1. Trang chủ
  2. » Vật lý

GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA

231 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Chăn Nuôi Chuyên Khoa
Tác giả TS. Bùi Hữu Đoàn, PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch, TS. Vũ Đình Tôn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn Nuôi
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần đầu của chương giới thiệu một số giống bò thịt nổi tiếng của Thế giới đã được nhập vào Việt Nam, sau đó trình bày một số quy luật phát triển của các mô trong thân thịt nhằm làm cơ s[r]

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trường đại học nông nghiệp hà nội

Nhà xuất bản nông ngHiệp

Hà nội- 2009

Trang 2

L ời nói đầu

Để góp phần vào sự đổi mới và phát triển của ngành chăn nuôi, nhất là cung cấp tài liệu học tập cho sinh viên nông nghi ệp ngoài ngành ch ăn nuôi và thú y, tài li ệu tham khảo cho các học viên, cán bộ nghiên cứu, những độc giả quan tâm đến lĩnh vực này, chúng tôi

biên soạn giáo trình Chăn nuôi chuyên khoa, do TS Bùi Hữu Đoàn chủ biên, với mục đích

cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về chăn nuôi lợn, gia cầm và trâu bò - những đối tượng quan trọng nhất của ngành chăn nuôi nước ta

Về cấu trúc, vì thời lượng học môn Chăn nuôi chuyên khoa r ất ít (chỉ gồm 2 tín chỉ) nên giáo trình này ch ỉ tập trung vào nh ững nội dung quan trọng nhất của ngành chăn nuôi

mà thôi

Giáo trình gồm 3 phần, mỗi phần 3 chương, được biên soạn bởi các tác giả sau đây:

TS Vũ Đình Tôn biên soạn phần 1- Chăn nuôi lợn (gồm chương1 - Chăn nuôi lợn nái sinh sản; chương 2- Chăn nuôi lợn con; chương 3- Chăn nuôi lợn thịt)

TS Bùi Hữu Đoàn biên soạn phần 2 - Chăn nuôi gia cầm (gồm chương 4 - Ấp trứng

nhân tạo; chương 5- Ch¨n nuôi gà thịt; chương 6- Chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm)

PGS TS Nguyễn Xuân Trạch biên soạn phần 3- Chăn nuôi trâu bò (gồm chương

7- Chăn nuôi trâu bò sinh s ản; chương 8- Chăn nuôi trâu bò sữa; chương 9- Chăn nuôi trâu

bò thịt)

Để sử dụng giáo trình có hiệu quả trong khi học môn này, các học viên cần tham khảo thêm tài liệu của các môn cơ sở như sinh lý, sinh hoá, dinh d ưỡng, thức ăn, giống vật nuôi để hiểu kỹ và ứng dụng tốt các kiến thức trình bày trong tài liệu

Trong quá trình biên so ạn giáo trình, bên cạnh việc tham khảo các tài liệu quý trong

và ngoài nước, chúng tôi còn mạnh dạn đưa vào nhiều kết quả nghiên cứu chuyên ngành của nhiều tác giả cũng như những tiến bộ mới, các kinh nghiệm được rút ra qua nhiều chục năm nghiên cứu, giảng dạy và chỉ đạo sản xuất

Khi sử dụng giáo trình, sinh viên c ần liên hệ với các bài giảng của giáo viên, với tình hình thực tiễn trong sản xuất, tham khảo thêm tài liệu chuyên môn để hiểu các nội dung được trình bày một cách có hệ thống

Nhân dịp hoàn thành cu ốn giáo trình này, chúng tôi xin chân thành c ảm ơn sự giúp

đỡ và những ý kiến đóng góp hết sức quý báu của nhiều thế hệ các thầy giáo, cô giáo khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng Thuỷ sản, khoa Thú y, các cán b ộ nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp; Các đồng chí lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật các trang trại chăn nuôi; các thế hệ sinh viên và học viên cao học mà chúng tôi đã có cơ hội được giảng dạy

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do thời gian eo hẹp và đặc biệt là tốc độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật chăn nuôi, chắc chắn tài liệu sẽ còn rất nhiều thiếu sót Chúng tôi mong bạn đọc đóng góp ý kiến để giáo trình này được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản sau

Các tác giả

Trang 3

Bµi më ®Çu

1.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH CỦA MÔN HỌC

Đối tượng nghiên cứu là các vật nuôi chính: gia cầm, lợn và trâu bò, đó là các động vật

thuộc lớp chim và thú, đã được con người thuần hoá từ chim và thú hoang dại thông qua quá trình cải tạo và nuôi thích nghi lâu dài Tuỳ thuộc vào mục đích kinh tế khác nhau mà hiện nay chúng ta có thể nuôi nhiều giống gia súc, gia cầm khác nhau

Mục đích của môn học là giúp học viên nắm được kiến thức cơ bản về các giống gia

súc, gia cầm chính, kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc các loại vật nuôi chủ yếu… đồng thời ứng dụng được các kiến thức này vào thực tiễn chăn nuôi

1.2 MỘT SỐ THÀNH TỰU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ QUAN TRỌNG TRONG CHĂN NUÔI

Thành tựu về công tác giống

Các nhà khoa học đã đạt được nhiều tiến bộ trong nghiên cứu di truyền và trong công tác chọn lọc và tạo giống mới Sử dụng hiệu quả ưu thế lai (các tổ hợp lai giữa 4 dòng, thậm chí

là 6 – 8 dòng) để tạo ra các tổ hợp lai có năng suất cao đối với các giống gia súc, gia cầm cũng như cải tiến, cải tạo các giống địa phương

Nhiều hãng giống nổi tiếng đã cung cấp cho thị trường thế giới những giống gia súc gia cầm tuyệt vời theo các hướng sản xuất khác nhau: bò chuyên sữa, chuyên thịt, gà siêu trứng, siêu thịt, lợn siêu nạc Hầu hết các giống cao sản gồm nhiều dòng và con thương phẩm là sự

tổ hợp của các dòng cao sản đó

Thành tựu về công nghệ sản xuất thức ăn

Các Công ty sản xuất thức ăn nổi tiếng đang đưa ra thị trường chủng loại thức ăn phong phú và đa dạng, phù hợp với từng loại gia súc gia cầm, từng lứa tuổi và năng suất của chúng Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (dạng bột và dạng viên), thức ăn hỗn hợp đậm đặc và thức ăn hỗn hợp bổ sung cùng các chất phụ gia đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Việc hoàn thiện công nghệ sản xuất axit amin công nghiệp, enzym đã góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi, giảm chi phí thức ăn/1 đơn vị sản phẩm chăn nuôi, góp phần làm hạ giá thành đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

Hiện đại hoá quy trình chăn nuôi

Các trang thiết bị được dùng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm ngày càng hiện đại (hệ thống điều hoà tiểu khí hậu chuồng nuôi, hệ thống máng ăn, máng uống khép kín và tự động, máy ấp hiện đại ) đã góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ sức lao động cho công nhân và nâng cao thành tích sản xuất của con giống vật nuôi

Hiện đại hoá quy trình vệ sinh phòng bệnh

Các nhà khoa học trên thế giới cũng như trong nước đã sản xuất được nhiều loại vacxin, thuốc kháng sinh có phổ rộng, thuốc sát trùng có khả năng sát khuẩn cao, các qui trình phòng bệnh hiệu quả Các quy trình phòng trừ dịch bệnh tổng hợp, đảm bảo an toàn sinh học ngày càng được áp dụng rộng rãi và mang tính toàn cầu tất cả đều mang lại sự an toàn ngày càng cao, nhất là các trang trại quy mô lớn và hiện đại Đó cũng là một nguyên nhân để nhà nước khuyến cáo người chăn nuôi nên phát triển chăn nuôi trang trại quy mô lớn trong phạm vi cả nước

1.3 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.3.1.Tình hình chăn nuôi trên thế giới

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi trên thế giới đã có nhiều biến động cả về tốc độ phát triển, phân bố lại địa bàn và phương thức sản xuất, đồng thời xuất hiện nhiều nhân tố bất ổn như gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, vệ sinh an toàn thực phẩm và nhiều dịch bệnh mới…

Trang 4

a.Tình hình sản xuất và tiêu thụ thịt trên thế giới

Thịt và sản phẩm thịt là nguồn cung cấp quan trọng nhất về đạm, vitamin, khoáng chất… cho con người Chất dinh dưỡng từ động vật có chất lượng cao hơn, dễ hấp thu hơn là

từ rau quả Trong khi mức tiêu thụ thịt bình quân đầu người ở các nước công nghiệp rất cao thì tại nhiều nước đang phát triển, bình quân dưới 10 kg, gây nên hiện tượng thiếu và suy dinh dưỡng Ước tính, có hơn 2 tỷ người trên thế giới, chủ yếu ở các nước chậm phát triển và nghèo bị thiếu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin A, iodine, sắt và kẽm, do họ không được tiếp cận với các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng như thịt, cá, trái cây và rau quả Tại một số nước, tình hình tiêu thụ là (mức hiện nay/40 năm trước): Mỹ 124/89; EU: 89/56; TQ: 54/4; Nhật 42/8; Brazin 79/28 kg

Sản lượng sữa toàn cầu năm 1999/2002 là 580 triệu tấn, dự kiến đến năm 2050 là 1043 triệu tấn

Để đủ chất dinh dưỡng, mỗi người cần được ăn trung bình 20 g đạm động vật/ngày hoặc 7,3 kg / năm, tương đương với 33 kg thịt nạc, hoặc 45 kg cá, hoặc 60 kg trứng, hay 230

kg sữa Nguồn cung cấp: thịt được cung cấp chủ yếu là từ chăn nuôi các động vật nông nghiệp: bò, lợn, gia cầm; một ít trâu, dê và cừu Trong đó, thịt lợn là phổ biến nhất, chiếm trên 36%, tiếp theo là gia cầm, 33% và thịt bò, 24%

Một số khu vực khác còn có thêm thịt lạc đà, bò tây tạng, ngựa, đà điểu, bồ câu, chim cút… ngoài ra còn thịt cá sấu, rắn, thằn lằn…

Bảng 1 Sản xuất và tiêu thụ thịt trên thế giới trong một số năm gần đây

Trang 5

Bảng 2 Số lượng vật nuôi và tỷ trọng các loại thịt

Hoa Kỳ là nước sản xuất các sản phẩm gia cầm lớn nhất thế giới, tiếp theo là các nước Argentina, Brazil, Trung Quốc, Philippin, và Thái Lan Ấn Độ có mức tăng chậm hơn

vì sự lây lan mạnh của vi rút H5N1, dịch cúm gia cầm đã giết hàng triệu gia cầm

Năm 2007, sản lượng thịt lợn đã tăng gần 2 %, đạt 101 triệu tấn Cũng năm này, dịch bệnh về đường hô hấp đã làm giảm ít nhất 1 triệu con ở Trung Quốc Tuy vậy, nước này vẫn tiếp tục dẫn đầu thế giới về sản xuất thịt lợn, cho dù ngành chăn nuôi lợn đang được mở rộng

ở Nam Mỹ: Argentina, Brazil, và Chile… nhờ vào lợi thế có thức ăn dồi dào, giá rẻ

Trong năm 2007, sản lượng thịt bò tăng 2,3 %, đạt gần 67 triệu tấn Hoa Kỳ vẫn là nước lớn nhất thế giới sản xuất các sản phẩm thịt bò Mặc dù vậy, 56 % sản lượng thịt bò vẫn

do các nước đang phát triển cung cấp

Về thức ăn, hơn 1/3 ngũ cốc và 90% đậu tương trên thế giới không phải để làm thức

ăn cho người mà để làm thức ăn gia súc Sản xuất đậu tương làm thức ăn gia súc ước tính tăng 60% trong năm 2020 Sự gia tăng này đã làm mất đi nhiều cánh rừng đại ngàn quý giá ở Bra-xin, Pa-ra-goay và Argentina, làm mất đi môi trường sống hoang dã và đa dạng sinh học Việc trồng đỗ tương đã làm mất đi 8 tấn đất/ha/năm do sói mòn và rửa trôi (WWF), nhiều cánh rừng bị thu hẹp lại, nhường chỗ cho các cánh đồng đậu tương bạt ngàn

Chăn nuôi tức là chuyển đạm thực vật thành đạm động vật Việc sản xuất protein động vật từ thực vật đã giảm hiệu quả đi rất nhiều Trên một diện tích là 1 acer (gần 4000

m2), nếu trồng đậu tương sẽ thu được 356 pound (0,45kg) protein hữu dụng; lúa 261; ngô 211; ngũ cốc khác 192; lúa mì 138; trong khi đó, cũng trên diện tích đó, nếu sản xuất sữa chỉ thu được 82 pound; trứng 78; thịt các loại 45; thịt bò 20 pound protein hữu dụng mà thôi

Về năng lượng, cần phải chuyển hóa 4,5 calo thực vật để có 1 calo trứng, với thịt bò

là 9 calo Để sản xuất 1 kg thịt hơi, người ta phải tiêu tốn 10 kg thức ăn cho bò, 4 - 5,5 kg cho lợn và 2,1 - 3 kg cho gà

Sản xuất chăn nuôi tiêu thụ rất nhiều nước sạch, từ1995-2025, lượng nước này đã tăng lên 71% Dự kiến, đến năm 2025, 64% dân s ố thế giới sẽ sống trong các khu vực thiếu nước ( IFPRI, FAO, 2006) Trên thế giới, bình quân mỗi người tiêu thụ18.250 lít nước/năm, trong khi đó, để sản xuất 1 kg thịt bò, đã tiêu thụ tới 20.000 lít nước (Liu J và Savenije H

2008 Lunqvist J et al 2008 SIWI)

Trang 6

Con giống: trong những năm qua, các nhà chăn nuôi đã rất nỗ lực nghiên cứu để cải tiến chất lượng thịt và sản phẩm chăn nuôi, đặc biệt là kết hợp các đặc điểm tốt của vật nuôi bằng biện pháp lai giống, họ đã tạo ra nhiều tổ hợp vật nuôi có chất lượng thịt và thân thịt cao, có khả năng kháng bệnh

Giống bò: bò gốc châu Á như bò Brahman, Gyr cùng cùng con lai của chúng đang được phổ biến tại hầu hết các nước nhiệt đới Các giống Angus, Charolais, Hereford, Limousin và Simmental phổ biến ở châu Âu Bên cạnh đó, giống bò Wagyu của Nhật Bản và con lai của chúng với bò châu Âu cũng ngày càng phổ biến

Giống gà: hầu hết các giống gà nhà hiện nay trên thế giới đều có nguồn gốc từ giống

gà lông màu của châu Á, chúng to hơn, có năng suất cao hơn tổ tiên, được chia làm 4 nhóm: chuyên trứng, chuyên thịt (hoặc kiêm dụng), làm cảnh và gà chọi, bao gồm 1233 giống đã được công nhận Hầu hết gà thương phẩm đều là con lai

Giống lợn: trên khắp thế giới, có rất nhiều giống lợn bản địa đang tồn tại, chúng thích nghi tốt với các điều kiện địa phương Lợn thương phẩm bao gồm các giống chủ yếu: Landraces (Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Ý…), các giống Đại bạch ở châu Âu, được lai với giống Pietrain của Bỉ Ở châu Á, có các giống lợn đen Bắc Kinh, Meissan, của Trung Quốc và Móng Cái của Việt Nam rất phổ biến

Cũng như ở gà, hầu hết lợn thương phẩm đều là con lai

b.Tình hình sản xuất và tiêu thụ trứng

Từ 1990 -2005, sản lượng trứng của toàn thế giới đã tăng gấp đôi, đạt 64 triệu tấn, thấp hơn 1% so với năm 2004 Ngày nay, cả thế giới đang nuôi khoảng 4,93 tỷ con gà đẻ, năng suất trung bình là 300 trứng/năm Theo dự kiến của FAO, đến năm 2015, thế giới sẽ sản xuất 72 triệu tấn trứng

Trong hơn bốn thập kỷ vừa, sản xuất trứng liên tục tăng lên ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn

Độ, và Mê-hi-cô Hầu hết các nước đang phát triển cũng có sản lượng trứng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu của sự tăng dân số Từ 1990 đến 2005, Trung Quốc chiếm 64 % sự tăng trưởng sản lượng trứng của toàn thế giới Năm 2005, một mình Trung Quốc sản xuất gần 44% sản lượng trứng toàn cầu, đạt 28,7 triệu tấn, gấp năm lần nước đứng tiếp theo trong bảng phân loại, xu hướng này sẽ còn tiếp tục Dự đoán, đến năm 2015, sản lượng trứng của nước này sẽ tăng lên 23% Năm 2000, các nước đang phát triển ở châu Á đã sản xuất gấp hai lần sản lượng trứng của tất cả các nước công nghiệp phát triển

Sản lượng trứng ở Hoa Kỳ năm 2005 tăng 13% so với năm 1995 (trong khi ở Trung quốc là 34% cùng kỳ) Các nước Anh, Nhật Bản, Hung-ga-ri, và Đan Mạch, sản lượng trứng năm 2000 thấp hơn năm1998 Từ năm 1961 - 2000, ở các nước công nghiệp phát triển tốc độ tăng trưởng khá thấp, chỉ đạt 1,6%; tăng từ 18 triệu đến 20 triệu tấn, do cung đã bão hòa và vượt quá nhu cầu trong nước

Ở các nước công nghiệp, người dân tiêu thụ trứng gấp 2 lần so với các nước đang phát triển, trung bình là 226 quả/năm Có 30 quốc gia có tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người nhanh nhất, trong đó có Trung Quốc, Li-bi… FAO dự báo rằng trong tương lai, tốc độ tăng trưởng mạnh nhất về tiêu thụ trứng ở thế giới các nước đang phát triển như Trung Quốc, nơi mà thu nhập và dân số vẫn đang tăng mạnh

c Các hệ thống chăn nuôi

Tổ chức FAO (Sere và Steinfeld, 1996) đã xác định có 3 hệ thống chăn nuôi chính:

hệ thống công nghiệp, hệ thống hỗn hợp và các hệ thống chăn thả

Hệ thống chăn nuôi công nghiệp là những hệ thống các vật nuôi được tách khỏi môi trường chăn nuôi tự nhiên, toàn bộ thức ăn, nước uống… do con người cung cấp và có hệ thống thu gom chất thải Các hệ thống này cung cấp trên 50% thịt lợn và thịt gia cầm toàn

Trang 7

cầu, 10 % thịt bò và cừu Các hệ thống này thải ra một lượng chất thải độc hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất

Hệ thống hỗn hợp, là hệ thống trang trại trong đó có cả sản xuất trồng trọt và chăn nuôi Đây là hệ thống cung cấp 54% lượng thịt, 90 %lượng sữa cho toàn thế giới Đây cũng

là hệ thống chủ yếu chăn nuôi nhỏ lẻ ở các nước đang phát triển

Hệ thống chăn thả là hệ thống chăn nuôi mà trên 90 % thức ăn cho vật nuôi được cung cấp từ đồng cỏ, bãi chăn thả… dưới 10% còn lại được cung cấp từ các cơ sở khác Các

hệ thống này chỉ cung cấp được cho thế giới 9% tổng sản phẩm thịt toàn cầu, nhưng là nguồn thu nhập chính của trên 20 triệu gia đình trên thế giới

d Xu hướng phát triển

Có một xu thế đáng chú ý, đó là chăn nuôi theo phương thức nuôi nhốt công nghiệp đang bị giảm mạnh tại phương tây (do những hậu quả nặng nề về môi trường và xã hội) thì lại đang bùng lên, phát triển mạnh ở châu Á, nơi mà các nhà chăn nuôi có thể tiến hành kinh doanh theo phương thức ấy mà ít bị can thiệp bởi các cá nhân và phong trào phản đối về sự

vi phạm quyền lợi động vật và tàn phá môi trường

Ở Trung Quốc cũng như nhiều nước đang phát triển khác, người ta đã cơ bản chuyển

từ sản xuất tại các nông trại truyền thống, chăn thả nhỏ lẻ sang trang trại quy mô lớn, gần 60

% trứng của Trung Quốc sản xuất năm 2005 đã được sản xuất trong các trang trại có từ 500 mái đẻ trở lên Ở các nước đang phát triển, các trang trại chăn nuôi lớn chủ yếu nằm trong các khu vực gần hay ngay trong các thành phố lớn, gây ô nhiễm môi trường nặng nề, đây cũng là thách thức lớn của thế kỷ 21

Trong thời gian gần đây, trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều bệnh dịch mới, điển hình là dịch cúm gia cầm, cúm lợn, tai xanh, bò điên…chúng lây lan rất nhanh trong điều kiện chăn nuôi chật chội, tập trung đông đúc Việc sử dụng thuốc kháng sinh tràn lan trong các trang trại công nghiệp đã làm cho hiện tượng nhờn thuốc trở nên phổ biến Ở Hoa Kỳ, ngành chăn nuôi tiêu thụ đến 70% tổng lượng thuốc kháng sinh hàng năm

Từ giữa tháng 11/2003 đến tháng 2/2004, ở Thái Lan, để ngăn chặn sự lây lan của dịch cúm gia cầm, người ta đã hủy diệt của gần một nửa trong tổng số đàn gà đẻ 30 triệu con của nước này

Ngành chăn nuôi đang thải ra 18 % lượng khí gây hiệu ứng nhà kính (greenhouse gas

-GHG), lượng carbon dioxide do chăn nuôi thải ra cao hơn nhiều so với ngành giao thông vận tải Bên cạnh đó, ngành này còn thải ra 37 % khí methane (làm nóng trái đất, tác hại gấp 20 lần ảnh hưởng của khí carbon dioxide), 65% nitơ oxide, một trong những loại khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh nhất, hầu hết đều từ phân động vật Phần lớn chất thải của các trang trại chăn nuôi công nghiệp đã vượt quá nhu cầu sử dụng của các trang trại trồng trọt lân cận Kết quả là, phân, từ chỗ là một nguồn phân bón cólợi trở thành chất thải độc hại: nitrat, kim loại nặng, thuốc kháng sinh … trong phân thấm vào nước ngầm, gây ô nhiễm nước bề mặt, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe cộng đồng

Thái Lan đã thành công khi đưa ra chính sách đánh thuế rất cao đối với những trang trại trong vùng có bán kính cách trung tâm thủ đô Bangkok 100 km, nhờ vậy, trong hơn một thập kỉ qua, số lượng gia súc trong khu vực này đã giảm đi rõ rệt

Theo Tiến sĩ Kate Rawles, trong thế kỷ 20, nhân loại đã đặt ra 3 mục tiêu để phát triển bền vững: bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội Sang thế kỷ 21, được bổ sung thêm 1 mục tiêu nữa, đó là đảm bảo quyền lợi động vật (animal welfare)

Nguồn: Katie Carrus, Brian Halweil, 2008

Webmaster, FAO, 2009

Trang 8

1.3.2 Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam

Bảng 3 Số lượng gia súc gia cầm của nước ta trong một số năm gần đây

2010 đạt: 36 kg thịt xẻ, 82 quả trứng, 4,3 kg sữa; đến năm 2015 đạt: 46 kg thịt xẻ, 116 quả trứng, 7,5 kg sữa và đến năm 2020 đạt trên 56 kg thịt xẻ, trên 140 quả trứng và trên 10 kg sữa Tỷ trọng thịt được giết mổ, chế biến công nghiệp so với tổng sản lượng thịt đến năm

2010 đạt khoảng 15%; đến năm 2015 đạt 25% và đến năm 2020 đạt trên 40%

Đến năm 2020, tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 35 triệu con, trong đó đàn lợn ngoại nuôi trang trại, công nghiệp 37% Tổng đàn gà tăng bình quân trên 5% năm, đạt khoảng trên 300 triệu con, trong đó đàn gà nuôi công nghiệp chiếm khoảng 33% Đàn thủy cầm giảm dần còn khoảng 52-55 triệu con; đàn thủy cầm nuôi công nghiệp trong tổng đàn tăng dần, bình quân 8% năm Đàn bò sữa: tăng bình quân trên 11% năm, đạt khoảng 500 ngàn con, trong đó 100% số lượng bò sữa được nuôi thâm canh và bán thâm canh Đàn bò thịt: tăng bình quân 4,8% năm, đạt khoảng 12,5 triệu con, trong đó bò lai đạt trên 50% Đàn trâu: ổn định với số lượng khoảng 2,9 triệu con, nuôi tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Đàn dê cừu: tăng bình quân 7% năm, đạt khoảng 3,9 triệu con

Trang 9

1.1 ĐẶC ĐIỂM VÀ HOẠT ĐỘNG SINH DỤC CÁI CỦA LỢN

1.1.1 Thành thục sinh dục

Xác định thời gian thích hợp để phối giống cho lợn cái hậu bị là hết sức quan trọng Thời điểm phối giống có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng và hiệu quả của chăn nuôi lợn nái Nó có thể kéo dài thời gian sử dụng nái, nếu phối giống quá sớm lợn sinh sản kém, số lượng con sơ sinh ít, trọng lợn con sơ sinh thấp Nếu phối giống quá muộn lợn dễ bị béo, chi

phí thức ăn cao mà hiệu quả thấp

Khi lợn đạt đến khối lượng và tháng tuổi nhất định thì mới có sự thành thục về tính Sự thành thục về tính là khi lợn cái có đầy đủ biểu hiện về động dục, nếu được phối giống sẽ thụ thai và đẻ con Lợn thành thục về tính có biểu hiện cơ thể đã phát triển đầy đủ, các cơ quan sinh sản đã thể hiện rõ đặc điểm của giới Bẹ vú phát triển và lộ rõ hai hàng vú, âm hộ to lên hồng hào, lợn có biểu hiện nhảy cưỡi lên lưng nhau

Thời gian thành thục về tính thường sớm hơn thời gian thành thục về thể vóc Khi thành thục về tính lần đầu khối lượng của lợn rất nhỏ như cái nội chỉ đạt 10 -15 kg, cái lai ngoại nội

50 -60 kg, cái ngoại 80 – 90 kg nên chưa thể cho phối giống được Chúng ta cần bỏ qua 1 – 2 lần động dục đầu hoặc nhiều hơn ở lợn nội mới cho phối, khi lợn đã thành thục về thể vóc

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của lợn cái như : giống, thức ăn, khối lượng cơ thể, sự thay đổi môi trường sống,

1.1.2 Cơ chế điều khiển hoạt động sinh dục của lợn cái

Hoạt động sinh dục của lợn cái chịu ảnh hưởng của cả yếu tố thần kinh và thể dịch (hình 1.1)

Dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh, não bộ tác động đến vùng dưới đồi (hypothalamus) sản sinh ra hooc-môn giải phóng hooc-môn sinh dục GnRH (Gonadotropin Releasing Hormon) Hooc-môn này sẽ kích thích thuỳ trước tuyến yêu sản xuất ra các hooc-môn như FSH, LH và Prolactin

FSH (Follicle Stimulating Hormone): thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của noãn bao, làm cho noãn bao phân chia qua các thời kỳ khác nhau

Trang 10

LH (Luteinizing Hormone); Làm cho trứng chín và rụng, kích thích sự hình thành thể vàng

FSH cùng với LH kích thích sự tiết estrogen buồng trứng, hooc-môn này gây động dục

ở con cái, làm cho sừng tử cung xung huyết, làm tăng cường sự phát triển của các bao tuyến

Hình 1-1 Sơ đồ cơ chế điều khiển hoạt động sinh dục của lợn nái

Khi thể vàng được hình thành sau khi rụng trứng và sẽ sản sinh ra hooc-môn progesteron Hooc-môn này cùng với estrogen thúc đẩy sự tăng sinh lớp nội mạc tử cung chuẩn bị đón hợp tử Progesteron duy trì quá trình mang thai, kích thích tuyến vú phát triển

và ức chế tuyến yên tiết FSH và LH

Khi con cái động dục thì nồng độ môn oestradiol và LH tăng lên rất cao còn môn progesteron lại giảm rất thấp Sau khi kết thúc quá trình động dục thì trái lại progesteron tăng dần và hai loại hooc-môn trên lại có xu hướng giảm đi Nồng độ progesteron tăng đạt đỉnh tối đa sau động dục lúc 13-14 ngày sau giảm rất nhanh do thể vàng teo biến, khi đó

hooc-Vùng dưới đồi (Hypothalamus)

Thuỳ trước tuyến yên (Hypophys)

Buồng trứng

Oestrogen Thể vàng

Trang 11

không còn ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết FSH và LH và nồng độ hai loại hooc-môn này cũng như estrogen tăng lên để chuẩn bị cho lần động dục sau

1.1.3 Tuổi và khối lượng phối giống thích hợp

Việc xác định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái nhằm tăng được thời gian nuôi hữu ích (giảm thời gian không sản xuất trước khi đẻ lứa đầu) mà không làm ảnh hưởng gì đến năng suất của con vật ở giai đoạn sau

Muốn đưa lợn cái vào sử dụng sớm đòi hỏi phải có các điều kiện nuôi dưỡng tốt cả trước khi phối giống cũng như khi đã có chửa

Tỷ lệ rụng trứng sẽ tăng lên từ lần động dục đầu cho đến lần thứ ba Nếu phối cho lợn vào chu kỳ thứ ba có thể tăng được số con trên lứa song lại mất 2 chu kỳ nuôi lợn không sản xuất

Khi lợn cái đã thành thục đầy đủ về tính đồng thời với sự thành thục về thể vóc ở mức

độ nhất định là lúc phối giống thích hợp nhất

Các giống lợn khác nhau có tuổi thành thục về tính và thể vóc khác nhau Trong chăn nuôi cần chú ý chăm sóc sao cho lợn đạt khối lượng yêu cầu khi đã thành thục về tính Sự phát triển đồng đều này giúp cho năng suất sinh sản của lợn nái tốt hơn Lợn cái hậu bị khi đã gần đạt khối lượng phối giống, nên chuyển đến nuôi gần chuồng lợn đực để kích thích lợn động dục Khối lượng phối giống thích hợp của lợn nội từ 50-60 kg, lợn lai khoảng 80-90 kg

và của lợn ngoại từ 100 đến 110 kg

Theo khuyến cáo ở Pháp đối với các giống Yorkshire Large White, Landrace hay lợn lai thì nên phối lúc khối lượng cơ thể 110-115 kg vào lúc 7 tháng tuổi là hợp lý Hiện nay theo quy trình chăn nuôi lợn ngoại ở Việt Nam cũng áp dụng phối giống cho lợn cái lần đầu khi đạt 110 kg vào khoảng 7 đến 8 tháng tuổi

1.2 PHƯƠNG PHÁP PHỐI GIỐNG CHO LỢN CÁI

1.2.1 Chu kỳ động dục của lợn cái

Chu kỳ động dục của lợn cái là thời gian từ khi bắt đầu động dục lần này đến lần động dục lần sau Khoảng thời gian đó thường từ 18 – 21 ngày (19,1 ± 1,77, chiếm 94,5 số chu kỳ) Lợn cái hậu bị thường có chu kỳ động dục ngắn hơn từ 17 đến 18 ngày đôi khi còn ngắn hơn nữa (ITP, 2000)

Thời gian này giữa các giống khác nhau thì không có sự khác nhau nhưng tuổi và chế độ chăm sóc có ảnh hưởng tương đối rõ Như lợn còn non thời gian chu kỳ động dục ngắn hơn lợn trưởng thành như lợn Móng Cái 1 năm tuổi chu kỳ động dục khoảng 15 -17 ngày, trưởng thành 18 – 20 ngày

Chu kỳ động dục của lợn cái được chia thành 4 giai đoạn như sau :

- Giai đoạn trước động dục

Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ động dục, nó xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh

lý Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao, niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều nhất, lợn bắt đầu xuất hiện tính dục

- Giai đoạn động dục

Trong giai đoạn này những biến đổi về bên ngoài cơ thể trong giai đoạn trước động dục càng thể hiện rõ dàng hơn Âm hộ xung huyết, niêm mạc trong suốt, niêm dịch chảy ra nhiều Cuối giai đoạn này lợn hưng phấn cao độ, lợn ở trạng thái không yên tĩnh, ăn uống giảm rõ rệt, chạy, kêu phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác Thích gần con đực, xuất hiện các tư thế của phản xạ giao phối: hai chân sau dạng ra, đuôi cong về một bên Những dấu hiệu này thường biểu hiện ở lợn nội rõ ràng hơn lợn ngoại Thời gian của giai đoạn động dục phụ thuộc vào tuổi, giống, chế độ chăm sóc quản lý

Trang 12

- Giai đoạn sau động dục

Đặc điểm của giai đoạn này là toàn bộ cơ thể và cơ quan sinh dục dần dần được khôi phục về trạng thái sinh lý bình thường Tất cả các phản xạ động dục, tính hưng phấn cũng dần dần mất hẳn, lợn chuyển sang yên tĩnh

- Giai đoạn yên tĩnh

Đây là giai đoạn dài nhất, lợn trở nên yên tĩnh hoàn toàn, các cơ quan sinh dục trở về bình thường Giai đoạn này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào lứa tuổi và giống

Trong thực tế ta còn gặp các trường hợp lợn cái động dục bất thường như động dục thầm lặng (silent) và hiện tượng lưỡng tính Động dục thầm lặng là hiện tượng lợn đến thời

kỳ động dục nhưng không có các biểu hiện động dục rõ ràng, không bỏ ăn hoặc kêu rít… làm cho người chăn nuôi rất khó nhận biết lợn động dục Chu kỳ thường kéo dài từ 36 – 45 ngày (Burger cho biết hiện tượng này chiếm 1,49% của các chu kỳ) Hiện tượng lưỡng tính ở lợn cái cũng có thể gặp Trường hợp này cơ quan sinh dục bên ngoài của lợn cái bình thường, nhưng có những hành động giới tính thường xuyên, đây thường là những con lợn bị rối loạn về hooc-mon sinh dục Lợn cái thường có biểu hiện nhảy lên lưng con khác, nhất là con đực, nhưng không hoặc ít khi cho con đực nhảy lên Cần phát hiện ra những con này để loại bỏ sớm, hạn chế sự ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái

1.2.2 Thời điểm phối giống cho lợn cái

Căn cứ vào chu kỳ động dục, thời gian rụng trứng và thời gian sống cũng như thời gian cần thiết để tinh trùng vận động đến vị trí thích hợp trong ống dẫn trứng để xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn cái

Thời gian rụng trứng của lợn cái thường bắt đầu vào khoảng 16 giờ sau động dục và có thể kéo dài đến 70 giờ Tỷ lệ trứng rụng trong thời gian động dục kể từ 0 giờ chịu đực như sau :

Đối với lợn hậu bị giống ngoại phối giống lần đầu vào 12 giờ tính từ 0 giờ chịu đực và sau 12 giờ cho phối lại Còn đối với lợn nái ngoại đã đẻ 1 lứa ta phối muộn hơn tức vào 24 giờ sau 0 giờ chịu đực và sau đó 12 giờ lại cho phối tiếp (hình 1.2)

Trang 13

Hình 1-2 Thời điểm phối giống thích hợp ở lợn

Hiện nay trong thực tiễn người ta thường sử dụng phương pháp phối nhiều lần, nhất là trong thụ tinh nhân tạo, lần trước cách lần sau khoảng 12 giờ và có thể phối tới 3 lần cho một lợn nái khi động dục nhất là lợn nái ngoại Việc phối giống nhiều lần cho một lợn nái vào thời điểm động dục không chỉ có thể tăng được tỷ lệ thụ thai từ 5-8% mà có thể tăng được khoảng 0,4 con/lứa (ITP, 2000)

1.2.3 Phương pháp phối giống

Có hai phương pháp phối giống cho lợn đó là phối trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Thụ tinh nhân tạo là một bước tiến trong phối giống cho gia súc, nó đã góp phần nâng cao kết quả thụ thai ở lợn nái, lợn con đẻ ra khoẻ mạnh Khi tiến hành thụ tinh nhân tạo cần phải đưa tinh quản vào qua cổ tử cung nhằm nâng cao tỷ lệ thụ thai do tăng được tỷ lệ sống cũng như sức sống của tinh trùng trong đường sinh dục cái

Ưu điểm của thụ tinh nhân tạo

- Giảm được số lượng lớn đực giống 8 – 10 lần so với cho lợn phối trực tiếp, tiết kiệm được thức ăn, chuồng nuôi, công lao động để chăn nuôi lợn đực giống…

- Nâng cao chất lượng đàn giống nhanh hơn nhờ vào chọn lọc được đực giống ưu tú nhân lên được nhiều lần

- Rút ngắn được khoảng cách phối giống, có thể vận chuyển được tinh đi xa, từ vùng này qua vùng kia, từ nước này sang nước khác

- Hạn chế lây truyền các bệnh truyền nhiễm qua đường sinh dục do lợn đực và lợn cái giao phối trực tiếp với nhau gây ra

- Tránh được các ảnh hưởng stress do đực giống nhảy trực tiếp, hoặc do phải vận chuyển đực giống đi xa Khắc phục được tình trạng lợn đực quá to mà lợn cái quá nhỏ khi cho phối giống

Nhược điểm của thụ thinh nhân tạo

- Giảm tính hưng phấn của lợn cái, nên có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ thu thai

Trang 14

- Đòi hỏi kỹ thuật viên cần có trình độ kỹ thuật, có phương pháp khai thác tinh và thụ tinh đúng kỹ thuật

- Cần phải có các trang thiết bị, giá nhảy, khai thác tinh, cần có thời gian tập luyện tạo thói quen cho đực giống

Tuy nhiên kết quả của thụ tinh nhân tạo còn phụ thuộc vào chất lượng tinh dịch, cách bảo quản tinh dịch…

Những chú ý khi phối giống cho lợn nái

- Cần phối giống ở nơi yên tĩnh: nếu cho lợn nái được phối giống tại chuồng lợn đực hoặc chỗ phối giống sẽ tốt hơn tại chuồng lợn nái Nếu lợn đực quá to phải có giá đỡ nếu không ảnh hưởng đến lợn nái và có như vậy lợn đực mới xuất hết tinh dịch

- Trước khi phối : rửa sạch âm hộ

- Sau khi phối: nếu lợn nái được nuôi thành đàn nên để lợn nái vào nơi có thể tránh được những con khác cắn đuôi hay nhảy lên nó có thể gây chết phôi

- Không nên cho phối với những lợn đực khai thác quá mức, như vậy có thể nồng độ tinh trùng ít

- Sau khi phối, phải ghi lại ngày phối và đực phối để tiện theo dõi

1.3 KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN CÁI

1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của lợn nái

a) Khả năng sinh sản

Khả năng sinh sản của lợn nái là chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế hết sức quan trọng, nó phản ánh phẩm chất giống của con nái và kỹ thuật chăn nuôi Khả năng sinh sản của lợn nái được đánh giá theo các chỉ tiêu sau

+ Số con sơ sinh trên ổ

Đây là chỉ tiêu rất quan trọng nó phản ánh khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, đồng thời phản ánh chất lượng tinh dịch, kỹ thuật thụ tinh của kỹ thuật viên và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa

Trong vòng 24h sau khi đẻ ra, lợn con chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Những lợn con được sinh ra mà bị yếu, phát triển không cân đối dễ bị chết ngay sau khi sinh ít thời gian, thường là do kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái kém Ngoài ra yếu tố ngoại cảnh có tác động rất lớn đến số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ vì đây là lúc lợn con thay đổi hoàn toàn môi trường sống, từ trong bụng mẹ tất cả trao đổi chất đều thông qua nhau thai, nay chuyển sang môi trường sống mới hoàn toàn khác Lợn con chưa thích nghi kịp thời nên chưa nhanh nhẹn, dễ bị mẹ đè chết, hoặc lợn mẹ đẻ vào ban đêm không có sự can thiệp kịp thời của kỹ thuật viên nên lợn dễ bị chết rét vào mùa lạnh, hay chết ngạt do không bóc tách kịp thời màng bọc…

Trong thực tế số lợn con đẻ ra thường có một số loại như sau :

- Thai non

Loại thai phát triển không hoàn thiện có thể do lợn mẹ bị ốm hoặc có các tác động của hoá chất làm cho lợn con phát triển không hoàn thiện mặc dù đã kết thúc giai đoạn chửa Loại thai non này đã chết trong thời gian lợn nái đang mang thai hoặc chết trước khi sinh ra Nguyên nhân có thể do lợn bị bệnh nhiễm trùng như lepto, bệnh giả dại hoặc do thiếu chất dinh dưỡng…

- Thai gỗ

Là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35 – 90 ngày tuổi, thai chết ở giai đoạn này thường không gây sẩy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại Các thai không được

Trang 15

cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng do nhau thai phát triển không đầy đủ, hoặc các thai bị nhiễm virut: Enterovirus, Parvovirus

Lợn nái bị nhễm Parvovirus lúc chửa được 70 ngày thì gây ra thai gỗ, lợn cái hậu bị cần được nuôi cách ly, tiêm phòng đầy đủ, chăm sóc đúng kỹ thuật sẽ hạn chế được bệnh

Số lợn con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ sẽ là những nguyên nhân làm giảm

số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24h

Tuy nhiên trong thực tế việc xác định tỷ lệ sống thường được tiến hành ngay sau khi đẻ tức căn cứ vào số con đẻ ra con sống chứ không phải đợi tới 24 giờ sau đẻ vì có tới 70% số lợn nái đẻ vào ban đêm nên rất khó khăn trong việc xác định vào lúc 24 giờ sau khi đẻ

+ Số lợn con cai sữa trên lứa

Là số lợn con còn sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài ngắn là tuỳ thuộc vào trình độ kỹ thuật chế biến thức ăn cho lợn con, tuỳ thuộc vào các giống lợn khác nhau Ngày nay với công nghệ chế biến thức ăn tiên tiến, người chăn nuôi có thể cai sữa cho lợn con sớm ở 21, 28 và 35 ngày tuổi Tách lợn con ra khỏi lợn mẹ sớm sẽ giảm tỷ lệ hao hụt của nái, lợn nái nhanh động dục trở lại và từ đó tăng số lứa đẻ trên năm Tuy nhiên cai sữa sớm cho lợn con không dễ, cần phải có thức ăn phù hợp với khả năng tiêu hoá hạn chế của lợn con vào thời từng điểm, giúp lợn con sinh trưởng và phát triển bình thường mà không cần sữa mẹ

Số lợn con cai sữa trên lứa là chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật rất quan trọng, quyết định Năng suất của chăn nuôi lợn, nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ và việc áp dụng quy trình tiêm phòng ngăn ngừa các yếu tố gây bệnh cho lợn

Tỷ lệ lợn con sống đến cai sữa được tính :

Tỉ lệ nuôi sống (%) = x 100

S ố con để lại nuôi

Trong một ổ lợn nếu số lợn con sinh ra nhiều, để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của lợn con, thường người ta chỉ để lại số con nuôi bằng số vú lợn mẹ có Số con để lại nuôi

sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đàn con, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái Tuy nhiên, mục tiêu của con người là tăng số lợn con cai sữa của mỗi lợn nái trong năm bởi vậy những lợn nái đẻ nhiều con luôn là một chỉ tiêu mong muốn lựa chọn và cố gắng tối đa hoá số con

để nuôi

+ Số con cai sữa/nái/năm

Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Chỉ tiêu này không chỉ phụ thuộc vào số lợn con đẻ ra, số lợn con để nuôi mà còn phụ thuộc vào thời gian cai sữa cũng như tỉ lệ nuôi sống lợn con Bởi vậy trong chăn nuôi lợn nái luôn phải quan tâm đến chỉ tiêu này

Trang 16

+ Chất lượng đàn con

Đánh giá chất lượng đàn con là một trong những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong chăn nuôi lợn nái sinh sản

- Khối lượng sơ sinh

Là khối lượng lợn con được cân ngay sau khi đẻ ra và chưa cho bú sữa đầu Thường lợn con sau khi đẻ ra được cắt rốn và lau khô rồi cân luôn

Khối lượng sơ sinh toàn ổ phản ánh khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc chăn nuôi lợn nái mang thai của người chăn nuôi Việc cân khối lượng sơ sinh lợn con là cần thiết để có kế hoạch chăm sóc cũng như chọn lọc sau này

- Khối lượng cai sữa

Khối lượng cai sữa là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ và kỹ thuật sử dụng thức ăn cho lợn con Khối lượng cai sữa được cân vào ngày cai sữa trước khi cho ăn Bởi vậy, khối luợng cai sữa phụ thuộc rất lớn vào ngày tuổi của lợn con khi cai sữa Ngày nay, với việc chế biến ra thức ăn tập ăn phù hợp cho lợn con, với nhiều chủng loại có chất lượng cao và rất đa dạng, đã giúp cho việc cai sữa cho lợn con sớm hơn Hiện tại nhiều cơ sở bắt đầu tập cho lợn con ăn ngay từ tuần tuổi thứ nhất và cai sữa khi lợn con ở 3 đến 4 tuần Khối lượng lợn con cai sữa rất quan trọng vì nó là nền tảng và điểm xuất phát cho con giống khi chuyển sang nuôi ở giai đoạn tiếp theo Việc cân khối lợn con ở thời gian cai sữa

có thể giúp cho người chọn giống căn cứ để gây thành lợn giống hậu bị hay không

- Tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con

Đây là chỉ tiêu nói lên khả năng kỹ thuật chăm sóc của người nuôi dưỡng và kỹ thuật nuôi con của lợn mẹ Người chăn nuôi cần phải cân khối lượng sơ sinh của lợn con sau đó có hướng chăm sóc ưu tiên cho các con nhỏ, khi cố định đầu vú cần cố định những con nhỏ ở vú phía trước ngực, ở đây vú thường nhiều sữa hơn

Tỷ lệ đồng đều được tính bằng tỷ lệ phần trăm về khối lượng giữa cá thể nhỏ nhất so với

cá thể lớn nhất trong đàn Sự chênh lệch khối lượng giữa hai cá thể này càng ít thì tỷ lệ đồng đều càng cao

b) Khả năng tiết sữa

Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu nói nên khả năng nuôi con của lợn mẹ, đặc điểm của giống và kỹ thuật chăm sóc của người chăn nuôi

Để ước tính khả năng sản xuất sữa của lợn nái ta có hai cách:

Cách thứ nhất: tiến hành cân lợn con vào các thời điểm khác nhau rồi dựa vào công thức

để ước tính sản lượng sữa Cách này căn cứ vào khối lượng lợn con tăng lên trong tháng thứ nhất sau đẻ và số ki-lô-gam sữa cần thiết để tạo ra 1 kg lợn con Hiện nay cách này ít được sử dụng do lợn con thường được tập cho ăn sớm và cai sữa sớm

Cách thứ hai: đánh giá khả năng tiết sữa của lợn nái dựa vào khối lượng toàn ổ lợn con lúc 21 ngày Sở dĩ dựa vào thời gian này là do thông thường lượng sữa tiết ra của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất vào tuần thứ ba sau đẻ sau đó có xu hướng giảm dần Bởi vậy khối lượng lợn con ở giai đoạn này phụ thuộc chính vào số lượng cũng như chất lượng sữa tiết ra Hơn nữa việc đo chỉ tiêu này cũng rất đơn giản để có thể xác định được khả năng tiết sữa của lợn nái

1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái

Năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố và nó không chỉ được quyết định bởi lợn nái mà còn tác động rất lớn của các yếu tố bên ngoài Những yếu tố bên ngoài vừa liên quan trực tiếp đến lợn nái lại vừa liên quan đến lợn con Sơ đồ biểu diễn các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện trong hình 1.3

Trang 17

Hình 1- 3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản lợn nái

Như vậy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái trong đó có những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn như yếu tố giống, thời gian cai sữa cho lợn con,…

a) Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền trước hết liên quan đến giống Giống là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Các giống lợn nái khác nhau có khả năng sinh sản rất khác nhau Sự khác nhau này không chỉ liên quan đến số con đẻ ra mỗi lứa, khối lượng lợn con mà còn khác nhau cả ở khả năng mắn đẻ Hầu hết những giống cải tiến đều có khả năng mắn đẻ cao hơn tức số lứa trên năm cao so với những giống địa phương chưa được cải tiến Các giống lợn có thể được xếp thành bốn nhóm chính như sau (Legault, 1985):

- Các giống lợn đa dụng như giống Landrace, Yorkshire vừa có khả năng sinh sản khá vừa có khả năng cho thịt cao

- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ” điển hình là các giống lợn nguyên chủng của Trung Quốc (Meishan chẳng hạn) có khả năng sinh sản cao nhưng khả năng sản xuất thịt bị hạn chế

- Các giống chuyên dụng “dòng bố” như giống Pietrain, Landrace Bỉ, Hamshire có khả năng cho thịt cao nhưng khả năng sinh sản lại hạn chế

- Các giống địa phương nói chung là cả khả năng sinh sản và cho thịt đều hạn chế nhưng có ưu điểm là khả năng thích nghi cao với điều kiện địa phương

Việc chọn lọc cũng nhằm vào tăng tiến bộ di truyền về khả năng sinh sản Chọn lọc chính là nâng cao số lượng gen tốt và hạn chế những gen không mong muốn Theo Jiang (1995), gen là nguyên nhân làm biến đổi khối lượng buồng trứng, số lượng nang trứng, số nang trứng chưa thành thục, số nang trứng chin, tỷ lệ trứng rụng và số phôi thai

Trang 18

b) Những yếu tố liên quan đến số lợn con đẻ ra

Thông thường số lợn con đẻ ra không bao giờ bằng với số trứng rụng, thậm chí chỉ bằng 40-50% Bởi vậy, trong chăn nuôi ta phải hạn chế đến mức thấp nhất sự khác biệt này

Có một số yếu tố gây ra sự khác biệt này như sau :

Tỷ lệ giữa số trứng được thụ tinh so với số trứng rụng

Số lượng trứng rụng rất thay đổi, thường biến động từ 10-25 trứng ở mỗi lần động dục

và số trứng rụng trung bình khoảng 16 trứng Có một loạt các yếu tố ảnh hưởng đến số trứng rụng như: giống, điều kiện chăn nuôi,

Điều kiện chăn nuôi có thể ảnh hưởng đến chỉ tiêu này như khi lợn đang ở giai đoạn chờ phối nếu được cho ăn mức năng lượng cao (Flushing) có thể làm tăng số lượng trứng rụng, nhất là đối với những con chưa đẻ lần nào cũng như những lợn nái cho ăn không đủ vào thời kỳ tiết sữa Tuy nhiên nếu cho lợn ăn khẩu phần bất cân bằng hay ăn quá tự do vào thời

kỳ lợn hậu bi sinh trưởng có thể làm chậm sự thành thục về tính và trong một số trường hợp

có hiện tượng cơ quan sinh dục bị trẻ mãi (không phát triển)

Tỷ lệ giữa số trứng thụ tinh/số trứng rụng thường đạt trên 90% Tỷ lệ này chịu ảnh hưởng bởi : thời điểm thụ tinh (phát hiện động dục), chất lượng tinh dịch và một số bệnh nhiễm trùng tại chỗ (viêm tử cung, âm đạo, )

+ Tỷ lệ tiêu phôi

Hiện tượng tiêu phôi là số trứng đã thụ tinh bị mất trước khi bám chặt được vào tử cung, tức trước 25 ngày chửa đầu Tỷ lệ này có thể lên tới 25% Để có thể duy trì việc có chửa thì tối thiểu cần có 4-5 trứng đã thụ tinh trong vòng 15 ngày đầu

Hiện tượng này mặc dù chưa rõ lắm nhưng hình như khoảng trống của tử cung có liên quan đến tỷ lệ tiêu phôi Nó không chỉ liên quan đến dung tích cơ quan sinh dục hay chiều dài của sừng tử cung mà còn liên quan đến vùng cần thiết để các phôi bám vào cũng như sự cạnh tranh giữa các phôi như là một yếu tố sinh học trong sừng tử cung là cần thiết cho sự phát triển của phôi

Sự xuất hiện của các phôi bất thường, cho ăn quá nhiều, nhiệt độ bên trong, bên ngoài quá cao cũng là những nguyên nhân dẫn đến tiêu phôi Đôi khi tất cả các phôi đã bị tiêu nhưng ta vẫn nghĩ rằng lợn đang chửa (chửa giả) đó là do thể vàng tồn lưu

+ Tỷ lệ phôi chết

Sau 35 ngày chửa thì quá trình cố định can-xi trong xương bắt đầu Trong các trường hợp chết về sau này, lợn con bị gỗ hoá hay bị phân huỷ Trường hợp chết toàn bộ đó là xảy thai Có thể có tới 15% số phôi chết ở giai đoạn này là do những nguyên nhân sau :

- Điều kiện chăn nuôi kém

- Chấn thương, xô xát trong đàn

- Nhiễm trùng, viêm tử cung

- Nhiễm vi rút: Bệnh đóng dấu, SMEDI, v.v

- Bị nhiễm độc thức ăn mycrotoxin

+ Tỷ lệ sảy thai

Về khía cạnh chăn nuôi thì do lợn nái có hiện tượng động dục bất thường, số con quá

ít, thai gỗ hay bị sảy thai là những biểu hiện khác nhau nhưng cùng do các nguyên nhân dẫn đến Các tác động khác nữa như bị tấn công dồn ép, cũng dẫn đến hiện tượng sảy thai

Về khía cạnh bệnh lý thì sảy thai có thể là do các bệnh truyền nhiễm khác nhau hay cũng

có thể có nguồn gốc khác:

- Bệnh truyền nhiễm chung: Bệnh đóng dấu (Rouget); bệnh dịch tả (Peste porcine); bệnh Aujesky; bệnh nở mồm long móng (Fievre Aphteuse); bệnh Pyobacillose và Streptococcie;

- Bệnh truyền nhiễm ở cơ quan sinh dục: Leptospirose, Brucellose, Pavrovirus

Trang 19

- Bệnh không phải truyền nhiễm: các chấn thương, xô xát trong đàn, phản ứng khi được chữa trị

+ Chết lúc sơ sinh

Thông thường hiện tượng lợn con chết lúc sơ sinh chủ yếu liên quan đến hiện tượng đẻ khó do:

- Do chưa đủ thói quen làm mẹ và thiếu bình tĩnh

- Thời gian đẻ quá dài Hiện tượng này thường rất phổ biến ở những lợn nái già, lợn nái

bị táo bón và những con quá béo

c) Thời gian cai sữa cho lợn con

Thời gian cai sữa là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái do liên quan đến số lứa của lợn nái hàng năm và một phần liên quan đến số con đẻ ra mỗi lứa

Trong chăn nuôi lợn nái để tăng số lứa thì biện pháp áp dụng chủ yếu là tiến hành cai sữa sớm cho lợn con Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào điều kiện chăn nuôi và chăm sóc của từng cơ sở

Tuy nhiên nếu cai sữa quá sớm cũng có thể làm ảnh hưởng đến thời gian động dục trở lại và số con đẻ ra ở lứa tiếp theo Theo một số tác giả thì khi cai sữa quá sớm trước 3 tuần tuổi có thể làm cho số con đẻ ra ở lứa tiếp theo bị giảm Nếu giảm thời gian cai sữa từ 20 ngày xuống 15 ngày có thể làm giảm số con đẻ ra trên lứa ở lứa tiếp theo là 0,2 con (Ian Gordon, 2004) Điều này là do trong cơ thể lợn nái lượng hooc-môn prolactin còn cao và hàm lượng estrogen thấp dẫn đến tính hưng phấn không cao và số trứng rụng thấp Ngoài ra, sau khi đẻ thì lợn nái cũng cần một thời gian nhất định để cho cơ quan sinh dục phục hồi trở lại bình thường Điều này thể hiện mối tương quan giữa số trứng rụng và số ngày sau đẻ Nếu cai sữa trước 2 tuần số trứng rụng sẽ rất thấp

d) Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con

Do năng suất sinh sản của lợn nái được đánh giá bằng số lượng hay khối lượng lợn con tại thời điểm cai sữa cho nên kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn con cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sức sinh sản của lợn nái Sự ảnh hưởng này thể hiện ở hai chỉ tiêu chính đó là: tỷ

lệ chết của lợn con trong giai đoạn bú sữa và mức tăng trưởng của lợn con

e) Tuổi và lứa đẻ

Tuổi lợn nái liên quan trực tiếp đến số lứa đẻ Thông thường số con đẻ ra mỗi lứa tăng dần từ lứa 1 lên lứa 2-3 và ổn định cho đến lứa 6-7 và sau đó có chiều hướng giảm đi (Koketsu và CS, 2000) Số con bị giảm chủ yếu liên quan đến tỷ lệ chết phôi tăng ở các lứa

về sau chứ không phải do số trứng rụng bị giảm Ngoài ra số con đẻ ra còn sống ở lứa đầu thấp còn do lợn nái thường sợ hãi khi đẻ và tỷ lệ thụ thai thấp, tỷ lệ chết thai cao (Katjia và

CS, 2003)

f) Mùa vụ

Mùa vụ có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái thông qua số con đẻ ra (Gaustad-Aas và CS, 2004) Trong điều kiện nhiệt độ cao của mùa hè sẽ làm giảm khả năng thu nhận thức ăn của lợn nái, tỷ lệ hao hụt sẽ tăng từ đó làm kéo dài thời gian động dục trở lại sau cai sữa Khi nuôi lợn nái trong điều kiện nhiệt độ cao còn làm giảm tỷ lệ thụ thai, giảm sức sống của bào thai (Pistoni, 1997)

Trang 20

1.4 ĐẶC ĐIỂM CỦA BÀO THAI LỢN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

TỶ LỆ CHẾT PHÔI

1.4.1 Đặc điểm phát triển của thai lợn

a) Nhận biết lợn nái chửa

Việc chẩn đoán sớm lợn nái chửa có ý nghĩa rất quan trọng bởi những lý do sau:

- Chẩn đoán nái có thai là công việc cần thiết khi nuôi nái chửa, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong nuôi nái sinh sản

- Chẩn đoán nái có thai để có chế độ nuôi phù hợp do chế độ dinh dưỡng của lợn nái ở giai đoạn mang thai cũng khác với các giai đoạn khác Hơn nữa, khi lợn có thai và lợn không

có thai sẽ có chế độ chăm sóc khác nhau Lợn nái chửa thường được nuôi ở khu chuồng riêng, nhằm đảm bảo thai phát triển bình thường và sức khoẻ cho lợn mẹ, tránh tình trạng bệnh lý cho cả lợn mẹ lẫn bào thai

- Phát hiện nái sinh sản có bị bệnh hay không để có can thiệp kịp thời, trong trường hợp lợn bị bệnh về đường sinh dục không thể sinh sản được cần loại thải giảm chi phí trong chăn nuôi nái sinh sản

b) Phương pháp chẩn đoán nái có thai

+ Những thông tin cần tìm hiểu về lợn nái

Trước khi tiến hành chẩn đoán cần phải nắm rõ một số thông tin sau :

- Thời gian phối giống cho lợn lần cuối cùng, số lần phối

- Tình hình phối giống và quá trình sinh đẻ của những lần trước

- Sau khi phối giống lợn có động dục trở lại không

- Về tiền sử lợn có bị bệnh về đường sinh dục không

- Tình hình nuôi dưỡng lợn nái

+ Những phương pháp chẩn đoán nái có thai

Phát hiện nái có thai dựa vào những biểu hiện của nái, ngoài ra căn cứ vào 2 phương pháp sau

- Phương pháp chẩn đoán trên lâm sàng : Phương pháp này chủ yếu dựa vào biểu hiện

nói chung của lợn nái khi mang thai để chuẩn đoán có chửa hay không

Quan sát bên ngoài: Khi quan sát bên ngoài thấy lợn nái có thai thường xuất hiện trạng thái phù thũng ở tứ chi; thành bụng, tuyến sữa phát triển to lên, bè ra Hiện tượng này có thể quan sát rõ ở thời kỳ chửa kỳ 2

Dùng lòng bàn tay sờ nắn vào một bên thành bụng ở hai hàng vú phía sau cùng Phương pháp này có thể sờ nắn được bào thai khi lợn nằm về phía bên phải và vào thời gian có thai cuối tháng thứ 3 Đối với lợn nuôi dưỡng tốt, mỡ thành bụng quá dày thì sờ nắn vào thai khó khăn và kém chính xác

Mặt khác, lợn có thai kỳ cuối thường xuất hiện những dấu hiệu như yên tĩnh ăn uống tốt

và ngủ ngon, bụng phát triển to lên Cuối thời gian có thai âm hộ phát triển to, sung huyết, núm vú và bầu vú phát triển lớn hơn

- Chẩn đoán lợn cái có thai dựa vào lợn đực giống

Đây là phương pháp đơn giản và khá chính xác nhằm để xác định xem lợn cái có động dục trở lại hay không Nếu không có biểu hiện động dục trở lại ta có thể nghĩ rằng lợn cái đã

có chửa Đối với lợn nái đã có chửa kết quả có thể cho là 100% (rất ít trường hợp đã có chửa rồi lại động dục trở lại) Còn trường hợp lợn nái không có chửa thì tuỳ theo cách phát hiện

mà đem lại kết quả khác nhau (Bảng 6.4)

Trang 21

Bảng 1-1 Mức độ phát hiện chính xác lợn cái động dục trở lại (%)

Cách phát hiện trở lại sau phối giống (15 – 25 ngày) Thời điểm quan sát động dục

- Các phương pháp chẩn đoán khác

Hiện nay còn rất nhiều phương pháp chẩn đoán khác có thể sử dụng như dùng mùi con đực tổng hợp, tiêm oestrogen, dùng máy siêu âm, Song hiệu quả của các phương pháp rất khác nhau và nói chung phát hiện những con có chửa thì chính xác hơn là những con không

có chửa trong thời hạn khoảng 30 ngày sau phối giống Thực ra những phương pháp này chỉ được coi là bổ trợ cho việc kiểm tra phát hiện bằng lợn đực

Hiện nay phương pháp đang được áp dụng tương đối tốt là đo nồng độ prostaglandin trong máu Phương pháp này cho phép chẩn đoán có thai vào ngày thứ 13 –15 sau khi phối

c) Đặc điểm phát triển của thai lợn

+ Các giai đoạn phát triển của phôi thai

Để có thể định ra một chế độ nuôi dưỡng thích hợp cần phải biết được đặc điểm về sự phát triển của thai lợn Lợn nái chửa thường từ 113 – 116 ngày và trung bình 114 ngày Trong thời gian chửa này có thể được chia làm 3 giai đoạn như sau:

- Thời kỳ phôi thai (1-22 ngày)

Đây là thời kỳ phát dục mạnh của phôi Sau khi thụ thai 1 – 3 ngày, hợp tử sẽ chuyển vào bám và làm tổ ở 2 bên sừng tử cung, lúc này hợp tử lấy chất dinh dưỡng từ trứng và tinh trùng phôi thai được hình thành sau 3 - 4 ngày, lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ noãn hoàng và tinh trùng, sau đó hình thành màng phôi lấy chất dinh dưỡng qua màng bằng thẩm thấu Sau 5 - 6 ngày hình thành túi phôi, sau 7 – 8 ngày hình thành nên màng ối cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi, protein, đường, mỡ…

Màng đệm hình thành sau 10 ngày, mặt màng đệm có lông nhung để lấy chất dinh dưỡng từ mẹ chuyền cho phôi Màng niệu được hình thành sau 12 ngày để chứa nước tiểu cho phôi

Cuối thời kỳ này khối lượng của phôi đạt 1 - 2 gam, thời kỳ này dễ bị tiêu phôi nếu sử dụng thức ăn ôi thiu, độc tố của nấm trong thức ăn cũng có thể gây hỏng phôi, lợn mẹ cần được yên tĩnh, không đánh đuổi đi lại mạnh vì thai chưa được gắn chặt vào tử cung

- Thời kỳ tiền thai (23-39 ngày)

Thời kỳ này bắt đầu hình thành nhau thai, sự kết hợp giữa bào thai và cơ thể mẹ tốt hơn Đến cuối thời kỳ này đã tương đối phát dục xong, khối lượng thai tăng nhanh, đến ngày thứ

30 khối lượng đạt 3g, ngày thứ 39 đạt 6 -7 gam Chất dinh dưỡng chủ yếu lấy từ cơ thể mẹ

- Thời kỳ bào thai (40-114 ngày)

Thời kỳ này trao đổi chất diễn ra rất mãnh liệt, hình thành đầy đủ các cơ quan bộ phận như lông da, dạ dày, ruột và hình thành nên các đặc điểm của giống

Bào thai phát triển rất nhanh, nhất là 30 ngày trước khi sinh Đến cuối thời kỳ bào thai, khối lượng bào thai tăng gấp 600 -1300 lần Vì vậy nuôi dưỡng nái ở kỳ cuối rất quan trọng,

nó quyết định khối lượng của con sơ sinh

Trong thực tế người ta chia thời kỳ mang thai của lợn thành 2 giai đoạn: giai đoạn chửa

kỳ I từ khi thụ thai đến 84 ngày, giai đoạn chửa kỳ II: là giai đoạn trước khi đẻ 1 tháng Ba phần tư khối lượng bào thai phát triển ở chửa kỳ II

Trang 22

+ Thành phần và sự tăng trưởng của phôi thai

Khối lượng phôi thai phát triển có liên quan chặt chẽ đến số lượng phôi thai và từ đó liên quan đến dung tích cũng như kích thước của của các màng và nhau thai Mức độ phát triển chung của bào thai, của các màng thai sẽ chịu ảnh hưởng của việc cung cấp các chất dinh dưỡng trong thời kỳ lợn nái có chửa Thông thường khi số bào thai càng nhiều thì khối lượng lợn con sẽ nhỏ hơn, song điều này cũng còn tuỳ thuộc vào cách cũng như mức độ cung cấp các chất dinh dưỡng khi lợn nái chửa

Khối lượng của phôi thai tăng dần theo tuổi thai nhưng chủ yếu tăng vào thời kỳ chửa cuối tức tháng chửa cuối cùng (bảng 1.2)

Bảng 1-2 Chiều dài và khối lượng phôi thai lợn

(Ultrey)

Tuổi thai Chiều dài (cm) Mức tăng so với 30 ngày

(lần)

Khối lượng (gam)

Mức tăng so với 30 ngày (lần)

- 3,9 6,5 9,2 11,8

1,5 ± 0,05 49,8 ± 1,4 220,5 ± 7,3 616,9 ± 15,0 1040,9 ± 42,7

- 33,2 147,0 411,3 693,9

+ Trao đổi chất của lợn nái chửa

Từ khi được thụ thai quá trình trao đổi chất của lợn mẹ rất mạnh để không ngừng cung cấp chất dinh dưỡng cho bào thai, nhau thai và tử cung phát triển Người ta thấy rằng khi cho các con cái có chửa và không chửa ăn khẩu phần thức ăn như nhau thì những con chửa có khối lượng cơ thể vẫn cao hơn những con không chửa Điều này có thể giải thích do một số nguyên nhân đó là: hoặc là do thành phần cơ thể con mẹ thay đổi, những mô có giá trị năng lượng cao như mô mỡ được thay thế bằng những mô có giá trị năng lượng thấp (mô nạc) hoặc là những mô mới được cải tạo do sự tác động của hooc-môn Trong thời kỳ có chửa nguồn năng lượng được sử dụng như sau (bảng 1-3)

Bảng 1-3 Nhu cầu năng lượng cho các bộ phận của lợn nái chửa

Tuổi thai (ngày) Năng lượng cho

bào thai (Kcal)

Năng lượng cho

1.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ chết phôi

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ chết phôi (hình 1.4) Theo một số tác giả cho rằng số con trên lứa của lợn nái phụ thuộc ít vào số trứng rụng hơn phụ thuộc vào số phôi

Trang 23

chết trong thời kỳ chửa Tỷ lệ phôi chết chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các giai đoạn chửa Tỷ lệ

này cao nhất trong tháng đầu tiên sau khi có chửa (Pomeroy, 1960) với mức khoảng 40%

Hình 1-4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ phôi chết ở lợn nái mang thai (Ian Gordon, 1997)

Yếu tố di truyền chủ yếu liên quan đến các phương pháp nhân giống Người ta thấy rằng nếu cho phối giống cận huyết tỷ lệ chết phôi sẽ tăng rất cao Vấn đề nuôi dưỡng cũng luôn là yếu tố gây ảnh hưởng đến tỷ lệ chết phôi, nhất là trong thời kỳ đầu sau khi mới phối giống Nếu sau khi phối giống vẫn sử dụng khẩu phần thức ăn có nồng độ năng lượng cao hay sử dụng nhiều thức ăn giống như giai đoạn chờ phối sẽ làm tăng tỷ lệ chết phôi (Diehl và

CS, 1996) Trong khẩu phần nếu có tỷ lệ protein quá cao cũng có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi Khẩu phần không đầy đủ vitamin, nhất là vitamin A và E cũng là nguyên nhân gây chết phôi sớm

Môi trường bên trong tử cung chủ yếu liên quan đến số lượng phôi được hình thành Nếu số phôi hình thành quá ít có thể dẫn đến hiện tượng tiêu phôi Nếu số phôi ít hơn 4 thì lợn nái hoàn toàn có thể bị mất hết phôi Môi trường bên ngoài liên quan chủ yếu liên quan đến điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi như nhiệt độ và ẩm độ Bình thường nhiệt độ thích hợp cho lợn nái là từ 18-210C Nếu nhiệt độ bên ngoài quá cao (từ 300C trở lên) có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi và thậm chí có thể gây ra hiện tượng xảy thai Nếu phối giống quá muộn hay quá sớm cũng đều ảnh hưởng đến tỷ lệ chết phôi Nếu phối giống chậm 14 giờ sau khi trứng rụng tỷ lệ phôi sống chỉ có 32% so với tỷ lệ 85% nếu phối 6 giờ trước khi trứng rụng Tuổi lợn nái cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến tỷ lệ chết phôi Thông thường

từ lứa 6-7 trở đi số con đẻ ra mỗi lứa bị giảm đi và sự giảm sút này chủ yếu là do tỷ lệ chết phối cao chứ không phải do số trứng rụng giảm

1.5 ĐẶC ĐIỂM TIẾT SỮA CỦA LỢN

1.5.1 Cấu tạo và hoạt động của tuyến sữa

Tuyến vú gồm 2 phần bao tuyến và ống dẫn Bao tuyến là nơi sinh ra sữa, do tế bào biểu mô phân tiết tạo thành Mỗi bao tuyến giống như một túi nhỏ thông với ống dẫn sữa Hệ

Giai đoạn chửa

Các yếu tố di

truyền

Bệnh tật

Dinh dưỡng

Môi trường bên

trong tử cung

Ảnh hưởng của môi trường bên ngoài

Các yếu tố stress

Trang 24

thống ống dẫn bao gồm các ống dẫn nhỏ thông với xoang bao tuyến và tập hợp vào ống dẫn trung bình rồi tập trung vào 2 - 3 ống dẫn đầu vú thông ra ngoài (lợn không có bể sữa) Như vậy chỉ khi nào lợn con bú mới có quá trình tiết sữa

Khi lợn mẹ không chửa thì số lượng bao tuyến và ống dẫn ít, khi có chửa thì số lượng

và thể tích bao tuyến tăng lên, mô mỡ và mô liên kết dần được thay thế bằng mô tuyến Sau khi đẻ tuyến vú bắt đầu thời kỳ hoạt động mạnh nhất, và khi ngừng tiết sữa thì không gian thể tích bao tuyến sữa nhỏ dần, xoang tiết sữa mất dần và ống dẫn sữa co nhỏ lại, điều này ảnh hưởng đến quy luật tiết sữa của lợn

1.5.2 Quy luật tiết sữa của lợn nái

a) Quy luật tiết sữa đầu và sữa thường

Sữa đầu là sữa tiết ra trong bảy ngày đầu, sau đó chuyển sang sữa thường Thành phần vật chất khô trong sữa đầu cao hơn sữa thường 1,5 lần, hàm lượng protein cao hơn sữa thường 3 lần (Bảng 1-4)

Lợn mẹ tiết sữa tăng dần đến ngày thứ 20 -25 thì giảm dần, lượng sữa tiết nhiều hay ít phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng và phẩm chất của giống Thời gian tiết sữa đầu của các loại lợn khác nhau Ở lứa đầu, thời gian tiết sữa đầu ngắn hơn các lứa sau

Bảng 1- 4 Thành ph ần dinh dưỡng của sữa đầu và sữa thường (g/100 gam sữa)

18,7 5,5 0,3 5,3 7,6 0,9 4,8

Nguồn:Darragh và Moughan, 1998 (trich t ừ Nutrition of Sows and Boars, 2000) b) Quy luật tiết sữa không đồng đều

Lợn nái sau khi đẻ xong thì bắt đầu tiết sữa Quá trình tiết sữa của lợn nái được kéo dài cho đến khi nào cai sữa cho lợn con Tuy nhiên không phải quá trình này cứ kéo dài mãi nếu ta không cai sữa cho lợn con mà cũng chỉ đến khoảng 12 tuần sau đẻ là kết thúc Lượng sữa tiết ra không phải liên tục đồng đều và không phải ở các vị trí vú khác nhau đều có lượng sữa như nhau

+ Quy luật tiết sữa không đồng đều theo thời gian

Đó là sự tiết sữa của lợn mẹ không đồng đều trong suốt chu kỳ Thông thường lượng sữa ở tuần đầu thấp sau tăng dần ở tuần 2 – 3 – 4, đến tuần thứ 4 hoặc thứ 5 thì giảm dần Sự thay đổi này tuỳ thuộc vào sức khoẻ của lợn mẹ và giống lợn Thông thường ở hầu hết các giống lợn, lượng sữa đạt đỉnh cao vào tuần thứ 3 và tuần thứ tư bắt đầu có xu hướng giảm Sự không đồng đều này là do liên quan đến sự phát triển của các bao tuyến ở thời kỳ sau đẻ và hàm lượng các loại hooc-môn trong máu Sau đẻ bao tuyến chủ yếu tăng lên về kích thước cho nên lượng sữa được sản xuất ra tăng dần Hàm lượng hooc-môn prolactin kích thích quá trình thải sữa cũng tăng cao ở giai đoạn đầu, sau đó lượng hooc-môn estrogen sẽ tăng dần và làm cho quá trình tiết sữa bị giảm dần

+ Lượng sữa thay đổi theo vị trí vú

Lợn là loài đa thai cho nên không chỉ đẻ nhiều mà số vú cũng nhiều, thường có từ 10 đến 16

vú Lượng sữa tiết ra ở các vú không giống nhau Những vú phía trước thường có lượng sữa tiết

ra nhiều hơn so với những vú phía sau Sở dĩ có sự khác nhau này là do liên quan đến sự phân

Trang 25

bổ của các động mạch đến các vú cũng như thời gian tồn đọng oxytocin làm cho lợn nái tiết sữa không giống nhau giữa các vú

Bảng 1-5 Lượng sữa lợn con bú được trong một kỳ tại các vị trí vú (kg)

Nái số 1 Nái số 2 Nái số 3 Bình quân

Phía trái trước

Phía phải trước

36,5

40,4 45,7

31,7

42,9 45,2

29,5

25,6 30,6

(Barber và CS, 2000)

1.5.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng sữa

- Giống: Các giống lợn giống khác nhau thì lợn nái có khả năng tiết sữa khác nhau, thường các giống lợn lai, lợn ngoại thì cho năng suất sữa cao hơn so với các giống nội

- Thức ăn: Thức ăn có ảnh hưởng đến cả số và chất lượng sữa, loại thức ăn khác nhau thì khả năng kích thích tiết sữa khác nhau

- Tuổi của nái có ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa : Lứa đầu lượng sữa thấp, từ lứa 2 – 4 khả năng tiết sữa cao nhất, lứa 6- 7 khả năng tiết sữa giảm dần

1.6 KỸ THUẬT CHĂN NUÔI LỢN CÁI SINH SẢN

1.6.1 Chăn nuôi lợn hậu bị

Lợn cái hậu bị là lợn cái từ sau khi cai sữa được chọn để làm cái giống, nuôi cho đến khi phối giống lần đầu và có chửa

Một trong những bước đầu tiên quan trọng trong nuôi lợn nái sinh sản là chọn cái hậu bị Con giống có tốt thì mới có năng suất cao, và người ta thường chọn cái hậu bị sau khi cai sữa Ngày nay với kỹ thuật chăn nuôi lợn tiên tiến cùng với việc chế biến thức ăn phù hợp với đặc điểm của lợn con bú sữa, nên có thể tách lợn con khỏi mẹ sớm Tuy nhiên chọn lợn con làm cái hậu bị nên chọn ở 60 ngày tuổi, nếu trước đó ở thời điểm cai sữa đã chọn rồi thì đến 60 ngày tuổi cũng nên chọn lại để chính thức đưa vào kiểm tra gây thành lợn nái

a) Chọn và theo dõi lợn hậu bị

Thông tin về giống vật nuôi và cách chọn vật nuôi là hết sức cần thiết nó giúp cho việc chọn giống đạt kết quả tốt hơn, chọn được những con vật nuôi phù hợp, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất trong chăn nuôi

Với các cơ sở giống việc chọn lợn cái hậu bị cần phải thông qua việc kiểm tra cá thể lợn cái hậu bị Việc kiểm tra được thực hiện trong giai đoạn khoảng từ 3 đến 6 tháng tuổi hay khối lượng từ 25 đến 90 kg đối với lợn ngoại Những con cái đưa vào kiểm tra phải có lý lịch

rõ ràng, bố mẹ phải đạt từ cấp I trở lên

Ngoại hình của các con cái cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng trước khi quyết định có lựa chon để kiểm tra hay không Chọn ngoại hình thường căn cứ vào đặc điểm của giống và dựa vào các chỉ tiêu sau:

- Thân hình lợn cái phải thon, dài, mông nở, vai nở, không chọn con vai lép, mông lép,

vì những con này thường có tiền sử mắc bệnh tiêu chảy hoặc bệnh về đường hô hấp Lợn có

bộ khung xương chắc chắn thể hiện ở khấu đuôi to, vòng bàn chân sau to, chân chắc chắn, móng chân thẳng xoè đều, ngón chân ngắn bước đi vững chãi, đi bằng ngón chân Tránh loại lợn có khấu đuôi nhỏ, chứng tỏ xương chậu kém phát triển, lợn mà đi bằng bàn chân thường

là con có bản chất yếu, khả năng sản xuất kém (Hình 1.5)

Trang 26

Hình 1-5 Lựa chọn ngoại ngoại hình lợn cái hậu bị

- Mặt thanh, mắt linh hoạt luôn quan sát xung quanh, thân hình nhanh nhẹn, da mỏng mịn, lông thưa mượt Không chọn con có lông dầy, da thô, vì những con này thường có năng suất kém

- Âm hộ cân đối không vẹo lệch, không chọn lợn có hoa nhỏ, tái quắt

- Hai hàng vú thẳng, khoảng cách giữa hai hàng vú không quá gần hoặc quá xa, nếu cách xa quá đến khi lợn nằm cho con bú thường chỉ hở một hàng vú còn hàng kia bị che phủ

sẽ ảnh hưởng đến việc bú sữa của lợn con Chọn lợn thường có 14 vú là tốt nhất, các vú cách đều nhau, không chọn con có vú lép hay kẹ hoặc đầu núm vú thụt vào trong Thường các vú ngực phát triển tốt và cho nhiều sữa hơn các vú vùng bụng

b) Nuôi dưỡng, chăm sóc

Kỹ thuật chăm sóc lợn cái hậu bị rất quan trọng, làm sao cho cái hậu bị khi đến tuổi phối giống đạt khối lượng yêu cầu, đảm bảo thành thục về tính và thể vóc

Chăm sóc lợn cái hậu bị là một khâu khó đòi hỏi lợn không được quá gầy yếu dẫn đến sức sinh sản kém, đồng thời tránh quá béo lợn sẽ khó động dục Như vậy khẩu phần ăn cho lợn cần phù hợp, theo từng tháng tuổi

Giai đoạn từ sau cai sữa đến 5 tháng tuổi cho lợn ăn tự do để lợn phát triển hết mức Từ

6 tháng tuổi phải cho ăn theo khẩu phần quy định, có thể nhốt lợn cái hậu bị gần chuồng lợn đực giống để gây kích thích động dục cho lợn

Trước khi phối giống 1 tháng cần cho lợn ăn hạn chế để lợn cái không quá béo, nếu không lợn quá béo sẽ ảnh hưởng đến sinh sản

Bảng 1- 6 Định mức ăn cho lợn cái hậu bị

nhỏ

Trang 27

Ta có thể sử dụng một khẩu phần thức ăn cho lợn hậu bị như sau (Bảng 1.7 và 1.8)

Bảng 1-7: Công thức phối trộn khẩu phần thức ăn cho lợn hậu bị từ cai sữa đến 60 kg

1.6.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản

a) Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa

Nuôi dưỡng lợn nái chửa

Định mức ăn của nái chửa cần căn cứ vào thời kỳ mang thai, để cung cấp lượng thức ăn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng nhưng không ảnh hưởng đến thai, lợn nái khi mang thai cần cho ăn nhiều bữa trong ngày, không nên cho nái ăn quá no gây chèn ép thai

Trang 28

Bảng 1- 9 Định mức ăn cho nái theo thời kỳ mang thai

F1 (Nội x Ngoại) F1 (Ngoại xNgoại) Giống lợn

Nhu cầu Đơn vị Chửa kỳ I Chửa kỳ II Chửa kỳ I Chửa kỳ II

Mức ăn kg 1,3 –1,4 1,6 – 1,7 1,8 – 2,0 2,2 - 2,4 NLTĐ* Kcal/kg 2900 – 3000 2900 - 3000 2800 - 3000 2800 - 3000

* Năng lượng trao đổi

Nguồn: Lê Hồng Mận – 2002

Tuy nhiên lượng thức ăn cho ăn còn phụ thuộc vào chất lượng của khẩu phần tức là mức

độ cân đối của các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần Bảng 6.15 đưa ra thành phần các chất dinh dưỡng sử dụng cho lợn nái ngoại có chửa

Bảng 1-10 Thành phần các chất dinh dưỡng trong thức ăn sử dụng cho

lợn nái ngoại có chửa

ăn theo thể trạng lợn cần xem xét đến nhu cầu của lợn để cho khẩu phần ăn không thiếu chất dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự phát triển của thai

Cần phối trộn kết hợp các loại thức ăn tạo thành khẩu phần cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho lợn, ngoài ra đảm bảo định mức thức ăn cho lợn theo thời kỳ mang thai

Bảng 1-11 Công thức thức ăn hỗn hợp cho nái chửa

Nguyên liệu Đơn vị F 1 (Nội x Ngoại) F 2 (F1 x Ngoại)

Trang 29

Trong cơ thể lợn có trên 20 loại chất khoáng, các chất khoáng đảm nhiệm chức năng cấu tạo, cho tới hàng loạt các chức năng điều hoà tế bào Khoáng là thành phần vi lượng nhưng không thể thiếu trong khẩu phần ăn cho lợn, đặc biệt là lợn nuôi theo hướng công nghiệp không được tiếp xúc với cây rau, cỏ ngoài tự nhiên, nên việc bổ sung khoáng là hoàn

toàn cần thiết

Bảng 1-12 Nhu cầu khoáng cho nái sinh sản

Trong chăn nuôi lợn có ba yếu tố quyết định năng suất là giống, thức ăn và chuồng trại

Có chuồng nuôi tốt lợn nái và lợn con sẽ tăng năng năng suất đàn lợn 10 – 15%, ngược lại chuồng nuôi không đạt yêu cầu sẽ tổn thất 15 -30% Chuồng nuôi nái cần có các ô riêng biệt, mỗi ô đều có đệm lót chuồng như rơm, dăm bào để chống rét cho lợn, nếu nền xi măng cần

có khía chống trơn, hoặc lát gạch chống trơn lợn đỡ bị ngã Chuồng nuôi đảm bảo ấm áp về mùa đông thoáng mát về mùa hè, không khí trong lành, ít bụi, ít khí độc… hạn chế các yếu

tố gây hại cho lợn

Một số yêu cầu cơ bản của chuồng nuôi nái

Chuồng nuôi lợn nái phải đảm bảo tạo ra điều kiện nhiệt độ thích hợp Nhiệt độ chuồng nuôi có tác dụng đến việc đồng hoá thức ăn, nước uống… Nhiệt độ cao làm tăng hô hấp, lạnh làm giảm hô hấp của lợn Nhiệt độ càng cao thì lượng thức ăn lợn sử dụng càng giảm Nhiệt

độ thích hợp cho lợn nái chửa là 180C

Độ ẩm chuồng nuôi cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi lợn nói chung hay lợn nái nói riêng Giữa ẩm độ và nhiệt độ có mối liên quan mật thiết với nhau, ẩm độ cao gây trở ngại cho quá trình bốc hơi trên da, ảnh hưởng đến hô hấp của lợn, tiêu hao nước của cơ thể, trao đổi chất bị trở ngại, gây bệnh về đường hô hấp, lợn chậm lớn

Ẩm độ thích hợp cho lợn nái là 70%, lợn con là 70 – 80% Ẩm độ dưới 50% và trên 80% đều ảnh hưởng đến năng suất của lợn

Độ thông thoáng khí cũng là một chỉ tiêu cần chú ý trong chuồng nuôi Thông gió có tác dụng điều hoà nhiệt độ trong chuồng nuôi nhất là trong mùa hè, làm giảm hàm lượng các khí độc như NH3, H2S… Thông gió còn có tác dụng điều tiết ẩm độ, ảnh hưởng độ khuyếch tán nhiệt trong chuồng nuôi

Yêu cầu độ thoáng khí đối với lợn nái chửa về mùa đông là 42,5m3/h và về mùa hè là

170 m3/h

Trang 30

Độ chiếu sáng chuồng nuôi liên quan đến ánh sáng tự nhiên chiếu vào chuồng Ánh sáng tự nhiên rất cần cho cơ thể lợn, tia sáng mặt trời giúp cho quá trình hình thành vitamin

D, diệt các vi khuẩn gây bệnh trong chuồng, kích thích lợn ăn ngon hơn, tăng cường hô hấp

và tuần hoàn máu Ánh sáng còn có tác dụng kích thích hoạt động sinh dục, giúp gia súc có thể động dục

Không gian cho lợn chính là diện tích chuồng nuôi và sân chơi cho nái Lợn cần có hoạt động và nghỉ ngơi, lợn cái hậu bị vận động để tạo bộ khung vững chắc, nái chửa vận động tránh sát nhau, khó đẻ, lợn con tránh bệnh thiếu máu

Khi tắm cho lợn không dùng vòi nước có áp lực cao xối trực tiếp vào cơ lợn, dùng bàn chải quy định không dùng bàn chải quá sắc gây tổn thương trên da lợn Khi chải phải chải xuôi theo chiều lông lợn

- Vận động

Với gia súc mang thai nói chung và lợn nói riêng, trong thời kỳ mang thai việc vận động cần hết sức cẩn thận Vào những thời kỳ đầu của thời kỳ chửa bào thai chưa có được sự liên kết chặt chẽ với cơ thể mẹ Mọi tác động bên ngoài đều có thể ảnh hưởng đến bào thai và những tác động bất lợi sẽ làm tăng nguy cơ sảy thai Trong điều kiện chăn nuôi cho phép nên

có chế độ vận động cho lợn nái chửa hợp lý là rất hiệu quả

+ Cho lợn nái chửa vận động nhẹ nhàng, đặc biệt là trong giai đoạn chửa kỳ I, hàng ngày thả lợn ra sân đi dạo hai lần, mỗi lần 1 – 2 h Cho lợn vận động vào buổi sáng và buổi chiều Sự vận động của lợn lúc này làm cho cơ thể lợn mẹ khoẻ mạnh và cung cấp nguồn vitamin D3 nhờ vận động dưới ánh sáng mặt trời, tăng hấp thu Ca, P cho cơ thể lợn mẹ để nuôi thai

+Giai đoạn chửa kỳ II vẫn cho lợn vận động nhưng giảm số lần và thời gian xuống một nửa Thời gian này lợn có khối lượng tăng do bào thai đã phát triển nhiều, chính vì vậy mà lợn mẹ lười vận động, nên cần cho lợn mẹ vận động để cho máu lưu thông và lợn dễ đẻ hơn Trước ngày đẻ 3 – 4 ngày thì ngừng hẳn không cho lợn vận động nữa, lúc này lợn đã có triệu chứng sắp đẻ nếu cho lợn vận động quá sức hoặc có tác động bất lợi từ bên ngoài vào sẽ gây cho lợn đẻ sớm, đẻ non

Tuy nhiên nếu nuôi công nghiệp thì việc vận động khó có thể thực hiện được

Không đuổi lợn vượt tường chuồng từ chuồng này sang chuồng khác, đây là những tác động bất lợi dễ gây sảy thai cho lợn

b) Chăn nuôi lợn nái nuôi con

+ Nuôi dưỡng lợn nái nuôi con

Nuôi dưỡng lợn nái nuôi con cần phải tính đến không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho duy trì cơ thể mà một phần dinh dưỡng rất quan trọng sẽ được dùng để phục vụ cho nhu cầu tiết sữa Do cơ thể lợn mẹ rất ưu tiên cho việc tiết sữa cho nên nếu không cung cấp đủ dinh dưỡng, lợn mẹ sẽ phải huy động chất dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể để tiết sữa dẫn đến lợn nái bị hao mòn nhiều và sẽ ảnh hưởng đến lần sinh sản sau

Trang 31

Thông thường lợn nái được ăn tự do ở giai đoạn này với khẩu phần ăn có nồng độ năng lượng và protein cao (Bảng 6.19)

Bảng 1-13 : Mức dinh dưỡng cho nái nuôi con

Nguồn : Vũ Duy Giảng – 1997

Với lợn nái ngoại thông thường sử dụng mức khoảng 14-15% protein thô, 3000 kcal năng lượng trao đổi Lượng thức ăn hàng ngày từ 4 – 7 kg

Trong khẩu phần thức ăn phải đảm bảo cung cấp đủ khoáng và vitamin Nếu khẩu phần thiếu canxi, lợn mẹ sẽ phải huy động canxi từ trong cơ thể ra tiết sữa từ đó có thể gây ra hiện tượng bại liệt sau khi đẻ

Dựa vào tiêu chuẩn ăn để có thể phối trộn thành khẩu phần ăn hợp lý cho lợn nái Bảng 6.20 dưới đây đưa ra một số loại khẩu phần thức ăn cho lợn nái nuôi con

Bảng 1-14 Hỗn hợp thức ăn cho lợn nái nuôi con hướng nạc

Nguồn : Lê Hồng Mận – 2002

Trang 32

+ Chăm sóc lợn nái đẻ

- Chuồng lợn nái đẻ

Thường là chuồng tách riêng khi lợn mang thai gần đến thời kỳ đẻ thì được đưa đến chuồng đẻ (chuyển lợn nái đến chuồng đẻ từ 7 đến 10 ngày trước khi lợn đẻ) Với các trại chăn nuôi quy mô lớn thì thường có chuồng đẻ riêng còn trong các nông hộ thì không có chuồng riêng để cho lợn đẻ Tuy nhiên có chuồng đẻ riêng hay không thì chuồng vẫn phải vệ sinh sạch sẽ trước khi chuyển lợn đến

Mùa đồng thường chuẩn bị rơm rạ khô cắt ngắn, hoặc đèn sưởi để chống rét cho lợn con Chuồng lợn nếu không phải là chuồng cũi hoặc không có khung ngăn lợn mẹ, thì cần chuẩn

bị khung gỗ hoặc khung sắt hàn lại để cho lợn con nằm trong khung tránh lợn mẹ đè chết con

Trong những trường hợp nghi lợn mẹ có bệnh truyền nhiễm, cần đưa đến chuồng đẻ cách ly tránh lây lan dịch bệnh cho cả đàn lợn trong trại

+ Triệu chứng của thời kỳ sắp đẻ

Trước thời gian đẻ 1 – 2 tuần, niêm dịch từ cổ tử cung đã xuất hiện có màu trong và chảy ra ngoài Đến 1 - 2 ngày trước khi đẻ thì cơ quan sinh dục bên ngoài có những thay đổi

rõ rệt Âm môn phù to nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, tĩnh mạch

vú nỗi rõ ràng, nhiệt độ cơ thể thường thay đổi, lợn có hiện tượng sụt mông nhưng hiện tượng này không rõ ràng

Sữa đầu cũng là một yếu tố tin cậy để xác định lợn đã sắp đẻ chưa, lợn nái trước khi đẻ

3 ngày cặp vú giữa đã tiết ra nước trong Trước khi đẻ 1 ngày có thể vắt được vài giọt sữa màu trắng Khi cặp vú phía trước đã vắt được vài giọt sữa đầu thì chỉ nửa ngày sau lợn sẽ đẻ Nếu cặp vú sau cũng vắt được sữa đầu thì chỉ vài giờ sau lợn sẽ đẻ

Lợn nái trước khi đẻ thường có biểu hiện cắn ổ, bồn chồn, tha rác làm ổ đẻ, lợn bỏ ăn, đi lại không yên, nhưng không cắn phá gào rít, thuờng có biểu hiện này trước khi đẻ 6 – 12h

Cần phải theo dõi căn cứ vào các biểu hiện của lợn và tính ngày đẻ dự đoán dựa vào ngày phối giống để chuẩn bị đỡ đẻ cho lợn

Liên quan đến hàm lượng hooc-môn Lợn nái trước khi đẻ khoảng 3 ngày thì hàm lượng progesteron trong máu tụt giảm, đồng thời hàm lượng prostaglandin và oxytoxin tăng lên Hooc-môn relaxin cũng tăng lên để tăng cường co bóp tử cung cũng như để mở cổ tử cung giúp cho đẩy thai ra dễ dàng

Nhờ đó tử cung mở rộng, bào thai đi dần vào cổ tử cung và ra ngoài âm đạo Khi lợn rặn

đẻ thường nằm nghiêng, cũng có khi đứng lên lại nằm xuống ngay, màng thai của lợn nái ra ngoài âm hộ, nước ối ít, thai lợn ra từng con một Toàn bộ thời gian đẻ thường kéo dài trung bình là 2,5 giờ, tuy nhiên thời gian này thay đổi rất lớn tuỳ thuộc vào từng cá thể

Trang 33

+ Thời kỳ sau đẻ (thời kỳ sổ nhau)

Tử cung còn tiếp tục co bóp để đẩy nốt nhau thai ra ngoài, các chất nước thải, máu Ở lợn sau khi thai ra hết toàn bộ khoảng 10 – 15 phút sau, nhau thai mới ra, nhau thai của lợn chia làm hai phần ở hai bên sừng tử cung

đủ quần áo bảo hộ, găng tay

Dụng cụ và thuốc: Gia súc thường đẻ vào ban đêm nên phải có ánh sáng và lịch trực đêm, phải chuẩn bị đèn dầu, đèn pin hoặc đèn bão phòng khi mất điện

Cần có chậu tráng men, xô đựng nước, xà phòng, bàn chải, khăn bông sạch Các dụng cụ sản khoa như dao, kéo cắt nanh cũng cần phải được chuẩn bị

Dung dịch sát trùng: Cồn I-ot 5%, Crezin 1% … và một chậu nước đun sôi để nguội, bơm kim tiêm, chuẩn bị các loại thuốc cần thiết như thuốc cầm máu, kháng sinh, trợ sức trợ lực

+ Phương pháp đỡ đẻ

Quá trình lợn đẻ là quá trình sinh lý bình thường, trong điều kiện tự nhiên lợn thường tìm nơi yên tĩnh để đẻ, đẻ xong lợn mẹ liếm con cho bú, do đó trường hợp lợn đẻ bình thường không nên vội đỡ đẻ hoặc đỡ quá sớm vì đỡ đẻ không hợp lý chưa đúng kỹ thuật, sẽ làm cho lợn đẻ bình thường thành lợn đẻ khó, viêm nhiễm hoặc rách gây xây xát đường sinh dục

Các bước tiến hành trong phương pháp đỡ đẻ

Khi lợn có biểu hiện rặn đẻ: nên rửa sạch phần thân sau, hậu môn, mông đuôi, sau đó sát trùng bằng crezin 1% Tay người đỡ đẻ cần được sát trùng cẩn thận, đi găng tay bảo hộ Trong các trường hợp lợn rặn đẻ yếu, cơn co bóp của tử cung quá yếu, thì cần phải can thiệp Khi thai đã ra ngoài, lợn mẹ không rặn nữa khoảng cách giữa 2 thai dài thì không ảnh hưởng gì đến thai Nếu thai ra sau chậm mà cơn rặn của lợn mẹ mạnh thì rất có thể thai bị ngạt, lúc này can thiệp bằng cách sát trùng tay, cho tay vào đường sinh dục kéo thai ra Cũng có thể cho uống hoặc tiêm oxytocin dưới da 2 -3ml làm cho tử cung co bóp mạnh đẩy thai ra ngoài

Trong các trường hợp đẻ khó thường xảy ra thai quay ở cổ tử cung, hoặc thai chết, thai khô hoá, lợn mẹ rặn mạnh mà thai khó ra thì sau một thời gian cần can thiệp ngay

Trong thực tiễn hiện nay tại các trại lợn ngoại người ta thường thực hiện qui trình tiêm kháng sinh (Clamoxyl LA 1 ml/10kg khối lượng cơ thể) cho lợn nái ngay sau khi vừa đẻ được 1-2 con để tránh các bệnh đường sinh dục Oxytocin cũng được tiêm khi thấy lợn đẻ khó hoặc sau khi lợn đẻ xong nhằm kích thích lợn đẻ và tránh sót nhau,

+ Công tác hộ lý sau khi đẻ

Sau khi thai đã ra ngoài cần lau, móc hết nhớt trong miệng, lỗ mũi của con con tránh lợn

bị ngạt Đặc biệt khi trời giá lạnh cần lau khô thật nhanh để lợn khỏi bị cảm lạnh Việc lau chùi cho lợn con nhằm kích thích hô hấp, tăng cường vận mạch ngoại biên để máu lưu thông tốt

Đối với lợn mẹ dùng nước muối sinh lý 0,9%, thuốc tím 0,1% lau rửa mép âm môn, rửa bầu vú bằng nước xà phòng ấm, bế con lợn đến cố định vú, cho lợn con sớm bú sữa đầu Khi lợn mẹ sổ nhau cần thu nhau thai không cho lợn ăn nhau thai, dễ gây ảnh hưởng rối loạn tiêu hoá của lợn mẹ, ảnh hưởng tới sức khoẻ của lợn mẹ và lợn con

Trang 34

Lợn mẹ sau khi đẻ thường khát nước, vì vậy cho uống nước sạch có pha thêm muối Để tránh hiện tượng sốt sữa, sau khi lợn nái đẻ xong không cho ăn ngay, có thể để nhịn 6 -12 giờ hoặc chỉ cho ăn ít Ngày đầu sau đẻ thường cho ăn cháo, thêm rau tươi non phòng táo bón Sau 3 ngày cho lợn mẹ ăn theo mức quy định, hàng ngày cần kiểm tra lợn mẹ để theo dõi xem có hiện tượng viêm cổ tử cung không, âm hộ có mủ chảy ra không, thân nhiệt lợn có tăng không để can thiệp kịp thời bằng biện pháp thú y

+ Xử lý dây rốn và bấm nanh

Trước khi cắt dây rốn cần vuốt sạch máu ở dây rốn về phía lợn con, từ gốc dây rốn sát trùng cẩn thận bằng cồn iốt trước khi cắt dây rốn Điểm cắt dây rốn cách cuống rốn 3-4 cm, cắt ở phía ngoài cách nút buộc 1cm Cắt ngắn dây rốn tránh lợn đi tìm vú cắn đứt dây rốn gây nhiễm trùng

Hàng ngày cần kiểm tra cuống rốn, kiểm tra và sát trùng bằng iot làm cho cuống rốn săn lại, khô ráo và không bị viêm

Lợn con khi đẻ ra đã có răng nanh và cần phải phấm ngay sau khi cắt rốn cho lợn Bấm răng nanh sẽ tránh gây toét lưỡi lợn con, hoặc gây đau cho lợn mẹ khi lợn con bú, lợn mẹ sẽ không cho bú nữa Khi cắt nanh kỹ thuật viên dùng bàn tay trái nắm qua gáy của lợn dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái bóp nhẹ miệng lợn cho lợn há mồm ra, rồi dùng tay còn lại cầm kìm cắt nanh để cắt nanh Khi cắt nanh, chú ý cắt sát gốc, không cắt vào lưỡi gây chảy máu cho lợn con

Chăm sóc lợn nái nuôi con

Chăm sóc lợn nái nuôi con hết sức quan trọng, nó góp phần lớn trong thành công nuôi lợn Cần tạo môi trường ngoại cảnh tốt, giữ chuồng ấm, thoáng lưu thông không khí tốt, không có gió lùa, tránh gây stress cho đàn lợn con

- Chăm sóc lợn nái vào thời điểm cai sữa

+ Giảm dần thức ăn cho lợn nái 2-3 ngày trước khi cai sữa

+ Không cung cấp nước vào ngày trước và sau khi cai sữa (24 giờ)

+ Nên cai sữa đột ngột chứ không cai sữa dần dần

+ Vệ sinh phòng bệnh cho lợn nái

Việc phòng bệnh cho lợn là hết sức cần thiết, giúp cho chúng ta tránh khỏi những thiệt hại không đáng có Một trong những biện pháp thú y được coi là hiệu quả nhất trong chăn nuôi là phòng bệnh cho vật nuôi Chuồng của lợn nái nuôi con phải sạch sẽ, được vệ sinh thường xuyên, đảm bảo thoáng sạch khô và ấm cho lợn con

Thông thường khi lợn nái nuôi con thì không nên tắm để hạn chế độ ẩm chuồng nuôi Tuy nhiên có thể chải cho lợn mẹ

Hiện này các cơ sở chăn nuôi hiện đại đã sử dụng chuồng lồng cho lợn, có hệ thống làm mát và thông gió đã tạo ra các điều kiện rất thích hợp để chăn nuôi lợn nái năng suất cao Tuy nhiên cần phải có vốn đầu tư lớn Nông dân chăn nuôi nhỏ vẫn có thể tạo ra các điều kiện chăn nuôi tốt thông qua sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương để làm chuồng như chuồng sàn bằng tre hoặc gỗ, chuồng lát gạch,

Tiêm phòng vacxin

Bên cạnh khâu vệ sinh thì lợn nái cũng cần được tiêm phòng một số bệnh Để tránh gây ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai và đồng thời vẫn đảm bảo an toàn dịch bệnh cho lợn nái ta có thể áp dụng lịch tiêm phòng một số bệnh cho lợn nái theo định kỳ với một số loại vac-xin chính như thương hàn, dịch tả và tụ huyết trùng

+ Các biện pháp kích thích lợn động dục

Lợn nái sau khi cai sữa sẽ được chuyển xuống chuồng lợn chờ phối Để lợn nái nhanh động dục chuồng chờ phối phải được bố trí cạnh chuồng lợn đực và cần có nhiều ánh sáng Sau khi cai sữa đến ngày thứ ba ta có thể tiến hành kích thích lợn nái động dục bằng biện

Trang 35

pháp cho ăn Flushing Lợn nái được đưa vào một chuồng rộng và để con đực ở ô bên cạnh, sau khi con cái đã làm quen với chuồng và được tiếp xúc với con đực ta kiểm tra xem lợn nái

đó có biểu hiện động dục không Nếu không có biểu hiện động dục ta tiến hành đuổi cho mệt trong khoảng 3-5 phút Biện pháp này tạo ra stress cho lợn nái, đồng thời lợn nái lại được tiếp xúc trực tiếp với lợn đực và được cho ăn khẩu phần có nồng độ năng lượng cao sẽ kích thích lợn nái sớm động dục Biện pháp này được tiến hành mỗi ngày 2 lần đến khi lợn nái động dục

Ngoài ra những lợn nái chậm động dục ta có thể dùng huyết thanh ngựa chửa tiêm cho lợn nái Thông thường sau khi tiêm từ 2-5 ngày lợn nái sẽ động dục

- Hiện tượng sinh sản kém

Lợn cái đến tuổi sinh sản hoặc sau khi đẻ xong, đến thời kỳ hưng phấn và động dục trở lại nhưng không xuất hiện chu kỳ sinh dục sinh lý hoặc lợn biểu hiện các trạng thái bệnh

lý trong quá trình sinh lý sinh dục được gọi là hiện tượng không sinh sản

Hiện tượng này gây nhiều tổn thất về mặt kinh tế cho nên cần phải quan tâm, chú ý đề phòng và điều trị thích hợp

- Các phương pháp chẩn đoán lợn cái không sinh sản

Để góp phần xác định nguyên nhân gây bệnh, tìm ra qui luật bệnh, diễn biến của quá trình bệnh lý và từ đó có thể áp dụng những biện pháp phòng trị có hiệu quả thì trong chẩn đoán cần thiết phải chú ý các vấn đề như sau:

+ Tìm hiểu bệnh sử: Thông qua sổ sách, cán bộ kỹ thuật và công nhân trực tiếp chăn nuôi để nắm chi tiết có hệ thống toàn bộ đàn lợn và từng con không sinh sản một cách cụ thể Trong quá trình tìm hiểu bệnh sử, cần chú ý những vấn đề:

- Tình hình nuôi dưỡng, thức ăn, quản lý, chế độ sử dụng và khai thác tại cơ sở đó

- Kết quả sinh sản và phối giống và sinh đẻ của toàn đàn trong các thời gian khác nhau

- Qui luật, mức độ, trạng thái của chu kỳ sinh dục, sự xuất hiện quá trình hưng phấn và động dục cao độ

- Những bệnh sản khoa thường gặp và kết quả trong phòng trị Trường hợp cùng trên một cơ sở, nếu có nhiều lợn cái không sinh sản, có thể nghĩ đến khả năng do nguyên nhân nguồn tinh gây ra, do phẩm chất tinh dịch, phương pháp phối giống hoặc có thể do bệnh truyền nhiễm, do chất lượng thức ăn gây ra

Trường hợp không sinh sản cá thể, cần phải điều tra các mặt như lợn nái đã sinh đẻ bao nhiêu lần, thời gian và diễn biến của lần đẻ cuối cùng ; Quá trình sinh đẻ bình thường, đẻ khó hay xuất hiện các trạng thái bệnh lý ở cơ quan sinh dục nói riêng và cơ thể nói chung Diễn biến của các chu kỳ sinh dục bình thường hay bị rối loạn Các triệu chứng, mức độ biểu hiện giai đoạn hưng phấn và động dục Phương pháp và số lần phối giống không kết quả Thời gian phối giống lần cuối cùng Những biểu hiện cục bộ ở cơ quan sinh dục và toàn thân sau lần phối giống cuối cùng v.v…

+ Chẩn đoán trực tiếp trên lợn cái

Trước hết phải quan sát hình dáng và các tình trạng chung của con vật Lợn cái thường có những đặc điểm riêng biệt biểu hiện giới tính của nó Những con cái quá thô hay quá béo hoặc quá gầy thì cũng thường sinh đẻ kém

Sau đó cần thiết phải tiến hành chẩn đoán chính xác có thai hay không có thai Mặt khác phải kiểm tra toàn diện các bộ phận khác nhau của cơ quan sinh dục Biện pháp này chủ yếu lấy chất tiết rồi kiểm tra trong phòng thí nghiệm, ít được sử dụng trong nuôi lợn nái vì nó quá phức tạp

Trang 36

- Khắc phục hiện tượng sinh sản kém

Từ việc chẩn đoán lợn nái sinh sản kém với các nguyên nhân khác nhau thì đề ra biện pháp khắc phục cho phù hợp

Nếu đó là do bệnh ở đường sinh dục thì cần tiến hành chữa trị, nếu không tiến triển thì cần loại thải Nếu do yếu tố dinh dưỡng thì cần khắc phục để lợn nái có thể động dục trở lại

Còn trường hợp thiểu năng hooc-môn sinh dục ta có thể sử dụng huyết thanh ngựa chửa

để tiêm (tiêm bắp với liều 10 đơn vị/1 kg thể trọng) Tiêm sau khoảng 2-3 ngày lợn sẽ động dục Ngoài ra còn có thể sử dụng các loại khác như Synthophylin, Progesteron, Trên thị trường hiện nay có bán loại PG 600 (prostagladin) sử dụng rất tốt để khắc phục hiện tượng sinh sản kém ở lợn Với lợn hậu bị chậm thành thục có thể sử dụng huyết thanh ngựa chửa PMSG tiêm bắp với liều từ 400 đến 1000 UI, hay dùng HCG với liều 200 đến 800 UI

Tuy nhiên nên nhớ rằng việc sử dụng hooc-môn để kích thích động dục thường gặp phải vấn đề vì nếu ta dùng liều cao quá vào thời kỳ phát triển bao noãn (phase follicle) có thể dẫn đến hiện tượng phát triển các kít noãn bao

Trong thực tế hiện nay chăn nuôi lợn nái ngoại nông hộ thường rất phổ biến hiện tượng lợn nái sinh sản kém Nguyên nhân chủ yếu là do dinh dưỡng không đảm bảo, phương thức chăn nuôi không thích hợp nái quá béo hoặc quá gầy Hơn nữa lợn nái ngoại lại có biểu hiện động dục không rõ ràng cho nên có thể lợn vẫn động dục mà nông dân không phát hiện được, hay phát hiện được song phối giống không đúng thời điểm dẫn đến lợn nái sinh sản rất kém (số lứa trên năm thấp, số con đẻ ra ít, ) Hiện tượng sinh sản kém thường là sự kết hợp của nhiều yếu tố cho nên người chăn nuôi cần phải xem xét một cách tỉ mỷ và phối hợp đồng thời các biện pháp khác nhau (nuôi dưỡng, phòng trị bệnh và cho tiếp xúc với lợn đực), có như vậy mới có thể hạn chế được hiện tượng này

+ Quản lý lợn nái

Để có thể tiện theo dõi cũng như nâng cao được năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn nái cần phải có biện pháp theo dõi cũng như quản lý tốt Mỗi lợn nái cần được đánh số tai, được ghi chép lý lịch cũng như ghi chép năng suất sinh sản theo từng lứa Những nái có khả năng sinh sản kém cần được loại thải kịp thời

Việc loại thải lợn nái tuỳ theo mục tiêu chăn nuôi Trong các cơ sở sản xuất giống thường có tỷ lệ thay thế đàn nái cao hơn so với các cơ sở sản xuất thương phẩm do liên quan đến tiến bộ di truyền Hiện nay tỷ lệ thay thế hang năm này khá cao ở những nước chăn nuôi tiên tiến như ở Pháp tỷ lệ này từ 50-60% Những lợn nái bị thay thế chủ yếu do nguyên nhân

về khả năng sinh sản kém (40%) tiếp theo là do những bệnh tật liên quan đến vận động (12%) Còn như ở những nước có nền chăn nuôi chưa phát triển thời gian thay thế lợn nái dài dẫn đến tỷ lệ thay thế hang năm thấp Điều này một phần là do công tác giống chưa phát triển cũng như khâu quản lý hạn chế không phát hiện kịp thời những lợn nái sinh sản kém

Trang 37

Câu hỏi ôn tập

1) Cơ chế thần kinh thể dịch điều tiết hoạt động sinh dục cái? Ứng dụng trong chăn nuôi?

2) Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sản xuất của lợn nái sinh sản?

3) Những yếu tố chính ảnh hưởng đến sức sản xuất của lợn nái sinh sản?

4) Xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn cái? Phương pháp phối giống cho lợn?

5) Phương pháp xác định lợn nái có chửa? Sự phát triển của bào thai? Ứng dụng trong chăn nuôi?

6) Những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ phôi chết? Làm thế nào để hạn chế hiện tượng này?

7) Quy luật tiết sữa ở lợn? Ứng dụng trong chăn nuôi?

8) Kỹ thuật lựa chọn và nuôi dưỡng lợn cái hậu bị?

9) Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái chửa?

10) Phát hiện lợn nái đẻ? Kỹ thuật đỡ đẻ cho lợn?

11) Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con?

12) Hiện tượng chậm sinh ở lợn? Các biện pháp khắc phục?

Trang 38

Chương 2

KỸ THUẬT CHĂN NUÔI LỢN CON

Chăn nuôi lợn con giữ vai trò rất quan trọng bởi vì năng suất của lợn nái cuối cùng được đánh giá bằng số lượng lợn con và khối lượng toàn ổ ở giai đoạn 56 đến 60 ngày tuổi tính cho mỗi lợn nái mỗi năm Do vậy nếu nuôi dưỡng tốt lợn ở giai đoạn này không những làm tăng được năng suất sinh sản của lợn nái mà còn tạo điều kiện tiền đề tốt cho việc nuôi dưỡng lợn sinh trưởng ở những giai đoạn tiếp sau Lợn con ở giai đoạn này rất mẫn cảm với các yếu tố môi trường xung quanh do có nh ững thay đổi lớn khi từ trong bụng mẹ ra môi trường chăn nuôi Ngoài ra yếu tố dinh dưỡng cũng giữ một vai trò cực kỳ quan trọng Nguồn dinh dưỡng của lợn con không ch ỉ do lợn mẹ cung cấp mà rất cần nguồn dinh dưỡng

bổ sung từ bên ngoài để cho lợn con có thể phát triển tốt nhất

Như vậy rõ ràng các biện pháp kỹ thuật trong chăn nuôi lợn con là rất quan trọng để góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái Nếu có kỹ thuật chăn nuôi lợn con tốt thì không chỉ đạt được tỷ lệ nuôi sống lợn con cao, rút ngắn được thời gian cai sữa, mà còn tăng được khối lượng lợn con

Muốn đạt được những mục tiêu đó cần phải quan tâm đến những vấn đề cơ bản như

là hiểu biết được các đặc điểm của lợn con trong thời kì bú sữa và sau cai sữa từ đó đề ra các biện pháp kỹ thuật hợp lý trong chăn nuôi lợn con

2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA LỢN CON

Hiện tại đề cập đến đặc điểm của lợn con bao gồm cả giai đoạn lợn con theo mẹ và giai đoạn sau cai sữa thông thường cho đến khoảng 56, 60 hoặc 70 ngày tuổi, tức là sau giai đoạn này lợn con sẽ được chuyển sang hoặc là nuôi hậu bị để làm giống hoặc đưa vào nuôi thịt

Ở giai đoạn này lợn con có những đặc điểm rất đặc trưng liên quan đến sự phát triển, khả năng sử dụng thức ăn cũng như khả năng chống chịu và thích nghi với môi trường bên ngoài

2.1.1 Đặc điểm về sự phát triển

Lợn con trong thời kỳ này phát triển với tốc độ rất nhanh thể hiện thông qua sự tăng khối của cơ thể Thông thường, khối lượng lợn con ở ngày 7 đến 10 đã gấp 2 lần khối lượng

sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần khối lượng sơ sinh, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 lần khối lượng

sơ sinh và đến 60 ngày tuổi gấp 10 - 15 lần khối lượng sơ sinh Lợn Móng Cái chẳng hạn khi

sơ sinh chỉ đạt 0,5 đến 0,6 kg đến khi 60 ngày tuổi có thể đạt 6 đến 7 kg Lợn lai Landrace x Yorkshire có khối lượng sơ sinh khoảng 1,4 kg, khối lượng lúc 60 ngày tuổi đạt 18-20 kg Người ta thấy rằng giữa khối lượng sơ sinh và khối lượng lúc 60 ngày tuổi có mối tương quan thuận với nhau khá chặt chẽ Một công trình nghiên cứu đã đưa ra được hệ số tương quan giữa khối lượng lợn con sơ sinh với khối lượng lợn con cai sữa; tương quan trong cùng một ổ là + 0,53 và tương quan giữa các ổ là + 0,46

Như vậy giữa khối lượng sơ sinh và khối lượng lúc cai sữa có mối tương quan thuận (tương quan dương) có nghĩa là khối lượng lúc sơ sinh càng cao thì có hy vọng đạt được khối lượng lúc cai sữa cao Điều này giúp cho chúng ta kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa thích hợp

để làm sao tăng được khối lượng sơ sinh của lợn con

Khối lượng khi sơ sinh không chỉ liên quan đến khối lượng cai sữa mà còn liên quan chặt chẽ với tỷ lệ chết khi sơ sinh cũng như tỷ lệ sống đến cai sữa Người ta thấy rằng ở lợn ngoại, khối lượng sơ sinh của lợn con từ 1,1 - 1,35kg thì tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt 75%

Trang 39

Trong khi đó khối lượng sơ sinh 0,57kg hoặc nhỏ hơn nữa chỉ sống sót dưới 2% khi cai sữa (bảng 2.1)

Bảng 2-1 Quan hệ giữa khối lượng sơ sinh với tỷ lệ chết khi sơ sinh và chết ở cai sữa

Khối lượng sơ sinh (kg) Chết sơ sinh (%) Tổn thất đến cai sữa (%)

Bảng 2-2.Thành phần sữa đầu, sữa thường của lợn và sữa bò

Trang 40

2.1.2 Đặc điểm về sự phát triển của cơ quan tiêu hoá lợn con

Thời kỳ này đặc điểm nổi bật của cơ quan tiêu hoá lợn con đó chính là sự phát triển rất nhanh của bộ máy tiêu hoá song chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng

về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hoá (bảng 2.3) Dạ dày lợn con khi mới sơ sinh chỉ có dung tích 2,5 ml đã tăng lên đến 1.815 ml vào lúc 70 ngày tuổi Như vậy, dung tích đã tăng lên đến trên 70 lần Tương tự như vậy với dung tích của ruột cũng tăng lên ở mức 50-60 lần Sự phát triển của bộ máy tiêu hoá đã tạo thuận lợi cho thu nhận thức ăn, làm cho lợn con

có thể phát triển nhanh ở thời kỳ này

Bảng 2-3 Sự phát triển của bộ máy tiêu hoá lợn con

+ Các men tiêu hoá tinh bột:

Amylaza do tuyến nước bọt tiết ra ở lợn con sơ sinh có hoạt lực thấp, tăng cao nhất lúc

2 - 3 tuần tuổi sau đó lại giảm Tuy nhiên vai trò của amylaza nước bọt đối với quá trình tiêu hoá tinh bột rất hạn chế là do thức ăn tồn tại ngắn trong miệng và quá trình tiêu hoá chỉ được thực hiện ở phần thượng vị dạ dày

Amylaza tụy có ngay ở thời kỳ sơ sinh song hoạt lực thấp và tăng cao dần ở 4 - 6 tuần tuổi Đây là loại men có vai trò rất quan trọng trong tiêu hoá tinh bột do lượng men lớn và thời gian tiếp cận với cơ chất dài

Maltaza và sacaraza cũng tương tự như amylaza tuỵ, tức là những tuần đầu sau khi sinh hàm lượng thấp và sau đó tăng dần đạt mức cao ở 5 - 6 tuần tuổi

Do các men tiêu hoá tinh bột như vậy, cho nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con trong 4 tuần tuổi đầu còn kém chỉ đạt 50% lượng tinh bột ăn vào Khoảng tuần 5 - 6 khả năng tiêu hoá tinh bột tương đối hoàn thiện Đây chính là yếu tố cần chú ý trong khi phối hợp khẩu phần cũng như chế biến thức ăn để giúp cho lợn con có khả năng sử dụng được Ví dụ như tinh bột ngô sống lợn con tiêu hoá rất kém trong vòng 25 ngày tuổi song tinh bột ngô chín lại tiêu hoá được

+ Men lactaza tiêu hoá đường lactoza có hoạt lực cao ngay từ khi sơ sinh và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2 sau đó giảm nhanh chóng (phù hợp với đường lactoza trong sữa) + Men tiêu hoá mỡ (Lipaza): Men này hoạt động mạnh ngay từ khi mới sinh ra và tương đối ổn định trong suốt thời kỳ bú sữa

+ Men tiêu hoá prôtêin:

- Men pepsin có ngay từ khi sơ sinh và tăng dần tới 5 - 6 tuần tuổi, song không có chức năng tiêu hoá protein bởi vì ở dạng pepsinogen Pepsinogen cần có a-xit clohydric (HCl) ở dạng tự do để hoạt hoá nó biến thành dạng hoạt động

Ngày đăng: 21/01/2021, 19:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1-1. Sơ đồ cơ chế điều khiển hoạt động sinh dục của lợn nái - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 1 1. Sơ đồ cơ chế điều khiển hoạt động sinh dục của lợn nái (Trang 10)
Hình 1-2. Thời điểm phối giống thích hợp ở lợn - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 1 2. Thời điểm phối giống thích hợp ở lợn (Trang 13)
Hình 1- 3.  Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản lợn nái - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 1 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản lợn nái (Trang 17)
Hình 1-4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ phôi chết ở lợn nái mang thai (Ian Gordon, 1997) - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 1 4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ phôi chết ở lợn nái mang thai (Ian Gordon, 1997) (Trang 23)
Hình 1-5 Lựa chọn ngoại ngoại hình lợn cái hậu bị - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 1 5 Lựa chọn ngoại ngoại hình lợn cái hậu bị (Trang 26)
Hình 2-1. Sự hấp thu kháng th ể của lợn con - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 2 1. Sự hấp thu kháng th ể của lợn con (Trang 43)
Hình 2-2. Cũi lợn nái nuôi con có máng tập ăn cho lợn con - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 2 2. Cũi lợn nái nuôi con có máng tập ăn cho lợn con (Trang 46)
Hình 2-3. Ô úm có chụp sưởi cho lợn con - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 2 3. Ô úm có chụp sưởi cho lợn con (Trang 54)
Hình 7.1:  Giải phẫu định vị cơ quan sinh dục trâu bò cái - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 7.1 Giải phẫu định vị cơ quan sinh dục trâu bò cái (Trang 159)
Hình 7.4: Các giai  đoạn của chu kỳ động dục ở bò - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 7.4 Các giai đoạn của chu kỳ động dục ở bò (Trang 162)
Hình 7.5: Các liên hệ trong trục dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 7.5 Các liên hệ trong trục dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng (Trang 163)
Hình 7.6: Những biến đổi về nội tiết, sinh lý và hành  vi liên quan  đến hiện tượng động - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 7.6 Những biến đổi về nội tiết, sinh lý và hành vi liên quan đến hiện tượng động (Trang 164)
Hình 7.7: Các sóng phát tri ển noãn bao trong một chu kỳ tính (Ginther et al., 1989) - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 7.7 Các sóng phát tri ển noãn bao trong một chu kỳ tính (Ginther et al., 1989) (Trang 165)
Hình 7.10: Phục hồi hoạt động của buồng trứng sau khi đẻ (Roche et al., 1992) - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 7.10 Phục hồi hoạt động của buồng trứng sau khi đẻ (Roche et al., 1992) (Trang 171)
Hình 8.4: Sự hình thành sữa ở bò - GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
Hình 8.4 Sự hình thành sữa ở bò (Trang 196)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w