BUỔI THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI, VẤN ĐỀ: KẾT HÔN, HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ VIỆC CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG II. Nhận định1.Người thành niên cũng có thể không có quyền kết hônĐúng. Vì theo Điều 39 BLDS 2015 thì kết hôn là quyền con người, người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở điểm a khoản 1 Điều 8 LHNGĐ 2014 thì Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mặt khác điểm b, c, d khoản 1 Điều 8.2.Người chưa kết hôn dù thoả mãn quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 8 đồng thời không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo điểm a, b, d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ cũng có thể không có quyền kết hôn.
Trang 1de thi: 6 câu nhận định 6 điểm ( na ná hoac giống những câu đã làm trên lớp) và 1 tình
huống 4 diểm (tuơng tự bai tap trong de cuong thao luan )
thoi gian lam bai: 75 phut dui su dung tai liệu giấy
BUỔI THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI, VẤN ĐỀ: KẾT HÔN, - HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT - GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ VIỆC CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG
II Nhận định
1 Người thành niên cũng có thể không có quyền kết hôn
Đúng Vì theo Điều 39 BLDS 2015 thì kết hôn là quyền con người, người thành niên
là người từ đủ 18 tuổi trở điểm a khoản 1 Điều 8 LHNGĐ 2014 thì Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mặt khác điểm b, c, d khoản 1 Điều 8
2 Người chưa kết hôn dù thoả mãn quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 8 đồng thời không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo điểm a, b, d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ cũng có thể không có quyền kết hôn.
Đúng Vì điểm c khoản 2 Điều 5 LHNGĐ 2014 cấm 1 người đang có vợ có chồng mà kết hôn với người khác có thể thuộc hai đối tượng người xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 3/1/1987 chưa đăng ký kết hôn đang sống chung còn sống (hôn nhân thực tế) điểm
b khoản 4 Điều 2 TT mặt khác điểm c khoản 2 Điều 5 LHNGĐ 2014 người mà chồng chưa vợ (chưa kết hôn) không có quyền kết hôn với người biết rõ người đó đã có người
có vợ có chồng
3 Hành vi kết không được uỷ quyền
Đúng Vì uỷ quyền là việc thỏa thuận của các bên theo đó bên được ủy quyền sẽ có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền. điểm khoản d khoản 1 Điều 8 LHNGĐ 2014 nam nữ tự nguyện kết hôn mới được công nhận Điều 18 LHT 2014 thủ tụckết hôn đòi hỏi vợ chồng phải có mặt và ký tên Điều 2 TT 04/2020
4 Mọi trường hợp, UBND cấp xã đều có thẩm quyền đăng ký KH có yếu tố nước ngoài
Sai Vì theo khoản 1 Điều 18 NĐ 123/2015/NĐ-CP UBND cấp xã nơi thường trú của CDVN có thẩm quyền đăng ký kết hôn cho CDVN – CD nước láng giềng Tại Điều 37 Luật Hộ tịch quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốctịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài
Trang 2Cách giải thích khác:
Thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài quy định tại Điều 18 NĐ 123/2015,Điều 37, 53 Luật Hộ tịch theo đó thẩm quyền có thể thuộc UBND cấp xã khu vực biên giới, UBND cấp huyện, Cơ quan lãnh sự
5 Tảo hôn là kết hôn trái pháp luật
nhận định sai Vì
K6 Điều 3 LHNGĐ “kết hôn trái pháp luật là việc nam nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quannhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”
K8 Điều 3 LHNGĐ “tảo hôn là việc lấy vợ lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa
đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này”
Như vậy, kết hôn trái pháp luật là có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nhưng viphạm điều kiện nội dung mặc dù đảm bảo về hình thức
6 Mọi trường hợp kết hôn trái pháp luật đều bị toà án huỷ hôn khi có yêu cầu?
Đúng Vì
K3,k4 Điều 3 TTLT 01/2016
Điều 4 TTLT 01/2016
7 Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác thì quan
hệ sau bị huỷ khi có yêu cầu của chủ thể quy định ở Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình.
Sai Vì người đang có vợ, có chồng được xác định là có hôn nhân mà họ đang chung sống như vợ chồng với người khác là vi phạm hôn nhân một vợ một chồng (khoản 1 Điều
2 LHNGĐ 2014) không phải là hành vi kết hôn trái pháp luật bởi vì theo khoản 6 Điều 3 Luật HNGĐ 2014 kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn mà vi phạm điều kiện kết hôn do luật định Trong lúc đó một người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác không đồng nghĩa quan hệ sau có kếthôn do vậy không thể xác định đây là hành vi kết hôn trái pháp luật Khi có yêu cầu xử lýquan hệ này thì theo khoản 4 Điều 3 Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP toà án thụ lý giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng vì xác định hôn nhân không có giá trị pháp lý
7 Nam, nữ sống chung như vợ, chồng trước 3/1/1987 thì đương nhiên công nhận là vợ chồng
Trang 3vợ chồng theo Điều 11 Luật 2000 (nay là Luật 2014) Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam có thừa nhận hôn nhân thực tế với một số trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn có thể được công nhận là vợ chồng nếu thỏa mãn điều kiện quy định tại pháp luật về hôn nhân thực tế Ví dụ: điểm a Mục 3 NQ 35 (NQ 35, tt 01…)Không vi phạm điều kiện kết hôn khi họ sống chung với nhau bởi luật đang có hiệu lực, sống chung như vợ chồng theo điểm d mục 2 thông tư 01/2001, thời điểm trước 1/1/2001 nhưng có hai nhóm trước 3/1/1987 là hôn nhân thực tế, xác định hôn nhân thực
tế đến hết 1/1/2003 nếu có sự kiện chấm dứt hôn nhân
Hôn nhân thực tế: điểm a Mục 3 Nghị quyết 35 Điều 44 Nghị định 123 thời kỳ hôn nhân thực tế Chỉ thị 2003 gia hạn thêm đăng ký kết hôn thông tư 01 án lệ 41 (Nghị quyết 01/2003)
9 Mọi trường hợp nam, nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì
đều không công nhận là vợ chồng
Sai NQ 35/2000
10 Người thành niên thì đương nhiên có quyền kết hôn
Sai Vì BLDS Điều 18 quy định người thành niên là từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng LHNGĐ quy định nam thì từ đủ 20 tuổi lên
11 mọi trường hợp thời kỳ hôn nhân đều được tính từ khi đăng ký kết hôn
Sai Điều 13 LHN về xử lý đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thời kỳ hôn nhân tính từ ngày đăng ký kết hôn trước đối với hôn nhân thực tế tính từ khi sống chung như
vợ chồng mục 3 NQ 35 Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có
đủ điều kiện kết hôn Điều 4 TTLT 01/2016
Tình huống
2.1 Anh Điệp là chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K (huyện H tỉnh LĐ) cư trú tại xã
K Chị Lan là phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B (huyện M tỉnh LĐ) cư trú tại xã
B Năm 2020, anh Điệp và chị Lan dự định xác lập quan hệ vợ chồng
Hãy xác định các cơ quan đăng ký hộ tịch mà các bên có thể nộp hồ sơ đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch? Cơ sở pháp lý?
- KH không có YTNN, tại VN: Điều 17 LHT
- Luật cư trú: nơi thường, tạm trú
- Khoản 4 Điều 5 LHT: có thể đăng ký tại nơi thường, tạm trú (trách nhiệm thông báo)
- Người ký giấy tờ hộ tịch: CT, phó CT
Trang 4- Cấm: điểm h khoản 1 Điều 12 LHT “Người có thẩm quyền quyết định đăng ký hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch cho bản thân hoặc người thân thích theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình;”
Như vây, có thể nộp hồ sơ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K hoặc Ủy ban nhân dân xã B Theo quy định người ký giấy tờ hộ tịch là CT hoặc phó CT cho nên
Nếu đăng ký tại xã K thì anh Điệp không được là người ký giấy tờ hộ tịch mà phải là phó
CT xã K
Nếu đăng ký tại xã B thì chị Lan không được ký giấy tờ hộ tịch mà phải là CT của xã B
2.2 Năm 2017, anh Thuận (sinh năm 1978) kết hôn với chị Nga (sinh năm 2000) Sau hai năm xác lập quan hệ vợ chồng, sức khỏe anh Thuận suy kiệt Kết quả xét nghiệm từ cơ sở y tế cho thấy anh Thuận bị nhiễm HIV mà nguồn bệnh anh bị lây nhiễm là từ vợ anh – chị Nga
Tháng 7/2020, anh Thuận chết
Tháng 12/2020, con đẻ anh Thuận với người vợ trước của anh (đã ly hôn) là Hằng yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn của anh Thuận và chị Nga với lý do việc kết hôn này trái pháp luật
Theo các anh (chị) Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao?
- Xét độ tuổi:
+ Kết hôn năm 2017 chị Nga 17 tuổi chưa đủ tuổi kết hôn
Vi phạm điểm a khoản 1 Điều 8 => KH trái PL (khoản 6 Điều 3)
+ Cá nhân có quyền yêu cầu huỷ: khoản 2 Điều 10: chị Hằng là con của anh Thuận
có quyền yêu cầu hủy
+ Có huỷ kết hôn trái pháp luật với người kết hôn trái pháp luật đã chết? khoản 2 Điều 4 BLTTDS: Toà án thụ lý giải quyết
Tham khảo QĐ GĐT số 21/2020/DS - GĐT ngày 23/4/2020 của HĐTPTANDTC
- Xét sự tự nguyện:
+ Nếu chị Nga biết mình bị HIV thì chị phải có nghĩa vụ thông báo với anh Thuận khi kết hôn Khi không thông báo là có dấu hiệu lừa dối vi phạm sự tự nguyện Đây là trường hợp kết hôn trái pháp luật Nhưng quyền yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật do vi phạm tự nguyện chỉ thuộc bên bị lừa dối => chị Hằng con anh Thuận không có quyền yêucầu Toà án không thụ lý đơn
+ Nếu chị Nga không biết mình bị HIV thì không óc dấu hiệu lừa dối => khôn có quyền yêu cầu
Trang 5- vấn đề tài sản chung và thừa kế theo quy định của luật hôn nhân và dân sự
2.3 Được gia đình hai họ đồng ý, năm 1998, ông Quang cưới bà Đại Họ có con chung là N sinh năm 2006
Năm 2003, với nguồn tiền được thừa kế riêng, ông Quang mua một ngôi nhà trị giá một tỉ đồng và đứng tên chủ sở hữu nhà
Ngày 02.02.2017, do cuộc sống chung giữa ông Quang và bà Đại mâu thuẫn trầm trọng, ông Quang yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và phân định tài sản Hai bên cũng không thỏa thuận được việc giải quyết quyền lợi con chung
Viện dẫn quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp về nhân thân, tài sản
và quyền lợi con chung theo tình huống trên.
- Về nhân thân: Điểm b Mục 3 NQ 35, Điều 9, khoản 2 Điều 53 LHNGĐ 2014
+ Cưới vào năm 1998 trong thời điểm từ 3/1/1987 đến trước 1/1/2001 điểm b Mục 3
NQ 35 yêu cầu họ phải đăng ký kết hôn nên khoản 2 Điều 53 Luật 2014 -> không công nhận vợ chồng do chưa đăng ký kết hôn
- Về tài sản: không công nhận là quan hệ vợ chồng nên chia tài sản theo hướng quan
hệ tài sản sống chung như vợ chồng khoản 2 Điều 53, Điều 16 LHNGĐ 2014, Điều 209,
219 BLDS 2015
- Về quyền lợi con chung: khoản 2 Điều 52, Điều 15, Điều 81 - 84 LHNGĐ 2014
2.4 Anh Tâm định cư tại Cộng hoà liên bang Đức từ năm 2000 Năm 2013, trong chuyến về thăm quê hương, anh Tâm cùng chị Trà (sinh ngày 12.09.1988) quyết định “kết nghĩa vuông tròn” Ngày 07.08.2015, Ủy ban nhân dân phường T, quận Y thành phố H nơi chị Trà cư trú đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho anh Tâm và chị Trà
Tháng 11 2016, anh Tâm bàn với chị Trà mua nhà số 11/6 đường TH, phường T, quận Y trị giá 2.7 tỷ đồng Do hai bên chỉ có số tiền chung là 100 triệu đồng nên anh Tâm nhờ thân nhân chuyển từ nước ngoài về số ngọai tệ của anh - tương đương 2.6
tỷ đồng để mua nhà này (có chứng cứ xác định việc chuyển tiền qua ngân hàng vào tài khoản ngoại tệ của anh Tâm mở tại Việt Nam)
Cho rằng hành vi kết hôn giữa anh Tâm và chị Trà trái pháp luật, ngày
05.02.2019, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố H yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn này.
- Từ góc độ pháp lý, anh, chị hãy phân tích và lý giải đường hướng xử của Tòa án
có thẩm quyền trước yêu cầu của Hội Phụ nữ thành phố H biết rằng trong quá trình
tố tụng, chị Trà có nguyện vọng công nhận hôn nhân còn anh Tâm đề nghị giải quyết cho ly hôn
Trang 6- Giả thiết anh Tâm và chị Trà tranh chấp nhà số 11/6 đường TH, phường T, quận Y thì Tòa án phải phân định vấn đề này ra sao cho phù hợp, biết rằng anh Tâm có đồng ý để chị Trà đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và thực
tế, chị Trà đang đứng tên chủ sở hữu nhà tại thời điểm tranh chấp phát sinh
- Giải quyết về nhân thân: vi phạm thẩm quyền: không công nhận quan hệ vợ chồng+ Khoản 25 Điều 3 LHNGĐ: , Điều 3 Luật Quốc tịch: -> kết hôn có yếu tố nước ngoài
+ Khoản 1 Điều 101 LHNGĐ… -> Điều 19 NĐ 126/2014
+ Khoản 3 Điều 3 TT 01/2016 (+ Điều 9, Điều 13 LHNGĐ)
- Giải quyết về tài sản:
+ khoản 2 Điều 3 TT 01/2016 LHNGĐ, Điều 209, 219 BLDS 2015
TSC theo phần: 200 triệu -> chia đôi
TSR: 2,6
Trang 7BUỔI THỨ BA, VẤN ĐỀ : QUAN HỆ PHÁP LUẬT GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
2014 hoa lợi phát sinh từ tài sản được chia trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ chồng nếu vợ chồng có thuận khác thì hoa lợi từ tài sản được chia là tài sản chung
2 Một bên định đoạt tài sản chung quy định tại khoản 2 Điều 35 LHNGĐ luôn được xác định là trái pháp luật.
Sai Vì về nguyên tắc các loại tài sản quy định tại khoản 2 Điều 35 để bảo vệ lợi ích của vợ chồng thì pháp luật quy định hai bên cùng định đoạt tuy nhiên để đảm bảo giao dịch về tài sản của vợ chồng được thuận lợi pháp luật có cơ chế đại diện cho nhau giữa
vợ chồng Chính vì vậy, nếu một bên chồng, vợ có tư cách đại diện cho bên kia mà định đoạt các loại tài sản quy định tại khoản 2 Điều 35 này thì việc định đoạt tài sản đó không được coi là trái pháp luật (ngoại lệ trừ các trường hợp đại diện được luật định Điều 24,
25, 36)
3 Nhà ở được mua bằng tiền lương trong thời kỳ hôn nhân, do bên vợ hoặc chồng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu phải được xác định là tài sản riêng của người đứng tên.
Sai Vì nhà ở mua bằng tiền lương mà tiền lương là thu nhập hợp pháp của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều 33 LHNGĐ Theo khoản 3 Điều 33 quy định tài sản do một bên đứng tên trong thời kỳ hôn nhân mà không có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng thì xác định là tài sản chung Có nghĩa là nhà ở mua bằng tiền lương - thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hợp pháp thì người đứng tên trong trường hợp không có tranhchấp mặc nhiên xác định là tài sản chung Trong trường hợp có tranh chấp thì người đứngtên phải chứng minh để xác định là tài sản riêng Nếu không chứng minh được thì tài sản
đó được xác định là tài sản chung
4 chế độ tài sản theo pháp định chỉ có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản
Sai Về nguyên tắc khi vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản thì chế độ tài sản pháp định được áp dụng Nhưng có trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thuận nhưng nếu thỏa thuận không đủ, không rõ ràng, bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì áp dụng
Trang 8quy định tương ứng về giải quyết tài sản theo luật định (khoản 2 Điều 48 LHNGĐ, Điều
7 NĐ 126/2014 NĐ-CP)
III Tình huống
2.1 Ông Khánh và bà Dung kết hôn năm 2008.
Năm 2016, vợ chồng họ lập văn bản thỏa thuận sử dụng 5 tỷ đồng để thành lâp ̣ doanh nghiêp ̣ tư nhân K – D kinh doanh ô tô Theo đăng ký , ông Khánh là ngườ i đứng tên chủ sở hữu doanh nghiêp ̣
Năm 2017, ông Khánh lập hợp đồng bán hai chiếc ô tô hiệu Toyota Altis cho ông Tuấn (chú ruột ông Khánh) Một tháng sau, cho rằng xe được bán với giá rẻ không hợp lý cũng như giao dịch giữa ông Khánh và ông Tuấn trái với quy định về quyền định đoạt tài sản của vợ chồng, bà Dung tìm đến văn phòng luật sư yêu cầu tư vấn
để bảo vệ quyền lợi về tài sản
Với tư cách là luật sư và trên cơ sở quy định của pháp luật, anh, chị hãy tư vấn cho bà Dung về:
1 Hành vi đơn phương bán xe của ông Khánh (có trái với quy định về quyền định đoạt tài sản của vợ chồng quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ?)
2 Lơị tức từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiêp ̣ K –D (thuộc sở hữu của ông Khánh hay của vợ chồng ông Khánh, bà Dung?).
1.1 Tư vấn cho bà Dung về hành vi đơn phương bán xe của ông Khánh
- Vợ chồng bình đẳng về tài sản: Điều 17, khoản 1 Điều 29 LHNGĐ
- Nguyên tắc tài sản thuộc khoản 2 Điều 35: cùng định đoạt
- Ngoại lệ:
+ Pháp luật: i) khoản 2 Điều 25, Điều 36 LHNGĐ - đại diện của một bên vợ, chồng đối với tài sản đưa vào kinh doanh: Vợ chồng thoả thuận bằng văn bản để 1 bên đưa tài sản chung vào kinh doanh: người này có quyền tự thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó; ii) Điều 185, Luật Doanh nghiệp 2014: chủ doanh nghiệp có quyền quyết định các hoạt động liên quan doanh nghiệp
+ Tình huống: Các bên có lập văn bản để ông Khánh đưa tài sản vào kinh doanh => hành vi đơn phương bán xe của ông Khánh là hợp pháp, không trái điểm b khoản 2 Điều 35
1.2 Tư vấn về lợi tức từ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp
Trang 9PL: Điều 33 luật HNGĐ: tài sản chung của vợ chồng có thể là khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác: tài sản chung đưa vào sử dụng (kinh doanh) phát sinh lợi nhuận (lợi tức) lag tài sản chung
Tình huống: hai bên không có thỏa thuận nào khác nên lợi tức thuộc tài sản chung
2.2 Ông Lưu và bà Tâm kết hôn năm 1983 Năm 1984, mẹ đẻ ông Lưu lập “văn tự” tặng cho ông Lưu ngôi nhà diện tích 140 m2 tại xã HN, huyện B, tỉnh KL
Tháng 2.1985, theo ý chí của mẹ, ông Lưu làm thủ tục kê khai và đứng tên chủ sở hữu nhà.
Tháng 11 2014, ông Lưu đến địa phương khác cư trú và cưới bà Túy Hai người
có con nuôi chung là Mỹ Yến, sinh năm 2008 Tài sản chung của ông Lưu, bà Túy (được tặng chung) là 16 chỉ vàng 9999
Năm 2016, ông Lưu và bà Tâm chia một phần tài sản trong thời kỳ hôn nhân Theo văn bản được công chứng, phần động sản chung của ông Lưu, bà Tâm (hiện
do bà Tâm quản lý) trị giá 2 tỷ được chia đôi, mỗi người sở hữu 1 tỷ
Năm 2019, ông Lưu chết không để lại di chúc
Căn cứ pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật dân sự, anh (chị) hãy xác định
di sản của ông Lưu và đối tượng được hưởng di sản của ông biết rằng: i) Sau khi chia tài sản chung, ông Lưu sử dụng tiền được chia gửi ngân hàng Tại thời điểm ông Lưu chết, tổng số tiền gốc và lãi được xác định là 1 tỷ 200 triệu đồng; ii) Ông Lưu, bà Tâm không có thoả thuận khác khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân 2.2.1 Xác định di sản:
DS: tài sản riêng + phần tài sản trong khối tài sản chung (Điều 612 BLDS)
Trong khối tài sản chung với bà Tâm:
- Là vợ chồng: Điều 15 Luật 1959: chung hợp nhất
- Chia: Điều 66 Luật 2014: 140m2 đất : 2 = 70m2 (bà Tâm); 70m2 (ông Lưu - khối di sản 1)
Trong khối tài sản chung với bà Tuý:
- Không là vợ chồng: Điều 16 Luật 2014: chung theo phần
- Chia: Điều 16 Luật 2014: chia 2 (vì không xác định được mức độ đóng góp) = 16 chỉ vàng : 8 chỉ (bà Tuý); 8 chỉ (ông Lưu - khối di sản 2)
Từ tài sản riêng: do chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Trang 10- Điều 40: lợi tức từ tài sản riêng được chia mà không có thoả thuận khác: 1 tỷ 200 triệu - khối di sản 3
=> Tổng di sản: 70m2 đất + 8 chỉ vàng + 1 tỷ 200 triệu
2.2.2 Xác định đối tượng thừa kế
- Đối tượng hưởng di sản: Điều 651, khoản 1 Điều 655 BLDS - bà Tâm, con nuôi ông Lưu là MỸ Yến (bà Tâm vẫn là vợ tại thời điểm ông Lưu chết quan hệ vợ chồng chỉ chấm dứt theo khoản 1 Điều 57 và Điều 66 LHNGĐ)
2.3 Năm 1952, ông Anh sống chung như vợ chồng với bà Nga Hai người không có con chung
Năm 1954, ông Anh tiếp tục cưới bà Lành Ông Anh, bà Lành có con nuôi chung
là Túy
Năm 1988, ông Anh kết hôn với bà Nhung Con chung của họ là Thắm, Hùng Ông Anh, bà Lành, bà Nhung cùng chung sống tại nhà số 11/8 xã K, Huyện LK, tỉnh HB Nhà này là tài sản mà ông Anh được thừa kế riêng năm 1953 Năm 2014,
bà Nhung và ông Anh sử dụng 72 triệu đồng - số tiền có được từ việc bán 18 chỉ vàng mà hai người được mừng cưới để nâng cấp, cải tạo nhà số 11/8
Năm 2015, ông Anh chết không để lại di chúc
Anh, chị hãy:
i) Xác định có lý giải vợ của ông Anh theo quy định của pháp luật?
ii) Xác định di sản thừa kế của ông Anh và đối tượng được hưởng di sản thừa kế của ông giả thiết có tranh chấp về thừa kế và tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án, nhà số 11/8 tại xã K, Huyện LK, tỉnh HB do ông Anh đứng tên; được định giá 3 tỷ đồng.
2.3.1 Xác định có lý giải vợ của ông Anh theo pháp luật
Bà Nga, bà Lành là vợ ông Anh (bà Nhung không là vợ) vì:
Bà Nga, bà Lành: sống chung như vợ chồng (cưới) với ông Anh trước thời điểm LUật HNGĐ 1959 có hiệu lực, áp dụng sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945
(Bà Nhung không phải là vợ, dù bà có kết hôn với ông Anh nhưng việc kết hôn này vi phạm Điều 4 LHNGĐ 1986)
2.3.2 Xác định di sản và đối tượng hưởng
Trang 11- Xác định di sản: di sản: Điều 634 BLDS 2005: tài sản riêng và phần tài sản của ngườichết trong khối tài sản chung với người khác.
- Trong khối tài sản chung - theo phần - với bà Nhung: Điều 16 Luật HNGĐ 2014: 72 triệu : 2 = 36 triệu (bà Nhung); 36 triệu (ông Anh - khối di sản 1)
- Trong khối tài sản chung - hợp nhất - với hai bà vợ:
+ Điều 15 Luật HNGĐ 1959: nhà 11/8 tài sản chung trị giá 3 tỷ - 72 triệu = 2 tỷ 928 triệu
+ Khi ông Anh chết (2015): Điều 66 Luật HNGĐ: chia 3 => di sản ông Anh: 976 triệu
- khối di sản 2
Tổng di sản: 36 triệu + 976 triệu = 1 tỷ 012 triệu
- Xác định đối tượng hưởng di sản: Điều 676 BLDS 2005, điểm a mục 1 NQ 01/2003;+ Vợ: bà Nga, Lành
+ Con: nuôi, hai con đẻ
(chia 5: bà Nga, Lành, mỗi người còn được hưởng 976 triệu)
Trang 12BUỔI THỨ TƯ, THỨ NĂM, VẤN ĐỀ: QUAN HỆ PHÁP LUẬT GIỮA CHA,
MẸ, CON; QUAN HỆ CẤP DƯỠNG GIỮA CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH
II NHẬN ĐỊNH
1) Con đẻ luôn được xác định cùng huyết thống với cha mẹ
Sai Trong trường hợp theo hướng nhân đạo, nhân văn có thể không cùng huyết thống Tại Điều 88 LHNGĐ “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận
là con chung của vợ chồng.”, con sinh ra do thụ tinh nhân tạo, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo…
2) Chỉ trong trường hợp có tranh chấp thì việc xác định cha mẹ cho con mới thuộc thẩm quyền của Tòa án
Sai Vì ngoài trường hợp có tranh chấp thì khi người được yêu cầu xác định là cha, mẹ,con đã chết hoặc trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết (k2 Điều 101 LHNGĐ)
3) Cha mẹ nuôi có thể thay đổi dân tộc con nuôi theo dân tộc của mình
Sai Vì cha mẹ nuôi không có quyền yêu cầu thay đổi dân tộc của con nuôi Khoản 2 Điều 29 BLDS 2015 quy định “Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ;trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.” Tại Điều 24 LNCN quy định về hệ quả của việc nuôi con nuôi dân tộc của con nuôi được xác định theo dân tộc của cha mẹ nuôi khi con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi (k2 Điều 29 BLDS 2015 có quy định)
4) TA có thể quyết định chấm dứt quan hệ NCN theo yêu cầu nếu có căn cứ xác định giữa các bên có quan hệ trực hệ
Đúng Vì Điều 25 căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi tại khoản 4 “Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này” Tại Điều 13 hành vi bị cấm ở khoản 6 “Ông, bà nhận cháu làmcon nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi” Quan hệ trực hệ là quan hệ giữa ông, bà với cháu hoặc cha, mẹ với con
5)Người có quan hệ huyết thống mọi trường hợp đều có thể nhận nhau làm con nuôi
Sai Vì chỉ một số trường hợp có quan hệ huyết thống tại điểm b khoản 2 Điều 8 LNCN mới được nhận nhau làm con nuôi
6) Để đảm bảo chính sách dân số và phát triển một cặp vợ chồng chỉ có quyền