên cơ sở 90%
DM)
Tiền khởi động
Khởi động
Phát triển
Trang 34Khởi động
Phát triển
Kết thúc
Hậu kết thúc
Duy trì
Sinh sản
Bảng 6.8 Thành phần các chất dinh dưỡng tối thiểu trong thức ăn đậm đặc dạng viên cho đà
điểu do hãng Central Soya, Ba Lan sản xuất
Mới nở R-305
(Cho con non đến 3 tháng tuổi)
Dò R-306 (Cho
con dò từ 4 đến 10-12 tháng tuổi)
SS R-309
(Cho con mái trong mùa sinh sản)
R-316
(Cho con trưởng thành sau mùa sinh sản)
Trang 35Bảng 6.9 Nhu cầu dinh dưỡng cho đà điểu (tham khảo một số nước)
Chỉ tiêu Falstaff(Mỹ)* Z.garden(Mỹ)*
Trung Quốc0-3 tháng 4-16
Nhu cầu thức ăn cho một số loại đà điểu
Tác giả M.M Shanawany đã giới thiệu thức ăn cho các loại đà điểu trong bảng sau (cáctài liệu này đã được tổ chức FAO phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới)
Đang ST (1) Cho d.trì (2) Giống (3) Dò (4) Hậu bị (5) Non (6)
(1) Đà điểu từ 5 tháng đến 1 năm tuổi
Thành phần: lúa mạch, hạt hướng dương, đậu nành, bột cỏ, dầu thực vật, dicanxiphosphat (Ca 2 HPO 4 ), đá vôi, muối, loại thức ăn trộn sẵn đặc biệt cho đà điểu có tên Clark & Butcher.
Hướng dẫn sử dụng: thời kỳ cho ăn: từ 5 tháng tới 1 năm tuổi
- Trong tuần đầu tiên: trộn một ít thức ăn chăn nuôi bình thường với thức ăn đang tăng trưởng Giảm dần lượng thức ăn chăn nuôi bình thường sao cho đến cuối tuần, các con non hoàn toàn được ăn thức ăn đang tăng trưởng.
- Từ 5 đến 6 tháng tuổi: cho ăn từ 1,4 – 1,6 kg/con/ngày.
Trang 36- Từ 6 đến 9 tháng tuổi: 1,8 -2 kg/con/ ngày.
- Từ 9 tháng trở lên: 2 kg/con/ngày.
(2) Đà điểu từ sau 1 năm tuổi và ngoài thời kỳ sinh sản
Thành phần: lúa mạch, bột cỏ, hạt hướng dương, lúa mì, dicanxi phosphat, đá vôi, muối, bột Clark & Butcher Hướng dẫn sử dụng: thời kỳ cho ăn: từ 1 năm tuổi và ngoài thời kỳ sinh sản
- Tuần đầu tiên đem trộn một ít thức ăn tăng trưởng với thức ăn duy trì Giảm lượng thức ăn tăng trưởng từ từ sao cho đến cuối tuần thì đà điểu sẽ ăn hoàn toàn loại thức ăn duy trì.
- Đối với những con trưởng thành thì không cần hay đổi thức ăn từ từ.
- Với những con một tuổi: cho ăn 2 kg/con/ngày.
- Chuyển sang cho ăn loại thức ăn sinh sản vào lúc 18 tháng tuổi.
- Đối với những con trưởng thành ngoài mùa sinh sản, cho ăn 2 kg/con/ ngày.
(3) Đà điểu từ 18 tháng tuổi và trong thời kỳ sinh sản
Thành phần: lúa mì, hạt hướng dương, đậu tương nguyên chất béo, đá vôi, dầu thực vật, bột cá bột cỏ nghiền, dicanxi photphat, muối, bột Clark & Butcher.
Hướng dẫn sử dụng: - thời kỳ cho ăn: từ 18 tháng tuổi và trong thời kỳ sinh sản.
- Không cần thay đổi thức ăn từ từ đối với những con sinh sản.
- Từ 18 tháng tuổi và trong mùa sinh sản: cho ăn 2,5 – 3 kg/con/ ngày.
- Đổ thức ăn vào các thùng đựng thức ăn đặt ở một số chỗ gần với hàng rào để giảm tối thiểu sự kích thích thần kinh với đà điểu (4) Đà điểu từ 5-12 tháng tuổi
Thành phần: hạt hướng dương ép, lúa mạch, bột cỏ nghiền, đậu tương nguyên chất béo, dicanxi phot phát, dầu thực vật, đá vôi, muối, bột Clark & Butcher.
Hướng dẫn sử dụng: - thời kỳ cho ăn: từ 5 – 12 tháng tuổi.
- Thức ăn cân đối được sản xuất dưới dạng viên tròn đường kính 3,2mm để dễ trộn với các hạt lúa mạch nguyên hạt Kích thước này của viên khiến cho đà điểu không chọn riêng được hạt lúa mạch để ăn Trộn thức ăn cân đối với lúa mạch theo khối lượng tương đương nhau (1:1) Cho đà điểu ăn hỗn hợp thức ăn đã trộn với lượng 1,5kg/con/ngày tới 9 tháng tuổi và tăng lên 2 kg/con/ ngày từ 9 tháng tới 12 tháng tuổi.
(5) Đà điểu từ từ 5 tuần tới 5 tháng tuổi
Thành phần: lúa mạch, lúa mì, hạt hướng dương ép, thức ăn làm từ lúa mì, bột cỏ nghiền, đậu tương nguyên chất béo, dicanxi phosphat, đá vôi, muối, bột Clark & Butcher.
Hướng dẫn sử dụng: -Thời kỳ cho ăn: từ 5 tuần tới 5 tháng tuổi.
- Tuần đầu tiên đem trộn một ít thức ăn khởi động với thức ăn chăn nuôi bình thường Giảm dần lượng thức ăn khởi động một cách từ từ để đến cuối tuần thì đà điểu sẽ ăn được hoàn toàn loại thức ăn chăn nuôi bình thường.
- Từ 5 đến 9 tuần tuổi: cho ăn 300 – 450g/con/ngày.
- Từ 10 đến 16 tuần tuổi: cho ăn 700 – 1000g /con/ngày.
- Từ 16 đến 20 tuần tuổi: cho ăn 1,2 – 1,4kg/con/ngày.
(6) Đà điểu từ mới nở đến 5 tuần tuổi
Thành phần: đậu nành, lúa mì, lúa mạch, bột cỏ nghiền, thức ăn từ bột mì, bột cá, hạt hướng dương ép, dicanxi phot phat,
đá vôi, muối, bột Clark & Butcher.
Hướng dẫn sử dụng: thời kỳ cho ăn: từ khi nở tới 5 tuần tuổi.
-Không cho đà điểu con ăn trong ngày đầu tiên sau khi nở.
- Từ 2 – 7 ngày: bắt đầu cho ăn dưới dạng thức ăn ướt Nhỏ một vài giọt nước sạch vào thức ăn và trộn đều Sau năm phút mới cho đà điểu non ăn Loại bỏ tất cả những thức ăn đã để quá lâu.
- Từ 8 ngày tuổi trở lên: cho đà điểu ăn thức ăn dạng khô của nó.
6.4.2 Nhu cầu dinh dưỡng cho đà điểu dò
Bảng 6.16 Nhu cầu dinh dưỡng cho đà điểu dò Tháng tuổi KL cơ thể
(kg) Protein thô (%) Ngũ cốc (%) TĂ thô (%) FCR (*)
(*) FCR: Feed Conversion Ratio: Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng
Nguồn: J O Horbanczuk và Horbanczuk và Zielinski, 2002
6.4.3.Nhu cầu cho đà điểu sinh sản trong mùa sinh sản
Bảng 6.17 Nhu cầu năng lượng (MJ/ngày) của đà điểu sinh sản (Du Preez, 1991)
Trang 37Nhu cầu cho
Du Preez cho rằng, không nên cho đà điểu ăn thức ăn có hàm lượng protein cao sớm hơn
3 tuần trước khi bắt đầu đẻ trứng, bởi vì lòng đỏ trứng đến thời điểm rụng trứng chỉ mất có 16ngày để hoàn thành quá trình phát triển
Bảng 6.18 cho thấy nhu cầu hàng ngày của đà điểu sinh sản đối với protein và axit amindựa vào khối lượng cơ thể cũng như khối lượng trứng Bảng này chỉ ra rằng, nhu cầu về axitamin thiết yếu của đà điểu thấp hơn so với gà đẻ, do tỷ lệ trứng được sản xuất/ khối lượng cơthể của đà điểu trong mùa sinh sản thấp hơn
Thức ăn đậm đặc không nên vượt quá 2 kg/con/ngày; cỏ xanh có ý nghĩa quan trọng.Nếu đà điểu bị hạn chế ra sân chơi trồng cỏ thì nên cắt cỏ đưa vào chuồng Cỏ tươi nên đượccắt dài 2 - 3 cm
Bảng 6.18 Nhu cầu về một số loại axit amin thiết yếu (g) cho đà điểu sinh sản
1 Mái nặng 110 kg và đẻ ra quả trứng nặng 1,2 kg, cứ mỗi ngày cần 6,3 g lysine.
Sau đây là một ví dụ về khẩu phần ăn hàng ngày đối với con đà điểu trưởng thành(không kể giới tính) trong mùa sinh sản:
- Thức ăn đậm đặc hỗn hợp: 1,7 - 2 kg;
- Yến mạch: 0,4 kg;
- Cỏ tươi: 2 - 4 kg
Trang 38Đà điểu nên được cho ăn theo định lượng, nếu không sẽ dẫn tới hiện tượng béo phì,làm giảm tỷ lệ đẻ trứng và tỷ lệ phôi.
6.4.4.Nhu cầu về vitamin và khoáng
Để lớn lên và phát triển đầy đủ, đà điểu non phải nhận đủ lượng các vitamin vàkhoáng chất
Con non cũng có thể ăn được vỏ trứng nghiền hoặc bột đá có kích thước bằng hạt gạo
và nên để ở nơi chúng dễ tiếp cận Ở một số trang trại châu Âu, vỏ trứng được cho con non ănhàng ngày, bắt đầu từ ngày thứ 4 - 5 (3 - 5g/con) Đà điểu có thể được cho ăn đá hoặc sỏi nhỏsau 3 tuần tuổi
Trong nuôi dưỡng đà điểu non, lượng thức ăn tiêu thụ cần phải được kiểm soát để đảmbảo năng suất cũng như kinh tế, làm cho chúng có sức khỏe tốt hơn và tỷ lệ chết thấp hơn
Nhu cầu về vitamin và khoáng của đà điểu sinh sản
Bảng 6.19 Nhu cầu về vitamin và khoáng của đà điểu sinh sản
Cũng như ở gà, nếu cho trống và mái ăn cùng khẩu phần thì không tốt; ở con trống,lượng canxi thừa sẽ giảm hấp thụ kẽm và có ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình sinh tinh, làmgiảm tỷ lệ trứng có phôi Mặt khác, con mái thiếu canxi (do chỉ ăn ngũ cốc) sẽ dẫn tới trứng
có vỏ mỏng, dễ vỡ Nên tìm cách cho trống mái ăn riêng cho phù hợp
Trang 396.4.5.Thức ăn bổ sung
Khi đà điểu 30 - 40 ngày tuổi, có thể cho ăn probiotic (chẳng hạn lactiform, aviguard)
để đảm bảo quá trình phát triển phù hợp của các chủng vi khuẩn Bifido-bacterium hoặc L acidophilus) trong đường tiêu hóa
Bên cạnh thức ăn viên, con non trong 7 - 10 ngày đầu tiên nên được cho ăn trứng gàluộc (1 quả cho 7 - 8 con), cà rốt nghiền và 3 - 4 lần/ngày một ít bắp cải, rau diếp, cỏ linh lănghoặc cỏ ba lá thái nhỏ Từ 3 tuần tuổi, con non đã có thể ăn hỗn hợp yến mạch vụn, cỏ linhlăng thái và thức ăn cho con non theo tỷ lệ 1: 1: 1 Trước khi cho ăn, tất cả các thành phầnphải được trộn đều
6.4.6 Thức ăn xanh và xơ thô
Đà điểu có thể ăn được cỏ linh lăng, ba lá, cỏ răng cưa, hạt cải dầu xanh và bạch giới,
củ cải đường, cà rốt, bắp cải và lá rau diếp Tỷ phần cỏ xanh trong khẩu phần thức ăn củacon trưởng thành có thể đạt 60% khẩu phần nên có thể giảm được đáng kể thức ăn tinh
Trong thức ăn của đà điểu, sử dụng lượng thức ăn thô khô từ cỏ, ngô hoặc các loạithực vật khác (xilo) đang ngày càng trở nên thông dụng Người ta đã quan sát thấy trước khicho đà điểu ăn, xilo phải được cắt nhỏ 2-4 cm, nếu không chúng sẽ bị tắc trong đường tiêuhóa
Hiệp hội châu Âu về bảo vệ động vật đã hướng dẫn cắt cỏ như sau
Bảng 6.20 Hướng dẫn cắt chất rải ổ và cỏ khô cho đà điểu
Chiều cao đà điểu Kích thước cỏ khô (mm)
Trong khẩu phần ăn của con non, mức xơ thô ở 3 tuần tuổi nên chiếm 5 - 6%, tươngđương với khẩu phần ăn của con sinh sản Ở đà điểu 3 tuần tuổi, hệ số tiêu hóa xơ (NDF) đạt6,5%, vào tuần tuổi thứ 6 là 27,9% và ở 2,5 tháng tuổi thì khả năng tiêu hóa xơ đạt 51,2%.Con trưởng thành có thể trên 60%
Đà điểu sử dụng năng lượng chứa trong xơ thực vật nhiều hơn các loài gia cầm khác
Vì lý do này, khẩu phần ăn cho đà điểu phải chứa đủ lượng xơ Tuy nhiên, ta phải nhớ rằngquá trình tiêu hóa xơ của đà điểu bị hạn chế cho đến tận tuần tuổi thứ 17
6.4.7 Nước uống
Đà điểu có thể tự do uống nước Dựa vào nhiệt độ xung quanh, số lượng và chất lượngthức ăn mà chúng có thể uống 2 - 4 lít nước/ngày Cần cung cấp nước sạch cho đà điểu uống
tự do (trừ trường hợp đặc biệt phải điều trị)
6.5 NUÔI CÁC LOẠI ĐÀ ĐIỂU
6.5.1.Nuôi đà điểu con
Trang 40a Chọn lọc con non mới nở
Điểm quan trọng hàng đầu là đà điểu giống phải có nguồn gốc, lý lịch rõ ràng, trứngđược ấp đúng kỹ thuật Chim non có ngoại hình đẹp: màu lông đặc trưng, lông tơi xốp, to,khỏe, phản xạ nhanh nhẹn, mỏ và chân thẳng, mắt sáng; không có dị tật Vì là một giống chimquý, rất đắt nên phải hết sức cẩn thận khi mua giống, chú ý đến tỷ lệ trống mái thích hợp
b.Vận chuyển đà điểu
Quá trình vận chuyển (dù bằng đường bộ hay đường hàng không) làm cho đà điểu bị stress,nhất là vào mùa hè nóng nực Có thể làm giảm bớt stress bằng cách:
+ Trước khi vận chuyển một ngày, trộn thêm vitamin, nhất là vitamin C, chất điện giải
và chất khoáng vào nước uống
+ Vận chuyển vào ban đêm hay sáng sớm, trời mát, yên tĩnh
+ Mật độ trên xe vừa phải, tránh xếp chật, đảm bảo 0,8 - 1,0 m2 cho mỗi con trưởngthành (0,5 - 0,6 m2 cho con non) Các thanh ngăn giữa chúng cần được thiết kế bằng vật liệumềm
+ Nhốt con non trong các hộp nhỏ bằng nhựa hoặc bìa carton có đáy chắc chắn
+ Có hệ thống lưu thông không khí thật tốt khi vận chuyển Nếu có điều kiện, lắp quạttrên xe
+Nếu phải đi hơn 10 tiếng, phải dừng lại ít nhất 1 lần, cho ăn uống, nghỉ 15 - 20 phútrồi mới đi tiếp
+ Khi đến nơi phải cho đà điểu uống ngay nước mát, sạch Phải che mát cả ngày cho
đà điểu, ít nhất là 7 ngày sau (hoặc cho lâu hơn, nếu có thể) Đặt các máng đựng thức ăn vànước uống ở trong bóng râm
+ Nếu là đà điểu nhập khẩu thì sẽ phải nhốt cách ly một thời gian trong môi trường đãkiểm dịch với các tiêu chuẩn vệ sinh cao
Khi mới chuyển đà điểu tới trang trại, tốt nhất nên nhốt chúng trong chuồng từ 3-4ngày, sau đó mới thả vào các bãi quây để chúng có thời gian làm quen với môi trường mới
Đà điểu mới thả hay bị hoảng loạn, chạy lung tung, đập vào hàng rào gây tự chấn thương.Hàng năm có rất nhiều con đà điểu đang ở độ sinh sản tốt nhất đã bị chết do nguyên nhân này
Trong các bãi chăn, không được có đá to hoặc những vật lạ, khi bị chúng ăn vào sẽgây nguy hiểm cho hệ tiêu hoá