1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Chăn nuôi chuyên khoa - Trường Cao Đẳng Lào Cai

144 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Chăn Nuôi Chuyên Khoa
Tác giả Th.s. Dương Thị Thảo Chinh
Trường học Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Lào Cai
Chuyên ngành Chăn Nuôi
Thể loại Bài Giảng
Năm xuất bản 2013
Thành phố Lào Cai
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LI NểI U

  • PHN I. CHN NUễI LN

  • BI M U

    • 1.1. VAI TRề V V TR CA NGNH CHN NUễI LN

    • 1.2. TèNH HèNH CHN NUễI LN TRấN TH GII V VIT NAM

    • 1.3. NHNG KHể KHN TRONG PHT TRIN CHN NUễI LN VIT NAM

    • 1.4. PHNG HNG PHT TRIN CHN NUễI LN VIT NAM

  • Khuyn khớch v h tr cỏc gia ỡnh chõn nuụi qui mụ ln kiu cụng nghip thụng qua cỏc chớnh sỏch nh tớn dng, chớnh sỏch u tiờn mua, chớnh sỏch thuờ t ai.

  • Chng 1. CHN NUễI LN C GING

    • 1.1. NHNG CH TIấU C BN NH GI SC SN XUT CA LN C GING

    • 1.2. NHNG YU T NH HNG N SC SN XUT CA LN C GING

    • 1.3. BIN PHP K THUT NHM NNG CAO SC SN XUT CA LN C GING

      • c. Vai trũ - nhu cu v ngun cung cp khoỏng

      • Natri (Na) l thnh phn quan trng liờn quan n tớnh hng phn ca thn kinh, thiu nú gim hng phn, ln c khụng mun giao phi. Nhu cu natri l 0,4 - 0,5 % so vi vt cht khụ khu phn. Ngun b sung ly t mui n NaCl.

        • d. Vai trũ - nhu cu v ngun cung cp vitamin

        • a. Hun luyn ln c ging nhy giỏ

        • b. Phng phỏp khai thỏc tinh dch

        • a. Ch chung tri ca ln c ging

        • b. Ch cho ln c ging vn ng

          • c. Vn v sinh phũng bnh

          • d. Qun lý ln c ging

          • CU HI ễN TP

  • Chng 2: CHN NUễI LN NI SINH SN

    • 2.1. MT S CH TIấU C BN NH GI SC SN XUT CA LN NI

      • 2.1.1. Kh nng sinh sn

      • a. S con s sinh trờn

        • b. S ln con cai sa trờn la

      • 2.1.2. Cht lng n con

      • 2.1.3. Kh nng tit sa

    • 2.2. K THUT CHN NUễI LN NI HU B

      • 2.2.1. Chn v theo dừi ln hu b

      • 2.1.2. Nuụi dng v chm súc

      • 2.1.3. Tui thnh thc v thi gian phi ging thớch hp

      • 2.1.4. Phng phỏp v phng thc phi ging cho ln cỏi

        • b. Phi kộp

        • c. Phi lp

    • 2.3. K THUT CHN NUễI LN NI SINH SN

      • 2.3.1. Nhn bit ln nỏi cha

  • - V tin s ln cú b bnh v uũng sinh dc khụng.

    • 2.3.2. Nuụi dng nỏi cha

      • b. Thi k tin thai (23 - 39 ngy)

    • 2.3.3. Chm súc nỏi cha

      • a. Vn ng

    • 2.3.4. Chm súc ln nỏi

    • 2.4. K THUT CHN NUễI LN NI NUễI CON

      • 2.4.1. C nng tit sa v cỏc nhõn t nh hng

      • 2.4.2. Nuụi dng nỏi nuụi con

      • 2.4.3. Chm súc ln nỏi nuụi con

  • Chng 3: K THUT CHN NUễI LN CON

    • 3.1. MT S C IM CA LN CON

      • 3.1.1. c im v s phỏt trin

      • 3.1.2. c im v s phỏt trin ca c quan tiờu húa ln con

      • 3.1.3. c im v kh nng iu tit thõn nhit ca ln con

      • 3.1.4. c im v kh nng min dch

      • 3.1.5. Hin tng thiu mỏu ln con

    • 3.2. BIN PHP K THUT NHM NNG CAO NNG SUT CHN NUễI LN CON

      • 3.2.1. Yờu cu ca k thut chn nuụi ln con

      • 3.2.2. K thut chn nuụi ln con

        • 3.2.2.1. C nh u vỳ cho ln con

      • 3.2.3. Ch nuụi dng ln con

      • 3.2.4. Cai sa cho ln con

      • 3.2.5. K thut chn nuụi ln con sau cai sa n 60 - 70 ngy tui

      • 3.2.6. Chm súc v qun lý

  • Phn 2: CHN NUễI GIA CM

  • BI M U

    • 1.1. NGUN GC V S THUN HO GIA CM

      • 1.1.1. NGUN GC V S THUN HO G

      • Trong phân loại học, gà thuộc lớp chim (Aves), bộ gà (Galliformes), họ trĩ (Fasianidea), giống gà (gallus), loài gà nuôi (Gallus gallus domestica).

    • 1.2. Tình hình phát triển chăn nuôi gia cầm trên thế giới

      • 1.2.1. Sản xuất trứng

      • 1.2.2. Sản xuất thịt gia cầm

      • 1.2.3. Xuất khẩu trứng và thịt gia cầm

      • 1.2.4. Một số thành tựu khoa học công nghệ

      • a. Thành tựu về công tác giống

      • b. Thành tựu về công nghệ sản xuất thức ăn

      • c. Hiện đại hoá quy trình chăn nuôi

      • d. Hiện đại hoá quy trình vệ sinh phòng bệnh

    • 1.3. Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam

      • 1.3.1. Tỡnh hỡnh chung

      • 1.3.2. Hệ thống sản xuất con giống

      • 1.3.3. Phương hướng phát triển

    • 1.4. Mục tiêu giai đoạn 2006 2015

      • 1.4.1. Số lượng đầu con và sản lượng thịt, trứng gia cầm

      • 1.4.2. Quy hoạch cơ sở sản xuất giống và vùng chăn nuôi gia cầm tập trung

    • Quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân c ư, bảo đảm vệ sinh môi trường. Chấm dứt chăn nuôi gia cầm trong các khu đô thị, khu tập thể, khu công nghiệp và khu chung cư. Không được nuôi thả rông, phải có chuồng nuôi, có t ường hoặc hàng rào bao quanh để cách ly với các đàn gia cầm của hàng xóm.

  • Chng 1. SC SN XUT CA GIA CM

    • 1.1. SC SN XUT TRNG

      • 1.1.1 Cu to trng gia cm

      • 1.1.2. Thnh phn hoỏ hc v tớnh cht lý hc ca trng gia cm

      • 1.1.3. Nhng tiờu chớ v hỡnh thỏi, cht lng ca trng gia cm

      • 1.1.4. Phõn bit trng mi v c

    • 1.2. SC SN XUT THT

      • 1.2.1 Nhng ch tiờu ỏnh giỏ sc sn xut tht

      • 1.2.2 Nhng yu t nh hng n sc sn xut tht

  • Chng 2. P TRNG GIA CM

    • 2.1. GII THIU V P TRNG NHN TO

      • 2.1.1 Khỏi nim v p trng

      • 2.1.2 Mc ớch ca p trng nhõn to

      • 2.1.3. Cu to mỏy p trng nhõn to

    • 2.2. K THUT P TRNG GIA CM

      • 2.2.1 Chun b trng p

      • 2.2.2 Chun b mỏy p

      • 2.2.3 K thut xp trng vo khay p

      • 2.2.4. Nhng iu cn thit trong p trng gia cm

      • 2.2.5 Nhng yu t nh hng n s phỏt trin ca phụi gia cm

    • 2.3. KIM TRA SINH HC P TRNG

      • 2.3.1. Soi trng

      • 2.3.2. Kim tra s phỏt trin ca phụi sau 6 ngy p

      • 2.3.3. Kim tra s phỏt trin ca phụi sau 11 ngy p

      • 2.3.4. Kim tra s phỏt trin ca phụi sau 19 ngy p

        • - Loại thứ nhất

        • - Loại thứ hai

        • - Loại thứ ba

        • - Loại thứ tư

    • 2.4. MT S BNH Lí THNG GP TRONG P TRNG GIA CM

      • 2.4.1. p trng ó bo qun di ngy

      • 2.4.2. Bnh chõn, cỏnh ngn

      • 2.4.3. Bnh Perosis

      • 2.4.4. Bnh g con dớnh bt khi n

  • Chng 3. K THUT NUễI DNG GIA CM

    • 3.1. K THUT NUễI G SINH SN

      • 3.1.1. K thut nuụi g sinh sn hng tht

      • a. Chun b cỏc iu kin nhn g ging

      • b. Cụng tỏc qun lý n g

      • 3.1.2. K thut nuụi g sinh sn hng trng

      • a. Chun b mi iu kin nhn g ging

      • b. Chm súc g mỏi

      • c. Lch phũng bnh bng vacxin

    • 3.2. K THUT NUễI G BROILER

      • 3.2.1. Chun b nhn g v chm súc qun lý

      • 3.2.2 Nuụi dng g tht Broiler

      • 3.2.3 Lch s dng vacxin

    • 3.3. K THUT CHN NUễI VT

      • 3.3.1. K thut chn nuụi vt theo phng phỏp cụng nghip

      • a. Chm súc nuụi dng vt con 1 - 56 ngy tui

      • b. Nuụi vt hu b (8 - 25 tun tui)

      • c. Nuụi vt

      • 3.3.2. Nuụi vt theo phng phỏp chn th t nhiờn

    • 3.4. K THUT CHN NUễI NGAN

      • 3.4.1. m ngan con t 1 - 28 ngy tui

      • 3.4.2 Nuụi ngan tht

      • 3.4.3. Nuụi ngan hu b t 12 - 23 tun tui

      • 3.4.4. Nuụi ngan (sinh sn) 24 - 86 tun tui

  • Phn 3. CHN NUễI TRU Bề

  • BI M U

    • 1. V TR V VAI TRề CA NGNH CHN NUễI TRU Bề

    • 2. TèNH HèNH CHN NUễI TRấN TH GII

    • 3. TèNH HèNH CHN NUễI TRU Bề VIT NAM V PHNG HNG PHT TRIN

  • Chng 1. K THUT CHN NUễI TRU, Bề SINH SN

    • 1.1. CHN NUễI TRU, Bề C GING

      • 1.1.1. í ngha v tm quan trng

      • 1.1.2. Phng phỏp nuụi dng

      • 1.1.3. Cỏc yu t nh hng

    • 1.2. CHN NUễI TRU, Bề CI

      • 1.2.1. Mt s c im sinh lý sinh dc ca trõu bũ cỏi

      • 1.2.2. Nuụi dng v chm súc trõu, bũ cỏi sinh sn

  • Chng 2: K THUT CHN NUễI Bề SA

    • 2.1. CHN Bề SA

      • 2.1.1. Tỡnh hỡnh chn nuụi bũ sa

        • Bng 2-1. Tng n bũ, sn lng sa c nc v cỏc tnh cú nhiu bũ sa

      • 2.1.2. Ngoi hỡnh bũ sa

    • 2.2. NUễI DNG V KHAI THC Bề SA

      • 2.2.1. Sinh lý sa

      • 2.2.2. Khai thỏc trõu bũ sa

      • 2.2.3. Nuụi dng v chm súc trõu, bũ trong thi k tit sa v thi gian can sa

  • Chng 3. K THUT CHN NUễI TRU, Bề THT

    • 3.1. NGOI HèNH TRU, Bề THT

      • 3.1.1. Ngoi hỡnh bũ tht

      • 3.1.2. Ngoi hỡnh trõu tht

    • 3.2. CHUNG TRI

      • 3.2.1. a im

      • 3.2.2. Hng chung

      • 3.2.3. Nn chung

      • 3.2.4. Rónh thoỏt nc

      • 3.2.5. Mỏi chung

      • 3.2.6. Mỏng n mỏng ung

      • 3.2.7. Din tớch chung cho bũ tht

      • 3.2.8. Kiu chung

    • 3.3. V BẫO TRU, Bề

      • 3.3.1. Cỏc kiu v bộo

    • 3.3.2. Khu phn thc n v bộo

      • 3.3.3. Qun lý bũ v bộo

    • 3.4. KHO ST THT TRU, Bề

      • 3.4.1. Cỏc ch tiờu ỏnh giỏ nng sut v cht lng thõn tht

      • 3.4.2. Cỏc ch tiờu ỏnh giỏ cht lng tht

  • TI LIU THAM KHO

Nội dung

(NB) Giáo trình Chăn nuôi chuyên khoa nhằm cung cấp cho sinh viên cao đẳng những kiến thức chuyên khoa về chăn nuôi trâu, bò và gia cầm. Để góp phần vào sự đổi mới và phát triển ngành chăn nuôi, đồng thời góp phần tăng thêm nguồn tài liệu tham khảo, cũng như để phục vụ kịp thời cho công tác giảng dạy và học môn chăn nuôi chuyên khoa ở tại trường.

CHĂN NUÔI LỢN

VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI LỢN

Chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp, cùng với lúa nước, là hai thành phần thiết yếu và xuất hiện sớm nhất trong nông nghiệp Việt Nam Lợn không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm phong phú mà còn góp phần vào phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nông dân.

- Cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người GS Harris và CTV

(1956) cho biết cứ 100 g thịt lợn nạc có 367 Kcal, 22 g protein.

Thịt lợn hiện nay là nguyên liệu chủ yếu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đặc biệt trong sản xuất thịt xông khói (bacon), thịt hộp và thịt lợn xay Ngoài ra, thịt lợn cũng là thành phần quan trọng trong các món ăn truyền thống của người Việt Nam như giò nạc và giò mỡ.

Phân lợn là nguồn phân hữu cơ chất lượng, giúp cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất, đặc biệt là đất nông nghiệp Mỗi con lợn thịt có khả năng thải từ 2,5 đến 4 kg phân mỗi ngày, cùng với lượng nước tiểu giàu Nitơ và Phốt pho, góp phần cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng.

Lợn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người Trong nghiên cứu về môi trường nông nghiệp, lợn không chỉ là vật nuôi thiết yếu mà còn góp phần làm phong phú thêm đa dạng sinh thái tự nhiên Việc chăn nuôi lợn có thể tạo ra nhiều giống lợn khác nhau, từ các giống nuôi trong vườn cây cảnh đến những giống nuôi trong nhà, qua đó nâng cao giá trị sinh thái của hệ thống nông nghiệp.

Lợn đã được nhân bản gen trong công nghệ sinh học y học nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu quý giá cho y học, góp phần nâng cao sức khỏe con người.

Chăn nuôi lợn không chỉ nâng cao an ninh cho các hộ gia đình nông dân trong các hoạt động xã hội và chi tiêu gia đình, mà còn giúp họ yên tâm đầu tư cho việc học hành của con cái và tham gia các hoạt động văn hóa như cúng giỗ, cưới hỏi, ma chay và đình đám.

Lợn được xem là biểu tượng may mắn trong văn hóa Á Đông, đặc biệt trong các hoạt động tín ngưỡng như "cầm tinh tuổi hợi" Tại Trung Quốc, lợn cũng mang ý nghĩa là biểu tượng của sự thịnh vượng và may mắn trong dịp Tết Nguyên Đán.

Chăn nuôi lợn giữ vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam, với sự phát triển song song cùng nghề trồng lúa nước Thịt lợn là thực phẩm phổ biến trong bữa ăn hàng ngày, được ưa chuộng bởi hương vị dễ thích hợp với mọi đối tượng Để thịt lợn trở thành món ăn có lợi cho sức khỏe, việc chọn giống và chăm sóc đàn lợn là rất quan trọng, đảm bảo chúng luôn khỏe mạnh, có sức đề kháng cao và chất lượng dinh dưỡng tốt.

1.1.3 Yêu cầu của chăn nuôi lợn

Chăn nuôi lợn hiệu quả cần đảm bảo năng suất và chất lượng sản phẩm cao, được người tiêu dùng tin tưởng Để đạt được điều này, việc chăm sóc và quản lý đàn lợn phải giúp chúng phát triển bình thường, tăng trọng nhanh và sinh sản tốt Người chăn nuôi cần nắm vững kỹ thuật chăn nuôi, phòng ngừa dịch bệnh và có khả năng tiếp cận thị trường hiệu quả.

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới

Nghề chăn nuôi lợn đã xuất hiện từ khoảng 10.000 năm trước tại châu Âu và châu Á, sau đó phát triển ở châu Mỹ vào thế kỷ XVI và châu Úc vào thế kỷ XVIII Hiện nay, chăn nuôi lợn trở thành một nghề truyền thống ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước có công nghệ cao và tổng đàn lợn lớn như Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Singapore và Đài Loan Các quốc gia tiên tiến thường áp dụng hình thức chăn nuôi lợn công nghiệp với trình độ chuyên môn hóa cao.

Đàn lợn trên thế giới phân bố không đồng đều, với 70% tổng số lợn được nuôi ở châu Á và châu Âu, trong khi khoảng 30% còn lại ở các châu lục khác Các nước có chăn nuôi lợn tiên tiến thường có nhu cầu thịt lợn cao, dẫn đến số lượng lợn nuôi nhiều hơn Cụ thể, chăn nuôi lợn ở châu Âu chiếm 52%, châu Á 30,4%, châu Úc 5,8%, châu Phi 3,2% và châu Mỹ 8,6%.

Sản phẩm từ ngành chăn nuôi lợn được tiêu thụ rộng rãi trên toàn thế giới, ngoại trừ các nước theo tín ngưỡng Hồi giáo Thịt lợn có giá trị dinh dưỡng cao, là nguồn thực phẩm bổ dưỡng cho con người Ngoài ra, ngành chăn nuôi lợn còn đóng góp đáng kể vào lợi nhuận kinh tế của nhiều quốc gia.

1.2.2 Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam

Chăn nuôi lợn ở Việt Nam có nguồn gốc từ thời đồ đá mới, khoảng 10.000 năm trước Khi con người bắt đầu sử dụng công cụ lao động, họ đã săn bắn và thu hoạch nhiều loài động vật, trong đó có lợn rừng Nhằm tích trữ thực phẩm cho những ngày không thể săn bắt, họ đã thuần dưỡng những con vật này Nghề chăn nuôi lợn từ đó đã hình thành và phát triển song song với nghề trồng lúa nước, tạo nên một phần quan trọng trong văn hóa Việt Nam.

Nghề nuôi lợn và trồng lúa nước đã phát triển trong các giai đoạn văn hóa Gò Mun và Đông Sơn, đặc biệt là thời kỳ các vua Hùng Tuy nhiên, dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong thời kỳ Bắc thuộc, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, dẫn đến sự ngưng trệ trong phát triển nông nghiệp, bao gồm cả ngành chăn nuôi lợn.

Vào cuối thế kỷ XVIII, sự trao đổi văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam đã thúc đẩy sự phát triển chăn nuôi lợn, đặc biệt là tại các tỉnh miền Đông Bắc bộ khi dân cư phía Bắc nhập các giống lợn lang Trung Quốc Tuy nhiên, trình độ chăn nuôi lợn thời kỳ này còn rất thấp Đến khoảng năm 1925, trong thời kỳ Pháp thuộc, Pháp đã bắt đầu nhập các giống lợn châu Âu như Yorkshire và Berkshire, sau đó tiến hành lai tạo với các giống lợn nội địa như lợn Móng Cái, lợn Ỉ và lợn Bồ Xụ.

Sự phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng đàn lợn đã được cải thiện đáng kể nhờ vào các phương pháp nhân giống thuần chủng và lai giống Kể từ năm 1960, Việt Nam đã nhập khẩu nhiều giống lợn cao sản với sự hỗ trợ từ các nước XHCN anh em Chăn nuôi lợn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng.

- Giai đoạn từ 1960 - 1969: Giai đoạn khởi xướng các qui trình chăn nuôi lợn theo hướng chăn nuôi công nghiệp

Giai đoạn từ 1970 đến 1980 đánh dấu sự hình thành các nông trường lợn giống quốc doanh với mô hình chăn nuôi lợn công nghiệp, được hỗ trợ bởi các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Hung-ga-ri, Tiệp Khắc và Cu Ba Hệ thống nông trường quốc doanh và Công ty giống lợn công nghiệp Trung ương phát triển mạnh mẽ, cung cấp giống lợn theo hệ thống 3 cấp từ Trung ương đến địa phương Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế, sự hỗ trợ từ nước ngoài giảm sút, kết hợp với dịch bệnh đã dẫn đến sự tan rã của hệ thống nông trường giống lợn, chuyển đổi từ sở hữu nhà nước sang cổ phần hóa hoặc tư nhân hóa.

Giai đoạn từ 1986 đến 2002 đánh dấu sự chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, với việc điều chỉnh cơ cấu cây trồng và vật nuôi nhằm phù hợp với môi trường sinh thái và tham gia vào thị trường khu vực như AFTA và WTO Trong thời gian này, mô hình chăn nuôi lợn đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở các tỉnh miền Nam và miền Bắc, với sự hình thành của các trang trại và doanh nghiệp tư nhân Nhiều công ty chăn nuôi lợn có vốn đầu tư 100% nước ngoài cũng xuất hiện, góp phần vào sự phát triển của chăn nuôi công nghiệp Mặc dù chăn nuôi công nghiệp đang phát triển nhanh chóng, hình thức chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm ưu thế lớn, với tỷ lệ 96,4% ở các vùng nông thôn.

Năm 2011, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 8,9 triệu tấn nguyên liệu thức ăn với giá trị khoảng 3,7 triệu USD, chiếm hơn 62% tổng nguyên liệu đầu vào cho sản xuất thức ăn trộn sẵn, trong khi các nhà máy trong nước sản xuất khoảng 14,3 triệu tấn Trong số đó, có 4,8 triệu tấn là nguồn cung protein, bao gồm bột đậu nành, bột thịt và bột xương, và 3,8 triệu tấn là nguồn cung năng lượng, bao gồm bắp và cám gạo.

NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN Ở VIỆT NAM

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp và trung tâm sản xuất giống lợn tại Việt Nam đã có khả năng cung cấp giống lợn cao nạc, đáp ứng nhu cầu phát triển chăn nuôi Các cơ sở tiêu biểu bao gồm thành phố Hồ Chí Minh, Viện Chăn nuôi, Viện Khoa học Nông Nghiệp Miền Nam và các công ty sản xuất thức ăn có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, việc quản lý con giống vẫn gặp nhiều thách thức, và Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn đã ban hành nhiều văn bản nhằm cải thiện công tác quản lý giống lợn trên toàn quốc.

1.3 NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN Ở VIỆT NAM

Giá cá thị trường và các đầu vào, đầu ra của ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam thường không ổn định, chịu ảnh hưởng lớn từ giá lương thực quốc tế và mùa vụ thu hoạch trong nước Khi mùa vụ bội thu, giá lương thực giảm, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của chăn nuôi lợn; ngược lại, trong những năm thu hoạch kém, giá lương thực tăng cao, gây ảnh hưởng tiêu cực đến số lượng và năng suất chăn nuôi Sự biến động này cũng tác động đến quyết định đầu tư của các hộ chăn nuôi, khiến cho phát triển chăn nuôi lợn hàng hóa chưa trở thành xu hướng quan trọng tại nông thôn.

Thị trường xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức do sức cạnh tranh thấp trên thị trường quốc tế Giá bán thịt lợn cao hơn so với các nước trong khu vực và toàn cầu, xuất phát từ chi phí sản xuất cao và thị trường xuất khẩu hạn chế Hiện tại, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông, nhưng khối lượng xuất khẩu đã giảm đáng kể, từ 30.000 tấn năm 2001 xuống chỉ còn 12.000 tấn vào năm 2004.

Chất lượng thịt lợn Việt Nam đang gặp thách thức trong việc cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, với tỷ lệ nạc thấp và tiêu chuẩn vệ sinh chăn nuôi ở nhiều vùng chưa đạt yêu cầu xuất khẩu.

Việt Nam chưa gia nhập các hiệp định quốc tế về thú y, điều này ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu thịt lợn của nước này ra thị trường toàn cầu.

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN Ở VIỆT NAM

Chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, không chỉ cung cấp thực phẩm thiết yếu cho con người mà còn hỗ trợ phát triển nông nghiệp và mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nông dân Để ngành chăn nuôi lợn phát triển bền vững và mạnh mẽ hơn, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm.

Cần xây dựng một kế hoạch nghiêm túc để bảo tồn vốn gen của các giống lợn trong nước, nhằm đa dạng hóa nguồn gen và khai thác những đặc điểm quý giá như khả năng chịu đựng và sinh sản Đồng thời, cần điều chỉnh cơ cấu giống lợn theo hướng nạc để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước và quốc tế.

1.4.2 Giải quyết vấn đề thức ăn

Khuyến khích phát triển doanh nghiệp sản xuất thức ăn công nghiệp cho chăn nuôi, đặc biệt là thức ăn cho lợn, là cần thiết Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT vào tháng 5 năm 2004, cả nước có 32 doanh nghiệp nhà nước, 10 công ty cổ phần, 119 công ty TNHH và gần 36 công ty nước ngoài và liên doanh trong lĩnh vực này Năm 2003, sản lượng thức ăn công nghiệp đạt khoảng 5 triệu tấn, chiếm 35% tổng lượng thức ăn cho chăn nuôi, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển chăn nuôi.

Cần điều chỉnh lượng thức ăn nhập khẩu để tăng cường sản xuất thức ăn trong nước, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

Xây dựng các cơ sở chế biến thực phẩm kết hợp với việc phát triển vùng nguyên liệu sẽ giúp chủ động nguồn nguyên liệu cho các nhà máy, đồng thời giảm giá thành sản phẩm.

Tiếp tục phát triển và củng cố mạng lưới an toàn dịch bệnh thú y để kiểm soát các dịch bệnh quan trọng có khả năng lây sang người, đồng thời loại trừ một số bệnh thường gặp ở lợn và gia súc.

Tham gia các Hiệp ước thú y quốc tế giúp ngăn ngừa dịch bệnh cho gia súc trong nước và tạo điều kiện xuất khẩu thịt lợn ra thị trường quốc tế một cách hợp pháp.

Nhà nước cần thiết lập các biện pháp hỗ trợ cho vùng chăn nuôi lợn xuất khẩu, đặc biệt là tại vùng đồng bằng sông Hồng Đồng thời, cần tiếp tục khai thác các thị trường tiềm năng như Liên bang Nga, Hồng Kông, Singapore và Trung Quốc để mở rộng cơ hội xuất khẩu.

Để thâm nhập vào thị trường quốc tế, cần tăng cường công tác tiếp thị sản phẩm thịt lợn Đồng thời, khuyến khích và hỗ trợ đổi mới công nghệ chế biến thịt sẽ giúp nâng cao giá trị các sản phẩm chăn nuôi, góp phần điều hòa giá cả trên thị trường.

Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ các gia đình chăn nuôi quy mô lớn theo mô hình công nghiệp thông qua các chính sách như cung cấp tín dụng ưu đãi, ưu tiên trong việc mua sắm vật tư và chính sách thuê đất đai thuận lợi.

1 Trình bày vị trí và vai trò của ngành chăn nuôi lợn?

2 Trình bày tình hình chăn nuôi trên thế giới và ở Việt Nam?

3 Trình bày những khó khăn trong phát triển chăn nuôi lợn ở Việt Nam? những phương hướng phát triển chăn nuôi lợn ở Việt Nam?

CHĂN NUÔI LỢN ĐỰC GIỐNG

1.1 NHỮNG CHỈ TIÊU CƠ BẢN ĐÁNH GIÁ SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN ĐỰC GIỐNG

Mục tiêu của chăn nuôi lợn đực giống là khai thác tinh dịch và phục vụ cho việc phối giống lợn cái Để đánh giá hiệu quả sản xuất của lợn đực giống, cần dựa vào các tiêu chí cụ thể.

1.1.1 Khả năng sản xuất tinh dịch

Để đánh giá khả năng sản xuất tinh dịch của lợn đực giống, cần xem xét nhiều chỉ tiêu khác nhau, mỗi chỉ tiêu mang một ý nghĩa riêng Việc hiểu rõ các chỉ tiêu này là rất quan trọng, giúp nhận diện những đực giống có năng suất cao và lập kế hoạch khai thác, pha chế tinh dịch phù hợp, nhằm đạt tỷ lệ thụ thai tối ưu.

Khi lợn đực giao phối, tinh dịch được phóng ra bao gồm hai phần: phần lỏng gọi là tinh thanh (nước tinh) và phần còn lại là tinh trùng Tinh dịch có thành phần phức tạp, bao gồm các chất do tinh hoàn, tinh hoàn phụ và các tuyến sinh dục phụ tiết ra với số lượng khác nhau Dựa vào thành phần, tinh dịch được chia thành hai loại: tinh dịch tinh hoàn phụ và tinh dịch phóng ra ngoài.

Bảng 1-1: Thành phần tinh dịch ở phụ dịch hoàn và tinh dịch phóng ra ng oài

Thành phần Tinh dịch ở tinh hoàn phụ Tinh dịch phóng ra ngoài Độ pH 6,8 7,4

Na-tri (mg%) 300 75 - 85 Đường (mg%) 290 - 300 70 - 75

Tinh dịch chứa nhiều thành phần quan trọng như Mg, Cl2, Ca, P, cùng với các hợp chất hữu cơ phức tạp như a-xít ascorbic, a-xít lactic, a-xít citric, amoniac, ure và enzym Đặc biệt, trong tinh dịch có khoảng 34 loại a-xít amin tự do, trong đó glixin chiếm ưu thế Hàm lượng a-xít amin này có mối liên hệ chặt chẽ với số lượng tinh trùng, cho thấy sự tương quan thuận giữa chúng.

Sau khi khai thác tinh dịch, cần tiến hành lọc phần keo nhầy để thu được thể tích tinh dịch, chiếm khoảng 75% - 90% tổng lượng tinh dịch Việc loại bỏ chất keo nhầy ngay sau khi khai thác là rất quan trọng, vì nếu không, số lượng tinh trùng sẽ giảm nhanh chóng do bị hấp phụ Quá trình lọc rất đơn giản, chỉ cần sử dụng vải sạch đã khử trùng, gấp 4 - 5 lớp Thể tích tinh dịch thường được đo bằng ml; đối với lợn nội trưởng thành, mỗi lần khai thác có thể đạt từ 50 - 100 ml, trong khi lợn ngoại thường có thể sản xuất lượng lớn hơn nhiều.

Lượng tinh dịch có thể dao động từ 150 đến 350 ml, và thậm chí lên đến 500 ml, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như giống, tuổi, chế độ ăn uống và mùa trong năm Bên cạnh đó, nồng độ tinh trùng trong tinh dịch cũng là một yếu tố quan trọng cần xem xét.

Xác định nồng độ tinh trùng trong tinh dịch là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức sản xuất của lợn đực giống Nồng độ này cho biết mức độ pha loãng trong thụ tinh nhân tạo và khác nhau giữa các giống lợn, với lợn nội trưởng thành đạt khoảng 80 - 100 triệu/ml và lợn ngoại từ 150 - 200 triệu/ml Để đo nồng độ tinh trùng, phương pháp đơn giản nhất là sử dụng buồng đếm hồng cầu (Spermiodencimetre), mặc dù hiện nay nhiều cơ sở thụ tinh nhân tạo hiện đại đã sử dụng máy tự động để kiểm tra Phương pháp buồng đếm hồng cầu vẫn phổ biến và có độ chính xác tương đối cao.

Hoạt lực tinh trùng, ký hiệu là chữ A, đề cập đến sức hoạt động tiến thẳng của tinh trùng Tỷ lệ phần trăm tinh trùng tiến thẳng so với tổng số tinh trùng quan sát được sử dụng để tính toán sức hoạt động này Chỉ những tinh trùng có khả năng tiến thẳng mới có thể thực hiện quá trình thụ thai.

Tinh dịch lợn nội có hoạt lực tinh trùng khoảng 0,7 - 0,8, trong khi lợn ngoại đạt từ 0,8 - 1,0 Hoạt lực tinh trùng thấp có thể làm giảm số lượng tinh trùng có khả năng thụ thai Trong thụ tinh nhân tạo, chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng tối thiểu là 0,7, nhưng trong phối giống trực tiếp, mức A thấp từ 0,4 đến 0,5 vẫn có thể được chấp nhận.

Khi kiểm tra sức kháng của tinh trùng (R), cần đảm bảo rằng tiêu bản được sưởi ấm ở nhiệt độ khoảng 38 - 40 độ C Điều này giúp tăng độ chính xác của kết quả, tạo điều kiện tương tự như trong môi trường âm đạo - tử cung của con cái.

Sức kháng của tinh trùng được xác định qua khả năng chịu đựng của chúng trong dung dịch muối đẳng trương NaCl 1% Điều này có nghĩa là lượng dung dịch NaCl cần thiết để pha loãng một đơn vị thể tích tinh dịch cho đến khi các tinh trùng ngừng di chuyển thẳng.

Tính sức kháng của tinh trùng có thể dùng công thức sau:

R = V v Trong đó: - R: Là sức kháng của tinh trùng

- V: Là thể tích của dung dịch NaCl 1% đã sử dụng để pha loãng

- v: Là thể tích tinh dịch dùng kiểm tra e Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K)

Tinh trùng kỳ hình là những tinh trùng có hình dạng bất thường, thường gặp là những tinh trùng bị cụt đuôi hoặc sứt đầu, và chúng không có khả năng thụ thai Để đánh giá chỉ tiêu này, cần tiến hành nhuộm màu tinh trùng bằng các loại thuốc nhuộm như xanh mê-ty-len hoặc gem xa.

Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình trong tinh dịch lợn thường dao động từ 5 - 10%, cho thấy chất lượng tinh dịch có thể bị hạn chế Để đánh giá tổng quát sức sản xuất của lợn đực và xác định số liều tinh có thể pha cho thụ tinh nhân tạo, cần tính chỉ tiêu tổng hợp VAC, tức tổng số tinh trùng tiến thẳng trong tinh dịch.

Chỉ tiêu này thường được đo bằng tỷ lệ tinh trùng và việc tính toán rất đơn giản khi đã có các thông số về thể tích, hoạt lực và nồng độ.

Do thể tích (V), nồng độ (C) và hoạt lực (A) của lợn nội thấp hơn so với lợn ngoại, chỉ tiêu VAC giữa hai loại lợn này có sự chênh lệch rõ rệt Cụ thể, lợn nội chỉ đạt từ 5 đến 8 tỉ, trong khi lợn ngoại có thể đạt từ 28 đến 35 tỉ mỗi lần khai thác.

1.1.2 Khả năng giao phối với lợn cái

Chỉ tiêu này thưòng được biểu hiện thông qua hai chỉ tiêu là khả năng đảm nhiệm số lợn nái và tỷ lệ thụ thai.

CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN

2.1 MỘT SỐ CHỈ TIÊU CƠ BẢN ĐÁNH GIÁ SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI

Khả năng sinh sản của lợn nái là một chỉ tiêu kỹ thuật và kinh tế quan trọng, phản ánh chất lượng giống và kỹ thuật chăn nuôi Đánh giá khả năng sinh sản được thực hiện qua số con sơ sinh trên ổ, chỉ tiêu này không chỉ cho thấy khả năng đẻ nhiều hay ít của giống mà còn liên quan đến chất lượng tinh dịch, kỹ thuật thụ tinh của kỹ thuật viên và quy trình chăm sóc nuôi dưỡng nái có chửa.

Trong 24 giờ đầu sau khi sinh, lợn con dễ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, dẫn đến nguy cơ tử vong cao Những lợn con yếu đuối và phát triển không cân đối thường chết ngay sau khi sinh, thường do kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái kém Ngoài ra, yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng lớn đến số lượng lợn con sống sót trong 24 giờ đầu, khi chúng chuyển từ môi trường trong bụng mẹ sang môi trường bên ngoài Lợn con chưa kịp thích nghi dễ bị mẹ đè chết, hoặc gặp nguy hiểm do không có sự can thiệp kịp thời từ kỹ thuật viên, dẫn đến chết rét hoặc ngạt thở Thực tế cho thấy, số lợn con sinh ra thường có nhiều loại khác nhau.

Thai phát triển không hoàn thiện ở lợn có thể xảy ra do lợn mẹ bị ốm hoặc bị ảnh hưởng bởi hóa chất, dẫn đến sự phát triển không đầy đủ của lợn con, dù đã qua giai đoạn mang thai Loại thai non này có thể đã chết trong quá trình mang thai hoặc trước khi sinh Nguyên nhân thường gặp bao gồm bệnh nhiễm trùng như leptospirosis, bệnh giả dại, hoặc tình trạng thiếu dinh dưỡng.

Thai chết lưu là hiện tượng thai đã chết trong tử cung từ 35 đến 90 ngày tuổi, thường không gây sẩy thai mà thai sẽ khô cứng lại Nguyên nhân chính là do thiếu hụt dinh dưỡng từ nhau thai phát triển không đầy đủ hoặc do nhiễm virus như Enterovirus và Parvovirus Đặc biệt, lợn nái bị nhiễm Parvovirus trong giai đoạn mang thai 70 ngày có thể dẫn đến hiện tượng thai gỗ Để phòng ngừa, lợn cái hậu bị cần được nuôi cách ly, tiêm phòng đầy đủ và chăm sóc đúng kỹ thuật.

* Lợn con đẻ ra còn sống

Khi sinh ra, một số con non có thể chết trong vòng 24 giờ vì nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như bị mẹ đè chết, chết rét hoặc chết ngạt.

Như vậy số con sơ sinh còn sống đến 24 h = Số con đẻ ra sống - Số con chết trong 24h.

Tỷ lệ sống được tính theo công thức sau:

Tỉ lệ sống (%) = Số con sơ sinh sống đến 24h x 100

Số con đẻ ra sống

Số lượng lợn con chết lúc sơ sinh, thai non và thai gỗ là những nguyên nhân chính làm giảm số lợn con sống sót sau 24 giờ Bên cạnh đó, số lượng lợn con cai sữa trên mỗi lứa cũng là một yếu tố quan trọng cần được chú ý.

Cai sữa cho lợn con là quá trình quan trọng, phụ thuộc vào kỹ thuật chế biến thức ăn và giống lợn Hiện nay, nhờ công nghệ tiên tiến, người chăn nuôi có thể cai sữa cho lợn con ở các độ tuổi 21, 28 và 35 ngày Việc tách lợn con sớm giúp giảm tỷ lệ hao hụt của nái, đồng thời giúp nái nhanh chóng động dục trở lại, tăng số lứa đẻ trong năm Tuy nhiên, cai sữa sớm cần phải có thức ăn phù hợp với khả năng tiêu hóa của lợn con ở từng giai đoạn, đảm bảo chúng phát triển bình thường mà không cần sữa mẹ.

Số lợn con cai sữa trên lứa là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi lợn Chỉ tiêu này phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật nuôi lợn con theo mẹ, và quy trình tiêm phòng nhằm ngăn ngừa bệnh tật cho lợn.

Tỷ lệ lợn con sống đến cai sữa được tính:

Tỉ lệ sống (%) = Số con sống đến cai sữa x 100

Số con để lại nuôi trong một ổ lợn thường được xác định bằng số vú của lợn mẹ, nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường cho lợn con Số lượng này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đàn con mà còn tác động đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Chỉ tiêu số con cai sữa/nái/năm là yếu tố tổng hợp quan trọng để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái, phụ thuộc vào số lợn con đẻ ra, số lợn con được nuôi và thời gian cai sữa, cũng như tỷ lệ sống sót của lợn con Do đó, việc theo dõi chỉ tiêu này là rất cần thiết trong chăn nuôi lợn nái.

2.1.2 Chất lượng đàn con Đánh giá chất lượng đàn con là một trong những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong chăn nuôi lợn nái sinh sản. a Khối lượng sơ sinh toàn ổ

Khối lượng lợn con được cân ngay sau khi sinh, trước khi bú sữa đầu, nhằm tránh gây stress cho lợn Khối lượng sơ sinh của cả ổ phản ánh khả năng nuôi dưỡng của lợn mẹ và kỹ thuật chăm sóc của người chăn nuôi Việc cân khối lượng sơ sinh là cần thiết để lập kế hoạch chăm sóc cho từng con, như cố định đầu vú Khối lượng lợn con ở 21 ngày tuổi cũng cần được theo dõi để đánh giá sự phát triển và sức khỏe của chúng.

Khối lượng 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ và kỹ thuật chăm sóc nái nuôi con của người chăn nuôi.

Khối lượng 21 ngày tuổi là chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ, vì lợn mẹ thường có mức tiết sữa cao nhất vào thời điểm này và sẽ giảm dần sau đó Điều này cũng liên quan đến khối lượng cai sữa toàn ổ, ảnh hưởng đến sự phát triển của lợn con.

Khối lượng cai sữa là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ và kỹ thuật cho ăn lợn con Yếu tố này còn phụ thuộc vào độ tuổi của lợn con khi cai sữa Hiện nay, việc phát triển thức ăn tập ăn đa dạng và phù hợp đã giúp lợn con có thể cai sữa sớm hơn, với khả năng tập ăn từ 7 đến 10 ngày tuổi.

Khối lượng lợn con cai sữa rất quan trọng vì nó là nền tảng và điểm xuất phát cho con giống khi chuyển sang nuôi ở giai đoạn tiếp theo.

Việc cân trọng lợn con sau thời gian cai sữa là yếu tố quan trọng giúp người chọn giống xác định khả năng phát triển lợn giống hậu bị Tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con phản ánh kỹ thuật chăm sóc của người nuôi và khả năng nuôi con của lợn mẹ Người chăn nuôi cần cân khối lượng sơ sinh của lợn con và ưu tiên chăm sóc cho những con nhỏ, đặc biệt là cố định chúng ở vú phía trước ngực, nơi có nhiều sữa hơn.

Tỷ lệ đồng đều là tỷ lệ phần trăm khối lượng giữa cá thể nhỏ nhất và cá thể lớn nhất trong đàn Khi sự chênh lệch khối lượng giữa hai cá thể này giảm, tỷ lệ đồng đều sẽ tăng cao.

KỸ THUẬT CHĂN NUÔI LỢN CON

3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA LỢN CON

3.1.1 Đặc điểm về sự phát triển a Đặc đỉểm về sự sinh trưởng

Lợn con trong giai đoạn phát triển nhanh chóng, với khối lượng tăng gấp đôi vào ngày thứ 7-10, gấp bốn lần vào ngày 21 tuổi, gấp năm lần vào ngày 30 tuổi và có thể đạt từ 10 đến 15 lần khối lượng sơ sinh vào 60 ngày tuổi Chẳng hạn, lợn Móng Cái sơ sinh chỉ nặng khoảng 0,5 kg.

- 0,6 kg đến khi 60 ngày tuổi có thể đạt 6 - 7 kg.

Khối lượng sơ sinh và khối lượng lúc 60 ngày tuổi có mối tương quan thuận chặt chẽ, cho thấy khối lượng sơ sinh cao sẽ dẫn đến khối lượng cai sữa cao hơn Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa hợp lý để tăng cường khối lượng sơ sinh của lợn con.

Khối lượng khi sơ sinh của lợn con có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống sót đến cai sữa và tỷ lệ tử vong Nghiên cứu cho thấy, lợn con có khối lượng sơ sinh từ 1,1 - 1,35 kg có tỷ lệ sống sót đạt 75% đến cai sữa, trong khi lợn con có khối lượng sơ sinh 0,57 kg hoặc thấp hơn chỉ có dưới 2% khả năng sống sót khi cai sữa.

Bảng 3.1 trình bày mối quan hệ giữa khối lượng sơ sinh và tỷ lệ chết lúc sơ sinh cũng như tỷ lệ tổn thất đến cai sữa Cụ thể, khối lượng sơ sinh (kg) có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ chết sơ sinh (%) và tổn thất đến cai sữa (%).

>2,0 0,00 8,57 Đồng thời, nếu khối lượng sơ sinh và cai sữa nhỏ sẽ dẫn đến tỷ lệ loại thải cao trong thời kỳ nuôi lợn sinh trưởng.

Trong giai đoạn 3 đến 4 tuần tuổi, lợn con có xu hướng giảm tốc độ tăng trọng tuyệt đối, điều này xảy ra do nguồn sữa mẹ cung cấp bắt đầu giảm theo quy luật tiết sữa của lợn nái Sự sinh trưởng của lợn con trong giai đoạn này không hoàn toàn tuân theo quy luật sinh trưởng chung của gia súc.

Mức độ tăng trọng của lợn con phụ thuộc vào các biện pháp kỹ thuật can thiệp của con người Trong quá khứ, khi nguồn thức ăn cho lợn con hạn chế, giai đoạn này trở thành thời kỳ khủng hoảng, khiến tốc độ tăng trọng giảm đáng kể so với các giai đoạn khác Đồng thời, khối lượng cơ thể giảm cũng kéo theo hàm lượng hồng cầu và hemoglobin (Hb) giảm mạnh Trong giai đoạn theo mẹ, lợn con có khả năng tích lũy protein hàng ngày cao hơn, trung bình từ 9 đến 14 gam protein mỗi kg khối lượng, trong khi giai đoạn sau chỉ đạt 0,3 đến 0,4 gam mỗi ngày.

Thời kỳ này chủ yếu là sự thành thục của cơ quan sinh dục lợn đực cho nên cần phải tiến hành thiến.

3.1.2 Đặc điểm về sự phát triển của cơ quan tiêu hóa lợn con

Trong giai đoạn này, lợn con có sự phát triển nhanh chóng của hệ tiêu hóa, với dung tích và khối lượng tăng lên đáng kể Tuy nhiên, hệ tiêu hóa vẫn chưa hoàn thiện, thể hiện qua số lượng và hoạt lực hạn chế của một số enzym trong đường tiêu hóa.

Bảng 3.2: Sự phát triển của bộ máy tiêu hoá lợn con Thời gian

Cơ quan Sơ sinh 70 ngày Số lần tăng

Dạ dày 2,5 ml 1815 ml >70 lần

Ruột non 100 ml 6000 ml 60 lần

Ruột già 40 ml 2100 ml >50 lần

Mặc dù dung tích dạ dày của trẻ sơ sinh tăng nhanh chóng, nhưng hệ thống men tiêu hóa chưa phát triển đầy đủ, đặc biệt là trong những tuần đầu sau khi sinh.

* Men tiêu hoá tinh bột

Amylaza do tuyến nước bọt tiết ra ở lợn con sơ sinh có hoạt lưc thấp, tăng cao nhất lúc 2

Amylaza nước bọt có vai trò hạn chế trong quá trình tiêu hóa tinh bột, vì thức ăn chỉ tồn tại ngắn trong miệng và quá trình tiêu hóa chủ yếu diễn ra ở phần thượng vị dạ dày Sau 3 tuần tuổi, mức amylaza sẽ giảm.

Amylaza tụy xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ sinh, mặc dù hoạt lực ban đầu còn thấp, nhưng sẽ tăng cao dần từ 4 đến 6 tuần tuổi Enzyme này đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa tinh bột nhờ vào lượng men dồi dào và thời gian tiếp xúc lâu với cơ chất.

Maltaza và sacraza có sự phát triển tương tự như amylaza tụy, với mức độ enzyme thấp trong những tuần đầu sau sinh, sau đó tăng dần và đạt mức cao nhất vào khoảng 5 đến 6 tuần tuổi.

Lợn con ở 4 tuần tuổi chỉ có khả năng tiêu hóa tinh bột đạt 50%, do men tiêu hóa tinh bột chưa phát triển hoàn thiện Đến tuần 5-6, khả năng tiêu hóa tinh bột của chúng tương đối hoàn thiện hơn Điều này cần được chú ý khi phối hợp khẩu phần và chế biến thức ăn, nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ của lợn con Chẳng hạn, tinh bột ngô sống khó tiêu hóa trong 25 ngày tuổi, nhưng tinh bột ngô chín lại dễ tiêu hóa hơn.

Men lactaza có khả năng tiêu hóa đường lactose cao ngay từ khi sơ sinh, đạt đỉnh vào khoảng 2 tuổi, sau đó giảm nhanh chóng, phù hợp với lượng lactose trong sữa.

* Men tiêu hóa mỡ (Lipaza)

Men này hoạt động mạnh ngay từ khi mới sinh ra và tương đối ổn định trong suốt thời kỳ bú sữa.

Pepsin có mặt từ khi sơ sinh và tăng lên đến 5 - 6 tuần tuổi, nhưng không có khả năng tiêu hóa protein vì ở dạng pepsinogen Để pepsinogen hoạt hóa thành pepsin, cần có axit clohydric (HCl) ở dạng tự do Do thiếu axit này trong giai đoạn đầu sau khi sinh, độ axit dịch vị của lợn còn thấp, dẫn đến khả năng diệt khuẩn và hoạt hóa pepsinogen kém HCl tự do bắt đầu xuất hiện từ ngày 25 - 30 tuổi và khả năng diệt khuẩn rõ rệt hơn từ 40 - 50 ngày tuổi.

HCl tự do ở lợn không nhất thiết phải xuất hiện theo độ tuổi, mà phụ thuộc vào thời điểm bổ sung thức ăn Nghiên cứu cho thấy, nếu lợn con được nuôi trong môi trường vô trùng, HCl có thể xuất hiện ngay từ những ngày đầu sau khi đẻ Ngược lại, trong điều kiện bình thường, HCl chỉ xuất hiện sau 25 - 30 ngày Đặc biệt, nếu lợn con được tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày với thức ăn hạt, HCl sẽ có mặt ở dạng tự do vào ngày thứ 14.

CHĂN NUÔI GIA CẦM

1.1 NGUỒN GỐC VÀ SỰ THUẦN HOÁ GIA CẦM

Tất cả các giống gia cầm đều thuộc lớp chim (Aves), chủ yếu là nhóm chim bay (Carinatea) Chúng được phân loại vào ba bộ chính: bộ Ngỗng vịt (Anserriformes), bộ Gà (Galliormes) và bộ Bồ câu (Columbiformes).

Quá trình thuần hoá chim hoang dã thành các giống gia cầm hiện nay đã diễn ra hàng ngàn năm, dẫn đến sự biến đổi đáng kể về ngoại hình, khả năng sinh trưởng và sinh sản Sự can thiệp của con người nhằm khai thác thịt và trứng đã làm thay đổi các đặc điểm sinh học tự nhiên như khả năng bay, ấp trứng và sinh sản theo mùa Những biến đổi này giúp gia cầm thích nghi với điều kiện sống mới, trong khi các giống địa phương vẫn giữ được bản năng tự nhiên mạnh mẽ hơn so với các giống mới.

1.1.1 NGUỒN GỐC VÀ SỰ THUẦN HOÁ GÀ

Gà thuộc lớp chim (Aves), bộ gà (Galliformes), họ trĩ (Fasianidea), giống gà (gallus) và loài gà nuôi (Gallus gallus domestica) Các giống gà hiện nay được hình thành từ quá trình lai tạo và tiến hóa lâu dài, phức tạp từ bốn loại hình gà rừng.

- Gallus Bankiva: phân bố ở ấn Độ, Miến Điện, Đông D ơng và

- Gallus Soneratii: phân bố ở tây và nam ấn Độ

- Gallus Lafazetti: phân bở ở Srilanca

Gallus Varius, một loài gà có nguồn gốc từ Indonesia, đã được thuần hóa lần đầu tiên vào thời kỳ đồ đồng khoảng 3000 năm trước Công nguyên Khoảng 2000 năm trước Công nguyên, gà được đưa sang Trung Quốc và sau đó lan rộng đến Hy Lạp, nơi chúng được nuôi làm cảnh, tế lễ và giải trí như chọi gà Nhờ vào mối liên hệ thương mại của người Hy Lạp, gà đã được phân phối đến các nước thuộc khu vực Địa Trung Hải và châu Âu Đến thế kỷ 1, gà đã xuất hiện ở Trung Âu và đến thế kỷ 10, chúng đã trở nên phổ biến rộng rãi ở Trung Âu và Đông Âu.

Gà nhà của ta bắt nguồn từ gà rừng Gallus Bankiva Chúng đợc thuần hoá sớm nhất ở Phú Thọ, Bắc Giang, Sơn Tây

Cách đây khoảng 3000 năm, từ giống gà hoang dã ban đầu, người dân Việt Nam đã phát triển nhiều giống gà khác nhau như gà chọi, gà Đông Cảo, gà Hồ, gà Mía và gà Ri, với sự phân bố rộng rãi trên khắp cả nước.

1.1.2 NGUỒN GỐC VÀ SỰ THUẦN HOÁ VỊT

Theo phân loại học, ngan và vịt đều thuộc lớp chim ( Aves), bộ ngỗng ( Anseriformes), họ nịt (Anatidea), giống vịt (Anas), loài vịt nhà (Ana platyrhynchos f.domestica ).

Tất cả các giống vịt hiện nay đều có nguồn gốc từ loài vịt Anas Platyrhyncos domestica, có tổ tiên là vịt trời hoang dại.

- Anas platyrhncos hay còn gọi là vịt cổ xanh cho ta các giống vịt hiện nay

- Carina moschata hay còn gọi là vịt xiêm cho ta các giống ngan.

Sự thuần hóa vịt nhà diễn ra ở nhiều thời điểm và địa điểm khác nhau, bắt đầu từ khoảng 5000 năm trước Công nguyên ở Hy Lạp và khoảng 1000 năm trước Công nguyên ở Ấn Độ Trước đây, vịt chủ yếu được nuôi để làm cảnh, trong khi việc nuôi vịt lấy trứng và thịt bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước như Anh, Pháp và Đức.

1.1.3 NGUỒN GỐC VÀ SỰ THUẦN HOÁ NGỖNG

Ngỗng thuộc bộ ngỗng (Anseriformes), họ vịt (Anatidea), giống ngỗng (Aser), và loài ngỗng nhà (Aser anser f.domestica) Tất cả các giống ngỗng nuôi hiện nay đều có nguồn gốc từ ngỗng trời xám hoang dại (Anser anser) và đã được thuần hóa ở nhiều địa phương khác nhau Quá trình thuần hóa ngỗng trời diễn ra tương đối sớm, khoảng 4000 năm trước Công nguyên tại Iran và khoảng 2500 năm trước Công nguyên tại Trung Quốc.

2000 năm trớc Công nguyên ở ấn độ và khoảng 1000 năm trớc Công nguyên ở Hy lạp.

1.2 Tình hình phát triển chăn nuôi gia cầm trên thế giới

Trên toàn cầu, đàn gà chiếm tỷ lệ lớn nhất với khoảng 95%, trong khi đàn vịt và gà tây lần lượt chiếm 2% Theo số liệu của tổ chức bảo vệ quyền lợi động vật năm 2008, tổng đàn gà trên thế giới đạt khoảng 70 tỷ con, trong đó có 30 tỷ con gà thịt thương phẩm, 5 tỷ con gà đẻ trứng thương phẩm và 35 tỷ con gà giống các loại.

Mỹ, Trung Quốc và Brazil là ba quốc gia dẫn đầu thế giới về số lượng gà broiler, với 8,3 tỷ, 5,7 tỷ và 5,3 tỷ con tương ứng Về số lượng gà đẻ trứng thương phẩm, Trung Quốc đứng đầu với 1 tỷ con, theo sau là Mỹ với 276 triệu và Nhật Bản với 152 triệu con.

Theo số liệu của FAO dẫn theo Windhorst (2008), tổng sản lượng trứng toàn cầu năm 2006 đạt 61,111 triệu tấn Trong số đó, bảy quốc gia có sản lượng trứng trên 1 triệu tấn mỗi năm bao gồm Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga, Mexico và Brazil Trung Quốc dẫn đầu với sản lượng 25.326.000 tấn, tiếp theo là Mỹ với 5.360.000 tấn, Ấn Độ 2.604.000 tấn, Nhật Bản 2.497.000 tấn, Nga 2.100.000 tấn và Mexico 2.014.000 tấn.

1.2.2 Sản xuất thịt gia cầm

Cũng theo số liệu của FAO, tổng sản lợng thịt trên thế giới trong năm

2005 là 71,85 triệu tấn Nớc có sản lợng thịt cao nhất là Mỹ: (15,87 triệu tấn), đứng thứ hai là Trung Quốc (10,20 triệu tấn), đứng thứ ba là Braxin (8,67 triệu tấn).

1.2.3 Xuất khẩu trứng và thịt gia cầm

Số lợng trứng xuất khẩu hàng năm khoảng 11 tỷ quả Bắc Mỹ xuất khẩu trứng nhiều nhất, chiếm 44,8% Riêng Mỹ chiếm 39,2% lợng trứng xuÊt khÈu.

Tổng sản lượng thịt xuất khẩu đạt khoảng 5 triệu tấn, với năm quốc gia hàng đầu trong xuất khẩu thịt gia cầm gồm Mỹ, Brazil, Hồng Kông, Trung Quốc và Thái Lan.

1.2.4 Một số thành tựu khoa học công nghệ a Thành tựu về công tác giống

Tăng nhanh tiến bộ di truyền trong công tác chọn lọc và tạo giống mới.

Sử dụng hiệu quả u thế lai giữa 4 đến 8 dòng để tạo ra các tổ hợp lai gia cầm có năng suất cao, đồng thời cải tiến các giống địa phương Nhiều hãng giống nổi tiếng như Arbor Acres, Hubbard, Avian, Cob, Hyline, ISA, Euribrid và Lohmann đã cung cấp những giống gia cầm xuất sắc cho thị trường toàn cầu theo các hướng sản xuất khác nhau Bên cạnh đó, ứng dụng di truyền liên kết giới tính giúp tạo ra giống gà có thể phân biệt giới tính ngay từ một ngày tuổi thông qua màu sắc lông và tốc độ mọc lông.

Các giống gia cầm hiện nay có năng suất sản xuất rất cao, với gà mái có khả năng sản xuất từ 150 đến 160 gà con loại 1 trong một năm Gà broiler, sau 35 đến 42 ngày nuôi, đạt trọng lượng từ 2,2 đến 2,6 kg, với mức tiêu tốn thức ăn từ 1,7 đến 1,95 kg cho mỗi kg tăng trọng Đối với gà đẻ trứng thương phẩm, năng suất đạt từ 300 đến 320 quả trứng mỗi mái trong một năm, tiêu tốn khoảng 1,6 đến 1,8 kg thức ăn cho 10 quả trứng.

Các giống vịt cao sản có khả năng sản xuất từ 170 đến 180 vịt con mỗi mái mỗi năm Vịt broiler, sau 45 đến 49 ngày nuôi, có thể đạt trọng lượng từ 3,0 đến 3,5 kg với mức tiêu tốn thức ăn khoảng 2,3 đến 2,4 kg cho mỗi kg tăng trọng Đối với vịt chuyên trứng, năng suất có thể đạt từ 300 đến 320 quả trứng mỗi mái mỗi năm Những thành tựu trong công nghệ sản xuất thức ăn đã góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi vịt.

SỨC SẢN XUẤT CỦA GIA CẦM

1.1.1 Cấu tạo trứng gia cầm a Vỏ trứng

Lớp keo dính do âm đạo tiết ra giúp giảm ma sát giữa thành âm đạo và trứng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đẻ trứng Ngoài ra, lớp keo này còn hạn chế sự bốc hơi nước của trứng và ngăn chặn sự xâm nhập của tạp khuẩn từ bên ngoài.

Vỏ cứng của trứng gia cầm, với độ dày trung bình từ 0,2 đến 0,6mm, là phần quan trọng nhất của trứng Độ dày không đồng đều, dày nhất ở đầu nhỏ và mỏng nhất ở đầu to Trên bề mặt vỏ có khoảng 10.000 lỗ khí cho mỗi quả trứng gà, tương đương khoảng 150 lỗ khí trên 1 cm².

Dưới lớp vỏ cứng của trứng có hai lớp màng đàn hồi gắn chặt với nhau, chỉ tách ra ở đầu to của trứng, tạo ra một buồng khí quan trọng cho quá trình trao đổi khí, giúp phôi phát triển Lòng trắng trứng được cấu thành từ bốn lớp khác nhau.

+ Lớp lãng ngoài (lớp lòng trắng loãng ngoài)

+ Lớp đặc giữa (lòng trắng đặc ngoài)

+ Lớp loãng giữa (lớp lòng trắng loãng giữa)

+ Lớp đặc trong (lớp lòng trắng đặc trong)

Trong một quả trứng gà tươi nặng 58g, lòng trắng chiếm 56%, lòng đỏ 32% và vỏ cùng màng vỏ chiếm 12% Các tỷ lệ này có thể thay đổi tùy thuộc vào khối lượng, độ tươi của trứng, cũng như đặc điểm của giống, loài và từng cá thể Độ keo dính của lòng trắng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chế độ nuôi dưỡng gia cầm và cách bảo quản trứng.

Trong lòng trắng trứng có chứa các dây chằng lòng đỏ, được cấu tạo từ chất đản bạch hình xoắn, có chức năng giữ cho lòng đỏ luôn ở vị trí trung tâm của trứng.

Quá trình hình thành dây chằng lòng đỏ bắt đầu từ loa kèn, nơi tạo mầm, và do sự chuyển động quay của tế bào trứng trong ống dẫn trứng, dây chằng hình thành có hình xoắn Lòng trắng trứng đóng vai trò là môi trường cung cấp chất dinh dưỡng và nước cần thiết cho sự phát triển của phôi.

Lòng đỏ trứng gia cầm là tế bào hình cầu, có đường kính khoảng 35 - 40 mm Cấu trúc của lòng đỏ bao gồm màng, nguyên sinh chất và nhân.

Màng tế bào trứng rất mỏng, dao động trong khoảng 16 - 20à Màng cú tớnh đàn hồi, luôn giữ cho tế bào trứng ở dạng hình cầu

Nguyên sinh chất của tế bào trứng bao gồm ty lạp thể, lưới Golgi, và thể vùi chứa protein, lipid, glucid, cùng các axit amin Nhân tế bào trứng có hình tròn, đường kính khoảng 1 - 2mm, màu nhạt hơn nguyên sinh chất và nằm trên bề mặt của nó Trong nhân chứa ADN, ARN, protein và có 40 đôi nhiễm sắc thể.

Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào hàm lượng caroten trong thức ăn và sắc tố trong cơ thể gia cầm.

Lòng đỏ trứng chiếm 32% trọng lượng tổng thể của trứng, và tỷ lệ này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như di truyền, độ tuổi, giống loài, điều kiện nuôi dưỡng gia cầm và mùa vụ.

1.1.2 Thành phần hoá học và tính chất lý học của trứng gia cầm Ở các loài gia cầm khác nhau thì thành phần hoá học của trứng cũng khác nhau Thành phần hoá học của trứng một số loại gia cầm đợc trình bầy trong bảng 1-1:

Bảng 1-1 Thành phần hoá học các loại trứng gia cầm (%)

Loài gia cầm Nước Chất Chất hữu cơ Chất vô khô Toàn cơ bộ Protein Lipit Gluxit

Những hằng số chỉ ra ở bảng trên cho ta khái niệm đầy đủ về hàm lượng nước, các chất hữu cơ và khoáng trong trứng tươi.

Trứng thủy cầm như trứng vịt và ngỗng có tỷ lệ nước thấp hơn và tỷ lệ mỡ cao hơn so với trứng gia cầm trên cạn, điều này rất quan trọng cho sự phát triển của phôi thai Do tổ ấp thường nằm gần nước và có nhiệt độ lạnh, nên các đặc điểm hóa học này của trứng ngỗng và vịt được xác định trong quá trình ấp trứng.

Trứng gia cầm chứa nhiều nước và các chất hòa tan như protein, gluxit, vitamin cùng một số mỡ ở dạng nhũ tương Lòng đỏ trứng có hàm lượng chất khô cao nhất, chiếm hơn 48%, trong khi vỏ và màng vỏ khoảng 32% và lòng trắng khoảng 20%.

Các khoáng chất quan trọng trong trứng bao gồm canxi, photpho, magiê, kali, clo, natri, lưu huỳnh và sắt Bên cạnh đó, trứng còn chứa nhiều loại hormone và enzyme, với hàm lượng các chất này gia tăng trong quá trình ấp.

Dưới tác động của môi trường bên ngoài, đặc biệt là chế độ ăn uống, thành phần hóa học của trứng có sự thay đổi đáng kể Cụ thể, khi khẩu phần ăn tăng cường vitamin, hàm lượng vitamin trong trứng cũng sẽ tăng theo.

Vỏ trứng chứa hơn 98% vật chất khô, trong đó 95% là chất vô cơ, chủ yếu là canxi (chiếm khoảng 98%) và một lượng nhỏ photpho (1%) Protein chính của vỏ là collagen, có vai trò quan trọng trong việc hòa tan các muối khoáng trong quá trình hình thành trứng.

Bảng 1-2 Thành phần hoá học của lòng trắng và lòng đỏ (%)

Nước Protein Lipi t Gluxit Khoáng Nước Protein Lipit Gluxit Khoáng

Các chất hữu cơ có nhiều nhất trong lòng đỏ khoảng 96%, còn lòng trắng chỉ chứa khoảng 28%.

ẤP TRỨNG GIA CẦM

2.1 GIỚI THIỆU VỀ ẤP TRỨNG NHÂN TẠO

2.1.1 Khái niệm về ấp trứng Ấp trứng là giai đoạn tiếp theo để hoàn thiện quá trình sinh sản của gia cầm Có 2 phương thức ấp trứng đó là ấp tự nhiên và ấp nhân tạo. Ấp trứng nhân tạo là phương pháp mà con người dùng các thiết bị tạo ra một môi trường tương tự như của gia cầm khi ấp, để từ trứng nở ra những gia cầm con mà không có sự tham gia của gia cầm bố mẹ.

Có nhiều hình thức ấp trứng nhân tạo như ấp bằng trấu, cát nóng, nước nóng, đèn dầu, khí đốt, điện

2.1.2 Mục đích của ấp trứng nhân tạo

- Tăng khả năng sản xuất của gia cầm

- Tạo ra một số lượng lớn con giống trong một thời gian ngắn

- Làm tăng tỷ lệ ấp nở

- Nâng cao chất lượng con giống

- Đảm bảo vệ sinh cho đàn gia cầm mới nở

2.1.3 Cấu tạo máy ấp trứng nhân tạo

Máy ấp trứng đa dạng về công suất, từ những loại nhỏ chỉ 100 quả đến những máy lớn có khả năng ấp lên đến 70.000 - 80.000 quả trứng gà Trong ngành sản xuất công nghiệp, các máy ấp thường được sử dụng với công suất tối thiểu từ 10.000 quả trở lên.

Hiện nay, có hai loại máy ấp trứng: máy ấp đơn kỳ, nơi ấp nở trứng cùng một lúc và chỉ chứa một tuổi trứng, và máy ấp đa kỳ, có khả năng ấp và nở trứng riêng biệt với nhiều tuổi trứng khác nhau trong cùng một lần Dù có sự khác biệt trong cách hoạt động, cả hai loại máy đều có những phần cấu tạo chung, trong đó vỏ máy là một yếu tố quan trọng.

Vỏ máy bao gồm các phần xung quanh, trần và sàn máy, có nhiệm vụ ngăn cách môi trường bên trong và bên ngoài Các chức năng trên vỏ máy ấp cần được làm từ vật liệu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật như độ cứng, nhẹ, chịu ẩm, cách nhiệt và dễ vệ sinh Bảng điều khiển và tín hiệu cũng là những yếu tố quan trọng trong thiết kế vỏ máy.

Bảng điều khiển là nơi tập trung các nút điều khiển hoạt động của máy, thường được gắn trên nắp kim loại của hộp điện do có nhiều đầu mối dây và nguồn điện Ngoài ra, giá đỡ khay và khay đựng trứng cũng là những thành phần quan trọng trong hệ thống này.

Giá đỡ khay là một cấu trúc khung giúp nâng đỡ các khay đựng trứng, với kích thước được thiết kế vừa vặn để các khay có thể nằm chắc chắn trong lòng giá đỡ.

+ Khay đựng trứng ở máy ấp gọi là khay ấp, ở máy nở gọi là khay nở.

Khay ấp trứng cần được sắp xếp sao cho tất cả các trứng đều có đầu nhỏ hướng xuống dưới và đầu lớn với buồng khí ở phía trên Việc này giúp đảm bảo quá trình ấp trứng diễn ra hiệu quả và đạt kết quả cao.

+ Khay ấp có thể làm bằng gỗ, bằng kim loại hoặc bằng nhựa Một khay ấp có thể chứa 90-180 quả trứng.

- Hệ thống đảo: Trong các máy ấp trứng công nghiệp, hệ thống đảo trứng có thể dùng mô tơ hoặc hơi nén để đẩy cần đảo.

Hệ thống thông thoáng bao gồm ba phần chính: lỗ hút khí, lỗ thoát khí và quạt gió Lỗ thoát khí, có thể là một hoặc nhiều lỗ, thường được đặt ở nóc máy hoặc gần nóc máy, giúp không khí nóng bốc lên dễ dàng thoát ra ngoài, giảm thiểu hiện tượng nhiệt độ cao cục bộ.

Quạt gió trong máy ấp có nhiệm vụ đảo đều không khí trong máy, đảm bảo nhiệt độ và ẩm độ trong máy ấp được đồng đều.

Hệ thống nhiệt trong máy được thiết kế để cung cấp và duy trì nhiệt độ ổn định, thường sử dụng các thiết bị như cảm biến nhiệt, nhiệt kế công tắc, màng ête và dây may so Để kiểm soát nhiệt độ môi trường, một số máy ấp còn được trang bị quạt hút khí nóng hoặc dàn ống nước lạnh nhằm ngăn ngừa sự gia tăng nhiệt độ.

Có nhiều phương pháp để tạo độ ẩm trong máy ấp, chủ yếu được chia thành hai cách: sử dụng điện tích bề mặt để nước bay hơi và phun nước dưới dạng sương mù.

Máy sử dụng diện tích bề mặt để nước bay hơi không yêu cầu áp suất cao cho nước vào máy Để điều chỉnh độ ẩm, chỉ cần thay đổi diện tích bề mặt nước là đủ.

Máy tạo ẩm hoạt động bằng cách phun nước vào không khí dưới dạng sương mù, và nguồn nước sử dụng có thể là nước có áp suất cao hoặc không, tùy thuộc vào thiết kế kỹ thuật của từng loại máy.

Hệ thống bảo vệ máy ấp là tập hợp các thiết bị được lắp đặt nhằm ngăn chặn và cảnh báo sớm về các sự cố có thể gây hại cho máy ấp hoặc trứng ấp Khi hoạt động, hệ thống này sẽ phát ra tín hiệu cảnh báo dưới dạng chuông hoặc đèn đỏ sáng.

2.2 KỸ THUẬT ẤP TRỨNG GIA CẦM

2.2.1 Chuẩn bị trứng ấp a Nhận trứng

Khi trứng đến trạm ấp, cần kiểm tra kỹ lưỡng các khay trứng, tách riêng trứng bẩn, giập, hoặc vỡ Đảm bảo kiểm tra số lượng trứng theo từng loại và đánh dấu rõ ràng nếu có nhiều giống, dòng hoặc đàn để tránh nhầm lẫn Sau khi nhận, ghi lại thông tin vào sổ nhập trứng bao gồm ngày, tháng, giờ nhập, nguồn gốc, giống, dòng gà, số lượng và tuổi trứng Đồng thời, thực hiện khử trùng trứng ấp để đảm bảo an toàn.

Trên bề mặt vỏ trứng có vi trùng và nấm mốc có thể xâm nhập vào bên trong qua các lỗ khí, gây bệnh cho phôi Do đó, việc khử trùng trứng trước khi bảo quản và ấp là rất quan trọng Nếu không được sát trùng, mầm bệnh sẽ phát triển nhanh chóng, làm tăng tỷ lệ chết phôi Phương pháp khử trùng hiệu quả là sử dụng hơi formaldehyd.

- Tủ hay phòng xông sát trùng phải kín hoàn toàn, có nhiều giá đỡ để xếp trứng.

Dưới cùng của tủ hay trong phòng đặt chậu men hoặc chậu sành để đựng hoá chất xông sát trùng trứng

KỸ THUẬT NUÔI DƯỠNG GIA CẦM

3.1 KỸ THUẬT NUÔI GÀ SINH SẢN

3.1.1 Kỹ thuật nuôi gà sinh sản hướng thịt a Chuẩn bị các điều kiện để nhận gà giống

Mười ngày trước khi đưa gà vào chuồng, cần chuẩn bị đầy đủ các thiết bị như chuồng nuôi, rèm che, kho chứa thức ăn, dụng cụ chăn nuôi, thuốc thú y, cùng với các phương tiện sưởi ấm và làm mát Ngoài ra, cần đảm bảo có đủ thức ăn và nước uống cho số lượng gà dự kiến nuôi.

Cây xanh và cỏ dại trong phạm vi 10 - 15m quanh chuồng gà cần được phát quang để đảm bảo vệ sinh Đồng thời, cần tiêu diệt các động vật hoang dã có khả năng mang bệnh cho gà như chuột, cáo, và chồn Công tác quản lý đàn gà là rất quan trọng để duy trì sức khỏe và năng suất của đàn.

Gà trống cần được nuôi tách biệt với gà mái, với mật độ nuôi nhốt là 4,2 con/m² cho gà trống và 7 con/m² cho gà mái Nhiệt độ trong quây gà và dưới chụp sưởi nên duy trì ở mức 32°C, trong khi nhiệt độ chuồng nuôi cũng cần được kiểm soát để đảm bảo sức khỏe cho đàn gà.

24 o C, giảm dần nhiệt độ đến 28 ngày tuổi là 18 o C

Sử dụng đúng chủng loại vacxin, đúng thời gian Ghi chép đầy đủ các chỉ tiêu như thức ăn, số gà chết, lịch tiêm chủng vacxin, bệnh tật

Hàng tuần, tiến hành cân mẫu 5% số gà ngẫu nhiên và từ ngày 28, thực hiện cân từng con Tách riêng những gà nhỏ từ ngày thứ 14 để tránh bị tranh ăn với gà lớn, đồng thời theo dõi cân nặng thức ăn hàng ngày Đến 56 ngày tuổi, chọn lại đàn trống, giữ lại 12% so với số gà mái, loại bỏ những con quá nhỏ hoặc béo Ở tuổi 161 ngày, tỷ lệ trống giữ lại là 10 - 11 trống cho mỗi 100 mái Từ 119 - 140 ngày tuổi, gà cần được tẩy giun sán theo quy trình chính xác trước khi ghép trống mái.

Không được để gà khát nước vì điều này sẽ làm giảm tỉ lệ đẻ và giảm khối lượng trứng.

Để tối ưu hóa việc nuôi gà mái đẻ, cần đưa tổ đẻ vào chuồng khoảng 2 tuần trước khi gà đẻ trứng đầu tiên, giúp gà mái làm quen Việc bố trí xen kẽ các máng ăn và máng uống sẽ kích thích gà mái sử dụng tổ đẻ hiệu quả hơn Ngoài ra, cần thường xuyên kiểm tra để loại bỏ gà mái đẻ kém và những con không đẻ, nhằm duy trì năng suất.

Chế độ chiếu sáng và chế độ ăn uống có tác động lớn đến thời điểm phát dục của gà sinh sản Do đó, cần lưu ý áp dụng chế độ chiếu sáng phù hợp để tối ưu hóa sự phát triển của gà.

- Không bao giờ tăng thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị.

Trong giai đoạn đẻ trứng, không bao giờ được giảm thời gian và cường độ chiếu sáng Đối với chuồng nuôi hở phổ biến ở Việt Nam, việc kiểm soát ánh sáng tự nhiên là rất khó khăn Thời gian chiếu sáng nên được nâng dần từ 14 đến 17 giờ mỗi ngày trong giai đoạn gà đẻ Do đó, trong giai đoạn hậu bị, cần lựa chọn thời điểm trong năm hợp lý để nuôi gà, đảm bảo rằng thời gian chiếu sáng không tăng trong giai đoạn này.

Ví dụ: ở Miền Bắc nước ta từ tháng 11 thời gian chiếu sáng tự nhiên là 11h30, đến tháng

Từ ngày 12 tháng 1 đến giữa tháng 2, thời gian chiếu sáng tự nhiên dao động từ 10h30 đến 11h, đáp ứng tốt yêu cầu nuôi trồng Bắt đầu nuôi vào tháng 2 hoặc tháng 3 sẽ gặp bất lợi do thời gian chiếu sáng tự nhiên trong ngày tăng dần.

Cường độ chiếu sáng cần được cung cấp đầy đủ, nhưng không nên quá cao để tiết kiệm điện năng và giảm thiểu tình trạng mổ, cắn lẫn nhau do kích thích quá mức Trong giai đoạn hậu bị, nên sử dụng cường độ 1W/m², trong khi giai đoạn đẻ trứng cần tăng lên 2W/m² cho nền chuồng.

* Dinh dưỡng cho gà sinh sản hướng thịt

Với gà trống: Khi nuôi tách riêng (giai đoạn hậu bị) dùng công thức ăn như gà mái.

Khi ghép với gà mái dùng công thức gà trống riêng, vì gà trống không cần nhiều protein và canxi đẻ sản xuất trứng như gà mái.

Yêu cầu dinh dưỡng: Năng lượng trao đổi: 2800 kcal/kg, protein thô: 13 - 14%, mỡ thô: 3,0%, Canxi: 0,9 - 1,0%, Photpho hấp thu: 0,50 - 0,60%, lyzin 0,6%, metionin: 0,3%.

Bảng 3-1: Tiêu chuẩn năng lượng và protein cho gà sinh sản giống thịt

Loại thức ăn Năng lượng trao đổi

Thức ăn gà động (1 - 3 tuần) 2900 - 3000 23 - 24,0

Thức ăn gà con (4 - 6 tuần) 2900 - 3000 21 - 22,0

Thức ăn gà giò (7 - 19 tuần) 2800 - 2850 17 - 17,5

Thức ăn gà đẻ (20 - 28 tuần) 2700 - 2750 18 - 19,5

Thức ăn gà đẻ (29 - 45 tuần) 2700 - 2750 17 - 18,0

Thức ăn gà đẻ (46 - 66 tuần) 2700 - 2750 16 - 17,0

* Cách chăm sóc và cho ăn đối với gà mái sinh sản hướng thịt

+ Mục đích: để hạn chế sự rỉa lông, sự mổ cắn lẫn nhau và hạn chế sự rơi vãi thức ăn; ta tiến hành cắt mỏ gà như sau:

Thời gian tiến hành cắt mỏ cho gà nên được thực hiện khi gà đạt từ 7 đến 8 ngày tuổi Việc cắt mỏ ở gà con chỉ 1 ngày tuổi không được khuyến khích, nhằm hạn chế stress và tránh tình trạng mất nước cho những chú gà mới nở.

+ Dụng cụ: dùng máy cắt mỏ chuyên dụng, kích cỡ lỗ cắt 4,36 mm, nhiệt độ của dao cắt

Nhiệt độ từ 595 đến 700 độ C là cần thiết để thực hiện thủ thuật cắt mỏ Nếu không có máy chuyên dụng, có thể sử dụng lưỡi dao mỏng nung đỏ, chuyển sang màu thẫm như ớt chín Khi cắt, cần đặt lưỡi dao cách lỗ mũi khoảng 2mm và giữ trong khoảng 2 giây để đốt nóng, giúp tiêu diệt tế bào, từ đó tránh được chảy máu và nhiễm trùng.

Trước khi tiến hành cắt mỏ, cần ngừng cho ăn từ 4 đến 6 giờ và cung cấp nước pha vitamin K Sau khi cắt mỏ xong, nên cho ăn ngay lập tức và tăng lượng thức ăn trong máng lên hơn bình thường, duy trì điều này trong 3 đến 4 ngày tiếp theo.

Gà mái bố mẹ lớn nhanh, vì vậy cần hạn chế thức ăn sớm để tạo ra gà mái hậu bị nhỏ, chắc khỏe và mạnh mẽ Một con gà hậu bị đạt tiêu chuẩn sẽ phát triển cơ quan sinh dục đúng lúc, giúp trứng không quá to vào đầu chu kỳ và không quá nhỏ vào cuối chu kỳ đẻ.

Sau đây là chế độ ăn cho gà theo từng giai đoạn:

+ Từ 0 - 4 tuần tuổi: để phát triển hệ khung xương đúng yêu cầu, phải hạn chế thức ăn khởi động hàm lượng đạm cao như sau:

Từ 1 - 12 ngày tuổi cho ăn tự do, loại thức ăn khởi động với hàm lượng protein là 17 - 18%, 2800 kcal.

Từ 13 - 19 ngày cho ăn 32g/con/ngày, thức ăn gà giò, 14,5 - 15% protein, 2800 kcal.

Từ 21 - 28 ngày cho ăn 36g/con/ngày, thức ăn gà giò

Từ 5 đến 8 tuần tuổi, gà sẽ chuyển từ chế độ ăn hạn chế hàng ngày sang chế độ ăn một ngày, nhịn một ngày, với thức ăn chủ yếu là gà giò Mục tiêu của phương pháp này là giúp gà ăn đều và đạt tốc độ sinh trưởng đồng đều hơn, với mức tăng trọng đạt khoảng 90 - 91g mỗi con mỗi tuần.

Từ 9 đến 12 tuần tuổi, chế độ ăn của gà chuyển sang 5 ngày ăn và 2 ngày nhịn, thường là vào thứ Tư và Chủ nhật Trong giai đoạn này, gà giò sẽ có mức tăng trọng khoảng 90 - 91g mỗi con mỗi tuần.

CHĂN NUÔI TRÂU BÒ

1 VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI TRÂU BÒ

Trâu bò cung cấp hai loại thực phẩm quý giá cho con người là thịt và sữa Thịt trâu bò, thuộc nhóm thịt đỏ, có giá trị dinh dưỡng cao với thịt trâu béo cung cấp 2558Kcal/kg và loại trung bình 2080Kcal/kg Sữa được coi là thực phẩm cao cấp, giàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa Năm 2004, sản lượng thịt trâu bò toàn cầu đạt trên 62 triệu tấn và sữa khoảng 620 triệu tấn, trong đó 80-90% từ trâu bò Đến năm 2012, sản lượng thịt hơi trâu bò xuất chuồng đạt 225,2 nghìn tấn, với 174,8 nghìn tấn thịt bò và 50,4 nghìn tấn thịt trâu Sản lượng sữa tươi năm 2012 đạt 204,0 nghìn tấn, tăng 14,2% so với năm 2011 Trâu bò là gia súc nhai lại, có khả năng chuyển hóa thức ăn giá rẻ như cỏ và rơm thành các thành phần dinh dưỡng trong thịt và sữa Khi mức sống tăng cao, nhu cầu về thịt và sữa trâu bò cũng ngày càng gia tăng.

Trâu bò đã được sử dụng từ lâu để cung cấp sức kéo cho việc làm đất và vận chuyển hàng hóa Chúng có thể hoạt động ở nhiều địa bàn khác nhau, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên và phụ phẩm nông nghiệp làm năng lượng Sức kéo của trâu bò đến từ năng lượng hóa học trong cỏ, được hình thành từ năng lượng mặt trời qua quá trình quang hợp Sử dụng sức kéo của trâu bò không chỉ giúp giảm thiểu phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt, mà còn mang lại lợi thế bền vững, đặc biệt trong bối cảnh giá dầu ngày càng tăng cao.

1.3 Cung cấp phân bón và chất đốt

Phân trâu bò là một loại phân hữu cơ quan trọng với khối lượng lớn Khoảng 1/3 lượng thức ăn khô mà trâu bò tiêu thụ được thải ra dưới dạng phân Mỗi ngày, một con trâu trưởng thành có thể thải ra từ 15-20 kg phân, trong khi bò trưởng thành thải ra từ 10-15 kg.

Phân trâu bò chứa 75-80% nước, 5-5,5% khoáng, 10% axit photphoric, 0,1% kali và 0,2% canxi Dù chất lượng không cao như phân lợn, nhưng với khối lượng lớn, phân trâu bò đáp ứng nhu cầu phân hữu cơ cho nông nghiệp Tại nhiều vùng, đặc biệt là nơi trồng cà phê, phân trâu bò được bán với giá cao Nhiều người nuôi trâu bò chủ yếu để thu hoạch phân Ngoài việc làm phân bón, phân trâu bò còn được sử dụng làm chất đốt Ở một số nước Tây Nam Á như Ấn Độ và Pakistan, phân được trộn với rơm, nắm thành bánh và phơi khô để sử dụng quanh năm.

1.4 Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp ché biến và thủ công mỹ nghệ

Ngành chăn nuôi trâu bò không chỉ cung cấp thực phẩm và phân bón cho nông nghiệp mà còn sản xuất nhiều phụ phẩm hữu ích Sừng trâu, nếu được chế biến cẩn thận, có thể trở thành các mặt hàng mỹ nghệ đa dạng với nhiều hình dạng và màu sắc từ đen tuyền đến mật ong nhạt Sừng trâu đầm lầy, với kích thước lớn, cung cấp nguyên liệu phong phú cho nghệ nhân và thợ thủ công để chế tạo các sản phẩm như cúc áo, trâm cài, lược, thìa, dĩa, cán và bao da, vòng số đeo, đồ trang trí, kim đan, và móc áo.

Da trâu bò là nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp thuộc da, được sử dụng để sản xuất nhiều sản phẩm như áo da, găng tay, bao súng, dây lưng, giày dép và cặp Ngoài ra, tại nhiều vùng nông thôn, da trâu còn được chế biến thành thực phẩm Với độ dày, sức bền và khả năng uốn mềm, lông trâu cũng rất thích hợp cho việc sản xuất bàn chải mỹ nghệ và lau chùi các thiết bị quang học.

1.5 Ý nghĩa kinh tế-xã hội và văn hoá của chăn nuôi trâu bò

Trong hoạt động kinh tế, trâu bò được xem như "nhà máy sinh học" với nguyên liệu là cây cỏ và sản phẩm là thịt, sữa, sức kéo và phân bón Nguyên liệu dễ sản xuất và thị trường sản phẩm rộng lớn, giúp khai thác tối đa tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả năng lượng tái tạo từ rơm rạ và phụ phẩm cây trồng, tạo ra sản phẩm có giá trị cao cho xã hội Chăn nuôi trâu bò không chỉ là kế sinh nhai và công cụ xóa đói giảm nghèo, mà còn góp phần phát triển bền vững Ở nhiều vùng nông thôn và miền núi, trâu bò còn được coi là tài sản cố định, giúp tích lũy tài chính và đảm bảo an ninh kinh tế cho hộ gia đình, có thể chuyển thành tiền mặt khi cần cho những nhu cầu lớn như xây nhà, ma chay, cưới xin hay chữa bệnh.

Trâu bò đã trở thành biểu tượng văn hóa và tâm linh của người dân nông thôn Việt Nam, cùng với cây tre tạo nên hình ảnh đặc trưng của làng quê Các hoạt động như hội thi trâu, chọi trâu và chợ trâu bò thể hiện sâu sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam Dù đi xa, người Việt vẫn nhớ về quê hương, và hình ảnh con trâu luôn hiện hữu trong tâm trí họ, góp phần gắn kết cộng đồng trên nền tảng văn hóa và truyền thống độc đáo của dân tộc.

2 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TRÊN THẾ GIỚI

2.1 Số lượng và phân bố trâu bò

Trâu bò đã được thuần hoá khoảng 8-10 ngàn năm trước, và ngành chăn nuôi trâu bò đã phát triển mạnh mẽ, lan rộng khắp thế giới Việc chăn nuôi trâu bò không chỉ giúp người dân địa phương khai thác đất đai hiệu quả mà còn sản xuất thịt, sữa, sức kéo, phân bón và nhiều sản phẩm khác Số liệu trong Bảng 1.1 và 1.2 minh họa sự biến động về số lượng trâu và bò toàn cầu trong những thập kỷ qua.

Bảng 1.1 Số lượng và phân bố đàn trâu trên Thế giới (1000 con)

Bắc Mỹ và Trung Mỹ 5 7 8 5 6 6

Nguồn: FAO Statistics (2006) Đàn bò có xu hướng ổn đinh về số lượng đầu con và phân bố khá đều ở khắp Thế giới (bảng 1.2)

Bảng 1.2 Số lượng và phân bố đàn bò trên Thế giới (triệu con)

Bắc Mỹ và Trung Mỹ 157,9 190,0 173,9 165,7 160,19 163,9

Nguồn: FAO Statistics (2005) 2.2 Tình hình chăn nuôi trâu bò thịt chuyên dụng

Ngành chăn nuôi bò thịt chuyên dụng đã phát triển từ thế kỷ 18, với các nước phát triển áp dụng hệ thống thâm canh nuôi bò non và vỗ béo bằng khẩu phần cao năng lượng Ngược lại, các nước đang phát triển, ngoại trừ Argentina, Brazil và Mexico, chủ yếu sử dụng hệ thống chăn nuôi quảng canh Theo thống kê năm 2002, Mỹ dẫn đầu thế giới về sản lượng thịt bò với 24%, tiếp theo là khối EU (15%), Brazil (14%), Trung Quốc (12%), Australia và New Zealand (5%), trong khi các quốc gia còn lại sản xuất 30% tổng sản lượng Về xuất khẩu, Mỹ chiếm 26% thịt bò toàn cầu, Australia 21%, Brazil và Argentina 13%, Canada 9%, EU 7%, New Zealand 7%, và Ấn Độ 4%.

Bảng 1.3 Lượng thịt bò sản xuất trên Thế giới (triệu tấn)

Bắc Mỹ và Trung Mỹ 10,7 13,5 13,5 14,5 15,5 15,1

Nhu cầu tiêu thụ thịt bò toàn cầu đang tăng nhanh hơn khả năng sản xuất, dẫn đến giá thịt bò tăng cao Thị hiếu tiêu thụ thịt bò khác nhau ở mỗi quốc gia, vì vậy người sản xuất phải lựa chọn giống và phương pháp nuôi dưỡng phù hợp với yêu cầu chất lượng thịt của từng thị trường cụ thể.

Người tiêu dùng châu Âu và Australia ưa thích thịt bò mềm, màu đỏ nhạt và ít mùi, thường chọn thịt từ bò giết mổ ở độ tuổi 15-18 tháng với khối lượng từ 250-350kg Trong khi đó, người tiêu dùng Nhật Bản và một số nước châu Á lại ưa chuộng thịt bò có mỡ giắt và hương vị đậm đà, do đó thường chọn bò giết mổ ở độ tuổi từ 2-4 năm với khối lượng lớn hơn, khoảng 500kg.

2.3 Tình hình chăn nuôi trâu bò sữa trên Thế giới

Trong thiên niên kỷ thứ hai sau Công nguyên, sữa chủ yếu được sản xuất cho tiêu thụ gia đình tại các làng quê, với một số bò được nuôi ở thành phố để cung cấp sữa tươi cho cư dân đô thị Sự phát triển mạnh mẽ của chăn nuôi bò sữa chỉ diễn ra sau khi ngành đường sắt ra đời, đặc biệt ở các vùng công nghiệp hóa Tổng sản lượng sữa tiêu thụ toàn cầu đã tăng lên đáng kể trong những thập kỷ gần đây Các nước phát triển có lượng sữa tiêu thụ ổn định, trong khi các nước đang phát triển chứng kiến sự gia tăng liên tục về tổng lượng sữa tiêu thụ cũng như mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người.

Sản lượng sữa toàn cầu tăng trung bình 1,4% mỗi năm, trong khi các nước đang phát triển ở châu Á ghi nhận mức tăng cao hơn, đạt 6,6% Đặc biệt, Trung Quốc, Thái Lan và Hàn Quốc có tốc độ tăng trưởng sản lượng sữa lên tới 10% trong những năm gần đây Tuy nhiên, các quốc gia châu Á vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ sữa trong nội địa.

Bảng 1.4 Lượng sữa sản xuất trên thế giới (triệu tấn)

Bắc Mỹ và Trung Mỹ 69,2 69,4 83,2 90,0 97,4 99,3

Phương thức chăn nuôi bò sữa khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và tập quán của từng quốc gia Ở châu Âu và Bắc Mỹ, ngành chăn nuôi bò sữa được phát triển theo hướng chuyên dụng, với hệ thống chủ yếu là bãi chăn và chuồng nuôi Tại đây, đồng cỏ lâu năm được sử dụng rộng rãi, trong khi mùa hè, bò chủ yếu được chăn thả trên đồng cỏ Ngoài ra, các trang trại cũng dự trữ nhiều thức ăn bổ sung tại chuồng như cỏ ủ xanh, cỏ khô và thức ăn tinh để đảm bảo dinh dưỡng cho bò sữa.

KỸ THUẬT CHĂN NUÔI TRÂU, BÒ SINH SẢN

1.1 CHĂN NUÔI TRÂU, BÒ ĐỰC GIỐNG

1.1.1 Ý nghĩa và tầm quan trọng

Chăn nuôi trâu bò đực giống rất quan trọng: Giống tốt hay giống xấu ảnh hưởng đến phẩm chất của cả đàn trâu, bò sau này.

Trâu, bò đực giống có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài đến khả năng sinh trưởng của đàn bê, từ đó tác động gián tiếp đến chất lượng các thế hệ tiếp theo Việc sử dụng một bò đực để nhảy trực tiếp trong một năm có thể sản xuất từ 50 đến 100 con bê, trong khi nếu áp dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo, số lượng bê, nghé có thể lên đến hàng trăm, hàng ngàn con.

Để đảm bảo chất lượng giống, trâu, bò đực cần có thân thể khỏe mạnh và khả năng phối giống cao, nhằm đạt tỷ lệ thụ thai tốt Chúng cần có đầu to, bắp thịt nở nang và rắn chắc, đặc biệt là bốn chân phải vững chắc.

Để có bụng gọn, không béo phệ, cần duy trì sự hưng phấn tốt trong hoạt động, đồng thời nhạy cảm với trâu, bò cái Tinh hoàn cần phải cân đối, phát dục đều, không lệch lạc, không ẩn và không mắc bệnh.

1.1.2.1 Tiêu chuẩn và khẩu phần ăn a Nhu cầu dinh dưỡng

Chế độ ăn uống không đầy đủ hoặc không cân bằng, cũng như việc cung cấp thức ăn quá mức, có thể làm suy giảm hoạt tính sinh dục và chất lượng tinh dịch của trâu, bò đực, đồng thời rút ngắn thời gian sử dụng của chúng Đặc biệt, trao đổi cơ bản của đực giống cao hơn bò đực thiến từ 15 đến 20%.

Khi nuôi trâu, bò đực giống, cần căn cứ vào cường độ sử dụng để đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý, giúp đực giống khỏe mạnh, không tích mỡ quá mức, đồng thời duy trì tính hăng cao và chất lượng tinh dịch tốt Nếu chất lượng tinh dịch giảm, cần xem xét lại chế độ dinh dưỡng.

- Nhu cầu dinh dưỡng của bò đực giống hướng sữa trưởng thành

Nhu cầu dinh dưỡng của trâu đực giống trong thời gian phối giống là rất quan trọng Để duy trì sức khỏe và khả năng sinh sản, cần cung cấp thêm mỗi ngày 1kg thức ăn tinh, trong đó chứa 100 - 120g protein tiêu hóa Ngoài ra, mỗi lần lấy tinh, nên cho trâu ăn thêm 2 quả trứng gà để đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ.

Tiêu chuẩn, khẩu phần ăn phải căn cứ vào hướng sản xuất, khối lượng cơ thể và mức độ phối giống.

Để duy trì hình dáng thon gọn cho đực giống, cần sử dụng đa dạng các loại thức ăn, ưu tiên những loại có giá trị dinh dưỡng cao và dung tích nhỏ Trong mùa đông, tỷ lệ thức ăn nên được phân bổ như sau: thức ăn thô 25 - 40%, thức ăn nhiều nước và củ quả 20 - 30%, và thức ăn tinh 40 - 45% Trong khi đó, vào mùa hè, tỷ lệ thức ăn lý tưởng là cỏ tươi xanh 35 - 45%, cỏ khô 15 - 20%, và thức ăn tinh 35 - 45%.

Thức ăn tinh nên được chia thành hai lần trong ngày: buổi sáng trước khi khai thác tinh và buổi chiều cho ăn phần còn lại Sau khi ăn thức ăn tinh, trâu, bò đực giống mới được cho ăn thức ăn thô hoặc cỏ và chăn thả Cần cung cấp nước uống đầy đủ và tự do cho chúng.

1.1.2.2 Chăm sóc trâu, bò đực giống a Chuồng trại

Chuồng trại nuôi trâu bò đực giống cần phải đáp ứng được các yêu cầu như sau:

Khi xây dựng chuồng nuôi trâu bò đực giống, việc lựa chọn vị trí rất quan trọng và cần tuân thủ các quy định về vệ sinh phòng dịch Chuồng nuôi nên được đặt xa khu dân cư và khu công nghiệp để đảm bảo cách ly, hạn chế lây truyền dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.

Để đảm bảo an toàn trong khu chăn nuôi, cần thực hiện nghiêm túc các quy định ra vào, bao gồm việc thiết lập hố sát trùng tại cổng và cửa ra vào Nhân viên làm việc trong khu vực này phải tuân thủ quy trình vệ sinh, bao gồm thay đổi quần áo, giày ủng và tắm rửa trước và sau khi làm việc.

Để tối ưu hóa quá trình động dục của trâu bò cái, chuồng nuôi đực giống nên được xây dựng ở đầu hướng gió và gần chuồng của trâu bò cái tơ lỡ và cái sinh sản, nếu đực giống được nuôi chung trong trại chăn nuôi với các loại trâu bò khác.

- Chuồng trại phải đ ược thiết kế hợp lý giữa các khu: nuôi nhốt, vận động, chăn thả, bệnh xá, khu khai thác, pha chế tinh dịch

- Róng chuồng phải được làm bằng các vật liệu chắc chắn Có thể sử dụng các loại ống tuýp hợp kim hoặc các loại gỗ chắc.

Ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, chuồng trại cần được thiết kế thông thoáng và mát mẻ vào mùa hè, có thể cần lắp đặt hệ thống làm mát và vòi phun nước Đồng thời, vào mùa đông, chuồng trại cũng phải đảm bảo ấm áp, đặc biệt là ở khu vực miền Bắc và miền Trung.

Khi thiết kế chuồng nuôi, mỗi con đực giống cần có một ô chuồng riêng với diện tích khoảng 10 - 12m2 và sân chơi khoảng 18 - 20m2 Rào ngăn cách giữa các ô chuồng phải có độ cao từ 2 - 2,2m để đảm bảo an toàn Đối với bê nghé đực dưới 12 tháng tuổi, có thể nuôi chung 2 - 4 con trong cùng một ô chuồng với diện tích nêu trên.

Nền chuồng nuôi trâu bò đực giống cần phải chắc chắn, khô ráo, không trơn trượt và có độ dốc hợp lý để tránh đọng nước, đồng thời dễ vệ sinh; lý tưởng nhất là được lát bằng xi măng hoặc gạch chống trơn Trong chuồng, cần trang bị đầy đủ hệ thống máng ăn, uống, điện nước Đối với phương thức chăn thả hoặc bán chăn thả, cần quy hoạch và thiết kế đồng cỏ cho đực giống, với bãi chăn cách chuồng từ 0,5 - 1km để khuyến khích vận động Quản lý trâu bò đực giống trong quá trình chăn thả là rất quan trọng; nên phân lô bãi chăn để áp dụng chăn thả luân phiên và tách biệt từng đực giống, nhóm đực giống nhằm tránh xung đột giữa chúng, từ đó bảo vệ sức khỏe của vật nuôi và lợi ích cho người chăn nuôi.

Chất lượng đồng cỏ chăn thả phải tốt, đảm bảo cung cấp cỏ xanh non cho đực giống.

Lựa chọn giống cỏ phù hợp là yếu tố quan trọng để xây dựng bãi chăn hiệu quả và duy trì năng suất cao Việc định kỳ cải tạo và chăm sóc đồng cỏ giúp tối ưu hóa sản lượng Đồng thời, theo dõi và ước tính năng suất đồng cỏ cũng như lượng thức ăn thu nhận cho từng con đực giống là cần thiết Điều này giúp cân đối nhu cầu dinh dưỡng và xác định lượng thức ăn bổ sung cần thiết cho trâu bò đực giống trong chuồng.

KỸ THUẬT CHĂN NUÔI BÒ SỮA

2.1.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa

Nuôi bò lấy sữa ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1920 khi di dân Ấn Độ đưa giống bò Zebu vào miền Nam để phục vụ cho việc lao động tại các đồn điền và cung cấp sữa cho các gia đình người Pháp Người Pháp sau đó cũng nhập các giống bò Zebu cùng với các giống bò sữa như Holstein Friesian, Bordelaise, Bretonne và Ayshire để nuôi quanh khu vực Sài Gòn và Đà Lạt.

Năm 1958, chính phủ Úc đã hỗ trợ chương trình nuôi bò Jersey tại Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương Đến năm 1960, khu vực Sài Gòn đã có khoảng 1.000 con bò sữa được nuôi.

Tại Bến Cát, có tổng cộng 400 bò lai Sind, 300 bò lai Ongol, 100 bò lai Sahiwal, 100 bò lai HF và 174 bò Jersey thuần Năng suất sữa của bò Jersey ghi nhận đạt 2.038 kg ở lứa đầu và 2.400 kg ở lứa sữa thứ ba Trong giai đoạn từ năm 1963 đến 1968, một số hộ chăn nuôi bò sữa đã tiến hành nhập bò để cải thiện chất lượng.

HF thuần từ Nhật Bản được đưa vào Việt Nam từ năm 1962, khi 30 con bò lang trắng đen được nhập từ Trung Quốc và nuôi tại Ba Vì Ban đầu, năng suất sữa đạt dưới 2000kg/chu kỳ, nhưng sau đó được chuyển lên Mộc Châu, nơi năng suất tăng lên trên 3000kg/chu kỳ.

Từ năm 1970 đến 1978, Việt Nam đã nhập khoảng 1900 con bò HF từ Cuba để nuôi tại các nông trường Mộc Châu ở tỉnh Sơn La và Đức Trọng ở tỉnh Lâm Đồng, với năng suất đạt được đáng kể.

Ngành chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể, với sản lượng đạt từ 3800 - 4200kg mỗi chu kỳ (Nguyễn Văn Thưởng, 2006) Vào năm 1985, cả nước chỉ có 5,8 ngàn bò sữa được nuôi tập trung tại các trại của nhà nước Tuy nhiên, sự bùng nổ thực sự của ngành này bắt đầu từ năm 1990, khởi nguồn từ thành phố Hồ Chí Minh với mô hình chăn nuôi nhỏ hộ gia đình.

Từ năm 2001 đến 2005, Bộ NN-PTNT đã nhập 192 con bò HF và Jersey thuần từ Mỹ để xây dựng đàn hạt nhân và sản xuất tinh bò đực tại Mộc Châu Ngoài ra, một số tỉnh và trại tư nhân cũng đã nhập 10.164 con bò HF thuần và lai từ Úc, New Zealand và Thái Lan nhằm khai thác sữa Đến năm 2004, tổng đàn bò sữa đã tăng gấp 2,73 lần so với năm 2000.

Bảng 2-1 Tổng đàn bò, sản lượng sữa cả nước và các tỉnh có nhiều bò sữa

Tổng đàn (con) 1.000 18.700 35.000 55.848 95.794 113.215 107.983 Tổng lượng sữa hàng hoá (tấn/năm)

Tỉnh có nhiều bò sữa (con)

Sau năm 2004, tốc độ tăng đàn bò sữa chậm lại do chuyển đổi từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang quy mô lớn và tập trung hơn Đồng thời, việc tăng cường chọn lọc và loại thải bò chất lượng kém cũng góp phần vào sự thay đổi này Tuy nhiên, năng suất và chất lượng đàn bò sữa vẫn không ngừng được cải thiện.

Cuối năm 2006, tổng đàn bò sữa của Việt Nam đạt hơn 113,2 ngàn con, trong đó bò thuần HF chiếm 15% và bò lai HF chiếm phần còn lại Tổng sản lượng sữa hàng hóa đạt gần 216 ngàn tấn Tuy nhiên, đến năm 2008, tổng đàn bò sữa giảm xuống còn 107,98 ngàn con, nhưng sản lượng sữa hàng hóa lại tăng lên 262,16 ngàn tấn Năng suất sữa trung bình của cả bò lai và bò thuần HF năm 2008 ước đạt khoảng 4000 kg/chu kỳ 305 ngày, gấp gần hai lần so với năm 1990, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với Đài Loan (7160 kg) Trước năm 1990, Việt Nam chỉ có một số ít nhà máy chế biến sữa do nhà nước quản lý.

Từ năm 1990 đến 2005, sự phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa đã dẫn đến việc đầu tư mạnh mẽ vào công nghiệp chế biến sữa, bao gồm cả việc mở rộng số lượng nhà máy và áp dụng công nghệ hiện đại.

Tính đến năm 2005, ngành sữa tại Việt Nam đã thu hút 8 công ty đầu tư lớn như Nestle, Dutch Lady, Nuti Food, Lothamilk, Vixumilk, F&N, Hanoimilk và Bình Định, với tổng cộng 17 nhà máy chế biến sữa Từ năm 2006 đến 2007, thêm nhiều công ty mới gia nhập thị trường như Elovi (Thái Nguyên), Quốc tế (Hà Tây cũ), Việt Mỹ (Hưng Yên), Milas (Thanh Hoá) và Nghệ An, nâng tổng số công ty trong ngành lên đáng kể.

Việt Nam hiện có 22 nhà máy chế biến sữa, trong đó Vinamilk, công ty cổ phần sữa lớn nhất, sở hữu 9 nhà máy với tổng công suất chế biến đạt trên 1,2 tỷ lít sữa tươi mỗi năm.

Năm 2007 công ty Vinamilk thu mua 114 ngàn tấn, Dutch Lady 38 ngàn tấn, Mộc Châu

10 ngàn tấn trong tổng số 234,4 ngàn tấn sữa tươi sản xuất trong nước.

Bảng 2-2 Thống kê các nhà máy sản xuất sữa tại Việt Nam

Tổng công suất quy ra sữa tươi

Tính riêng công suất sữa tươi

Nguồn: Báo cáo của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk, 8-2008

Tổng doanh thu sản phẩm sữa tại Việt Nam đã tăng từ 603 triệu USD vào năm 2003 lên 980 triệu USD vào năm 2007, với mức tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 12,9% Trong đó, doanh số sản phẩm sữa nước chiếm 69,75%, tương đương 684 triệu USD Đến năm 2007, tổng sản phẩm sữa quy ra sữa tươi đạt trên 1,0 tỷ lít, với mức tiêu dùng bình quân đầu người ước đạt 12,3 lít/năm, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 35 lít của châu Á Hiện tại, sản lượng sữa sản xuất trong nước chỉ đáp ứng khoảng 22% nhu cầu tiêu dùng sữa trong nước.

2.1.2.1 Phần trước (đầu cổ) Ưu điểm: Đầu cân đối, góc cạnh; mõm to; lỗ mũi rộng; hàm khoẻ; mắt to sang; trán rộng phẳng; sống mũi thẳng; tai nhỏ vừa phải, linh hoạt; cổ dài, thanh tiếp giáp với vai tốt.

Khuyết điểm của ngoại hình có thể bao gồm đầu quá to hoặc quá nhỏ, ngắn và không cân đối với cơ thể, cùng với mõm khô và nhỏ Các đặc điểm khác như lỗ mũi hẹp, hàm dưới yếu và thụt vào, mắt nhỏ, đỏ và không tinh anh, trán hẹp, và tai quá to cũng góp phần làm giảm sự hấp dẫn Thêm vào đó, cổ ngắn và hẹp cũng là những yếu tố cần lưu ý khi đánh giá ngoại hình.

KỸ THUẬT CHĂN NUÔI TRÂU, BÒ THỊT

3.1 NGOẠI HÌNH TRÂU, BÒ THỊT

Bò thịt có đặc điểm cơ thể nổi bật với mình trường, da mỏng và lông mịn Tổ chức liên kết dưới da phát triển tốt, cùng với bắp thịt nở nang Đầu ngắn, cổ ngắn, ngực sâu và rộng, lưng hông thẳng và mông rộng Bụng thon tròn và bốn chân thanh, ngắn, tạo nên hình dáng phát triển hình chữ nhật dài.

Trâu bthịt có đặc điểm tầm vóc lớn với cấu trúc cơ thể thô chắc, phát triển cân xứng, với phần trước cao và phần sau thấp Chúng có ngực rộng và sâu, lưng và hông thẳng, mông hơi xuôi nhưng vẫn rộng Bụng tròn, đầu lớn với sừng dài và mắt sáng Cổ ngắn và dày, cùng với bốn chân chắc khỏe và thẳng, móng đều hình bát úp.

Chuồng trại cho trâu, bò cần đảm bảo che mưa, che nắng và chống nóng, chống rét, với nguyên tắc là thoáng mát vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông Tùy vào điều kiện cụ thể của từng hộ gia đình và địa phương, có thể tận dụng vật tư sẵn có như tre, gỗ, lá để xây dựng chuồng trại, nhằm giảm chi phí chăn nuôi hiệu quả.

Chuồng trại nên được xây dựng ở những khu vực cao ráo, thoáng mát và có khả năng thoát nước tốt Nên bố trí chuồng xa nhà ở để đảm bảo vệ sinh; nếu không đủ không gian, cần sắp xếp hợp lý để thuận tiện cho việc chăm sóc trâu, bò và dễ dàng trong việc thu dọn, vệ sinh.

Trong điều kiện khí hậu Việt Nam, việc xây dựng chuồng trại theo hướng đông bắc - tây nam là tối ưu, giúp tránh gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam.

Để xây dựng chuồng bò bền vững, nên sử dụng bê tông và đổ nền chắc chắn, vì bò có trọng lượng lớn và dồn toàn bộ trọng lượng vào bốn chân, nhưng khi di chuyển lại dồn lên hai chân Nền chuồng cần có độ nghiêng khoảng 3% về phía rãnh thoát nước để tránh tình trạng ứ đọng, giữ cho bò luôn sạch sẽ.

Chuồng cần được thiết kế với rãnh thoát nước dẫn đến hố thu nước tiểu và nước rửa chuồng, đồng thời chú ý đến những khu vực không thể làm sạch Đáy rãnh nên có kích thước bằng xẻng để thuận tiện cho việc vệ sinh Nước từ bể chứa cần được thu gom để tưới cho đồng cỏ và cây trồng.

Mái chuồng có thể được lợp bằng nhiều vật liệu như lá dừa, tranh, fibro ximăng, tôn hoặc ngói Thiết kế mái chuồng dạng 2 tầng không chỉ tăng cường đối lưu không khí mà còn giúp giảm độ ẩm trong chuồng Độ cao của mái chuồng nên đạt trên 3m để đảm bảo thông thoáng.

Máng ăn và máng uống cần được bố trí riêng biệt để đảm bảo vệ sinh Máng ăn nên được đặt ở phía trước chuồng và thiết kế với độ cao hợp lý, giúp dễ dàng trong việc dọn dẹp và cho ăn.

Máng uống nên để ở vị trí trung tâm cho bò dễ uống, phải thường xuyên cọ rửa máng uống.

3.2.7 Diện tích chuồng cho bò thịt Được phân theo lứa tuổi như sau:

Bê đến 6 tháng tuổi 1,4m 2 /con

- Chuồng 2 dãy: Chiều rộng từ 10 – 12m Những trang trại quy mô chăn nuôi lớn thường thiết kế theo kiểu này nó tiết kiệm vật liệu xây dựng.

- Chuồng 1 dãy: Chiều rộng của chuồng 6,5 – 7m, mái chuồng có thể bố trí máng ăn phía trước.

Vỗ béo là quá trình nuôi dưỡng đặc biệt nhằm tăng cường lượng thịt và chất lượng cho con vật, với chế độ ăn phong phú và dinh dưỡng hoàn thiện Có nhiều phương pháp vỗ béo khác nhau, và cách quản lý bò vỗ béo cũng thay đổi tùy thuộc vào phương pháp áp dụng, đặc điểm giống bò, điều kiện nuôi dưỡng và yêu cầu thị trường về chất lượng thịt Thời gian vỗ béo thường kéo dài từ 60 đến 90 ngày, phụ thuộc vào độ tuổi, trọng lượng ban đầu của bò và nhu cầu thị trường về khối lượng và chất lượng thịt.

3.3.1 Các kiểu vỗ béo a Vỗ béo bê lấy thịt trắng Đây là kiểu vỗ béo bê sữa trước 3 - 4 tháng tuổi Thông thường chỉ dùng bê đực, đặc biệt là bê đực hướng sữa Nuôi bê chủ yếu bằng sữa nguyên và sữa thay thế Mức sữa cung cấp khoảng 12 - 16 lít/ngày nếu yêu cầu tăng trọng không dưới 1000g/ngày Nếu yêu cầu tăng trọng thấp hơn một ít (không dưới 900g/ngày) thì bên cạnh sữa có thể cho ăn thêm cỏ khô, thức ăn tinh và củ quả.

Hiện nay, thịt bê thui đang rất được ưa chuộng tại Việt Nam, nhưng thường thì bê bị giết sớm mà không được vỗ béo, dẫn đến việc không khai thác hết tiềm năng thịt Đặc biệt, trong chăn nuôi bò sữa, bê đực thường bị giết trong tuần đầu sau khi hết sữa, trong khi chúng có thể được vỗ béo thêm để tăng chất lượng thịt Khi nhu cầu và giá thịt bò tăng cao, việc vỗ béo bê sớm sau cai sữa sẽ trở thành một hướng phát triển quan trọng trong ngành chăn nuôi bò ở nước ta.

Bê được đưa vào vỗ béo ngay sau khi cai sữa hoặc sau 30 - 45 ngày huấn luyện, phù hợp cho các cơ sở vỗ béo thương phẩm Các giống bò thịt lớn và bê đực hướng sữa là những lựa chọn tốt cho phương pháp này Hiện nay, bê (cả đực và cái) từ 1 đến 1,5 tuổi là đối tượng vỗ béo phổ biến, với thức ăn tinh chiếm ít nhất 30% giá trị năng lượng trong khẩu phần, có thể tăng lên ở giai đoạn cuối Trước khi vỗ béo, bê cần trải qua thời kỳ nuôi sinh trưởng, và bê đực hướng sữa không làm giống cũng có thể được vỗ béo trước khi giết thịt ở độ tuổi này.

Bò sữa, bò sinh sản và các loại bò khác thường trải qua giai đoạn nuôi vỗ béo trước khi bị đào thải để tận thu thịt Trong chăn nuôi bò thịt, việc sinh sản thường được điều khiển theo mùa vụ Sau mỗi vụ phối giống, những bò cái không thụ thai sẽ bị loại thải và đưa vào vỗ béo để khai thác thịt, nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế Thời gian nuôi béo lý tưởng là từ 2 đến 3 tháng, tùy thuộc vào độ béo ban đầu và nguồn thức ăn Việc kéo dài thời gian nuôi béo quá 3 tháng không hiệu quả, vì bò sẽ có tăng trọng kém và hiệu quả chuyển hóa thức ăn thấp, dẫn đến hạn chế về kinh tế.

3.3.2 Khẩu phần thức ăn để vỗ béo a Vỗ béo bằng thức ăn xanh

Hình thức này được thực hiện trong mùa vụ nhiều cỏ xanh Có 2 cách vỗ béo bằng thức ăn xanh:

Vỗ béo trên đồng cỏ là phương pháp hiệu quả giúp đạt được đàn bê đồng đều và năng suất cao Việc chăn thả bê luân phiên từ 12 - 24 giờ mỗi ngày cho phép chúng tận dụng tối đa thức ăn xanh trên đồng cỏ Tuy nhiên, để đạt hiệu quả tốt nhất, cần bổ sung một lượng thức ăn tinh nhất định: giai đoạn đầu vỗ béo chiếm 20 - 25% và giai đoạn cuối chiếm 30 - 35% giá trị năng lượng trong khẩu phần ăn.

Ngày đăng: 23/07/2021, 08:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w