1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DA Tim hieu THANG LONG HA NOI nghin nam van hien vaanh hung Cau hoi DA

20 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 4,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc định cư tại đồng bằng chứng tỏ một bước tiến lớn trong các lãnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi con người dễ dàng đi lại bằng đường bộ hay bằng đường thủy; trong nôn[r]

Trang 1

ĐÁP ÁN CUỘC THI TÌM HIỂU

“THĂNG LONG - HÀ NỘI NGHÌN NĂM VĂN HIẾN VÀ ANH HÙNG”

Phần I: TRẮC NGHIỆM

Câu 1: Trong bài “Chiếu dời đô”, hoàng đế Lý Thái Tổ đã xác định những lợi thế nào của đất Thăng Long?

A Là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương

B Được thế rồng cuộn hổ ngồi

C Có núi cao sông dài

D Muôn vật hết sức tươi tốt, phồn thịnh

(Lý Cong Uẩn)

Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô Nhà Chu đến đời vua Thành Vương cũng ba lần dời đô Phi đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi Cho nên, vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thưng, Chu cứ đóng đô thành ở ni ấy, khiến cho triều đại không được lâu bền, số phận ngắn ngủi, trăm họ phi hao tổn, muôn vật không được thích nghi Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đô Huống gì thành Đại La, ở vào nơi trung tâm của trời đất, được cái thế rồng cuộn,

hổ ngồi Đã đúng ngôi Nam, Bắc, Đông, Tây, lại tiện đường nhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà

Trang 2

bằng, đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng phong phú tốt tươi Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi bậc nhất của các bậc đế vương muôn đời Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở"

HÌNH TƯỢNG LÝ CÔNG UẨN BAN CHIẾU DỜI ĐÔ TƯỢNG THỜ LÝ CÔNG UẨN

Thiên đô chiếu Toàn cảnh cố đô Hoa Lư

Câu 2 : Toà thành cổ nhất trên đất thủ đô là toà thành nào?

A Thành Đại La C Thành cổ Sơn Tây

B Thành Cổ Loa D Thành cổ Hà Nội

Trang 3

Thành Cổ Loa hôm nay

Kiến trúc thành Cổ Loa Cổ Loa thành

Cửa tam quan vào thành Cổ Loa Thành Cổ Loa

Trang 4

Cổ Loa là kinh đô của nhà nước phong kiến Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào

khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của nhà nước Vạn Xuân dưới thời Ngô Quyền thế

kỷ 10 sau Công nguyên.Hiện nay, Cổ Loa là một xã thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội.Vào thời

Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ Từ đây có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa Cổ Loa là một khu đất đồi cao ráo nằm ở tả ngạn sông Hoàng Con sông này qua nhiều thế kỷ bị phù sa bồi đắp và nay đã trở thành một con lạch nhỏ, nhưng xưa kia sông Hoàng là một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng, nối liền sông Hồng với sông Cầu, con sông lớn nhất trong hệ thống sông Thái Bình Như vậy, về phương diện giao thông đường thủy, Cổ Loa có một vị trí vô cùng thuận lợi hơn bất kỳ ở đâu tại đồng bằng Bắc Bộ vào thời ấy Đó là vị trí nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình Hai mạng lưới đường thủy này chi phối toàn bộ hệ thống đường thủy tại Bắc bộ Việt Nam Qua con sông Hoàng, thuyền bè có thể tỏa đi khắp nơi, nếu ngược lên sông Hồng là có thể thâm nhập vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền có thể ra đến biển cả, còn nếu muốn đến vùng phía Đông Bắc bộ thì dùng sông Cầu để thâm nhập vào hệ thống sông Thái Bình đến tận sông Thương và sông Lục Nam.Địa điểm Cổ Loa chính là Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân chúng đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và thủ công nghiệp Việc dời

đô từ Phong Châu về đây, đánh dấu một giai đoạn phát triển của dân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển trung tâm quyền lực từ vùng Trung du bán sơn địa về định cư tại vùng đồng bằng Việc định cư tại đồng bằng chứng tỏ một bước tiến lớn trong các lãnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi con người dễ dàng đi lại bằng đường bộ hay bằng đường thủy; trong nông nghiệp có bước tiến đáng kể về kỹ thuật trồng lúa nước, mức độ dân cư cũng đông đúc hơn.Trung tâm quyền lực của các cư dân Việt ở đồng bằng sông Hồng cũng thể hiện sự phát triển về chiều rộng của Văn hóa Đông Sơn.Thành Cổ Loa được xây bằng đất

do thời ấy ở Âu Lạc chưa có gạch nung Thành có 3 vòng Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5

km, vòng trong 1,6 km Diện tích trung tâm lên tới 2 km² Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ Lũy cao trung bình

từ 4-5 m, có chỗ 8-12 m Chân lũy rộng 20-30 m, mặt lũy rộng 6-12 m Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối Khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu nên việc xây dựng thành Cổ Loa có thể khó khăn và thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu Khi xẻ dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học phát hiện kỹ thuật gia cố thành của Thục Phán: chân thành được chẹn một lớp tảng đá Hòn nhỏ có đường kính 15 cm, hòn lớn 60 cm Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dầy đặc đã được tạo ra, thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh Thuở ấy, sông Thiếp – Ngũ Huyền Khê - Hoàng Giang thông với sông Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh) Ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đã chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến Nhân dân cũng được điều tới khai phá rừng

đa (Gia Lâm), rừng Mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm) thành ruộng Những hiệp thợ chuyên rèn vũ khí cũng xuất hiện, chế tạo côn, kiếm, dáo, mác và nỏ liên châu, mỗi phát bắn nhiều mũi tên Có nhiều bằng chứng khảo cổ về sự tồn tại của hàng chục vạn mũi tên đồng,

Trang 5

có thể dùng nỏ liên châu ở đây.Sơ đồ thành Cổ LoaThành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ"Khi xây thành, người Việt cổ đã biết lợi dụng tối đa và khéo léo các địa hình tự nhiên Họ tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho cao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài, vì thế hai bức tường thành này có đường nét uốn lượn theo địa hình chứ không băng theo đường thẳng như bức tường thành trung tâm Người xưa lại xây thành bên cạnh con sông Hoàng để dùng sông này vừa làm hào bảo vệ thành vừa là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống hào vừa là đường thủy quan trọng Chiếc Đầm Cả rộng lớn nằm ở phía Đông cũng được tận dụng biến thành bến cảng làm nơi tụ họp cho đến cả hàng trăm thuyền bè.Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành

là đất, sau đó là đá và gốm vỡ Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc Các đoạn thành ven sông, ven đầm được kè nhiều đá hơn các đoạn khác Đá kè là loại đá tảng lớn

và đá cuội được chở tới từ các miền khác Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở Các cuộc khai quật khảo cổ học đã tìm thấy một số lượng gốm khổng lồ gồm ngói ống, ngói bản, đầu ngói, đinh ngói Ngói có nhiều loại với độ nung khác nhau Có cái được nung ở nhiệt độ thấp, có cái được nung rất cao gần như sành Ngói được trang trí nhiều loại hoa văn ở một mặt hay hai

mặt Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích

hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng, trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới 2 km² Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ Lũy cao trung bình từ 4 m-5 m, có chỗ cao đến 8 m-12 m Chân lũy rộng 20 m-30 m, mặt lũy rộng 6 m-12 m Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối

Một đoạn tường thành mùa lễ hội

Thành nội hình chữ nhật, cao trung bình 5 m so với mặt đất, mặt thành rộng từ 6

m-12 m, chân rộng từ 20 m-30 m, chu vi 1.650 m và có một cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự

triều di quy.Thành trung là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng, dài 6.500 m, nơi

cao nhất là 10 m, mặt thành rộng trung bình 10 m, có năm cửa ở các hướng đông, nam, bắc,

tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ăn thông với sông Hoàng.Thành ngoài cũng không có

Trang 6

hình dáng rõ ràng, dài hơn 8.000 m, cao trung bình 3 m-4 m (có chỗ tới hơn 8 m).Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình từ 10m đến 30m, có chỗ còn rộng hơn Các vòng hào đều thông với nhau và thông với sông Hoàng Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định, khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ Sông Hoàng được dùng làm hào thiên nhiên cho thành Ngoại ở về phía Tây Nam và Nam Phần hào còn lại được đào sát chân tường thành từ gò Cột Cờ đến Đầm Cả Con hào này nối với hào của thành Trung ở Đầm Cả và Xóm Mít, chảy qua cửa Cống Song nối với năm con lạch có hình dáng như bàn tay xòe, và với một nhánh của con lạch này, nước chảy thông vào vòng hào của thành

Nội.Thuyền bè đi lại dễ dàng trên ba vòng hào để đến trú đậu ở Đầm Cả hoặc ra sông Hoàng

và từ đó có thể tỏa đi khắp nơi Theo truyền thuyết, An Dương Vương thường dùng thuyền đi khắp các hào rồi ra sông Hoàng

Giá trị của thành Cổ Loa

Trong cấu trúc chung của thành Cổ Loa còn có một yếu tố khác làm phong phú thêm tổng

thể kiến trúc này Đó là những gò đất dài họặc tròn được đắp rải rác giữa các vòng thành hoặc nằm ngoài thành Ngoại Không biết được có bao nhiêu ụ, lũy như thế, nhưng một số được dân chúng gọi là Đống Dân, Đống Chuông, Đống Bắn Các ụ, lũy này được dùng làm công

sự, có nhiệm vụ của những pháo đài tiền vệ, phối hợp với thành, hào trong việc bảo vệ và

chiến đấu Đây cũng là một điểm đặc biệt của thành Cổ Loa.Về mặt quân sự, thành Cổ Loa

thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh Nhờ ba vòng hào thông nhau dễ dàng, thủy binh có thể

phối hợp cùng bộ binh để vận động trên bộ cũng như trên nước khi tác chiến.Về mặt xã hội,

với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binh lính, thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy Thời kỳ này, vua quan không những đã tách khỏi dân chúng mà còn phải được bảo vệ chặt chẽ, sống gần như cô lập hẳn với cuộc sống bình thường Xã hội

đã có giai cấp rõ ràng và xa hội có sự phân hóa giàu nghèo rõ ràng hơn thời Vua Hùng.Về

mặt văn hóa, là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ Loa trở thành một di sản văn

hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt

Cổ Đá kè chân thành, gốm rải rìa thành, hào nước quanh co, ụ lũy phức tạp, hỏa hồi chắc chắn và nhất là địa hình hiểm trở ngoằn ngoèo, tất cả những điều làm chứng nghệ thuật và văn hóa thời An Dương Vương Hàng năm, vào ngày 6 tháng giêng âm lịch, cư dân Cổ Loa

tổ chức một lễ trang trọng để tưởng nhớ đến những người xưa đã có công xây thành, và nhất

là để ghi ơn An Dương Vương.Hiện nay Cổ Loa là 1 trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam

Câu 3: Ngôi “ làng Hai vua” ở phái tây thủ đô Hà Nội - là quê hương của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng và Ngô Quyền, tên là gì?

A Nhị Khê C Hạ Lôi

B Thủ Lệ D Đường Lâm

Trang 7

Về đất hai vua (Phùng Hưng - Ngô Quyền)

Đi khắp đất nước, có lẽ không nơi đâu nhiều đá ong đến mức nhuộm màu nâu đỏ cả một vùng, và có lẽ không nơi đâu có những ngôi nhà cổ, sân đình, giếng làng còn vẹn nguyên nét cổ xưa như ở Đường Lâm(Sơn Tây - Hà Tây) Cho đến thời điểm này, đây là ngôi làng đầu tiên và duy nhất cả nước được công nhận Di tích lịch sử văn hoá quốc gia Đây còn là quê hương của các vị anh hùng dân tộc Phùng Hưng và Ngô Quyền

“Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ ”

Với bất cứ ai từng có dịp về đây đều nhận thấy vẻ quyến rũ nhất của Đường Lâm chính là những vỉa đá ong cổ màu nâu đỏ xen lẫn màu vàng dọc khắp làng Đá ong với vẻ rắn rỏi để dựng nhà, xây tường, bếp, vòm cổng đã đi vào tranh, vào thơ của bao người Ngày xưa, nhà thơ Quang Dũng từng thổn thức: “Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ ” Đá ong có ở khắp vùng trung du Hà Tây, nhưng với Đường Lâm, nó đã trở thành vẻ đẹp lâu đời và đáng tự hào của người dân xứ Đoài bởi nét nguyên sơ, vừa u buồn vừa rực rỡ Đường Lâm còn đẹp ở khuôn cổng cổ kính mấy trăm năm, với ba bề bốn bên đều có cổng: cổng Sui ở đầu xóm Sui, cổng Hậu ở đầu xóm Hậu, cổng Hè ở cuối xóm Hè Cổng lớn nhất nằm ở đầu làng với một cây đa cổ thụ và một bến nước bốn mùa xanh ngắt, mang đậm chất làng quê Bắc Bộ.

Nét cổ nhất của Đường Lâm nằm ở kiến trúc cổng làng và đình Mông Phụ Cổng làng hội tụ bao lớp lang văn hoá với kiến trúc vòm, lớp đá ong cổ Vốn dĩ làng có tới 5 cổng, một cổng lớn và 4 cổng trấn tứ phương Hiện tại chỉ còn sót lại cổng làng Mông Phụ được xây dựng từ năm 1833, trên còn tựa dòng chữ “thế hữu hưng ngơi đại”, tạm hiểu là “thời nào cũng có người tài giỏi”

Trang 8

Giếng cổ Đường Lâm, nơi xưa kia được dân làng thường xuyên sử dụng cho mục đinh sinh hoạt công cộng hàng ngày Trước đây được xây chủ yếu bằng chất liệu đá ong và vữa nhưng nay một số đã được tu sửa lại bằng xi măng và gạch

Rặng Duối buộc voi chiến của Ngô Quyền xưa kia với những cây Duối cổ thụ và lạ mắt.

Điều đặc biệt đối với Đường Lâm là hầu hết các công trình kiến trúc cổ đều được xây từ đá ong tạo cho ta cảm giác gần gũi với thiên nhiên.(Trước cổng vào đền thờ Phùng Hưng)

“Lễ nghĩa bách niên Mông Phụ ấp”

Đường Lâm, tên nôm na gọi là Kẻ Mía Tục danh này bắt đầu từ cái tên Cam Giá (mía ngọt) Cam Giá xưa được chia thành hai tổng: Cam Giá Thượng và Cam Giá Hạ, trong đó Cam Giá Thượng là các xã thuộc miền Cam Thượng, Thanh Lũng, Bình Lũng (nay thuộc huyện Ba Vì); Cam Giá Hạ là xã Đường Lâm ngày nay Truyền thuyết kể lại rằng, năm ấy cọp về bắt đi bao nhiêu mạng người Dân trong vùng sợ hãi không dám vào đồi kiếm củi, hái chè Có một chàng trai khoẻ mạnh, quyết tâm diệt hổ dữ, trừ hoạ cho dân làng Lựa một tháng cuối đông, chàng trai bện người nộm đem vào đồi đến bên mép nước cắm xuống ba bốn đêm liền như thế Cho đến một hôm, hổ dữ ra vũng nước duy nhất còn sót lại, trước khi vục đầu xuống, hổ

ta lấy tay tát đổ người nộm như mọi hôm Nhưng nó không ngờ rằng, hôm nay có một cánh tay cứng như sắt đã túm chặt lấy bờm nó và liên hồi giáng xuống những cú đấm sấm sét Chàng trai thông minh, dũng cảm ấy chính là Phùng Hưng Trong cảnh đất nước chịu ách đô

Trang 9

hộ của nhà Đường, Phùng Hưng đã cùng em là Phùng Hải và Bồ Phá Cần chiêu tập binh sĩ cùng nhân dân phất cờ khởi nghĩa Ông đánh thành Tống Bình (Hà Nội), đập tan đạo quân xâm lược của Cao Chính Bình và dành lại quyền độc lập tự chủ Nhân dân tôn vinh ông là Bố Cái Đại Vương (761- 802)

Còn Ngô Quyền (898-944) là con trai Châu mục Đường Lâm Ngô Mân, người làng Cam Lâm Ngô Quyền sinh ra đã có tướng mạo hơn người, mắt sáng như sao, sức địch thiên hạ Lớn lên, ông làm nha tướng cho Dương Diên Nghệ, trấn thủ châu Hoan, châu ái Sau loạn Kiều Công Tiễn, ông trấn yên nước nhà và tiến hành cuộc kháng chiến chống thù ngoài với trận đánh trên sông Bạch Đằng nổi tiếng

Đền thờ Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương): Nằm trên một khu đất cao, xung quanh cây cối tỏa bóng xanh mát Đền thờ Phùng Hưng mới được tu tạo lại nên có một số điểm khác với ngôi đền cũ trước đây.

Lăng Ngô Quyền: Cách đền Phùng Hưng khoảng 500 mét về phía bên trái Lăng khá rộng rãi, trước mặt lăng là những cánh đồng lúa trải dài bát ngát, không khí mát mẻ, trong lành.

Câu 4: Năm 1010, hoàng đế Lý Thái Tổ đã cho xây toà chính điện Càn Nguyên của kinh đô Thăng Long ở trên cao điểm nào?

A Núi Cung C Núi Khán

B Núi Nùng D Núi Sưa

Núi Nùng

Trang 10

Núi Nùng, sông Nhị là những núi sông tiêu biểu của Hà Nội - Thăng Long xưa Ca dao

Hà Nội xưa có câu:

Dạo xem phong cảnh Long Thành

Đủ mùi đường phố, đủ vành núi sông

Nhị Hà quanh bắc sang đông

Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này

Nùng sơn, Long đỗ đây đây

Tam sơn núi đất cao tầy khán sơn

(Dạo xem phong cảnh Long Thành)

Vậy núi Nùng ở ngay trong thành cổ Hà Nội Đại Nam nhất thống chí của nhà Nguyễn, tập II, trong mục Núi, sông, có chép: “Núi Nùng ở trong thành, có tên nữa là núi Long Đỗ Lý Thái

Tổ đóng kinh đô, dựng chính điện ở trên núi, đời Lê gọi là điện Kính thiên, bản triều (Nguyễn) đặt làm hành cung, vẫn gọi theo tên cũ, năm Thiệu Trị thứ ba, đổi gọi là điện Long Thiên, điện Đình ở núi Nùng, có xây bệ cao chín bậc, tả hữu có hai con rồng, dài hơn một trượng, chế từ đời Lý Tương truyền, đời Lê Thống Nguyên, nhà Mạc cướp quyền, khi Mạc Đăng Dung theo từng bậc bước lên bệ, bị con rồng cắn xé áo long cổn, Dung tức giận, sai người lấy búa bổ vào rồng, nay vết sứt vẫn còn!

Ngày đăng: 21/04/2021, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w