Chưa kể đến doanh thu không nhỏ cho ngành dịch vụ từ du lịch nội địa và quốc tế từ việc quảng bá hình ảnh đó, vị thế của Việt Nam chắc chắn sẽ được cải thiện, được nâng cao trên trường q
Trang 1Thăng Long - Hà Nội nghìn năm văn hiến
Thăng Long-Hà Nội, có một bề dày lịch sử nghìn năm, là nơi hội tụ văn hóa, kết tinh văn minh Việt Nam.
Nằm trong vùng tam giác châu thổ sông Hồng có đất đai mầu mỡ, trù phú, nơi đây đã sớm là một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam
Trong Chiếu dời Đô, Lý Thái Tổ từng nói: “Ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc, địa hình thế núi sông sau trước Ở nơi đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phì nhiêu tươi tốt Xem khắp nước Việt ta chỗ ấy là nơi hơn cả, thực là chỗ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất của Đế vương muôn đời!”
Đất Thăng Long xưa, hình thành từ những làng quê, có bụi tre, bến nước, vườn nhỏ, ao chuôm Ngày nay, dấu ấn “làng” ấy vẫn tồn tại đâu đó với những phố cổ, làng cổ trầm mặc, xinh xắn, với bao ngõ nhỏ uốn lượn, quanh co, ngoằn ngoèo trong lòng một Hà Nội hiện đại, sầm uất.Thăng Long-Hà Nội, kinh đô của Việt Nam, còn là nơi giao thoa của những nền văn hóa lớn Những nét văn hóa thường được thể hiện qua ngôn ngữ, trang phục, truyền thống ẩm thực, những thú vui giải trí Họ vẫn giữ lại những thú vui tao nhã như chơi hoa, trồng cây cảnh, nuôi chim
dù thành phố ngày nay đã trở nên chật chội Trang phục của người Hà Nội, dẫu thay đổi nhiều theo thời gian, vẫn được xem là trang nhã và duyên dáng
Nếu Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây, nói như Nguyễn Đình Thi, là nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm” thì từ những phương ngữ Việt Nam do biết bao người “tứ trấn” đổ về đây làm ăn sinh sống qua lịch sử ngàn năm mang lại, đã được thanh lọc và ngưng cất thành “tiếng Hà Nội” hay nói như Tô Hoài là “tiếng Hồ Gươm” đại diện sáng giá nhất của tiếng Việt Nam trong sáng
Ở thời hiện đại, Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội vẫn còn rất bí ẩn và quyến rũ bởi những chứng tích lịch sử, những dấu ấn về con người qua truyềnthuyết huyền thoại, di tích lịch sử, những khu phố, ngôi nhà cổ, tường thành xưa, đường phố cũ…
Kiến trúc cổ Hà Nội gợi lên một nền văn minh tinh thần, một nếp sống văn hóa gia đình trong những đường nét ấm nóng hơi thở của nhiều thế
hệ Khu phố cổ Hà Nội vẫn là khu vực đông đúc nhất Qua nhiều năm, những cư dân sinh sống nhờ các nghệ thủ công, buôn bán tiểu thương đã hình thành những con phố nghề đặc trưng mang những cái tên như Hàng Bạc, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Đồng, Thuốc Bắc Bên cạnh
đó, Hà Nội cũng còn lại những khu phố mang đặc trưng kiến trúc Pháp cổ, những con đường ở đây rộng, dài và phủ kín cây xanh
Bề dày lịch sử cũng khiến Thăng Long trở thành một vùng đất đầy hấp dẫn về du lịch, với những địa danh lịch sử-văn hóa nổi tiếng như Hoàng thành Thăng Long, quần thể Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Tháp Rùa-Đền Ngọc Sơn, chùa Một Cột, Thăng Long Tứ trấn, thành Cổ Loa Du khách cũng sẽ rất thích thú khi được dạo quanh khu phố cổ sầm uất hay những ngỏ phố nhỏ cổ kính trầm mặc bằng xích lô
Đất Hà Thành còn nổi tiếng với những làng nghề truyền thống, những sản phẩm thủ công đầy tinh xảo như gốm Bát Tràng, lụa La Khê, đồ đồng Ngũ Xã, sơn mài Hà Thái cùng những làng hoa, cây cảnh nổi tiếng như Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm
Là trung tâm văn hóa của cả miền Bắc từ nhiều thế kỷ, tại Hà Nội có thể tìm thấy và thưởng thức những món ăn của nhiều vùng đất khác, nhưng
ẩm thực thành phố cũng có những nét riêng biệt Đến với Hà Nội, người ta không thể bỏ qua cơ hội thưởng thức những món ăn đặc trưng như cốm làng Vòng, phở Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì, chả cá Lã Vọng, bánh tôm Hồ Tây
Ngoài ra còn có nhiều món ăn đặc trưng khác như bún thang, bún chả, bún nem, bún bung, bún mọc, đậu phụ Mơ, tào phớ An Phú, nem chua làng Vẽ./
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dầu không thanh lịch cũng người Tràng An
(Ca dao)
Vâng, câu ca dao ấy đã khái quát những nét thanh lịch của con người mảnh đất ngàn năm văn hiến Có lẽ, chính những nét đẹp đó đã để lại trong lòng mỗi người con của mảnh đất này thật nhiều hoài niệm Là nhà văn sinh ra ở đất kinh kì, Nguyễn Khải đã thể hiện sự tinh tế nhạy cảm của mình trước những nét văn hoá rất riêng của Hà Nội qua truyện ngắn "Một người Hà Nội được rút từ tập “Hà Nội trong mắt tôi" Tác phẩm khôngchỉ thể hiện sự nâng niu, trân trọng những vẻ đẹp vãn hoá của miền đất này, không chỉ là sự xót xa cho sự mai một của những giá trị văn hoá, mà quan trọng hơn là cả tác phẩm đã để lại cho mỗi chúng ta thật nhiều suy ngẫm về việc giữ gìn bản sắc văn hoá trong cuộc sống hôm nay
Có thể nói, “Một người Hà Nội" là một truyện ngắn thành công của Nguyễn Khải Tác phẩm xoay quanh nhân vật chính là bà Hiền trong mối quan hệ với sự biến đối của thời cuộc Những nét đẹp tính tuý nhất của người Tràng An dường như đã được hội tụ ở nhân vật này Một trong những nét đặc sắc của tác phẩm là ở chỗ tác giả không đi sâu vào những sự kiện lớn, ngược lại ông dùng ngòi bút của mình vào những điều hết sức bình thường, giản dị hằng ngày của cuộc sống nhưng qua đó vẫn làm nổi bật được những nét tính cách độc đáo của nhân vật Những nét đẹp trong suy nghĩ của bà Hiền được thể hiện trước tiên qua cái cách mà bà chọn chồng là một ông giáo tiểu học hết sức bình thường "khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc", cái quyết định dừng sinh con ở tuổi bốn mươi, trái hoàn toàn với quan niệm "Trời sinh voi, trời sinh cỏ" của xã hội ta lúc bây giờ,… Là một người phụ nữ nhưng bà luôn chủ động, tự tin việc quản lí gia đình bởi bà ý thức rất rõ vai trò quan trọng của một người vợ, người mẹ: "người đàn bà mà không là nội tướng thì cái gia đình ấy chả ra sao" Không những thế, là một người mẹ, bà uốn nắn con từ cái nhỏ nhất như ngồi ăn, chuyện cầm bát, cầm đũa, múc canh,… Rồi khi hai đứa con trai lần lượt xin ra chiến trường, người mẹ ấy "cũng đau đớn mà bằng lòng" vì không muốn con sống bám vào sự hi sinh của bạn bè Ở bà người ta vẫn thấy sáng lên một niềm tin mãnh liệt vào vẻ đẹp trường tồn vĩnh cửu của Hà Nội: "Mỗi thế hệ đều có một thời vàng son của họ Hà Nội thì không thế Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mỗi lứa tuổi" Có thể nói cái cốt cách của Hà Nội còn được thể hiện rất rõ trong cách ứng xử nhân vật này Đó là sự linh hoạt đầy bản lĩnh trước những đổi thay của cuộc sống, trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn luôn dám sống là mình, thẳng thắn, chân thành, giàu lòng tự trọng nhưng cũng hếtsức khéo léo, thông minh Con người ấy vẫn luôn giữ gìn những nét đặc trưng trong lối sông của người Hà Nội lộ cái quý phái, sang trọng, lịch lãm của ngưòi Hà Thành từ cách ăn mặc bài trí nhà cửa, từ cái cảm nhận hết sức tinh tế "trời rét, mưa rây lả lướt dù đủ làm ẩm áo chứ không làmướt" đến cái cách lau chùi bát hoa thuỳ rong ngày giáp Tết một cách hết sức tỉ mi,… đã cho thấy nét đẹp văn hoá trường tồn vĩnh cửu ở một người Hà Nội hết sức bình dị nơi mảnh đất văn hiến này Trong nhân vật bà Hiền vừa có một Hà Nội trí tuệ, hiện đại, thức thời lại vừa tồn tại một Hà Nội đài các kiêu sa, cổ kính, với chiều sâu văn hoá Dù đã có tuổi, bà Hiền vẫn là "hạt bụi vàng của Hà Nội"
Trang 2Thế nhưng câu chuyện của Nguyễn Khải đâu chỉ dành cho con người của Hà Nội mà còn hướng đến tất cả những người Việt Nam nói chung để gửi đến thông điệp về ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc Văn hoá có thể một cách đơn giản là tất cr những giá trị, những nét đẹp về vật chất và tinh thần của xã hội, chừng nào con người còn tổn tại thi văn hoá cũng sẽ vẫn còn Dù ở bất kì thời đại nào thì văn hoá cũng đóng vai trò hết sức quan trọng Bản sắc văn hoá là những đặc điểm riêng của mỗi dân tộc, góp phần không vào việc hình thành nên một quốc gia độc lập Và
có lẽ cũng không phải vô cớ mà Nguyễn Trãi khi xưa đã nhắc đến truyền thống văn hoá của dân tộc ngay sau khi tư tưởng nhân nghĩa ở phần mởđầu của "áng thiên cổ hùng văn Đại cáo bình Ngô:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt tnrớc lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Mỗi dân tộc cần phải có một nền văn hoá riêng cũng giông như mỗi ca nhân trong cuộc đời phải có cá tính riêng để làm nên cái "tôi" của chính mình phân biệt mình với người khác Một đất nước làm sao có thể tồn tại bền vững khi mà nhắc đến nó, người ta chăng có cớ gì để nhớ, chẳng
có gì để nói Văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng nhất làm nên truyền thông của một dân tộc Những giá trị văn hoá phi vật thể cũng phần nào phản ánh tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, tâm hồn con người Văn hoá Việt giản dị nhung có chiều sâu và có bản sắc riêng, con người Việt Nam bình dị, hết sức tinh tế nhưng cũng vô cùng anh dũng, kiên cường Chính truyền thống văn hoá tạo nên cội nguồn, gốc rễ cho dân tộc, từ đó hình thành nên ở con người Việt Nam lòng tự hào, tự tôn dân tộc, một niềm tin mãnh liệt vào tương lai Tôi chợt nghĩ đến hình ảnh cây si ở đền Ngọc Sơn mà Nguyễn Khải đã từng nhắc đến trong "Một người Hà Nội" Gió bão có thể thế làm nghiêng cả tán, bật cả rễ nhưng qua bao phong
ba bão táp, bao biến cố thăng trầm của lịch sử, nó lại hồi sinh, trổ lộc non Văn hoá góp phần làm nên cái "vàng son" cho quá khứ, còn quá khứ góp phần hun đúc nên những phẩm chất tốt đẹp của con người bởi văn hoá thường hướng con người ta đến những giá trị đẹp đẽ của cuộc sống, hướng con người ta đến cái chân, thiện, mĩ, làm cho con người sống tốt hơn Bên cạnh đó, những công trình kiến trúc, những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,… không chỉ cho thấy những nét văn hoá rất riêng của đất nước Việt Nam mà còn đóng góp không nhỏ vào việc quảng bá hình ảnh của Việt Nam đến bạn bè thế giới Chưa kể đến doanh thu không nhỏ cho ngành dịch vụ từ du lịch nội địa và quốc tế từ việc quảng bá hình ảnh đó, vị thế của Việt Nam chắc chắn sẽ được cải thiện, được nâng cao trên trường quốc tế, rất nhiều cơ hội mở ra cho việc giao lưu cả về mặt kinh tế, chính trị phục vụ cho sự phát triển của đất nước, vì thế nếu chúng ta không có ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá của chính dân tộc mìnhthì tự chúng ta sẽ làm mất đi vị thế riêng của mình, sẽ bị hoà tan trong những nền văn hoá khác trên thế giới Có những thứ khi đã mất đi ta vẫn
có thể lầy lại được nhưng có những điều nêu không níu giữ thì nó sẽ tuột khỏi tay ta mãi mãi
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, có rất nhiều thuận lợi khi chúng ta mở cửa, giao lưu với các nước trên thế giới, mở ra nhiều cơ hội để quáng bá cho văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế nhưng nếu như chúng ta không có ý thức giữ bản sắc văn hoá dân tộc thì sẽ làm mất dần đi những giá trị văn hoá độc đáo Làm sao để hoà nhập mà không hoà tan là một vấn để không đơn giản không phải là không thể làm được nếu như mỗi người chúng ta đều có ý thức giữ gìn những nét đẹp văn hoá của dân tộc mình, đặc biệt là thế hệ trẻ nay Mỗi người hãy tự trau dồi cho mình vốnhiểu biết về văn hoá dân tộc làm sao để bạn bè quốc tế hiểu và yêu thích văn hóa của đất nước chúng ta cũng là một cách để giữ gìn bản sắc văn hoá bởi ai đó đã từng nói rằng: cho đi cũng là cái còn lại mãi mãi" Việc giữ gìn truyền thông văn hoá phải bắt đầu từ việc giữ gìn truyền thống của mỗi gia đình, mỗi địa phương, vùng miền cụ thể Và mỗi nét đặc sắc trong văn hoá của hơn năm mươi dân tộc sẽ làm nên một nền văn hoá Việt Nam đa dạng, đậm đà bản sắc Mỗi người dân phải tự có ý thức bảo vệ những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của vùng miền mình, của đất nước mình Nhà nước cần có những biện pháp thích đáng đối với những hành vi gây tác động xấu đến văn hoá, song song với những chính sách hợp lí để trùng tu, bảo tổn những di tích, danh lam và giữ gìn những giá trị văn hoá phi vật thể Có thể nói, việc giữ gìn những giá trị văn hoá không phải là trách nhiệm của riêng ai mà cần có sự tham gia của tất cả mọi người, không phải bằng khẩu hiệu, bằng lời nói mà những việc làm hết sức cụ thể
Không phải lúc nào chúng ta cũng có thể giữ gìn được những giá trị văn hóa của mình bởi lẽ cuộc sống cũng có những biến cố (chiến tranh, thiêntai,…) có thể làm cho những công trình văn hoá bị xuống cấp nghiêm trọng Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang hằng ngày cố gắng tìm mọi cách để cóthể giữ gìn được phố cổ Hà Nội, chùa Một Cột,… Việt Nam vinh dự được UNESCO công nhận một số công trình văn hoá vật thể và phi vật thể
là di sản văn hoá thế giới chứng tỏ sự cố gắng, nỗ lực không ngừng của chúng ta trong việc phát huy những giá trị văn hoá dân tộc Cuộc sống hiện đại hối hả hơn, con ngươi ta bận rộn hơn, điểu kiện giao lưu quốc tế mở rộng hơn bao giờ hết nhưng sâu thẳm trong mỗi chúng ta là một tâm hồn Việt, một cốt cách Việt.Tuy nhiên, giữ gìn bản sắc văn hoá không có nghĩa là không có sự giao lưu, học hỏi Mỗi nên văn hoá đều có những thế mạnh riêng của nó Tiếp thu một cách hợp lí có chọn lọc sẽ là điều kiện để làm giàu có thêm vốn văn hoá của dân tộc Ngoài ra, cũng chính từ sự giao lưu ấy mà ta có thế biết được điểm mạnh điểm yêu trong nền văn hoá của mình, từ đó có thể phát huy những điểm mạnh đồng thời học hỏi những kinh nghiệm để có thê khắc phục những chỗ còn khiếm khuyết
Có thể nói giữ gìn bản sắc văn hoá không chỉ có ý nghĩa với cộng đồng dân nhân loại mà còn rất ý nghĩa đối với mỗi con người vì những giá trị văn hóa được thể hiện trong nếp sống, nếp nghĩ hằng ngày của mỗi con người
Cảm ơn Nguyễn Khải với "Một người Hà Nội" bởi lẽ, với truyện ngắn ta nhận ra rằng văn hoá là một nét đẹp của cuộc sống và dù có những đổi thay thì "nêp sông tốt đẹp của cha ông vẫn lặng lẽ chảy trong cuộc sống ồ ạt hôm nay"
TCTG)- Năm 2010, đất nước ta sẽ long trọng tổ chức kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội Trong tâm thức của mỗi chúng ta, ai cũng mong muốn được thể hiện một tình cảm tốt khi nghĩ về vùng đất đã được chọn làm Kinh đô - Thủ đô từ ngàn năm trước
Nhiều người đều thừa nhận rằng, hiếm thấy ở nơi đâu trên đất nước Việt Nam lại có vị trí và địa thế đẹp như ở đất Thăng long – Hà Nội Đây là nơi tụ thuỷ, tụ nhân, nơi mà truyền thuyết kể lại rằng có Rồng bay Chính vì thế đất đẹp trời cho” như thế, nên vào mùa thu năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã ban Chiếu dời đô từ Hoa Lư – Ninh Bình về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long Nhà vua chọn nơi đây làm kinh đô của nước Đại Việt, với ý nguyện mong muốn xây dựng kinh đô cho muôn đời ngày càng phồn thịnh theo thế Rồng bay lên Và quả thật, tạo hoá đã ban tặng cho nơi đây có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển văn hoá, kinh tế, chính trị Điều này đã được chứng minh trải qua mười thế kỷ.Với bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, Thăng Long xưa và Hà Nội nay vẫn luôn khẳng định là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá lớn của nước Việt Nam Thăng Long - Hà Nội tới nay sắp tròn ngàn năm tuổi Trải qua nhiều triều đại, nơi đây đã tiếp nhận rất nhiều những giá trị tinh tuý văn hoá của mọi vùng miền đất nước và xa hơn nữa là của bạn bè quốc tế năm châu Với bản lĩnh và những nét tài hoa của người Thăng Long - Hà Nội, nền văn hoá nơi đây đã nhân lên những điều hay, xoá đi những điều dở, tạo nên một nền văn hoá có bản sắc riêng đầy quyến rũ,
Trang 3đó là văn hoá Tràng An” Không chỉ những người sống ở Hà Nội, hay những người yêu Thủ đô mới có tình cảm sâu sắc với Hà Nội, mà tất cả những ai đã từng đặt chân đến nơi đây, hoặc đã nghe kể về lịch sử, về những đặc điểm rất riêng của Hà Nội, cũng như đã từng tìm hiểu những néthết sức tinh tế của con người Tràng an đều trân trọng những nét văn hoá đẹp đến xiêu lòng ở vùng đất Thăng Long.
Chính những nét đẹp văn hoá cùng với những chiến công hiển hách của Thăng Long - Hà Nội từ xưa đến nay, mà người Việt Nam mãi mãi không thể nào quên câu thơ đầy cảm xúc Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” của tướng quân Huỳnh Văn Nghệ đã đi vào tâm thức của mỗi người Điều mà mỗi chúng ta chia sẻ cùng với tác giả là nỗi nhớ nhớ Hồ Gươm, nhớ tháp Rùa, tháp Bút, đó là những biểu tượng đặc trưng cho văn hóa và tâm linh của người Hà Nội Không những thế, Thăng Long – Hà Nội từ ngàn năm nay đã sản sinh ra biết bao văn nhân, sĩ phu và nhân tài cho đất nước Cho đến tận bây giờ, Hà Nội vẫn là nơi quy tụ những anh tài tuấn kiệt từ khắp bốn phương đểcùng với nhân dân cả nước vững bước trên con đường hội nhập
Có thể nói, Hà Nội với bao giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá mà các bậc tiền nhân để lại, xứng đáng là trung tâm văn hoá của Việt Nam Thủ đô Hà Nội - trái tim của đất nước, thành phố vì hoà bình đã được biết đến với những tinh hoa được chắt lọc từ văn hoá ngàn năm, từ muôn phương kết tụ Là đất Kinh đô ngàn năm văn hiến, văn hoá Hà Nội là nơi hội tụ và kết tinh biết bao những giá trị văn hoá tinh hoa của mọi miền Tổ quốc Cùng với sự tiếp biến văn hoá của bốn phương, hệ thống di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của vùng đất này ngày càng được làm giàu thêm, làm cho văn hoá nơi đây càng thêm phong phú, đa dạng, nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hoá đất Tràng An Tinh hoa văn hoá của đất Kinh kỳ được biểu hiện qua những di sản văn hoá, nó phản ánh một cách chân thực truyền thống sinh hoạt của người Thăng Long - Hà Nội xưa và nay
Từ xưa đến nay người dân Thăng Long - Hà Nội luôn tự hào là đã có nhiều người đỗ đạt cao, là nơi quy tụ của nhiều nhân tài trong cả nước, chính vì vậy mà nơi đây để lại một kho tàng tri thức, văn hoá đồ sộ cho dân tộc, chẳng thế mà người ta gọi Thăng Long là đất ngàn năm văn hiến Những tinh hoa về văn hoá của đất Thăng Long xưa đã để lại cho đời nay những di sản vô cùng quý giá thì không thể nào kể hết và bổn phận của những người hậu thế phải trân trọng, biết ơn, bảo tồn và giữ gìn những nét đặc sắc văn hoá ấy
Khi nói tới văn hoá người ta không thể không nhắc đến tính cách của con người và ở đây là tính cách của con người Thăng Long - Hà Nội xưa vànay Qua nghiên cứu và cảm nhận của một số nhà nghiên cứu, cũng như nhiều người đã sống lâu năm ở Hà Nội, khi nói và viết về tính cách người Hà Nội xưa và nay, đã làm cho không ít người phải trầm tư, trăn trở Tuy không phải tất cả những người Hà Nội đều như thế và cũng không phải một người chứa đựng tất cả những đức tính tốt hay xấu như vậy, với cách trình bày tổng quát không ám chỉ vào ai, các tác giả muốn nói lên tất cả những tính cách của con người Hà Nội Những tính cách này có thể có ở người này nhưng không có ở người kia Vì vậy, những điều trình bày ở đây về tính cách của người Hà Nội cũng chỉ là sự sưu tầm những nhận xét của các bậc tiền nhân và của một số nhà nghiên cứu, cũng như muốn truyền tải cảm nhận của một số người đã gắn bó nhiều năm với Hà Nội
Người ta nói rằng, người Thăng Long xưa luôn tự hào mình là người Kẻ Chợ” Đó là những người từ khắp nơi, khắp chốn đến với Kinh đô, là dân tứ xứ (Đông - Đoài -Nam - Bắc), hay dân tứ trấn (Hải Đông, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc) Người Hà Nội vốn tài hoa khéo léo, đa cảm mà cũng rất giàu tính nhân văn, con người Hà Nội vốn thông minh và ham học hỏi, thanh lịch, ít theo đòi, đi đâu cũng dễ để lại ấn tượng tốt đẹp cho mọi người Trong quan hệ, người Hà Nội tỏ ra lịch sự, luôn biết người biết ta, biết chơi và cũng chịu chơi, nhưng không ham chơi quá mức mà chăm làm, chắt chiu nhặt nhạnh Trong nói năng thì vui vẻ, suy nghĩ luôn giữ chừng mực, không có tính cực đoan, thái quá, nghĩ thì sâu lắng trầm tư, làm thì có độ, không quá trớn Cách ăn nói thanh lịch, tế nhị, không xô bồ, không vội vàng và nóng nảy Giọng nói nhẹ nhàng, từ ngữ thanh tao, gần gũi kết hợp với dáng đi vững, và chuyển động nhịp nhàng của cơ thể, đã tạo nên một tư thế chủ động cho người Hà Nội trong cáchgiao tiếp, ứng xử Người Hà Nội khá kín đáo, tinh tế, ý nhị, ít muốn biểu lộ ra ngoài Điều đó rất có sức hấp dẫn, thu hút người tiếp chuyện.Con trai Hà Nội có tiếng là hào hoa, phong nhã, có đôi chút tài ba Con gái Hà Nội nổi tiếng là dịu dàng, e ấp, thuỳ mị, nết na làm say đắm lòng người, nhất là những người phụ nữ đất Kinh kỳ xưa nổi tiếng về công - dung - ngôn - hạnh, ai cũng rất giỏi những công việc nữ công gia chánh Người ta bảo rằng, người Hà Nội xưa khéo tay hay nghề đất lề Kẻ chợ” nên sành ăn, sành chơi không thích kiểu chém to kho mặn” Ngày xưa, người Hà Nội quan niệm rằng: Thịt thái không vuông vắn thì không ăn, chiếu trải không ngay ngắn thì không ngồi Xem ra đó là phong cách ăn uống của người Hà Nội, điềm đạm mà từ tốn Người Hà Nội thích ăn uống thanh cảnh, nhưng không quá cầu kỳ Miếng thịt nên xắn nhỏ, khi gắpthì vừa bát Trứng cũng thế, ít ai bỏ cả quả trứng vào chén cơm mà không cắt nó ra làm đôi, rồi ăn từng nửa một Ăn quả chuối, hay bắp ngô thì cũng bẻ làm đôi trước khi ăn…
Còn về chuyện ăn mặc Người Hà Nội xưa theo cha tôi kể thì ăn mặc giản dị và thanh nhã lắm Khi ra đường hoặc khi có khách đến nhà, đàn ôngthường mặc áo sơ mi (thay cho áo cánh), âu phục thay cho áo dài, khăn xếp truyền thống ở những dịp lễ trọng Đàn bà thì mặc áo dài nền nã, mà kín đáo Hà Nội xưa, dẫu là người nghèo, áo rách nhưng miếng vá rất ngay ngắn, đúng màu vải, màu chỉ và luôn sạch sẽ Thế nên mới có câu Áo rách khéo vá hơn lành vụng may” và Đói cho sạch, rách cho thơm” Đất Kinh kỳ xưa là nơi tụ thuỷ, tụ nhân”, nhân tài từ xứ (Đông - Nam - Đoài
- Bắc) nô nức về kinh đô học tập, sinh sống, thi cử, hành nghề, làm quan, điều đặc biệt là người dân tứ xứ đến Thăng Long sinh sống phần lớn là những người tài giỏi, họ mang bách nghệ” về làm ăn ở 36 phố phường Hà Nội Còn về văn hoá ẩm thực thì không ai có thể chê vào đâu được Nhiều người nói rằng hiếm thấy ở đâu lại có văn hoá ẩm thực phong phú, đa dạng và tinh tế như ở Hà Nội Quả thật đúng như vậy, nếu ai đó đã một lần được thưởng thức hương vị ẩm thực ở Hà Nội thì chắc hẳn sẽ khó quên, trong suy nghĩ của những du khách đã đến Hà Nội có lẽ đều mong ngày nào đó sẽ trở lại nơi này để lại được thưởng thức những hương vị thơm ngon các món ăn của Hà Nội
Bên cạnh những tính cách tốt đẹp và những nét tài hoa của người vùng đất Thăng Long, thì con người Thăng Long - Hà Nội từ xưa đến nay cũng
có không ít nhược điểm, đó là những biểu hiện khó hợp tác, thích làm một mình, chưa quen làm những việc lớn, làm gì cũng dè dặt sợ chê bai, hơi có chút dèm pha, đố kỵ Người Hà Nội nặng những suy nghĩ về những kỷ niệm đã qua, chính vì vậy mà đôi khi có tính bảo thủ Ăn uống nhồm nhoàm, ồn ào, vừa ăn vừa văng tục, nói phét Chỗ ngồi ăn ở các quán trên bàn xương xẩu, dưới đất giấy ăn trắng xóa, trông rác rưởi, bề bộn, mất vệ sinh Mà người ta như không cảm giác e ngại, cứ điềm nhiên ngồi chén trên… một đống rác Cách mặc của người Hà Nội nay cũng rất đáng phải bàn, ngoài phố không thiếu những người cởi trần, mặc quần đùi hoặc ăn mặc hở hang, phản cảm, đi xe máy rất nghênh ngang, dương dương tự đắc, như trên đời này chẳng có ai ngoài ta Hà Nội từ lâu đã là nơi tụ hội của rất nhiều người khác nhau thuộc mọi miền đất nước nên cũng chịu ảnh hưởng của tính cách của con người từ những vùng quê khác mang đến, cùng với sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, tính cách người Hà Nội ngày nay đã có nhiều thay đổi, những hiện tượng tiêu cực cùng với nếp sống có phần thiếu văn hoá của một bộ phận không nhỏ người dân Hà Nội phần nào cũng đã làm nhạt nhoà hình ảnh hào hoa, thanh lịch của người dân chốn Kinh thành đã có một thời rất đỗi tự hào
Những năm gần đây một số nhà khoa học và cả những người dân đã có thời gian sống vài chục năm ở Hà Nội cho rằng nhiều tính cách tốt đẹp của người Hà Nội xưa đã dần mất đi, có những tính cách của con người tưởng như đã đi vào tiềm thức thì đến nay chỉ còn là hoài niệm đẹp đẽ Nhiều người cũng cho rằng văn hoá Tràng An đã và đang bị tổn thương, bị tấn công, bị xâm hại, điều đó đã làm cho những ai yêu Hà Nội phải
Trang 4nặng lòng suy nghĩ Ai cũng biết rằng văn hóa là những giá trị được hình thành bắt đầu từ cách ứng xử của con người với con người, giữa con người với môi trường sống xung quanh Văn hoá được kết tinh từ những nét đẹp truyền thống, có khi cả hàng nghìn năm mới hình thành nên bản sắc, nhưng thật đáng buồn là nếu phá đi những nét đẹp văn hoá thì có khi chỉ cần vài chục năm Nhiều người nói rằng so với vài ba chục năm về trước, người ta thấy mất dần cảnh chị ngã, em nâng”, đã mờ đi những cảm giác của con người về lối sống tối lửa tắt đèn có nhau”, hoặc chỉ còn phảng phất cảm giác một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, mà thay vào đó người ta thấy nhiều hơn cảnh đèn nhà ai, nhà nấy rạng”, sửng cồ, gây gổ, đánh nhau nhiều khi hết sức vô cớ; hoặc cảnh người ngay sợ kẻ gian, nói tục chửi bậy và giọng nói pha tạp thô tục lấn dần sự rành rẽ, chuẩn xác, tròn vành rõ chữ, dịu ngọt vốn là nét đặc trưng lâu đời của tiếng nói người Hà Nội Lối sống vô cảm, vô lương tâm, vô trách nhiệm với con người, với cộng đồng xã hội xuất hiện ngày càng nhiều đã đến mức báo động
Trước thực trạng đó, không ít người, nhất là những người có trách nhiệm đã thấy, nhưng khi tham gia các cuộc họp hay hội nghị bàn bạc để giải quyết vấn đề này, thì những biện pháp đưa ra để bảo tồn những giá trị văn hoá, hay tìm cách khôi phục lại những nét đẹp về văn hoá, về tính cáchcủa con người Thăng long xưa, thì phần lớn những giải pháp đưa ra vẫn chỉ vẫn là lý thuyết chung chung, ít có tính khả thi và hình như thiếu đi
sự quyết tâm của cơ quan chức năng và những người có trách nhiệm Bởi trong thực tế hiện nay, sự giáo dục con người từ gia đình, nhà trường đến xã hội, đang mang nặng tính chất giáo điều, khuyên răn, mà chưa làm cho mọi người nhận thức sâu sắc, cảm thấy có trách nhiệm tự giác hoặc bắt buộc con người phải tuân thủ nếp sống có văn hoá
Không hiểu vô tình hay hữu ý, nhưng hình như chúng ta đang đánh mất dần những giá trị văn hoá, có nghĩa là chúng là đang dần tự đánh mất mình, đánh mất cả môi trường sống tốt đẹp để chuốc lấy sự lo âu về mất an toàn, an ninh trong cuộc sống Cách ứng xử mang tính áp đặt từ trên xuống, lời nói không đi đôi với việc làm đã khiến cho việc thực hiện văn hóa ở nhiều người, nhiều nơi trở nên giả dối, người nói thì cứ nói, người làm thì cứ làm, người thờ ơ không làm thì cũng chẳng sao Khi đứng trước những sự chướng tai gai mắt người ta thường so sánh: Ngày xưa ấy à…”, hay: Ngày xưa thế này, ngày xưa thế nọ…” đến nỗi có một câu mong ước cửa miệng của không ít người nuối tiếc về một thời: Bao giờ cho đến ngày xưa” Nhiều người đã chạnh lòng trước những trăn trở thường nhật của người Hà Nội Thương lắm Hà Nội ơi! Hà Nội bây giờ nhiều người cho rằng nó chỉ đẹp trong mơ, để lại cho mỗi người yêu Hà Nội bao luyến tiếc về những giá trị văn hoá đất Thăng Long đã bị mất đi,
để rồi bao nhiêu mong muốn giá như tính cách người Hà Nội lại đẹp như xưa, giá như không có bọn tham nhũng, chỉ biết tàn phá, mà không chú tâm bảo vệ những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, để những giá trị văn hoá ngày càng tốt đẹp hơn trở thành hiện thực
Từ sự thật nghiệt ngã này, thiết nghĩ ngay từ bây giờ, các cấp, các ngành, các đoàn thể cần có biện pháp giáo dục để mọi người hiểu rằng nền tảng của văn hóa chính là cái tâm trong sáng, lành mạnh của mỗi người Đó là làm sao cho mọi người thực sự tôn trọng danh dự, tôn trọng nhân cách và lợi ích của con người, của tổ chức, cộng đồng, của xã hội Đồng thời, tự mỗi người phải có lòng tự tôn, tự trọng và trách nhiệm với ngườikhác, đó chính là lẽ sống, cách sống và tư chất cần có của người Hà Nội muốn đạt đến độ thanh lịch, văn minh và hiện đại
Dẫu biết rằng để thay đổi ý thức của con người là một việc làm không đơn giản, không thể trong ngày một ngày hai Nhưng cũng không thể ngồi chờ để có một phép màu nhiệm nào đó có thể làm thay đổi ý thức của con người đang sống trong một thế giới hiện hữu Chính vì vậy, muốn bảo tồn, phát huy và xây dựng nhân cách người Hà Nội thanh lịch theo hướng văn minh và hiện đại, thì chúng ta cần phải kiên trì giáo dục sao cho cótính thuyết phục, để làm cho mỗi người tự thay đổi ý thức, cách ứng xử, hành vi có văn hóa của mình ngay từ trong gia đình, nhà trường, ở tổ dân phố, khu dân cư, ở cơ quan công sở, nơi công cộng Đặc biệt cần nêu cao cách giáo dục bằng phương pháp nêu gương Đó là người lớn làm gương tốt cho trẻ con, cán bộ làm gương tốt cho nhân viên, cấp trên phải làm gương tốt cho cấp dưới, đảng viên làm gương tốt cho quần chúng,
bố mẹ làm gương tốt cho con cái, thầy cô giáo làm gương tốt cho học sinh… Có như vậy, người Hà Nội mới dần dần lấy lại sự văn minh và thanh lịch vốn có từ thuở xưa Phấn đấu để Hà Nội của chúng ta xứng đáng với danh hiệu thành phố vì hòa bình, thành phố xanh - sạch - đẹp; xứng tầm với thành phố đã có bề dày một nghìn năm văn hiến Nhưng để làm được và giữ được danh hiệu đó, điều quan trọng nhất là ý thức của mọi người và cả của các cơ quan quản lý cùng tự giác, cùng quyết tâm chung tay thực hiện Đã đến lúc, người Hà Nội cần phải sống xứng đáng hơn với truyền thống văn hoá của vùng đất Thăng Long, từ ý thức và hành động để bảo vệ môi trường sống, bảo vệ tất cả những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, nhất là bảo vệ những thuần phong, mỹ tục, nếp sống thanh lịch, lối ứng xử văn minh
Hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, những năm gần đây, thành phố Hà Nội đã và đang tuyên truyền và từng bước khôi phục những giá trị văn hoá truyền thống, phát triển văn hóa và xây dựng nhân cách người Hà Nội văn minh, thanh lịch, hiện đại Nhưng theo đánh giá của các cơ quan chức năng và của cả nhiều người dân thì kết quả thực hiện cho đến hiện nay vẫn chưa được như mong muốn Vì vậy, chúng ta cần có những biện pháp tích cực hơn nữa để nâng cao nhận thức của mọi người, mà bắt đầu thực hiện từ trên xuống dưới, từ đảng viên tới quần chúng, từ trong nhà trường đến gia đình và xã hội Chúng ta cần xử lý nghiêm khắc những phần tử thoái hoá biến chất trong các cơ quan công quyền, cơ quan hành chính sự nghiệp những cán bộ chỉ nói mà không làm Kiên quyết loại trừ các thói hư tật xấu, các hủ tục đã tồn tại khá lâu vàđang có nguy cơ phát triển trong nhân dân Thực hiện nghiêm các qui định của Đảng và Nhà nước, quyết tâm làm lành mạnh hoá các hoạt động văn hoá, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên mắc sai phạm trong những qui định về nếp sống văn hoá Nếu làm được như vậy thì chắc chắn văn hoá và tính cách người Hà Nội sẽ có những chuyển biến tích cực, xứng đáng với những kỳ vọng của nhân dân cả nước
Vai trò của thanh niên với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay
Bản sắc văn hóa dân tộc là giá trị cốt lõi nhất của nền văn hóa, thể hiện tâm hồn, cốt cách, tình cảm, lý trí, sức mạnh của dân tộc, tạo nên chất keo kết nối các cộng đồng người gắn bó, đoàn kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển Những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc
là một trong những động lực to lớn đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia dân tộc.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được hình thành, phát triển gắn liền với lịch sử dựng nước, giữ nước và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.Bản sắc đó thể hiện ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, được bao thế hệ vun đắp, hun đúc tạo nên sức sống mãnh liệt giúp cộng đồng các dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tồn tại, không ngừng lớn mạnh và phát triển bền vững Nó là niềm tự hào của mọi người dân Việt Nam, là nguồn sức mạnh vô địch bảo đảm cho dân tộc Việt Nam trường tồn, phát triển trong mọi thời đại Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, thanh niên chúng ta đã kế thừa, phát huy cao độ bản sắc văn hóa dân tộc, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thấm nhuần lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khắc phục mọi khó khăn, chiến đấu và chiến đấu thắng lợi mọi kẻ thù
Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với những biến động phức tạp khó lường đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi thanh niên chúng ta không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng, mà còn phải tinh thông về văn hóa, tham gia giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trong những năm gần đây, phần lớn thanh niên Việt Nam đã phát huy vai trò xung kích trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Tuy nhiên, họ cũng bộc lộ nhiều hạn chế về nhận thức, về hiệu quả trong thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Một bộ phận thanh niên có những biểu hiện sai lệch chuẩn mực giá trị về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống Thực trạng đó nếu không khắc phục kịp
Trang 5thời sẽ làm phai nhạt, xói mòn hệ giá trị chuẩn mực trong bản sắc văn hóa dân tộc, ảnh hưởng không nhỏ đến bản chất, truyền thống của dân tộc Tình hình đó cũng đặt ra những yêu cầu mới hết sức cấp thiết về lý luận, thực tiễn phải nghiên cứu, luận giải, đề ra những giải pháp mang tính khả thi, bảo đảm cho thanh niên phát huy hơn nữa vai trò người “chiến sỹ văn hóa”.
Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa những giá trị văn hóa bền vững, phản ánh diện mạo, sắc thái, cốt cách, tâm hồn, tâm lý… của một dân tộc, được thường xuyên hun đúc, bổ sung và lan tỏa trong lịch sử dân tộc, trở thành tài sản tinh thần đặc sắc, tạo nên sức mạnh gắn kết cộng đồng và
để phân biệt sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại
Bản sắc văn hóa dân tộc được biểu hiện ở lòng yêu nước nồng nàn, ý trí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng
xử, tính giản dị trong lối sống trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì sự ảnh hưởng của nó đến việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
là tất yếu khách quan và sự tác động đó tạo điều kiện cho nước ta trong việc mở rộng giao lưu giữa các nền văn hóa, sáng tạo ra giá trị mới, trực tiếp bổ sung, làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc, thông qua sự hội nhập đó cũng kiểm chứng tính bền vững của giá trị bản sắc văn hóa dân tộc ViệtNam, nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên thế giới, hiện đại hóa các phương tiện văn hóa thông tin trong toàn xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực còn có mặt tiêu cực của nó đó là nguy cơ xói mòn, phai nhạt và biến dạng hệ thống giá trị trong bản sắc văn hóa dân tộc, sự ru nhập của lối sống tư sản, suy giảm thuần phong mỹ tục, sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa Thanh niên là lực lượng xung kích, sáng tạo có vai trò quan trọng to lớn trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,
họ là lực lượng trực tiếp tham gia bảo vệ, giữ gìn, bổ sung, phát triển và quảng bá những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc thực hiện nội dung, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Vì vậy, để phát huy vai trò của thanh niên với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay chúng ta phải thực hiện có hiệu quả một số nội dung, biện pháp cơ bản sau:
Một là,tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức và năng lực giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho thanh niên: đây là giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao nhận thức, năng lực và hiệu quả hoạt động của thanh niên trong việc tham gia giữ gìn bẳn sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay Việc thực hiện giải pháp này giúp cho thanh niên nhận thức sâu sắc và đầy đủ quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc Năng lực và hiệu quả giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc phụ thuộc rất lớn vào nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống và giá trị tinh hoa văn hóa dân tộc Chính trong quá trình giáo dục mà thanh niên chúng ta lĩnh hội được hệ thống các tri thức khoa học trên mọi lĩnh vực, cùng các giá trị và chuẩn mực văn hóa, đạo đức xã hội, bảo đảm cho sự hình thành, phát triển và hoàn thiện những phẩm chất nhân cách cần thiết đáp ứng với những yêu cầu, chức trách, nhiệm vụ và sự phát triển xã hội Trên cơ sở đó, xác định rõ vị trí, vai trò và nhiệm vụ của tuổi trẻ đối với sự nghiệp cách mạng nói chung, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng, từ đó ra sức tu dưỡng, rèn luyện nâng cao tinh thần yêu nước, tự tôn, tự hào dân tộc, không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm, trình độ chuyên môn, đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, giữ vững bản chất truyền thống của ông cha đã dày công vun đắp, tạo dựng nên, huy động nguồn trí tuệ tài năng của sức trẻ, cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay
Hai là,phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên thông qua các phong trào của đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: Với thế mạnh
thích tìm tòi, khám phá, để khẳng định mình, cho nên muốn thanh niên trưởng thành phải tích cực đưa họ vào hoạt động thực tiễn để tôi luyện, thử thách bản lĩnh, nâng cao phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Khi được trang bị đầy đủ tri thức và bản lĩnh, họ phát huy hết vai trò của mình đối với quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tổ chức thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, góp phần quyết định việc giữ vững, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Để đoàn viên thanh niên phát huy vai trò của mình trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vấn đề có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tổ chức đoàn, nhất là đội ngũ cán bộ đoàn là luôn đổi mới về nội dung, phương pháp, gắn hoạt động với các cuộc vận động lớn trên phạm vi cả nước, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả của phong trào đoàn, nâng cao chất lượng đoàn viên thanh niên
Ba là,thực hiện tốt hoạt động kết nghĩa với đoàn thanh niên địa phương, tích cực nâng cao hiệu quả giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Hoạt động
kết nghĩa với thanh niên địa phương là một việc làm rất quan trọng tạo nên sức mạnh to lớn góp phần quyết định làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc Thường xuyên tổ chức các hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc trao đổi giữa các ban chấp hành đoàn nhằm tìm hiểu tình hình, nhiệm vụ và những vấn đề mới nảy sinh ở địa phương, xây dựng kế hoạch phối hợp mặt công tác trong từng giai đoạn, bảo đảm kế hoạch thống nhất, nhịp nhàng và hiệu quả Đội ngũ cán bộ đoàn trong quá trình phối hợp tổ chức các hoạt động kết nghĩa phải làm sao cho mỗi người thanh niên nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của họ đối với việc phát triển mọi mặt của địa phương, phải ghi dấu
ấn thật sự rõ nét của thế hệ thanh niên thời kỳ hội nhập quốc tế, hoàn thành sứ mệnh và nhiệm vụ lịch sử được nêu trong Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X: Đoàn kết, sáng tạo, hội nhập và phát triển
Bốn là,xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đấu tranh phòng, chống và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực
văn hóa tư tưởng của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta Môi trường văn hóa có vai trò quan trọng to lớn, trực tiếp nuôi dưỡng, phát triển những giá trị của thanh niên chúng ta trong thời kỳ mới, nó góp phần nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tình cảm cách mạng, xây dựng nhân cách con người mới vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, vừa phát huy bản chất truyền thống, góp phần giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế Môi trường văn hóa phải được coi như là “phên dậu”, như “rào chắn” có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn và “miễn dịch” trước những tác động, ảnh hưởng, xâm nhập và phá hoại của các hiện tượng phản văn hóa của âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình
Những giá trị tinh hoa văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được xây dựng và ghi nhận bởi những chiến công hy sinh thầm lặng của biết bao thế hệ người dân Việt Nam Nó là kết tinh những gì là tinh túy nhất của dân tộc để rồi chính những giá trị đó lại lung linh tỏa sáng, soi sáng con đường chúng ta đi Không chỉ bây giờ mà mãi mãi về sau những giá trị tinh hoa văn hóa của dân tộc sẽ là hành trang, động lực để cho thanh niên Việt Nam chúng ta tiến vào kỷ nguyên mới tô thắm nên truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc
Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt trong đời sống xã hội của các quốc gia, dân tộc Xét
về lĩnh vực văn hoá, toàn cầu hoá không chỉ tạo ra cơ hội cho các quốc gia, dân tộc mở rộng sự giao lưu, hiểu biết và xích lại gần nhau,
mà còn đặt những giá trị văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc trước nhiều thách thức to lớn Để giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của Việt Nam, theo tác giả, cần: thứ nhất, tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng của dân tộc; thứ hai, đẩy mạnh việc giáo dục pháp luật; thứ ba, xác lập bản lĩnh văn hoá Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
Trang 6Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức, toàn cầu hoá đã trở thành xu thế khách quan, có tác động mạnh mẽ không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà còn ở các lĩnh vực chính trị, xã hội và văn hoá Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:
“Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”(1)
Thật vậy, trong bối cảnh quốc tế hiện thời, toàn cầu hoá không chỉ mang lại thời cơ lớn, mà còn tạo ra những thách thức không nhỏ đối với tất cả các quốc gia, đặc biệt là với các nước đang phát triển trong trào lưu hội nhập quốc tế Toàn cầu hoá đang đặt chúng ta trước những thách thức lớntrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực văn hoá Đảng và nhân dân Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng, đối với một nước đangphát triển như nước ta thì thách thức nhiều hơn là thời cơ, khó khăn nhiều hơn thuận lợi Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, văn hoá Việt Nam
có cơ hội hội nhập và giao lưu với các nền văn hoá khác của thế giới để làm giàu và khẳng định bản sắc của mình Song, hơn lúc nào hết, đây cũng là giai đoạn mà các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc phải đối diện với những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá Hội nhập quốc tế đang là một nhu cầu khách quan; nó đòi hỏi chúng ta phải mở cửa, giao lưu với cộng đồng thế giới để đón nhận và tiếp thu những giá trị mới, tiến bộ của nhân loại Tuy nhiên, một dân tộc nào đó sẽ không còn là chính mình nếu đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc Theo đó, hội nhập quốc
tế và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là những nhu cầu tất yếu, khách quan để một dân tộc có thể tồn tại và phát triển trong xu thế toàn cầu hoá Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là hai mặt thống nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy, đối với Việt Nam, việc nhận thức rõ vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc nói riêng và phát triển đất nước nói chung
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và tham gia hội nhập quốc tế đã tạo cho nền kinh tế Việt Nam có được bước phát triển đáng kể, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, có mặt được nâng cao và điều này đã có tác động tích cực đối với việc bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội Tuy nhiên, điều cần lưu ý là, toàn cầu hoá ngày nay đang chịu sự chi phối, trước hết là của sức mạnh kinh tế của các nước
tư bản phát triển, đặc biệt là Mỹ Xét từ phương diện văn hoá, toàn cầu hoá đang tác động mạnh mẽ tới những giá trị truyền thống tốt đẹp – cái
làm nên bản sắc văn hoá riêng của tất cả các dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam Sự tác động này là rất phức tạp, một mặt, nó tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc hình thành và phát triển những giá trị văn hoá mới; mặt khác, nó chứa đựng nguy cơ phá vỡ hoặc làm băng hoại những
giá trị văn hoá truyền thống đã được tích tụ và tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc
Thật vậy, những mặt trái, những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá đã và đang làm chao đảo nhiều giá trị tinh thần nói chung, nhân cách con người nói riêng Đặc biệt, một số giá trị đạo đức tốt đẹp, thiêng liêng… vốn có vị trí quan trọng trong hệ giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam đang có nguy cơ bị mai một và tha hoá Chẳng hạn, lối sống tình nghĩa, đậm chất nhân văn kiểu “thương người như thể thương thân”,
“một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”… vốn là một trong những giá trị đạo đức truyền thống của nền văn hóa làng xã Việt Nam đã từng tồn tại hàng ngàn năm nay đang bị mai một, mờ nhạt dần Ở không ít nơi, cả thành thị lẫn nông thôn, một bộ phận dân cư đã chịu ảnh hưởng của lối sống ích
kỷ, hẹp hòi, lấy lối sống theo kiểu “đèn nhà ai nấy rạng” thay cho lối sống rất “con người” trước đây Không phải ngẫu nhiên mà có ý kiến cho rằng, đạo đức ở một bộ phận nhân dân, đặc biệt là ở tầng lớp thanh, thiếu niên đang có xu hướng "trượt dốc" Đây thực sự là những tín hiệu “báo động đỏ” trong đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay
Một hệ quả khác mà toàn cầu hoá kinh tế mang lại là thị trường hàng hoá với số lượng lớn, chủng loại đa dạng và giá rẻ… Sự thâm nhập tràn lan các loại hàng hoá đa dạng đã tác động mạnh và làm thay đổi tâm lý, nhân cách và lối sống của không ít người trong xã hội Nó vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người, vừa kích thích tâm lý tiêu dùng trong mọi tầng lớp xã hội, tạo điều kiện để hình thành lối sống hưởng thụ, xã hội tiêu dùng Chính điều này đã làm cho một bộ phận không nhỏ trong nhân dân, nhất là tầng lớp thanh niên có tâm lý coi trọng các giá trị vật chất, xem nhẹ các giá trị tinh thần và dẫn đến sự hình thành lối sống hưởng thụ, thực dụng, xa hoa lãng phí, xa lạ với lối sống giản dị, tiết kiệm – những phẩm chất truyền thống quý báu của con người Việt Nam Cùng với sự xuất hiện của lối sống chạy theo những giá trị vật chất là sự nảy sinh tâm lý hướng ngoại, thích dùng hàng ngoại, coi thường các sản phẩm do chính chúng ta sản xuất, kể cả hàng hoá có chất lượng cao Điều này không chỉ kìm hãm sự phát triển của các ngành sản xuất trong nền kinh tế nước ta, mà còn tác động một cách tiêu cực đến tư duy và lối sống của nhân dân
Trong lĩnh vực văn hoá, toàn cầu hoá đang đặt ra những thách thức lớn đối với yêu cầu giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, một bộ phận không nhỏ trong nhân dân, đặc biệt là ở tầng lớp thanh, thiếu niên đã có những biểu hiện coi nhẹ hoặc không quan tâm đến các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, chạy theo lối sống, tâm lý, thị hiếu không lành mạnh, xa lạ với con người Việt Nam Điều nguy hiểm là "tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp Buôn lậu và tham nhũng phát triển Ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác gia tăng"(2) Sự xuống cấp nghiêm trọng về mặt đạođức, lối sống thực dụng lấy đồng tiền làm mục đích của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đang đe doạ, thậm chí làm xói mòn những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam Ma lực khủng khiếp của đồng tiền có nguy cơ làm méo mó quan hệ thân ái, tình nghĩa trước đây giữa con người với con người không chỉ ngoài xã hội, mà ngay cả trong gia đình Trong cuộc sống, không ít trường hợp vì sự cám dỗ của đồng tiền mà người ta sẵn sàng bán rẻ nhân phẩm, tiếp tay cho các tệ nạn Có nhiều kẻ dùng tiền để chạy chức, chạy quyền và… cả chạy án Vụ PMU 18 mới đây là ví dụ điển hình Đồng tiền đã làm không ít người trở nên hư hỏng, làm đảo lộn nhiều giá trị trong quan hệ gia đình vốn có nền nếp từ lâu đời Thật là xót xa khi phải chứng kiến cảnh vì vật chất, tiền bạc mà con cái hành hung cha mẹ, anh em từ bỏ nhau, vợchồng chia ly Chính sự rối loạn này trong quan hệ gia đình đã góp phần làm cho cái ác, cái bất lương có điều kiện phát triển Những thói hư tật xấu đó lây lan trong xã hội, hay như người ta thường nói: "bụi đời" bắt nguồn từ "bụi nhà"
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin trong bối cảnh toàn cầu hoá đã tạo ra những cơ hội, trở thành cầu nối cho các quốc gia, dân tộc mở rộng giao tiếp, sự hiểu biết và xích lại gần nhau hơn Chính nhờ cơ hội này mà nền văn hóa Việt Nam có điều kiện thuận lợi để giao lưu rộng rãi với nhiều nền văn hóa khác trên thế giới Thông qua đó, con người Việt Nam có điều kiện học tập, tiếp thu những giá trị, tinh hoa văn hoá của các dân tộc để làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc mình
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, trong quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế, những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc đang phải đối diện với nhiều thử thách Trong số những sản phẩm văn hóa bên ngoài được du nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau, nhiều sản phẩm có giá trị, phù hợp với văn hoá truyền thống của dân tộc, nhưng cũng có không ít sản phẩm chứa đựng nội dung độc hại, không phù hợp Trong một vài thập kỷ gần đây, những lối sống xa lạ, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc đã xuất hiện trong đời sống xã hội, từ thành phố cho đến những vùng nông thôn Một bộ phận đáng kể lớp trẻ ưa chuộng, thậm chí sùng bái phong cách văn hóa, văn nghệ phương Tây Họ không thích hoặc thờ ơ với các bản nhạc, bài ca cách mạng, không quan tâm đến các hình thức nghệ thuật, các dòng dân ca truyền thống; trái lại, tán dương
và cổ vũ cho những bài hát có nhịp điệu mạnh, như Rock, Ráp hoặc những bài hát có nội dung nhạt nhẽo Cùng với sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, hàng ngày, hàng giờ, trên các mạng thông tin toàn cầu liên tục truyền các hình ảnh, tin tức, ấn phẩm độc hại, không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc Chính điều này đã góp phần hình thành ở một bộ phận thanh, thiếu niên lối sống buông thả, bạo lực, tình
Trang 7dục, xa lạ, trái ngược với những giá trị nhân văn lâu đời của dân tộc, những giá trị đã tạo nên bản sắc văn hóa và đạo đức truyền thống của con người Việt Nam Thực tế cho thấy, tình trạng tội phạm hình sự ở Việt Nam trong thời gian vừa qua đã gia tăng đến mức nghiêm trọng cả về số lượng lẫn tính chất nguy hại so với trước đó Một số tội danh mới và rất nguy hiểm đã xuất hiện, như khủng bố cá nhân, tống tiền, bắt cóc trẻ em,buôn bán phụ nữ, buôn bán chất ma tuý, môi giới mại dâm Đặc biệt, số phụ nữ phạm tội và các vụ phạm tội do lứa tuổi vị thành niên thực hiện
có chiều hướng gia tăng
Từ thực trạng đã phân tích trên đây, có thể khẳng định rằng, xu thế toàn cầu hoá đang tác động đến những giá trị văn hoá truyền thống của dân
tộc Việt Nam cả theo hướng tích cực lẫn tiêu cực Một mặt, nó "góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học của xã hội công nghiệp, thể hiện ở
việc phổ biến các giá trị văn hóa công nghệ, văn hóa thông tin cùng các hoạt động và loại hình văn hóa mới phục vụ cho việc nâng cao đời sống
tinh thần của nhân dân"(3) và qua đó, góp phần làm giàu thêm, phong phú thêm các giá trị văn hoá Việt Nam truyền thống Mặt khác, nó cũng
đang đặt ra trước dân tộc ta những thách thức lớn trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống Về phương diện này, có thể nói, thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là làm thế nào để nền văn hóa dân tộc vừa có thể tiếp thu được các giá trị thời đại, tinh hoa văn hoá nhân loại, vừa có thể giữ được bản sắc dân tộc vốn có; tiếp tục phát triển trong sự giao lưu với cộng đồng thế giới mà không bị hoà tan, không bị nhấn chìm vào các nền văn hóa khác hoặc trở thành “cái bóng mờ” của dân tộc khác, nền văn hoá khác
Theo đó, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay là một yêu cầu tất yếu, một nhiệm
vụ nặng nề, cấp bách và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chúng ta Kinh nghiệm của nhiều nước, cũng như của chính chúng ta đã chỉ ra rằng, không thể đánh đổi bằng mọi giá để có được sự tăng trưởng về kinh tế, cũng không thể để cho bản sắc văn hóa dân tộc bị mai một Để tiếp tục phát triển và khẳng định mình trong quá trình toàn cầu hoá, ngoài nỗ lực tăng trưởng kinh tế, một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của chúng ta là phải xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đúng như Đảng ta đã khẳng định, "Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái; khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo"(4) Chính nhờ sức mạnh của những giá trị truyền thống đó mà dân tộc ta đã vượt qua biết bao thử thách khắc nghiệt, chiến thắng thiên tai, địch hoạ để tồn tại và phát triển được như ngày nay Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc trước hết là bảo vệ, kế thừa và phát triển những giá trị tinh thần cao đẹp đó
Từ những thực trạng và nguyên nhân đã được nêu trên, để giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, chúng tôi muốn nêu ra một số giải pháp nhằm góp phần xây dựng chiến lược giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống ở nước ta hiện nay Cụ thể là:
Thứ nhất, tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng của dân tộc cho các thế hệ trẻ.
Một thực tế không thể phủ nhận là sự phát triển rộng khắp của các phương tiện nghe, nhìn hiện đại như hiện nay và ở một mức độ nào đó, là sự không kiểm soát nổi nhiều nội dung mà các phương tiện đó chuyển tải, ít nhiều đã ảnh hưởng đến việc nhận thức các giá trị văn hoá truyền thốngcủa dân tộc và tuyên truyền lối sống phương Tây Không ít người đã bị những lợi ích vật chất cám dỗ, làm tha hoá, biến chất, chạy theo lối sống hưởng thụ, mà hầu như không quan tâm đến truyền thống văn hóa dân tộc, đến lối sống truyền thống của người Việt Nam Do vậy, cần phải tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống lịch sử nhằm vun đắp và phát huy niềm tự hào dân tộc cho nhân dân, đặc biệt là cholớp trẻ – những người chủ tương lai của đất nước, hướng họ đến với các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc - cội nguồn tạo nên bản sắc văn hóa, cốt cách và sức mạnh của con người Việt Nam
Thứ hai, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống phải luôn gắn liền với tăng cường giáo dục pháp luật.
Như chúng ta đều biết, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội Cùng với đạo đức, pháp luật xã hội chủ nghĩa hướng con người tới hệ giá trị chân - thiện – mỹ, trừng trị và ngăn chặn cái ác, cái xấu nhằm làm lành mạnh hoá xã hội Do vậy, cần phải giáo dục ý thức pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thanh niên, học sinh, sinh viên; giúp họ tránh được những hành vi phạm pháp và trở thành những công dân sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật
Thứ ba, xác lập bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
Trong xu thế toàn cầu hoá, hiện nay, chúng ta đang có những cơ hội, điều kiện thuận lợi để tiếp nhận các giá trị, tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm làm giàu thêm, phong phú thêm các giá trị văn hóa của dân tộc mình Nhưng, như đã nói ở trên, toàn cầu hoá không chỉ tạo ra những cơ hội, điềukiện thuận lợi, mà còn đặt ra vô vàn thách thức, khó khăn đối với mọi quốc gia, dân tộc Để tồn tại và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá, về phương diện văn hoá, chúng ta cần tiếp cận các giá trị văn hoá của nhân loại để hiện đại hoá nền văn hoá dân tộc, nhưng cũng cần phải giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống để không đánh mất bản thân mình; hơn nữa, phải biến các giá trị đó thành sức mạnh nội sinh nâng đất nước ta lên tầm cao mới Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc Chính vì vậy, chúng ta cần phải xác lập được bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay để làm giàu thêm, phong phú thêm nội dung các giá trị truyền thống nhằm tạo nên nền tảng văn hoá tinh thần cho sự phát triển bền vững của đất nước
Trên đây là một số giải pháp mang tính định hướng nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá Việt Nam truyền thống Việc thực hiện các giải pháp này chỉ mang lại hiệu quả khi có sự phối hợp và triển khai chúng một cách đồng bộ trên phạm vi toàn xã hội
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhiệm vụ giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống đã từng được đặt ra và sau mỗi giai đoạn thử thách đó, chúng ta lại có được những bài học kinh nghiệm quý báu Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước xu thế toàn cầu hoá như một cơ hội để phát huy các giá trị truyền thống, đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Với truyền thống vẻ vang của dân tộc, với đường lối, chính sách phát triển đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta có cơ sở để tin tưởng vào bản lĩnh
và thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hoá hiện nay
Nhìn nhận những hạn chế
Quá trình hội nhập quốc tế đã có những tác động nhất định, làm thay đổi phương thức tư duy, lối sống của sinh viên theo hướng hiện đại và tích cực, chủ động hơn Sinh viên nước ta biết thêm nhiều hơn về phong tục, tập quán, văn hóa và con người của các quốc gia trên thế giới Có điều kiện khám phá thế giới, tiếp thu và làm chủ các tiến bộ khoa học -kỹ thuật hiện đại, tri thức mới
Bên cạnh đó, cũng có những hạn chế cần được nhìn nhận và điều chỉnh kịp thời, như: Một bộ phận sinh viên xa rời truyền thống, lịch sử, văn hóacủa dân tộc Không ít người có thái độ ứng xử, biểu hiện tình cảm thái quá trong các hoạt động giải trí, văn hóa, nghệ thuật; lãng quên, thờ ơ đối với dòng nhạc dân ca, dòng nhạc cách mạng, truyền thống Bên cạnh đó, chúng ta thấy một hiện tượng đáng báo động của giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng trong việc hội nhập, tiếp thu văn hóa thế giới, du nhập những hoạt động văn hóa tiêu cực, không phù hợp thuần phong, mỹ tục
Trang 8của dân tộc Không ít sinh viên đang ngày đêm cuốn vào các trò chơi điện tử, online mang nặng tính bạo lực, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, thời gian học tập Có những người say mê với các ấn phẩm, văn hóa phẩm không lành mạnh, độc hại, dẫn đến những hành động suy đồi đạo đức, vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, những biểu hiện sai lệch của những người mà giới trẻ coi là thần tượng như ca sĩ, diễn viên điện ảnh
cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lối sống của một số sinh viên hiện nay Ngoài ra, ngôn ngữ dùng trong những cuộc trò chuyện trên các trang mạng xã hội hay tin nhắn cũng bị một bộ phận học sinh, sinh viên "biến tấu" với những từ ngữ khó hiểu, thậm chí dung tục và sử dụng một cách tràn lan, khó chấp nhận, không còn giữ được sự trong sáng của tiếng Việt
Thậm chí, có những từ ngữ bị dùng sai bản chất với ngụ ý không lành mạnh
Những thực trạng nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân chủ quan Trước hết, cần phải khẳng định, bản thân mỗi học sinh, sinh viên chưa thật sự xây dựng cho mình ý thức tự rèn luyện, nâng cao trình độ, học hỏi kỹ năng
Bản lĩnh, ý thức tìm hiểu còn hạn chế của sinh viên trước những loại hình hoạt động văn hóa, nghệ thuật khác nhau cũng là một trong những nguyên nhân đáng chú ý dẫn đến những hạn chế, yếu kém của một bộ phận bạn trẻ trong việc tham gia gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc Trong thực tế cuộc sống, một số hoạt động văn hóa, nghệ thuật không còn phù hợp với sở thích của tuổi trẻ, cho nên giới trẻ và sinh viên phải tìm đến với những loại hình nghệ thuật du nhập từ nước ngoài Tuy nhiên, các loại hình này lại chưa được chọn lọc trước khi tràn lan trong xã hội Công tác quản lý của các ban, ngành chức năng chưa thật sự có hiệu quả trong việc khắc phục thực trạng này
Quyết tâm gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa
Trước những thách thức và khó khăn mà đất nước đang phải đối mặt, sinh viên phải tự đặt ra cho bản thân mình câu hỏi: Là những trí thức tươnglai của đất nước, mình đã, đang và sẽ làm gì để góp phần đưa đất nước phát triển, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc?
Để trả lời được câu hỏi nêu trên, mỗi sinh viên phải tự mình phấn đấu, rèn luyện, tự trau dồi cho bản thân những kỹ năng cần thiết, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nỗ lực rèn luyện vì lợi ích chung của cộng đồng và vì chính sự phát triển của cá nhân Quan trọng hơn,các bạn trẻ cần xây dựng bản lĩnh văn hóa, sẵn sàng đấu tranh với những hoạt động, sản phẩm văn hóa không lành mạnh
Với trách nhiệm của mình, Hội Sinh viên Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, tác phong sống trong sinh viên và coiđây là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, cần thường xuyên thực hiện tốt Đẩy mạnh tổ chức các cuộc thi tìm hiểu liên quan lịch sử hào hùng, truyềnthống văn hóa của đất nước, của quê hương Hơn nữa, phải chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong tổ chức các hoạt động định hướng cho sinh viêntiếp thu những mặt tích cực, tiên tiến của văn hóa hiện đại; đồng thời khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Kiên quyết đấu tranh đối với những biểu hiện vô cảm; khơi dậy tinh thần tương thân, tương ái trong tuổi trẻ
Hội Sinh viên Việt Nam các cấp cần trở thành mái nhà chung ấm áp để sinh viên đóng góp, cống hiến trong các phong trào Hội
Hội Sinh viên cần tạo nhiều hơn nữa các sân chơi lành mạnh để đáp ứng nhu cầu học tập, vui chơi và giải trí của hội viên, sinh viên Khuyến khích và tạo mọi điều kiện để sinh viên đăng ký và tham gia nghiên cứu, thực hiện các đề tài khoa học, trong đó chú trọng các đề tài liên quan bảo vệ, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Những hội viên và quan trọng hơn là những cán bộ nòng cốt của Hội phải là những người tiên phong đi đầu, làm gương trong công tác này, chủ động xây dựng tác phong, lối sống đẹp, sống có ích và động viên, khuyến khích các bạn trẻ hưởng ứng Được như vậy, vai trò của Hội Sinh viên trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc sẽ nhanh chóng được khẳng định
Báo cáo của BCH T.Ư Hội Sinh viên Việt Nam khóa VIII tại Đại hội Sinh viên toàn quốc lần thứ IX:
Công tác nắm bắt tình hình sinh viên có nơi, có lúc chưa kịp thời Nội dung, phương thức và hiệu quả giáo dục của tổ chức hội đối với sinh viên trước những hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội và những tác động tiêu cực xã hội khác thể hiện chưa rõ nét Cuộc vận động "Sinh viên 5 tốt" ở một số đơn vị triển khai chưa tích cực, công tác truyền thông chưa sâu rộng, nhiều đơn vị lúng túng trong thực hiện các giải pháp tạo động lực cho "sinh viên 5 tốt"
Bùi Văn Thanh, sinh viên Khoa Tài chính Ngân hàng, Trường đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội):
Hằng năm, Đoàn trường cùng các đơn vị chức năng vẫn tổ chức các cuộc thi, các chương trình giao lưu âm nhạc, trong đó, những tiết mục liên quan văn hóa dân tộc luôn là lựa chọn và ưu tiên hàng đầu Trong những năm học trước, Đoàn trường đã có kế hoạch tổ chức Chương trình văn hóa, văn nghệ các dân tộc, tuy nhiên đến nay vẫn chưa liên hệ được các cơ quan, tổ chức có kinh nghiệm, chuyên môn hỗ trợ và đặc biệt là gặp khó khăn về kinh phí tổ chức Hiện nay, các hoạt động văn hóa, văn nghệ luôn được các bạn sinh viên hưởng ứng nhiệt tình, và mong muốn có thêm nhiều chương trình nữa được tổ chức
Câu 1 Vì sao nói chức năng bao trùm nhất của văn hóa là chức năng giáo dục? Hãy giải thích và lấy ví dụ minh họa (5 điểm)
Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo dục Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng của văn hóa Nhưng văn hóa thực hiện chức năng
giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình
thành nhân cách ở con người, trồng người (dưỡng dục nhân cách) Một đứa trẻ sau khi ra đời nếu được sống với cha mẹ, nó sẽ được giáo dục
theo truyền thống văn hóa nơi nó sinh ra, còn nếu bị rơi vào rừng, nó sẽ mang tính cách của loài thú Không phải ngẫu nhiên mà trong các ngôn ngữ phương Tây, từ “văn hóa” (culture, cultura) đều có chứa một nghĩa chung là chăm sóc, giáo dục…
Dễ dàng nhận thấy chức năng bao trùm của văn hóa là chức năng giáo dục, nghĩa là định hướng xã hội, định hướng lý tưởng, đạo đức và hành vi con người vào điều hay lẽ phải, theo đúng chuẩn mực xã hội
– Nó bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp, loại bỏ những sai lầm và thấp hèn tồn tại trong tư tưởng, tình cảm mỗi người
Trang 9– Nâng cao dân trí Đó là nâng cao trình độ hiểu biết, trình độ kiến thức nhân dân, bao gồm nhiều lĩnh vực: chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật, …
– Bồi dưỡng những phẩm chất lành mạnh, luôn luôn hướng con người tới chân thiện mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mình Văn hóa giúp con người biết được tốt xấu, thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Ví Dụ :
Tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1998) do Trần Quốc Vượng chủ biên cho rằng chức năng giáo dục là chức năng bao trùm nhất của văn hóa Chúng ta thấy văn học là một thành viên quan trọng trong gia đình văn hóa đứng ra làm nhiệm vụ đấy Ở phương Tây, văn hóa là “Culture”,
có nghĩa gốc là vun trồng, chăm sóc, giáo dục Văn học phải góp phần làm cho cái phần “con” (tự nhiên) chuyển hóa nhiều hơn sang phần
“người” (văn hóa) Còn ở phương Đông, thuật ngữ văn hóa xuất phát từ “Văn trị giáo hóa”, tức là dùng văn chương, văn tự để giáo hóa con người thì gọi là văn hóa Văn học tỏ ra có ưu thế khi thực hiện chức năng này Nó không rao giảng những bài học bằng lý thuyết suông như tôn giáo, đạo đức; không trừu tượng như triết học; không khô cứng như khoa học; cũng không ép buộc như pháp quyền… Văn học thông qua những câu chuyện ly kỳ hấp dẫn, những câu thơ ngọt ngào tha thiết, nó thấm vào lòng người những triết lý sống đẹp Nói như Arixtốt, đó là người đọc
tự “thanh lọc” tâm hồn để sống tốt hơn Bởi thế ngày xưa, Khổng Tử bỏ công sưu tập Kinh thi với mục đích chính là dùng những lời ca để giáo dục tính nhân văn cho con người Đạo làm người trong “Lục Vân Tiên” đã có ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ một thời
(tham khảo thêm giáo trình trang 102 từ đoạn 3 trở xuống)
Lê Quang Tự Do, Phó trưởng Ban Tuyên giáo, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh:
Vai trò dẫn dắt, định hướng cho thanh niên của tổ chức đoàn còn chậm; việc khảo sát, đánh giá tình hình thanh niên nói chung, các nhu cầu hưởng thụ văn hóa, thị hiếu thẩm mỹ nói riêng chưa thường xuyên Công tác nghiên cứu đúc kết những vấn đề mới tác động đến đời sống văn hóa, lối sống của thanh niên chưa kịp thời Nắm bắt, định hướng tình hình tư tưởng thanh niên có lúc, có nơi thiếu kịp thời, đặc biệt qua in-tơ-nétchưa nhạy bén Các ấn phẩm, tài liệu phục vụ tuyên truyền về văn hóa dân tộc còn thiếu, chưa sinh động, chưa hấp dẫn thanh, thiếu nhi Vì vậy, phương thức hoạt động của Đoàn phải ngày càng được đổi mới, phù hợp sự vận động của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế
Chúng ta thường nói tới thuật ngữ bản sắc văn hóa và mong muốn giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam Thế nào là bản sắc văn hóa vẫn là vấn đề
trừu tượng với nhiều người; còn làm thế nào để giữ gìn bản sắc văn hóa là một vấn đề không dễ dàng khi hội nhập kinh tế trên thế giới ngày càngsâu rộng Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm văn hóa riêng thể hiện qua lối sống, cách ứng xử và các hành vi giao tiếp khác Người phương Tây khi giao tiếp thường bắt tay biểu hiện bàn tay không có vũ khí Người phương Đông lại cúi đầu chào, gọi người khác là đại nhân (người lớn), tiên sinh (người sinh ra trước, hiểu biết nhiều như là người anh) Cái đó thuộc về bản sắc văn hóa vì nó chỉ có thể tìm thấy ở nơi này mà không thể tìm thấy ở nơi khác, nghĩa là cái đặc trưng của một cộng đồng người, của một tộc người biểu hiện ra ở từng cử chỉ, hoạt động sinh tồn của cá thể cũng như của cả cộng đồng
Bản sắc văn hóa là thiêng liêng, quý giá, nó tạo nên cái đặc thù của một dân tộc Nó được hình thành trong lịch sử lâu dài của một dân tộc, được đúc kết từ kinh nghiệm sống, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó máu thịt với con người Nó tồn tại tự nhiên không thể ép buộc nhưng đòi hỏi phải biết giữ gìn, bảo lưu Nó có thể được biểu hiện ra bề ngoài nhưng cũng có thể ẩn sâu trong tâm hồn con người
Như trên đã nói, bản sắc văn hóa là một vấn đề trừu tượng Hiểu và giải thích nó cũng không phải là vấn đề đơn giản Nước ta chịu sự ảnh hưởng và du nhập của hai nền văn hóa Đông và Tây Thời phong kiến, chủ yếu là văn hóa phương Đông mà cụ thể là văn hóa Trung Quốc và Ấn
Độ Việc hai nền văn hóa ấy được truyền vào Việt Nam có những nguyên nhân khác nhau nhưng chỉ những cái gì “hợp thổ nghi” mới tồn tại và phát triển, nghĩa là nó được người Việt Nam vận dụng một cách linh hoạt
Người Việt Nam có những biểu hiện bản sắc văn hóa trong giao tiếp, ứng xử; đặc biệt là những nét văn hóa truyền thống rất nhân văn, nhân ái
đã được tổng kết thành ngạn ngữ, thành ngữ, lời ca như: “Lá lành đùm lá rách”, “Chị ngã em nâng”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Bán anh em xa mua láng giềng gần”,“Tôn sư trọng đạo”, “Kính già yêu trẻ”, “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”,“Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Những nét bản sắc văn hóa ấy đã góp phần to lớn làm nên sức mạnh vô địch của cộng đồng 54 dân tộc anh
em trên đất nước Việt Nam là thành trì vững bền trong lịch sử dựng nước và giữ nước
Bản sắc văn hóa một phần được thể hiện qua các di sản văn hóa Đó là những sản phẩm văn hóa (có thể là thiên tạo cũng có thể là nhân tạo, làvật thể hoặc phi vật thể) Dù là thiên tạo nhưng nó phải được con người cảm xúc, rung động, thưởng thức và đặt tên theo cách hiểu của văn hóa Việt Nam Nhiều nơi trên thế giới có thể cũng có vật thể giống như núi Vọng phu, như hòn Trống mái nhưng nó không có tên gọi như vậy Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nói về điều ấy rất tinh tế và thực tế:
Những người vợ nhớ chồng nên có núi Vọng phu,
Vợ chồng yêu nhau nên có hòn Trống mái
Những học trò nghèo nên có núi Bút non Nghiên.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam, thắng cảnh, di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di sản văn hóa phi vật thể gồm những sản phẩm tinh thần như chữ viết, văn học, nghệ thuật dân gian với nhiều loại hình, lễ tiết, luật tục, các
tri thức về khoa học đời sống, khoa học quân sự, về kinh nghiệm trong đời sống
Sau một thời gian văn hóa phi vật thể có thể trở thành văn hóa vật thể như văn khắc trên bia đá, sắc phong của vua, chúa ngày xưa
Nhiều yếu tố khác của văn hóa như phong tục, trang phục, nghệ thuật tạo hình, văn hóa ẩm thực cũng phản ánh bản sắc văn hóa
Bảo vệ và phát huy văn hóa trong thời kì hội nhập:
Trang 10Thế giới ngày càng vận động đến xu hướng hội nhập Ảnh hưởng và giao lưu văn hóa ngày càng mạnh mẽ Ngày nay chúng ta không thể không tiếp nhận văn hóa thế giới bởi lẽ nếu không tiếp nhận văn hóa thế giới thì tình trạng lạc hậu, chậm phát triển càng thêm trầm trọng và nặng
nề Điện thoại di động, máy vi tính, ti vi cũng như rất nhiều những sản phẩm điện tử, công nghệ sinh học, hóa học, lý học đang tràn ngập thế giới
và trở thành những điều không thể thiếu trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Việt Nam Bên cạnh mặt tốt bởi ích lợi của nó cũng biểu hiện rất nhiều lo ngại về ảnh hưởng mặt trái của nó Một số biểu hiện cần phải được quan tâm suy ngẫm để làm sao những giá trị văn hóa truyền thống mang bản sắc văn hóa Việt Nam được lưu giữ, bảo tồn và phát huy trong đời sống của con người Việt Nam:
Nghệ thuật văn hóa Việt Nam truyền thống với nhiều thể loại, loại hình hiện đang bị mai một Sở dĩ những thể loại, loại hình đó tồn tại lâu đời và có sức hấp dẫn mạnh mẽ vì nó là văn hóa được xây dựng trên nền tảng của nền nông nghiệp lúa nước Ngày nay khi công nghiệp tác động mạnh mẽ vào đời sống thì các thể loại đó không còn khả năng hấp dẫn, cuốn hút mạnh mẽ Thanh niên ngày nay và cả tầng lớp trung lưu không thích xem tuồng, chèo, hát ca trù vì tạm gọi là diễn tiến nghệ thuật lúc nghệ sĩ biểu diễn thường diễn ra chậm trong khi diễn tiến của cuộc sống
đã có nhiều ảnh hường của nền kinh tế công nghiệp hiện đại Đảng, Nhà nước, Bộ Văn hóa và những nghệ sĩ, những nhà nghiên cứu tâm huyết với các loại hình văn hóa truyền thống đang hết sức quan tâm, bảo lưu, giữ gìn và cố gắng phát triển nhưng cần phải được sự quan tâm của đông đảo các ngành, các cấp và nhân dân thì mong muốn ấy mới có thể thực hiện được
Chiếc áo dài tân thời – sản phẩm văn hóa mặc kết hợp cả văn hóa mặc Đông – Tây đã và đang là vẻ đẹp văn hóa mặc mang bản sắc Việt Nam cũng cần phải được nhận thức và giữ gìn Do điều kiện sinh hoạt vật chất ngày nay tốt hơn nên nhiều phụ nữ không được mảnh mai và vì vậy không thích mặc áo dài ngay cả những ngày lễ, tết Trong khi đó trên thế giới, người ta đánh giá rất cao chiếc áo dài tân thời của chúng ta Nhà văn hóa Liên Xô, Roman Cacmen đã khi đến thăm trường nữ trung học Trưng Vương Hà Nội đã kinh ngạc mà reo lên: “đúng là tiên” khi ông nhìn thấy các nữ sinh mặc áo dài
Một số các nhạc cụ rất độc đáo của người Việt Nam đang ít được chú ý bảo tồn và phát huy Đàn đá Tây Nguyên, đã một thời tạo được ấn tượng sâu đậm cho thính khán giả trong và ngoài nước, hiện nay chỉ có ít người biết sử dụng Các nhạc cụ độc đáo của đồng bào các dân tộc
miền núi cũng có nguy cơ mai một trong bối cảnh nhạc hiện đại tràn lan trong đời sống âm nhạc ngày nay Đô thị hóa nông thôn là một sự tiến
bộ nhưng cũng kéo theo nhiều yếu tố làm mai một những giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam Mối quan hệ làng xã truyền thống với tình làng nghĩa xóm cũng không còn mặn nồng như trước.
Giữ gìn bản sắc văn hóa không có nghĩa là loại bỏ các yếu tố văn hóa ngoại lai “Bảo tồn bản sắc văn hóa” khác với “bảo vệ bản sắc văn hóa”
“Bảo tồn bản sắc văn hóa” là giữ để cho không mất đi, còn “bảo vệ bản sắc văn hóa” là giữ không để cho xâm phạm “Bảo tồn” không có nghĩa
là chỉ giữ lấy mà còn phải làm cho nó phát triển lớn mạnh hơn, giàu có hơn và vẫn được bổ sung các yếu tố mới Trong việc bảo tồn và phát triểncũng đòi hỏi phải biết lựa chọn, sàng lọc Các yếu tố văn hóa bản địa trước đây đã từng dung hợp với các yếu tố văn hóa ngoại nhập nhưng vẫn tạo ra những nét văn hóa bản sắc Vấn đề là phải dung hợp như thế nào và điều đó phải trở thành nhận thức, ý thức thường trực trong tiếp nhận
và sử dụng Thực tế cho thấy nhiều người có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam rất quan ngại khi các yếu tố văn hóa ngoại nhập đã làm xâm phạm và làm lu mờ những giá trị văn hóa truyền thống Gần đây trang phục và diễn xuất của nhiều ca sĩ, diễn viên trên sân khấu đã tạo ra sựphản cảm, trở thành một vấn đề nhức nhối khiến cho một bộ phận không nhỏ khán giả quay lưng với nghệ thuật sân khấu Người Việt Nam thừa nhận và tiếp nhận cái tinh túy, đẹp đẽ của vũ Ba lê, của nhạc Rock, của kịch nói, của nghệ thuật điện ảnh nhưng không chấp nhận phim ảnh khiêudâm cùng những trò chơi bạo lực trên máy tính
Bảo tồn cũng phải có sự lựa chọn để bảo tồn, sử dụng những yếu tố văn hóa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Lễ hội là văn hóa truyềnthống nhưng tình trạng ngày nay tổ chức quá nhiều lễ hội vừa tốn kém, vất vả và nguy cơ bị mê tín dị đoan hóa đấy là chưa kể có những hiện tượng lợi dụng lễ hội cầu lợi và làm lợi cho cá nhân
Áo dài tân thời rất đẹp và gợi cảm một cách lành mạnh nhưng không phải lúc nào phụ nữ cũng nên dùng áo dài nhất là những ngày trời rét vừa không đảm bảo sức khỏe vừa tạo sự ức chế cho người mặc Để đỡ lạnh có lúc phụ nữ phải mặc thêm áo khoác ngoài thành ra áo dài thành vôdụng và có cảm giác người đó ăn mặc luộm thuộm Giữ gìn bản sắc văn hóa còn đồng nghĩa với giữ gìn môi trường tự nhiên Trước đây khi nói tới Tây Bắc là người ta nghĩ tới xứ sở của hoa ban cũng như nói tới Tây Nguyên người ta nghĩ ngay tới mảnh đất của cồng chiêng Bây giờ hoa ban Tây Bắc ngày một ít Tiếng cồng chiêng của Tây Nguyên ngày nay không còn được như ngày xưa nữa Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã khẳng định điều đó mà theo họ thì Tây nguyên hùng vĩ với đại ngàn xưa đã không còn nữa Tây Nguyên hoang sơ là cái nền tự nhiên của cồng chiêng đã thay bằng Tây Nguyên của cây công nghiệp Tiếng cồng, chiêng chỉ âm vang khi nó được dóng lên trên tự nhiên hùng vĩ ấy Nay thiên nhiên không còn thì âm vang cồng chiêng cũng hết Đồng bằng Bắc Bộ, cái nôi của văn hóa Việt Nam từ xa xưa là mảnh đất sinh ra tiếng sáo trúc véo von, tiếng sáo diều réo rắt nay là nơi pha tạp đủ loại âm thanh: tiếng xe, tiếng nhạc, tiếng máy nổ…nên nét văn hóa làng quê cũng mai một dần
Giữ gìn bản sắc văn hóa là một yêu cầu vừa lâu dài vừa cấp thiết Có lẽ trước hết mỗi cá nhân phải nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc văn hóa theo đúng cách nghĩ: mọi cái sẽ đi qua, cái còn lại của mỗi dân tộc là văn hóa Xã hội và nhà trường phải tăng cường giáo dục để mọi công dân hiểu được những giá tri, những biểu hiện truyền thống văn hóa … Nhiều hiện tượng gần đây càng làm mai một bản sắcvăn hóa như việc trùng tu Chùa trăm gian ở xã Tiên Phương huyện Chương Mỹ Người ta gọi đây là sự “xây mới” ngôi chùa chứ không phải trùng tu Những gì là rường cột của chùa với vật liệu bằng gỗ lim xưa đã tự nhiên bị biến thành phế thải vất lăn lóc dưới chân đồi, thay vào đấy là
bê tông, gỗ lim Lào và đá Thanh Hóa
Cần phải có kế hoạch và giải pháp đồng bộ về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam Đây là công việc không phải của một ngành màphải là của toàn xã hội Phải có phương châm giáo dục về văn hóa một cách quy củ, hệ thống Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm đã viết:
“Một môn học về văn hóa dân tộc với mấy chục tiết trong nhà trường chỉ là những hạt mưa, trong khi thông tin ngoài xã hội hàng ngày là những cơn lũ: Thử điểm xem trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày có bao nhiêu phim, bài có nội dung giáo dục về văn hóa dân tộc và có bao nhiêu phim, bài giới thiệu về các loại mốt, về đời tư các người mẫu, siêu sao, về các vụ án đầy tình tiết giật gân và bạo lực? Các báo đài nên
mở (nếu đã mở rồi thì tăng cường) các chuyên mục tìm hiểu về văn hóa dân tộc, qua đó thanh niên sẽ biết được nguồn gốc, ý nghĩa, lí do tồn tại, phạm vi sử dụng…của các phong tục, sản phẩm văn hóa Biết được ý nghĩa sâu xa của tục thờ cúng tổ tiên, thanh niên sẽ không phũ phàng tới mức “nại cớ bận công tác, đợi gần giờ ăn mới đưa vợ đến thắp vội nén nhang, ngồi ăn dứt điểm cho lẹ rồi lại “bận công tác để chuồn cho nhanh”
(Báo Tuổi trẻ, ngày 2-11-1995) Hiểu được chỗ hay và biết cách thưởng thức, thanh niên sẽ bớt thờ ơ với các loại hình sân khấu truyền thống của
Việt Nam mà thế giới đang hết lời ca ngợi như chèo, tuồng, múa rối nước, cải lương… Biết được lí do tồn tại và phạm vi sử dụng của một nhiện tượng văn hóa nước ngoài, thanh niên sẽ không học đòi chạy theo đến mức mù quáng Hiểu được về văn hóa sẽ hạn chế được hàng loạt sai sót đáng tiếc xảy ra khá thường xuyên trong cuộc sống và trên các báo đài!”
Nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.Các nhà sử học thống nhất ý kiến ở một điểm: Việt Nam có một cộng đồng văn hóa khá rộng lớn được hình thành vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên và phát triển rực rỡ vào giữa thiên niên kỉ này Đó là cộng đồng văn hóa Đông Sơn.
Trang 11Cộng đồng văn hóa ấy phát triển cao so với các nền văn hóa khác đương thời trong khu vực, có những nét độc đáo riêng nhưng vẫn mang nhiều điểm đặc trưng của văn hóa vùng Đông Nam Á, vì có chung chủng gốc Nam Á (Mongoloid phương Nam) và nền văn minh lúa nước
Những con đường phát triển khác nhau của văn hóa bản địa tại các khu vực khác nhau (lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả ) đã hội tụ với nhau, hợp thành văn hóa Đông Sơn Đây cũng là thời kỳ ra đời nhà nước "phôi thai" đầu tiên của Việt Nam dưới hình thức cộng đồng liên làng
và siêu làng (để chống giặc và đắp giữ đê trồng lúa), từ đó các bộ lạc nguyên thuỷ phát triển thành dân tộc
Giai đoạn văn hóa Văn Lang-Âu Lạc (gần năm 3000 đến cuối thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên) vào thời đại đồ đồng sơ khai, trải 18 đời vua Hùng, được coi là đỉnh cao nhất của lịch sử văn hóa Việt Nam, với sáng tạo tiêu biểu là trống đồng Đông Sơn và kỹ thuật trồng lúa nước ổn định.Sau giai đoạn chống Bắc thuộc có đặc trưng chủ yếu là song song tồn tại hai xu hướng Hán hóa và chống Hán hóa, giai đoạn Đại Việt (từ thế kỉ
10 đến 15) là đỉnh cao thứ hai của văn hóa Việt Nam Qua các triều đại nhà nước phong kiến độc lập, nhất là với hai cột mốc các triều Lý-Trần
và Lê, văn hóa Việt Nam được gây dựng lại toàn diện và thăng hoa nhanh chóng có sự tiếp thu ảnh hưởng to lớn của Phật giáo và Nho giáo.Sau thời kì hỗn độn Lê-Mạc và Trịnh-Nguyễn chia cắt đất nước, rồi từ tiền đề Tây Sơn thống nhất đất nước và lãnh thổ, nhà Nguyễn tìm cách phục hưng văn hóa dựa vào Nho giáo, nhưng lúc ấy Nho giáo đã suy tàn và văn hóa phương Tây bắt đầu xâm nhập nước ta Kéo dài cho tới khi kết thúc chế độ Pháp thuộc là sự xen cài về văn hóa giữa hai xu hướng Âu hóa và chống Âu hóa, là sự đấu tranh giữa văn hóa yêu nước với văn hóa thực dân
Giai đoạn văn hóa Việt Nam hiện đại được hình thành kể từ những năm 20-30 của thế kỷ này, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩaMác-Lênin Với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền văn minh thế giới hiện đại, đồng thời giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc, văn hóa Việt Nam hứa hẹn một đỉnh cao lịch sử mới
Có thể nói xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam, đã có ba lớp văn hóa chồng lên nhau là lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Quốc và khu vực, lớp văn hóa giao lưu với phương Tây Nhưng đặc điểm chính của Việt Nam là nhờ gốc văn hóa bản địa vững chắc nên đã không bị ảnh hưởng văn hóa ngoại lai đồng hóa, trái lại còn biết sử dụng và Việt hóa các ảnh hưởng đó làm giầu cho nền văn hóa dân tộc.Văn hóa dân tộc Việt Nam nảy sinh từ một môi trường sống cụ thể: xứ nóng, nhiều sông nước, nơi gặp gỡ của nhiều nền văn minh lớn Điều kiện
tự nhiên (nhiệt, ẩm, gió mùa, sông nước, nông nghiệp trồng lúa nước ) đã tác động không nhỏ đến đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc, đến tính cách, tâm lý con người Việt Nam
Tuy nhiên, điều kiện xã hội và lịch sử lại là những yếu tố chi phối rất lớn đến văn hóa và tâm lý dân tộc Cho nên cùng là cư dân vùng trồng lúa nước, vẫn có những điểm khác biệt về văn hóa giữa Việt Nam với Thái Lan, Lào, Indonesia, Ấn Độ Cùng cội nguồn văn hóa Đông Nam Á, nhưng do sự thống trị lâu dài của nhà Hán, cùng với việc áp đặt văn hóa Hán, nền văn hóa Việt Nam đã biến đổi theo hướng mang thêm các đặc điểm văn hóa Đông Á
Dân tộc Việt Nam hình thành sớm và luôn luôn phải thực hiện các cuộc chiến tranh giữ nước, từ đó tạo nên một đặc trưng văn hóa nổi bật: tư tưởng yêu nước thấm sâu và bao trùm mọi lĩnh vực Các yếu tố cộng đồng có nguồn gốc nguyên thuỷ đã sớm được cố kết lại, trở thành cơ sở phát triển chủ nghĩa yêu nước và ý thức dân tộc
Chiến tranh liên miên, đó cũng là lý do chủ yếu khiến cho lịch sử phát triển xã hội Việt Nam có tính bất thường, tất cả các kết cấu kinh tế - xã hộithường bị chiến tranh làm gián đoạn, khó đạt đến điểm đỉnh của sự phát triển chín muồi Cũng vì chiến tranh phá hoại, Việt Nam ít có được những công trình văn hóa-nghệ thuật đồ sộ, hoặc nếu có cũng không bảo tồn được nguyên vẹn
Việt Nam gồm 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộc một sắc thái riêng, cho nên văn hóa Việt Nam là một sự thống nhất trong
đa dạng Ngoài văn hóa Việt-Mường mang tính tiêu biểu, còn có các nhóm văn hóa đặc sắc khác như Tà-Nùng, Thái, Chàm, Hoa-Ngái, Khmer, H’Mông-Dao, nhất là văn hóa các dân tộc Tây Nguyên giữ được những truyền thống khá phong phú và toàn diện cuả một xã hội thuần nông nghiệp gắn bó với rừng núi tự nhiên
Môn-Khái quát về các lĩnh vực văn hóa chủ yếu:
Triết học và tư tưởng
Lúc đầu chỉ là những yếu tố tự nhiên nguyên thuỷ thô sơ về duy vật và biện chứng, tư tưởng người Việt trộn lẫn với tín ngưỡng Tuy nhiên, xuất phát từ gốc văn hóa nông nghiệp, khác với gốc văn hóa du mục ở chỗ trọng tĩnh hơn động, lại có liên quan nhiều với các hiện tượng tự nhiên, tư tưởng triết học Việt Nam đặc biệt chú tâm đến các mối quan hệ mà sản phẩm điển hình là thuyết âm dương ngũ hành (không hoàn toàn giống Trung Quốc) và biểu hiện cụ thể rõ nhất là lối sống quân bình hướng tới sự hài hoà
Sau đó, chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo được dung hợp và Việt hóa đã góp phần vào sự phát triển của xã hội
và văn hóa Việt Nam Đặc biệt các nhà Thiền học đời Trần đã suy nghĩ và kiến giải hầu hết các vấn đề triết học mà Phật giáo đặt ra (Tâm-Phật, Không-Có, Sống-Chết ) một cách độc đáo, riêng biệt
Tuy Nho học về sau thịnh vượng, nhiều danh nho Việt Nam cũng không nghiên cứu Khổng-Mạnh một cách câu nệ, mù quáng mà họ tiếp nhận cảtinh thần Phật giáo, Lão-Trang nên tư tưởng họ có phần thanh thóat, phóng khoáng, gần gũi nhân dân và hòa với thiên nhiên hơn
Ở các triều đại chuyên chế quan liêu, tư tưởng phong kiến nặng nề đè nén nông dân và trói buộc phụ nữ, nhưng nếp dân chủ làng mạc, tính cộng đồng nguyên thuỷ vẫn tồn tại trên cơ sở kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc
Cắm rễ sâu trong xã hội nông nghiệp Việt Nam là tư tưởng nông dân có nhiều nét tích cực và tiêu biểu cho con người Việt Nam truyền thống Họ
là nòng cốt chống ngoại xâm qua các cuộc kháng chiến và nổi dậy Họ sản sinh ra nhiều tướng lĩnh có tài, lãnh tụ nghĩa quân, mà đỉnh cao là người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ cuối thế kỷ 18
Chính sách trọng nông ức thương, chủ yếu dưới triều Nguyễn, khiến cho ý thức thị dân chậm phát triển Việt Nam xưa kia coi trọng nhất nông nhì sĩ, hoặc nhất sĩ nhì nông, thương nhân bị khinh rẻ, các nghề khác thường bị coi là nghề phụ, kể cả hoạt động văn hóa
Thế kỷ 19, phong kiến trong nước suy tàn, văn minh Trung Hoa suy thoái, thì văn hóa phương Tây bắt đầu xâm nhập Việt Nam theo nòng súng thực dân Giai cấp công nhân hình thành vào đầu thế kỉ 20 theo chương trình khai thác thuộc địa
Tư tưởng Mác-Lênin được du nhập vào Việt Nam những năm 20-30 kết hợp với chủ nghĩa yêu nước trở thành động lực biến đổi lịch sử đưa đất nước tiến lên độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Tiêu biểu cho thời đại này là Hồ Chí Minh, anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng và danh nhân văn hóa được quốc tế thừa nhận Giai cấp tư sản dân tộc yếu ớt chỉ tiến hành được một số cuộc cải cách bộ phận ở nửa đầu thế kỉ 20
Như vậy, Việt Nam không có một hệ thống lý luận triết học và tư tưởng riêng, thiếu triết gia tầm cỡ quốc tế, nhưng không có nghĩa là không có những triết lý sống và những tư tưởng phù hợp với dân tộc mình
Xã hội nông nghiệp có đặc trưng là tính cộng đồng làng xã với nhiều tàn dư nguyên thuỷ kéo dài đã tạo ra tính cách đặc thù của con người Việt Nam Đó là một lối tư duy lưỡng hợp (dualisme), một cách tư duy cụ thể, thiên về kinh nghiệm cảm tính hơn là duy lý, ưa hình tượng hơn khái niệm, nhưng uyển chuyển linh hoạt, dễ dung hợp, dễ thích nghi
Đó là một lối sống nặng tình nghĩa, đoàn kết gắn bó với họ hàng, làng nước (vì nước mất nhà tan, lụt thì lút cả làng) Đó là một cách hành động theo xu hướng giải quyết dung hoà, quân bình, dựa dẫm các mối quan hệ, đồng thời cũng khôn khéo giỏi ứng biến đã từng nhiều lần biết lấy nhu thắng cương, lấy yếu chống mạnh trong lịch sử
Trong các bậc thang giá trị tinh thần, Việt Nam đề cao chữ Nhân, kết hợp chặt chẽ Nhân với Nghĩa, Nhân với Đức, bất nhân bất nghĩa đồng nghĩa với thất đức Nguyễn Trãi từng diễn tả quan niệm Nhân Nghĩa của người Việt - đối lập với cường bạo, nâng lên thành cơ sở của đường lối trị nước và cứu nước Việt Nam hiểu chữ Trung là Trung với nước, cao hơn Trung với vua, trọng chữ Hiếu nhưng không quá bó hẹp trong khuôn khổ gia đình Chữ Phúc cũng đứng hàng đầu bảng giá trị đời sống, người ta khen nhà có phúc hơn là khen giầu, khen sang
Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập thế giới, sẽ phải phấn đấu khắc phục một số nhược điểm trong văn hóa truyền thống; kém tư duy lôgíc và khoa học kỹ thuật; đầu óc gia trưởng, bảo thủ, địa phương, hẹp hòi; tư tưởng bình quân; xu hướng phủ định cá nhân, san bằng cá tính; tệ ưa sùng bái và thần thánh hóa; thói chuộng từ chương hư danh, yếu về tổ chức thực tiễn
Trang 12Phong tục tập quán
Người Việt vốn thiết thực, chuộng ăn chắc mặc bền Đầu tiên là ăn, "có thực mới vực được đạo", "trời đánh còn tránh bữa ăn" Cơ cấu ăn thiên
về thực vật, cơm rau là chính cộng thêm thuỷ sản Luộc là cách nấu ăn đặc sắc của Việt Nam Nhưng cách thức chế biến món ăn lại giầu tính tổng hợp, kết hợp nhiều chất liệu và gia vị Ngày nay có nhiều thịt cá, vẫn không quên vị dưa cà
Người Việt hay dùng các chất liệu vải có nguồn gốc thực vật, mỏng, nhẹ, thóang, phù hợp xứ nóng, với các sắc màu nâu, chàm, đen Trang phục nam giới phát triển từ đóng khố ở trần đến áo cánh, quần ta (quần Tàu cải biến) Nữ giới xưa phổ biến mặc yếm, váy, áo tứ thân sau này đổi thành chiếc áo dài hiện đại Nói chung, phụ nữ Việt Nam làm đẹp một cách tế nhị, kín đáo trong một xã hội "cái nết đánh chết cái đẹp" Trang phục cũ cũng chú ý đến khăn, nón, thắt lưng
Ngôi nhà Việt Nam xưa gắn liền với môi trường sông nước (nhà sàn, mái cong) Sau đó là nhà tranh vách đất, lợp rạ, vật liệu chủ yếu là tre gỗ, không cao quá để chống gió bão, quan trọng nhất là hướng nhà thường quay về phía Nam chống nóng, tránh rét Nhà cũng không rộng quá để nhường diện tích cho sân, ao, vườn cây Vả lại, người Việt Nam quan niệm "rộng nhà không bằng rộng bụng" Các kiến trúc cổ bề thế thường ẩn mình và hoà với thiên nhiên
Phương tiện đi lại cổ truyền chủ yếu là đường thuỷ Con thuyền các loại là hình ảnh thân quen của cảnh quan địa lý-nhân văn Việt Nam, cùng vớidòng sông, bến nước
Các phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hội của Việt Nam đều gắn với tính cộng đồng làng xã Hôn nhân xưa không chỉ là nhu cầu đôi lứa mà còn phải đáp ứng quyền lợi của gia tộc, gia đình, làng xã, nên kén người rất kỹ, chọn ngày lành tháng tốt, trải qua nhiều lễ từ giạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu đến tơ hồng, hợp cẩn, lại mặt, và phải nộp cheo để chính thức được thừa nhận là thành viên của làng xóm Tục lễ tang cũng rất tỉ mỉ, thể hiện thương xót và tiễn đưa người thân qua bên kia thế giới, không chỉ do gia đình lo mà hàng xóm láng giềng tận tình giúp đỡ
Việt Nam là đất nước của lễ hội quanh năm, nhất là vào mùa xuân, nông nhàn Các tết chính là tết Nguyên đán, tết Rằm tháng Giêng, tết Hàn thực, tết Đoan ngọ, tết Rằm tháng Bảy, tết Trung thu, tết Ông táo Mỗi vùng thường có lễ hội riêng, quan trọng nhất là các lễ hội nông nghiệp (cầu mưa, xuống đồng, cơm mới ), các lễ hội nghề nghiệp (đúc đồng, rèn, pháo, đua ghe )
Ngoài ra là các lễ hội kỉ niệm các bậc anh hùng có công với nước, các lễ hội tôn giáo và văn hóa (hội chùa) Lễ hội có 2 phần, phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn và phần hội là sinh hoạt văn hóa cộng đồng gồm nhiều trò chơi, cuộc thi dân gian
Tín ngưỡng và tôn giáo
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ cổ xưa đã bao hàm: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người Con người cần sinh sôi, mùa màng cần tươi tốt để duy trì và phát triển sự sống, nên đã nảy sinh tín ngưỡng phồn thực
Ở Việt Nam, tín ngưỡng đó tồn tại lâu dài, dưới hai dạng biểu hiện: thờ sinh thực khí nam và nữ (khác với ấn Độ chỉ thờ sinh thực khí nam) và thờ cả hành vi giao phối (người và thú, ngay ở Đông Nam Á cũng ít có dân tộc thờ việc này) Dấu tích trên còn để lại ở nhiều di vật tượng và chân cột đá, trong trang trí các nhà mồ Tây Nguyên, trong một số phong tục và điệu múa, rõ nhất là ở hình dáng và hoa văn các trống đồng cổ.Nông nghiệp trồng lúa nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên đã đưa đến tín ngưỡng sùng bái tự nhiên Ở Việt Nam, đó là tín ngưỡng đa thần
và coi trọng nữ thần, lại thờ cả động vật và thực vật Một cuốn sách nghiên cứu (xuất bản năm 1984) đã liệt kê được 75 nữ thần, chủ yếu là các
bà mẹ, các Mẫu (không những có Ông Trời, mà còn có Bà Trời tức Mẫu Cửu Trùng, ngoài ra là Mẫu Thượng Ngàn, Bà chúa Sông v.v )
Về thực vật được tôn sùng nhất là Cây lúa, sau đó tới Cây đa, Cây cau, Cây dâu, quả Bầu Về động vật, thiên về thờ thú hiền như hươu, nai, cóc, không thờ thú dữ như văn hóa du mục, đặc biệt là thờ các loài vật phổ biến ở vùng sông nước như chim nước, rắn, cá sấu
Người Việt tự nhận là thuộc về họ Hồng Bàng, giống Tiên Rồng (Hồng Bàng là tên một loài chim nước lớn, Tiên là sự trừu tượng hóa một giống chim đẻ trứng, Rồng sự trừu tượng hóa từ rắn, cá sấu) Rồng sinh ra từ nước bay lên trời là biểu trưng độc đáo đầy ý nghĩa của dân tộc Việt Nam.Trong tín ngưỡng sùng bái con người, phổ biến nhất là tục thờ cúng tổ tiên, gần như trở thành một thứ tôn giáo của người Việt Nam (trong Nam
bộ gọi là Đạo Ông Bà) Việt Nam trọng ngày mất là dịp cúng giỗ hơn ngày sinh Nhà nào cũng thờ Thổ công là vị thần trông coi gia cư, giữ gìn hoạ phúc cho cả nhà Làng nào cũng thờ Thành hoàng là vị thần cai quản che chở cho cả làng (thường tôn vinh những ngươì có công khai phá lập nghiệp cho dân làng, hoặc các anh hùng dân tộc đã sinh hay mất ở làng)
Cả nước thờ vua tổ, có ngày giỗ tổ chung (Hội đền Hùng) Đặc biệt việc thờ Tứ Bất Tử là thờ những giá trị rất đẹp của dân tộc: Thánh Tản Viên (chống lụt), Thánh Gióng (chống ngoại xâm), Chử Đồng Tử (nhà nghèo cùng vợ ngoan cường xây dựng cơ nghiệp giầu có), bà Chúa Liễu Hạnh (công chúa con Trời từ bỏ Thiên đình xuống trần làm người phụ nữ khát khao hạnh phúc bình thường)
Mặc dù có trường hợp dẫn tới mê tín dị đoan, tín ngưỡng dân gian sống dẻo dai và hoà trộn cả vào các tôn giáo chính thống
Phật giáo (Tiểu thừa) có thể đã được du nhập trực tiếp từ ấn Độ qua đường biển vào Việt Nam khoảng thế kỉ 2 sau Công nguyên Phật giáo Việt Nam không xuất thế mà nhập thế, gắn với phù chú, cầu xin tài lộc, phúc thọ hơn là tu hành thóat tục Khi Phật giáo (Đại thừa) từ Trung Quốc vàonước ta, tăng lữ Việt Nam mới đi sâu hơn vào Phật học, nhưng dần hình thành những tôn phái riêng như Thiền Tông Trúc Lâm đề cao Phật tại tâm
Thời Lý-Trần, Phật giáo cực thịnh nhưng vẫn đón nhận cả Nho giáo, Lão giáo, tạo nên bộ mặt văn hóa mang tính chất "Tam giáo đồng nguyên" (cả ba tôn giáo cùng tồn tại) Qua nhiều bước thăng trầm, đạo Phật trở nên thân thiết với người Việt Nam, thống kê năm 1993 cho biết vẫn có tới
3 triệu tín đồ xuất gia và khoảng 10 triệu người thường xuyên vãn chùa lễ Phật
Thời Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam, đến năm 1070 Lý Thái Tổ lập Văn Miếu thờ Chu Công-Khổng Tử mới có thể xem là được tiếp nhận chính thức Thế kỉ 15, do nhu cầu xây dựng đất nước thống nhất, chính quyền tập trung, xã hội trật tự, Nho giáo thay chân Phật giáo trở thành quốc giáo dưới triều Lê
Nho giáo, chủ yếu là Tống Nho, bám chắc vào cơ chế chính trị-xã hội, vào chế độ học hành khoa cử, vào tầng lớp nho sĩ, dần chiếm lĩnh đời sống tinh thần xã hội Nhưng Nho giáo cũng chỉ được tiếp thụ ở Việt Nam từng yếu tố riêng lẻ - nhất là về chính trị-đạo đức, chứ không bê nguyên xi cả hệ thống
Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam khoảng cuối thế kỉ 2 Do thuyết vô vi mang tư tưởng phản kháng bọn thống trị, nó được người dân dùng làm
vũ khí chống phong kiến phương Bắc Nó lại có nhiều yếu tố thần tiên, huyền bí, nên hợp với tiềm thức con người và tín ngưỡng nguyên thuỷ Nhiều nhà nho cũ mộ khuynh hướng ưa thanh tĩnh, nhàn lạc của Lão-Trang Nhưng từ lâu Đạo giáo như một tôn giáo không tồn tại nữa, chỉ còn
để lại di sản trong tin ngưỡng dân gian
Kitô giáo đến Việt Nam vào thế kỉ 17 như một khâu môi giới trung gian của văn hóa phương Tây và của chủ nghĩa thực dân Nó tranh thủ được
cơ hội thuận lợi: chế độ phong kiến khủng hoảng, Phật giáo suy đồi, Nho giáo bế tắc, để trở thành chỗ an ủi tinh thần cho một bộ phận dân chúngnhưng trong một thời gian dài không hoà đồng được với văn hóa Việt Nam Trái lại, nó buộc phải để giáo dân lập bàn thờ trong nhà Chỉ khi hoà Phúc âm trong dân tộc, nó mới đứng được ở Việt Nam Năm 1993 có khoảng 5 triệu tín đồ công giáo và gần nửa triệu tín đố Tin Lành
Các tôn giáo bên ngoài du nhập vào Việt Nam không làm mất đi tín ngưỡng dân gian bản địa mà hoà quyện vào nhau làm cho cả hai phía đều có những biến thái nhất định Ví dụ Nho giáo không hạ thấp được vai trò người phụ nữ, việc thờ Mẫu ở Việt Nam rất thịnh hành Tính đa thần, dân chủ, cộng đồng được thể hiện ở việc thờ tập thể gia tiên, thờ nhiều cặp thần thánh, vào một ngôi chùa thấy không chỉ thờ Phật mà thờ cả nhiều vị khác, thấn linh có mà người thật cũng có Và có lẽ chỉ ở Việt Nam mới có chuyện con cóc kiện cả ông Trời, cũng như môtíp người lấy tiên trong các chuyện cổ tích Đây chính là những nét riêng của tín ngưỡng Việt Nam
Ngôn ngữ
Về nguồn gốc tiếng Việt, có nhiều giả thuyết Giả thuyết giầu sức thuyết phục hơn cả: tiếng Việt thuộc dòng Môn-Khmer của ngữ hệ Đông Nam
Á, sau chuyển biến thành tiếng Việt-Mường (hay tiếng Việt cổ) rồi tách ra Trong tiếng Việt hiện đại, có nhiều từ được chứng minh có gốc Khmer và tương ứng về ngữ âm, ngữ nghĩa khi so sánh với tiếng Mường
Trang 13Môn-Trải qua nghìn năm Bắc thuộc, và dưới các triều đại phong kiến, ngôn ngữ chính thống là chữ Hán, nhưng cũng là thời gian tiếng Việt tỏ rõ sức sống đấu tranh tự bảo tồn và phát triển Chữ Hán được đọc theo cách của người Việt, gọi là cách đọc Hán-Việt và được Việt hóa bằng nhiều cách tạo ra nhiều từ Việt thông dụng Tiếng Việt phát triển phong phú đi đến ra đời hệ thống chữ viết ghi lại tiếng Việt trên cơ sở văn tự Hán vào thế kỉ
13 là chữ Nôm
Thời kỳ thuộc Pháp, chữ Hán dần bị loại bỏ, thay thế bằng tiếng Pháp dùng trong ngôn ngữ hành chính, giáo dục, ngoại giao Nhưng nhờ chữ Quốc ngữ, có lợi thế đơn giản về hình thể kết cấu, cách viết, cách đọc, văn xuôi tiếng Việt hiện đại thực sự hình thành, tiếp nhận thuận lợi các ảnh hưởng tích cực của ngôn ngữ văn hóa phương Tây
Chữ quốc ngữ là sản phẩm của một số giáo sĩ phương Tây trong đó có Alexandre de Rhodes hợp tác với một số người Việt Nam dựa vào bộ chữ cái Latinh để ghi âm tiếng Việt dùng trong việc truyền giáo vào thế kỉ 17 Chữ quốc ngữ dần được hoàn thiện, phổ cập, trở thành công cụ văn hóaquan trọng Cuối thế kỉ 19, đã có sách báo xuất bản bằng chữ quốc ngữ
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, tiếng Việt và chữ quốc ngữ giành được địa vị độc tôn, phát triển dồi dào, là ngôn ngữ đa năng dùng trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp học, phản ánh mọi hiện thực cuộc sống Ngày nay, nhờ cách mạng, một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có chữ viết riêng
Đặc điểm của tiếng Việt: đơn âm nhưng vốn từ cụ thể, phong phú, giầu âm sắc hình ảnh, lối diễn đạt cân xứng, nhịp nhàng, sống động, dễ chuyểnđổi, thiên về biểu trưng, biểu cảm, rất thuận lợi cho sáng tạo văn học nghệ thuật Tự điển tiếng Việt xuất bản năm 1997 gồm 38410 mục từ
Văn học
Phát triển song song, tác động qua lại sâu sắc: Văn học Việt Nam xuất hiện khá sớm, có hai thành phần là văn học dân gian và văn học viết Văn học dân gian chiếm vị trí quan trọng ở Việt Nam, có công lớn gìn giữ phát triển ngôn ngữ dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân Sáng tác dân gian gồm thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, câu đố, tục ngữ, ca dao với nhiều màu sắc các dân tộc ở Việt Nam
Văn học viết ra đời từ khoảng thế kỉ 10 Cho đến đầu thế kỉ 20 cũng có hai bộ phận song song tồn tại: chữ Hán (có thơ, văn xuôi, thể hiện tâm hồn, hiện thực Việt Nam nên vẫn là văn chương Việt Nam) và chữ Nôm (hầu như chỉ có thơ, lưu truyền lại nhiều tác phẩm lớn)
Từ những năm 20 của thế kỉ 20, văn học viết chủ yếu sáng tác bằng tiếng Việt qua chữ quốc ngữ, có sự cách tân sâu sắc về các hình thức thể loại như tiểu thuyết, thơ mới, truyện ngắn, kịch và sự đa dạng về xu hướng nghệ thuật, đồng thời phát triển với tốc độ nhanh, nhất là sau Cách mạng tháng Tám đi theo đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng về cuộc sống chiến đấu và lao động của nhân dân
Có thể nói ở Việt Nam, hầu như cả dân tộc sính thơ, yêu thơ, làm thơ - từ vua quan, tướng lĩnh, sư sãi, sĩ phu đến sau này nhiều cán bộ cách mạng - và một cô thợ cấy, một cụ lái đò, một anh lính chiến đều thuộc dăm câu lục bát, thử một bài vè
Về nội dung, chủ lưu là dòng văn chương yêu nước bất khuất chống ngoại xâm ở mọi thời kỳ và dòng văn chương phản phong kiến thường thông qua thân phận người phụ nữ Phê phán các thói hư tật xấu của xã hội cũng là mảng đề tài quan trọng Các thi hào dân tộc lớn đều là những nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn
Văn học Việt Nam hiện đại phát triển từ lãng mạn đến hiện thực, từ âm hưởng chủ nghĩa anh hùng trong chiến tranh đang chuyển sang mở rộng
ra toàn diện cuộc sống, đi vào đời thường, tìm kiếm các giá trị đích thực của con người
Văn học cổ điển đã tạo nên những kiệt tác như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Cung óan ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi) Việt Nam từ mấy thế kỉ trước đã có những cây bút nữ độc đáo: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm,
Bà huyện Thanh Quan
Văn xuôi hiện đại có những tác giả không thể nói là thua kém thế giới: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nam Cao Bên cạnh đó là những nhà thơ đặc sắc như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Tố Hữu Tiếc rằng hiện nay chưa có những tác phẩm lớn phản ánh đầy đủ, trung thực và xứng đáng đất nước và thời đại
Ở Việt Nam, nghệ thuật chạm khắc đá, đồng, gốm đất nung ra đời rất sớm có niên đại 10000 năm trước Công nguyên Sau này gốm tráng men, tượng gỗ, khảm trai, sơn mài, tranh lụa, tranh giấy phát triển đến trình độ nghệ thuật cao Nghệ thuật tạo hình Việt Nam chú trọng diễn tả nội tâm
mà giản lược về hình thức, dùng nhiều thủ pháp cách điệu, nhấn mạnh
Đã có 2014 di tích văn hóa, lịch sử được Nhà nước công nhận và 2 di tích là cố đô Huế, Vịnh Hạ Long được quốc tế công nhận Kiến trúc cổ cònlại chủ yếu là một số chùa-tháp đời Lý-Trần; cung điện-bia đời Lê, đình làng thế kỉ 18, thành quách-lăng tẩm đời Nguyễn và những ngọn tháp Chàm
Thế kỉ 20, tiếp xúc với văn hóa phương Tây, nhất là sau khi nước nhà độc lập, các loại hình nghệ thuật mới như kịch nói, nhiếp ảnh, điện ảnh, ca múa nhạc và mỹ thuật hiện đại ra đời và phát triển mạnh, thu được những thành tựu to lớn với nội dung phản ánh hiện thực đời sống và cách mạng
Cho nên đến giữa năm 1997, đã có 44 người hoạt động văn hóa-nghệ thuật được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, 130 người được phong danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, 1011 người được tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú, đặc biệt có hai người được nhận giải thưởng quốc tế về âm nhạc là Đặng Thái Sơn (Giải âm nhạc Chopin) và Tôn Nữ Nguyệt Minh (Giải âm nhạc Tchaikovski)
Tính đến đầu năm 1997, cả nước có 191 đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp và 26 xưởng phim, hãng phim, kể cả trung ương và địa phương Đã có
28 phim truyện, 49 phim thời sự-tài liệu và khoa học được nhận giải thưởng quốc tế ở nhiều nước
Văn hóa dân tộc cổ truyền hiện đứng trước sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đứng trước những thách thức gay gắt của kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa Nhiều ngành văn hóa nghệ thuật đang có phần chững lại, tìm đường và tự cách tân
Hơn bao giờ hết đặt ra vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, vấn đề lựa chọn các giá trị cũ, xây dựng các giá trị mới Bảo tồn nhưng vẫn phải là một nền văn hóa mở Hiện đại nhưng không xa rời dân tộc Công cuộc đổi mới văn hóa đang tiếp tục
Việt Nam có một nền văn hoá đặc sắc, lâu đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc
Các nhà sử học thống nhất ý kiến ở một điểm: Việt Nam có một cộng đồng văn hoá khá rộng lớn được hình thành vào khoảng nửa đầu thiên niên
kỉ thứ nhất trước Công nguyên và phát triển rực rỡ vào giữa thiên niên kỉ này Đó là cộng đồng văn hoá Đông Sơn Cộng đồng văn hoá ấy phát triển cao so với các nền văn hoá khác đương thời trong khu vực, có những nét độc đáo riêng nhưng vẫn mang nhiều điểm đặc trưng của văn hoá vùng Đông Nam Á, vì có chung chủng gốc Nam Á (Mongoloid phương Nam) và nền văn minh lúa nước Những con đường phát triển khác nhaucủa văn hoá bản địa tại các khu vực khác nhau (lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả v.v ) đã hội tụ với nhau, hợp thành văn hoá Đông Sơn Đây cũng là thời kỳ ra đời nhà nước "phôi thai" đầu tiên của Việt Nam dưới hình thức cộng đồng liên làng và siêu làng (để chống giặc và đắp giữ
đê trồng lúa), từ đó các bộ lạc nguyên thuỷ phát triển thành dân tộc
Trang 14Múa lân
Giai đoạn văn hoá Văn Lang - Âu Lạc: (gần năm 3000 đến cuối thiên niên kỷ 1 trước CN) vào thời đại đồ đồng sơ khai, trải 18 đời vua Hùng,
được coi là đỉnh cao thứ nhất của lịch sử văn hoá Việt Nam, với sáng tạo tiêu biểu là trống đồng Đông Sơn và kỹ thuật trồng lúa nước ổn định.Sau giai đoạn chống Bắc thuộc có đặc trưng chủ yếu là song song tồn tại hai xu hướng Hán hoá và chống Hán hoá, giai đoạn Đại Việt (từ thế kỉ
10 đến 15) là đỉnh cao thứ hai của văn hoá Việt Nam Qua các triều đại nhà nước phong kiến độc lập, nhất là với hai cột mốc các triều Lý - Trần
và Lê, văn hoá Việt Nam được gây dựng lại toàn diện và thăng hoa nhanh chóng có sự tiếp thu ảnh hưởng to lớn của Phật giáo và Nho giáo.Sau thời kì hỗn độn Lê - Mạc và Trịnh - Nguyễn chia cắt đất nước, rồi từ tiền đề Tây Sơn thống nhất đất nước và lãnh thổ, nhà Nguyễn tìm cách phục hưng văn hoá dựa vào Nho giáo, nhưng lúc ấy Nho giáo đã suy tàn và văn hoá phương Tây bắt đầu xâm nhập nước ta Kéo dài cho tới khi kết thúc chế độ Pháp thuộc là sự xen cài về văn hoá giữa hai xu hướng Âu hoá và chống Âu hoá, là sự đấu tranh giữa văn hoá yêu nước với văn hoá thực dân
Giai đoạn văn hoá Việt Nam hiện đại được hình thành kể từ những năm 20 - 30 của thế kỷ này, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Mác - Lênin Với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền văn minh thế giới hiện đại, đồng thời giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc, văn hoá Việt Nam hứa hẹn một đỉnh cao lịch sử mới
Có thể nói xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam, đã có ba lớp văn hoá chồng lên nhau: lớp văn hoá bản địa, lớp văn hoá giao lưu với Trung Quốc
và khu vực, lớp văn hoá giao lưu với phương Tây Nhưng đặc điểm chính của Việt Nam là nhờ gốc văn hoá bản địa vững chắc nên đã không bị ảnh hưởng văn hoá ngoại lai đồng hoá, trái lại còn biết sử dụng và Việt hoá các ảnh hưởng đó làm giầu cho nền văn hoá dân tộc
Văn hoá dân tộc Việt Nam nảy sinh từ một môi trường sống cụ thể: xứ nóng, nhiều sông nước, nơi gặp gỡ của nhiều nền văn minh lớn Điều kiện
tự nhiên (nhiệt, ẩm, gió mùa, sông nước, nông nghiệp trồng lúa nước ) đã tác động không nhỏ đến đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc, đến tính cách, tâm lý con người Việt Nam Tuy nhiên điều kiện xã hội và lịch sử lại là những yếu tố chi phối rất lớn đến văn hoá và tâm
lý dân tộc Cho nên cùng là cư dân vùng trồng lúa nước, vẫn có những điểm khác biệt về văn hoá giữa Việt Nam với Thái Lan, Lào, Indonesia,
Ấn Độ v.v Cùng cội nguồn văn hoá Đông Nam Á, nhưng do sự thống trị lâu dài của nhà Hán, cùng với việc áp đặt văn hoá Hán, nền văn hoá Việt Nam đã biến đổi theo hướng mang thêm các đặc điểm văn hoá Đông Á
Dân tộc Việt Nam hình thành sớm và luôn luôn phải làm các cuộc chiến tranh giữ nước, từ đó tạo nên một đặc trưng văn hoá nổi bật: tư tưởng yêu nước thấm sâu và bao trùm mọi lĩnh vực Các yếu tố cộng đồng có nguồn gốc nguyên thuỷ đã sớm được cố kết lại, trở thành cơ sở phát triển chủ nghĩa yêu nước và ý thức dân tộc Chiến tranh liên miên, đó cũng là lý do chủ yếu khiến cho lịch sử phát triển xã hội Việt Nam có tính bất thường, tất cả các kết cấu kinh tế - xã hội thường bị chiến tranh làm gián đoạn, khó đạt đến điểm đỉnh của sự phát triển chín muồi Cũng vì chiến tranh phá hoại, Việt Nam ít có được những công trình văn hoá-nghệ thuật đồ sộ, hoặc nếu có cũng không bảo tồn được nguyên vẹn
Việt Nam gồm 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộc một sắc thái riêng, cho nên văn hoá Việt Nam là một sự thống nhất trong
đa dạng Ngoài văn hoá Việt - Mường mang tính tiêu biểu, còn có các nhóm văn hoá đặc sắc khác như Tày - Nùng, Thái, Chàm, Hoa - Ngái, Môn
- Khơme, H’Mông - Dao, nhất là văn hoá các dân tộc Tây Nguyên giữ được những truyền thống khá phong phú và toàn diện cuả một xã hội thuần nông nghiệp gắn bó với rừng núi tự nhiên Dưới đây là cái nhìn khái quát về các lĩnh vực văn hoá chủ yếu:
1 Triết học và tư tưởng
Lúc đầu chỉ là những yếu tố tự nhiên nguyên thuỷ thô sơ về duy vật và biện chứng, tư tưởng người Việt trộn lẫn với tín ngưỡng Tuy nhiên, xuất phát từ gốc văn hóa nông nghiệp, khác với gốc văn hoá du mục ở chỗ trọng tĩnh hơn động, lại có liên quan nhiều với các hiện tượng tự nhiên, tư tưởng triết học Việt Nam đặc biệt chú tâm đến các mối quan hệ mà sản phẩm điển hình là thuyết âm dương ngũ hành (không hoàn toàn giống Trung Quốc) và biểu hiện cụ thể rõ nhất là lối sống quân bình hướng tới sự hài hoà
Sau đó, chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo được dung hợp và Việt hoá đã góp phần vào sự phát triển của xã hội
và văn hoá Việt Nam Đặc biệt các nhà Thiền học đời Trần đã suy nghĩ và kiến giải hầu hết các vấn đề triết học mà Phật giáo đặt ra (Tâm-Phật, Không-Có, Sống-Chết ) một cách độc đáo, riêng biệt Tuy Nho học về sau thịnh vượng, nhiều danh nho Việt Nam cũng không nghiên cứu Khổng-Mạnh một cách câu nệ, mù quáng, mà họ tiếp nhận cả tinh thần Phật giáo, Lão-Trang nên tư tưởng họ có phần thanh thoát, phóng khoáng, gần gũi nhân dân và hoà với thiên nhiên hơn
Ở các triều đại chuyên chế quan liêu, tư tưởng phong kiến nặng nề đè nén nông dân và trói buộc phụ nữ, nhưng nếp dân chủ làng mạc, tính cộng đồng nguyên thuỷ vẫn tồn tại trên cơ sở kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc Cắm rễ sâu trong xã hội nông nghiệp Việt Nam là tư tưởng nông dân
có nhiều nét tích cực và tiêu biểu cho con người Việt Nam truyền thống Họ là nòng cốt chống ngoại xâm qua các cuộc kháng chiến và nổi dậy
Họ sản sinh ra nhiều tướng lĩnh có tài, lãnh tụ nghĩa quân, mà đỉnh cao là người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ cuối thế kỷ 18.Chính sách trọng nông ức thương, chủ yếu dưới triều Nguyễn, khiến cho ý thức thị dân chậm phát triển Việt Nam xưa kia coi trọng nhất nông nhì sĩ, hoặc nhất sĩ nhì nông, thương nhân bị khinh rẻ, các nghề khác thường bị coi là nghề phụ, kể cả hoạt động văn hoá
Thế kỷ 19, phong kiến trong nước suy tàn, văn minh Trung Hoa suy thoái, thì văn hoá phương Tây bắt đầu xâm nhập Việt Nam theo nòng súng thực dân Giai cấp công nhân hình thành vào đầu thế kỉ 20 theo chương trình khai thác thuộc địa Tư tưởng Mác-Lênin được du nhập vào Việt Nam những năm 20-30 kết hợp với chủ nghĩa yêu nước trở thành động lực biến đổi lịch sử đưa đất nước tiến lên độc lập, dân chủ và chủ nghĩa
xã hội Tiêu biểu cho thời đại này là Hồ Chí Minh, anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng và danh nhân văn hoá được quốc tế thừa nhận Giai cấp tư sảndân tộc yếu ớt chỉ tiến hành được một số cuộc cải cách bộ phận ở nửa đầu thế kỉ 20
Như vậy, Việt Nam không có một hệ thống lý luận triết học và tư tưởng riêng, thiếu triết gia tầm cỡ quốc tế Nhưng không có nghĩa là không có những triết lý sống và những tư tưởng phù hợp với dân tộc mình
Xã hội nông nghiệp có đặc trưng là tính cộng đồng làng xã với nhiều tàn dư nguyên thuỷ kéo dài đã tạo ra tính cách đặc thù của con người Việt Nam Đó là một lối tư duy lưỡng hợp (dualisme), một cách tư duy cụ thể, thiên về kinh nghiệm cảm tính hơn là duy lý, ưa hình tượng hơn khái niệm, nhưng uyển chuyển linh hoạt, dễ dung hợp, dễ thích nghi Đó là một lối sống nặng tình nghĩa, đoàn kết gắn bó với họ hàng, làng nước (vì nước mất nhà tan, lụt thì lút cả làng) Đó là một cách hành động theo xu hướng giải quyết dung hoà, quân bình, dựa dẫm các mối quan hệ, đồng thời cũng khôn khéo giỏi ứng biến đã từng nhiều lần biết lấy nhu thắng cương, lấy yếu chống mạnh trong lịch sử
Trong các bậc thang giá trị tinh thần, Việt Nam đề cao chữ Nhân, kết hợp chặt chẽ Nhân với Nghĩa, Nhân với Đức, bất nhân bất nghĩa đồng nghĩa với thất đức Nguyễn Trãi từng diễn tả quan niệm Nhân Nghĩa của người Việt - đối lập với cường bạo, nâng lên thành cơ sở của đường lối trị nước và cứu nước Việt Nam hiểu chữ Trung là Trung với nước, cao hơn Trung với vua, trọng chữ Hiếu nhưng không quá bó hẹp trong khuôn khổ gia đình Chữ Phúc cũng đứng hàng đầu bảng giá trị đời sống, người ta khen nhà có phúc hơn là khen giầu, khen sang
Trang 15Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập thế giới, sẽ phải phấn đấu khắc phục một số nhược điểm trong văn hoá truyền thống; kém tư duy lôgích và khoa học kỹ thuật; đầu óc gia trưởng, bảo thủ, địa phương, hẹp hòi; tư tưởng bình quân; xu hướng phủ định cá nhân, san bằng cá tính; tệ ưa sùng bái và thần thánh hoá; thói chuộng từ chương hư danh, yếu về tổ chức thực tiễn
2 Phong tục tập quán
Người Việt vốn thiết thực, chuộng ăn chắc mặc bền Đầu tiên là ăn, có thực mới vực được đạo, trời đánh còn tránh bữa ăn Cơ cấu ăn thiên về thực vật, cơm rau là chính cộng thêm thuỷ sản Luộc là cách nấu ăn đặc sắc của Việt Nam Nhưng cách thức chế biến món ăn lại giầu tính tổng hợp, kết hợp nhiều chất liệu và gia vị Ngày nay có nhiều thịt cá, vẫn không quên vị dưa cà
Lễ hội đâm trâu
Người Việt hay dùng các chất liệu vải có nguồn gốc thực vật, mỏng, nhẹ, thoáng, phù hợp xứ nóng, với các sắc màu nâu, chàm, đen Trang phục nam giới phát triển từ đóng khố ở trần đến áo cánh, quần ta (quần Tàu cải biến) Nữ giới xưa phổ biến mặc yếm, váy, áo tứ thân sau này đổi thành chiếc áo dài hiện đại Nói chung, phụ nữ Việt Nam làm đẹp một cách tế nhị, kín đáo trong một xã hội "cái nết đánh chết cái đẹp" Trang phục cũ cũng chú ý đến khăn, nón, thắt lưng
Ngôi nhà Việt Nam xưa gắn liền với môi trường sông nước (nhà sàn, mái cong) Sau đó là nhà tranh vách đất, lợp rạ, vật liệu chủ yếu là tre gỗ, không cao quá để chống gió bão, quan trọng nhất là hướng nhà thường quay về phía Nam chống nóng, tránh rét Nhà cũng không rộng quá để nhường diện tích cho sân, ao, vườn cây Vả lại, người Việt Nam quan niệm "rộng nhà không bằng rộng bụng" Các kiến trúc cổ bề thế thường ẩn mình và hoà với thiên nhiên
Phương tiện đi lại cổ truyền chủ yếu là đường thuỷ Con thuyền các loại là hình ảnh thân quen của cảnh quan địa lý - nhân văn Việt Nam, cùng với dòng sông, bến nước
Các phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hội của Việt Nam đều gắn với tính cộng đồng làng xã Hôn nhân xưa không chỉ là nhu cầu đôi lứa mà còn phải đáp ứng quyền lợi của gia tộc, gia đình, làng xã, nên kén người rất kỹ, chọn ngày lành tháng tốt, trải qua nhiều lễ từ giạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu đến tơ hồng, hợp cẩn, lại mặt, và phải nộp cheo để chính thức được thừa nhận là thành viên của làng xóm Tục lễ tang cũng rất tỉ mỉ, thể hiện thương xót và tiễn đưa người thân qua bên kia thế giới, không chỉ do gia đình lo mà hàng xóm láng giềng tận tình giúp đỡ
Việt Nam là đất nước của lễ hội quanh năm, nhất là vào mùa xuân, nông nhàn Các tết chính là tết Nguyên đán, tết Rằm tháng Giêng, tết Hàn thực, tết Đoan ngọ, tết Rằm tháng Bảy, tết Trung thu, tết Ông táo Mỗi vùng thường có lễ hội riêng, quan trọng nhất là các lễ hội nông nghiệp (cầu mưa, xuống đồng, cơm mới ), các lễ hội nghề nghiệp (đúc đồng, rèn, pháo, đua ghe ) Ngoài ra là các lễ hội kỉ niệm các bậc anh hùng có công với nước, các lễ hội tôn giáo và văn hoá (hội chùa) Lễ hội có 2 phần: phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn, phần hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng gồm nhiều trò chơi, cuộc thi dân gian
3 Tín ngưỡng và tôn giáo
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ cổ xưa đã bao hàm:
Lễ hội đền Đô
Tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người Con người cần sinh sôi, mùa màng cần tươi tốt để duy trì
và phát triển sự sống, nên đã nảy sinh tín ngưỡng phồn thực Ở Việt Nam, tín ngưỡng đó tồn tại lâu dài, dưới hai dạng biểu hiện: thờ sinh thực khí nam và nữ (khác với ấn Độ chỉ thờ sinh thực khí nam) và thờ cả hành vi giao phối (người và thú, ngay ở Đông Nam Á cũng ít có dân tộc thờ việc này) Dấu tích trên còn để lại ở nhiều di vật tượng và chân cột đá, trong trang trí các nhà mồ Tây Nguyên, trong một số phong tục và điệu múa, rõ nhất là ở hình dáng và hoa văn các trống đồng cổ
Nông nghiệp trồng lúa nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên đã đưa đến tín ngưỡng sùng bái tự nhiên Ở Việt Nam, đó là tín ngưỡng đa thần
và coi trọng nữ thần, lại thờ cả động vật và thực vật Một cuốn sách nghiên cứu (xuất bản năm 1984) đã liệt kê được 75 nữ thần, chủ yếu là các
bà mẹ, các Mẫu (không những có Ông Trời, mà còn có Bà Trời tức Mẫu Cửu Trùng, ngoài ra là Mẫu Thượng Ngàn, Bà chúa Sông v.v ) Về thựcvật được tôn sùng nhất là Cây lúa, sau đó tới Cây đa, Cây cau, Cây dâu, quả Bầu Về động vật, thiên về thờ thú hiền như hươu, nai, cóc, không thờ thú dữ như văn hoá du mục, đặc biệt là thờ các loài vật phổ biến ở vùng sông nước như chim nước, rắn, cá sấu Người Việt tự nhận là thuộc
về họ Hồng Bàng, giống Tiên Rồng (Hồng Bàng là tên một loài chim nước lớn, Tiên là sự trừu tượng hoá một giống chim đẻ trứng, Rồng sự trừutượng hoá từ rắn, cá sấu) Rồng sinh ra từ nước bay lên trời là biểu trưng độc đáo đầy ý nghĩa của dân tộc Việt Nam
Trong tín ngưỡng sùng bái con người, phổ biến nhất là tục thờ cúng tổ tiên, gần như trở thành một thứ tôn giáo của người Việt Nam (trong Nam
bộ gọi là Đạo Ông Bà) Việt Nam trọng ngày mất là dịp cúng giỗ hơn ngày sinh Nhà nào cũng thờ Thổ công là vị thần trông coi gia cư, giữ gìn hoạ phúc cho cả nhà Làng nào cũng thờ Thành hoàng là vị thần cai quản che chở cho cả làng (thường tôn vinh những ngươì có công khai phá lập nghiệp cho dân làng, hoặc các anh hùng dân tộc đã sinh hay mất ở làng) Cả nước thờ vua tổ, có ngày giỗ tổ chung (Hội đền Hùng) Đặc biệt việc thờ Tứ Bất Tử là thờ những giá trị rất đẹp của dân tộc: Thánh Tản Viên (chống lụt), Thánh Gióng (chống ngoại xâm), Chử Đồng Tử (nhà nghèo cùng vợ ngoan cường xây dựng cơ nghiệp giầu có), bà Chúa Liễu Hạnh (công chúa con Trời từ bỏ Thiên đình xuống trần làm người phụ
nữ khát khao hạnh phúc bình thường)
Mặc dù có trường hợp dẫn tới mê tín dị đoan, tín ngưỡng dân gian sống dẻo dai và hoà trộn cả vào các tôn giáo chính thống
Phật giáo (Tiểu thừa) có thể đã được du nhập trực tiếp từ ấn Độ qua đường biển vào Việt Nam khoảng thế kỉ 2 sau CN Phật giáo Việt Nam không xuất thế mà nhập thế, gắn với phù chú, cầu xin tài lộc, phúc thọ hơn là tu hành thoát tục Khi Phật giáo (Đại thừa) từ Trung Quốc vào nước ta, tăng lữ Việt Nam mới đi sâu hơn vào Phật học, nhưng dần hình thành những tôn phái riêng như Thiền Tông Trúc Lâm đề cao Phật tại tâm Thời Lý - Trần, Phật giáo cực thịnh nhưng vẫn đón nhận cả Nho giáo, Lão giáo, tạo nên bộ mặt văn hoá mang tính chất "Tam giáo đồng nguyên" (cả ba tôn giáo cùng tồn tại) Qua nhiều bước thăng trầm, đạo Phật trở nên thân thiết với người Việt Nam, thống kê năm 1993 cho biết vẫn có tới 3 triệu tín đồ xuất gia và khoảng 10 triệu người thường xuyên vãn chùa lễ Phật
Thời Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam, đến năm 1070 Lý Thái Tổ lập Văn Miếu thờ Chu Công-Khổng Tử mới có thể xem là được tiếp nhận chính thức Thế kỉ 15, do nhu cầu xây dựng đất nước thống nhất, chính quyền tập trung, xã hội trật tự, Nho giáo thay chân Phật giáo trở thành quốc giáo dưới triều Lê Nho giáo, chủ yếu là Tống Nho, bám chắc vào cơ chế chính trị - xã hội, vào chế độ học hành khoa cử, vào tầng lớp nho sĩ, dần chiếm lĩnh đời sống tinh thần xã hội Nhưng Nho giáo cũng chỉ được tiếp thụ ở Việt Nam từng yếu tố riêng lẻ - nhất là về chính trị - đạo đức, chứ không bê nguyên xi cả hệ thống
Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam khoảng cuối thế kỉ 2 Do thuyết vô vi mang tư tưởng phản kháng bọn thống trị, nó được người dân dùng làm
vũ khí chống phong kiến phương Bắc Nó lại có nhiều yếu tố thần tiên, huyền bí, nên hợp với tiềm thức con người và tín ngưỡng nguyên thuỷ
Trang 16Nhiều nhà nho cũ mộ khuynh hướng ưa thanh tĩnh, nhàn lạc của Lão - Trang Nhưng từ lâu Đạo giáo như một tôn giáo không tồn tại nữa, chỉ còn
để lại di sản trong tin ngưỡng dân gian
Ki-tô giáo đến Việt Nam vào thế kỉ 17 như một khâu môi giới trung gian của văn hoá phương Tây và của chủ nghĩa thực dân Nó tranh thủ được
cơ hội thuận lợi: chế độ phong kiến khủng hoảng, Phật giáo suy đồi, Nho giáo bế tắc, để trở thành chỗ an ủi tinh thần cho một bộ phận dân chúngnhưng trong một thời gian dài không hoà đồng được với văn hoá Việt Nam Trái lại, nó buộc phải để giáo dân lập bàn thờ trong nhà Chỉ khi hoà Phúc âm trong dân tộc, nó mới đứng được ở Việt Nam Năm 1993 có khoảng 5 triệu tín đồ công giáo và gần nửa triệu tín đố Tin Lành
Các tôn giáo bên ngoài du nhập vào Việt Nam không làm mất đi tín ngưỡng dân gian bản địa mà hoà quyện vào nhau làm cho cả hai phía đều có những biến thái nhất định Ví dụ Nho giáo không hạ thấp được vai trò người phụ nữ, việc thờ Mẫu ở Việt Nam rất thịnh hành Tính đa thần, dân chủ, cộng đồng được thể hiện ở việc thờ tập thể gia tiên, thờ nhiều cặp thần thánh, vào một ngôi chùa thấy không chỉ thờ Phật mà thờ cả nhiều vị khác, thấn linh có mà người thật cũng có Và có lẽ chỉ ở Việt Nam mới có chuyện con cóc kiện cả ông Trời, cũng như môtíp người lấy tiên trong các chuyện cổ tích Đây chính là những nét riêng của tín ngưỡng Việt Nam
4 Ngôn ngữ
Về nguồn gốc tiếng Việt, có nhiều giả thuyết Giả thuyết giầu sức thuyết phục hơn cả: tiếng Việt thuộc dòng Môn-Khơme của ngữ hệ Đông Nam Á, sau chuyển biến thành tiếng Việt - Mường (hay tiếng Việt cổ) rồi tách ra Trong tiếng Việt hiện đại, có nhiều từ được chứng minh có gốc Môn-Khơme và tương ứng về ngữ âm, ngữ nghĩa khi so sánh với tiếng Mường
Trải qua nghìn năm Bắc thuộc, và dưới các triều đại phong kiến, ngôn ngữ chính thống là chữ Hán, nhưng cũng là thời gian tiếng Việt tỏ rõ sức sống đấu tranh tự bảo tồn và phát triển Chữ Hán được đọc theo cách của người Việt, gọi là cách đọc Hán - Việt Và được Việt hoá bằng nhiều cách tạo ra nhiều từ Việt thông dụng Tiếng Việt phát triển phong phú đi đến ra đời hệ thống chữ viết ghi lại tiếng Việt trên cơ sở văn tự Hán vào thế kỉ 13 là chữ Nôm
Thời kỳ thuộc Pháp, chữ Hán dần bị loại bỏ, thay thế bằng tiếng Pháp dùng trong ngôn ngữ hành chính, giáo dục, ngoại giao Nhưng nhờ chữ Quốc ngữ, có lợi thế đơn giản về hình thể kết cấu, cách viết, cách đọc, văn xuôi tiếng Việt hiện đại thực sự hình thành, tiếp nhận thuận lợi các ảnh hưởng tích cực của ngôn ngữ văn hoá phương Tây Chữ quốc ngữ là sản phẩm của một số giáo sĩ phương Tây trong đó có Alexandre de Rhodes hợp tác với một số người Việt Nam dựa vào bộ chữ cái Latinh để ghi âm tiếng Việt dùng trong việc truyền giáo vào thế kỉ 17 Chữ quốc ngữ dần được hoàn thiện, phổ cập, trở thành công cụ văn hoá quan trọng Cuối thế kỉ 19, đã có sách báo xuất bản bằng chữ quốc ngữ
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, tiếng Việt và chữ quốc ngữ giành được địa vị độc tôn, phát triển dồi dào, là ngôn ngữ đa năng dùng trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp học, phản ánh mọi hiện thực cuộc sống Ngày nay, nhờ cách mạng, một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có chữ viết riêng
Đặc điểm của tiếng Việt: đơn âm nhưng vốn từ cụ thể, phong phú, giầu âm sắc hình ảnh, lối diễn đạt cân xứng, nhịp nhàng, sống động, dễ chuyểnđổi, thiên về biểu trưng, biểu cảm, rất thuận lợi cho sáng tạo văn học nghệ thuật Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1997 gồm 38410 mục từ
5 Văn học
Phát triển song song, tác động qua lại sâu sắc: Văn học Việt Nam xuất hiện khá sớm, có hai thành phần là văn học dân gian và văn học viết Văn học dân gian chiếm vị trí quan trọng ở Việt Nam, có công lớn gìn giữ phát triển ngôn ngữ dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân Sáng tác dân gian gồm thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, câu đố, tục ngữ, ca dao với nhiều màu sắc các dân tộc ở Việt Nam
Văn học viết ra đời từ khoảng thế kỉ 10 Cho đến đầu thế kỉ 20 cũng có hai bộ phận song song tồn tại: chữ Hán (có thơ, văn xuôi, thể hiện tâm hồn, hiện thực Việt Nam nên vẫn là văn chương Việt Nam) và chữ Nôm (hầu như chỉ có thơ, lưu truyền lại nhiều tác phẩm lớn) Từ những năm
20 của thế kỉ 20, văn học viết chủ yếu sáng tác bằng tiếng Việt qua chữ quốc ngữ, có sự cách tân sâu sắc về các hình thức thể loại như tiểu thuyết, thơ mới, truyện ngắn, kịch và sự đa dạng về xu hướng nghệ thuật, đồng thời phát triển với tốc độ nhanh, nhất là sau Cách mạng tháng Tám đi theo đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng về cuộc sống chiến đấu và lao động của nhân dân
Có thể nói ở Việt Nam, hầu như cả dân tộc sính thơ, yêu thơ, làm thơ - từ vua quan, tướng lĩnh, sư sãi, sĩ phu đến sau này nhiều cán bộ cách mạng - và một cô thợ cấy, một cụ lái đò, một anh lính chiến đều thuộc dăm câu lục bát, thử một bài vè
Về nội dung, chủ lưu là dòng văn chương yêu nước bất khuất chống ngoại xâm ở mọi thời kỳ và dòng văn chương phản phong kiến thường thông qua thân phận người phụ nữ Phê phán các thói hư tật xấu của xã hội cũng là mảng đề tài quan trọng Các thi hào dân tộc lớn đều là những nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn
Văn học Việt Nam hiện đại phát triển từ lãng mạn đến hiện thực, từ âm hưởng chủ nghĩa anh hùng trong chiến tranh đang chuyển sang mở rộng
ra toàn diện cuộc sống, đi vào đời thường, tìm kiếm các giá trị đích thực của con người
Văn học cổ điển đã tạo nên những kiệt tác như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi) Việt Nam từ mấy thế kỉ trước đã có những cây bút nữ độc đáo: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm,
Bà huyện Thanh Quan
Văn xuôi hiện đại có những tác giả không thể nói là thua kém thế giới: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nam Cao Bên cạnh đó là những nhà thơ đặc sắc như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Tố Hữu Tiếc rằng hiện nay chưa có những tác phẩm lớn phản ánh đầy đủ, trung thực và xứng đáng đất nước và thời đại